Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

Nam TriỀu, BỐn Trăm Tám Mươi Ngôi Chùa

 

Nguyên tác: Tôn Tông Văn

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ  

 

I. NÓI KHÁI QUÁT.

Sau Ðông Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần kế tục nhau chiếm cứ đất phương nam, đó là Nam Triều, cộng được 169 năm (420-589 TL). Ở phương bắc thì trước sau là Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu chiếm cứ, đó là Bắc Triều, cộng được 195 năm (386 - 581 TL), hiệp lại gọi là Nam Bắc Triều. Trải qua nhiều đời thống trị của Nam triều đều đóng đô ở Kiến Khang (Nam Kinh). Nhưng sử tích Nam Triều hiện nay tại Nam Kinh, số trăm chẳng còn được một, mà trong số ấy số lượng di sản kiến trúc Phật giáo rất ít. Chúng ta cần giở lịch sử Phật giáo Trung Quốc xem lại thì mới biết Phật giáo Nam Triều bấy giờ là hưng thịnh, chùa tháp được xây dựng nhất định nhiều. Nhưng tiếc rằng, do kiến trúc Trung Quốc có xu hướng dùng cây gỗ cấu tạo là chủ yếu, có điều cây gỗ chẳng chịu đựng được lâu, vả lại dễ bị lửa cháy. Hơn nữa những kiến trúc ấy còn trải qua chiến sự nhiều đời làm cho những di vật hồi ấy hư hỏng hết không còn. Vậy muốn tìm kiếm hình thức chế độ kiến trúc thời bấy giờ thì chỉ có thể đi tìm kiếm ở trong tư liệu văn hiến.

Nhớ lại, từ Lưỡng Tấn Phật giáo hưng thịnh trở về sau, bậc đế vương có người sùng phụng Thích giáo. Căn cứ sự ghi chép của Tấn Thư thì như Tư Mã Chiêu (Minh Ðế). Tư Mã Phi (Ai Ðế), Tư Mã Dục (Giản Văn Ðế), Tư Mã Xương Minh (Hiếu Võ Ðế) .v.v... thời Ðông Tấn đều là những người sùng kính. Lưu Dụ (Võ Ðế) thời Nam Tống cho đến các vua đều tin thờ Phật giáo; thời Tề, Lương trở xuống Phật giáo thêm thịnh. Những sử tích kiến trúc trọng yếu như Tôn Quyền (Ðại Ðế) đã lập chùa Kiến Sơ1. Tấn Tư Mã Chiêu tới chùa Trường Can tạo dựng tháp ba tầng, đến chùa Ngõa Quan nghe Pháp Thái (Thải) giảng kinh Phóng Quang Bát-nhã. Tấn Tư Mã Ðức Văn (Cung Ðế) lại đích thân nghênh đón tượng Phật, đi bộ theo hơn mười dặm. Lưu Úc (Minh Ðế) đời Tống lên ngôi vua, cũng bỏ nhà làm chùa Tương Cung. Tiêu Ðạo Sách (Võ Ðế) nhà Tề đem hết vàng báu tạo chùa Thiền Linh. Tiêu Diễn (Võ Ðế) nhà Lương bỏ nhà làm chùa Quang Trạch, vả lại còn ba lần xả thân ở chùa Ðồng Thái. Tiêu Cương (Giản Văn Ðế) nhà Lương lập chùa Thiên Hoàng. Trần Bá Tiên (Võ Ðế) nhà Trần cũng hai lần xả thân ở Ðại Trang Nghiêm tự. Việc làm chùa, giảng kinh của các bậc đế vương ấy chẳng thể kể hết, “Trên có tốt thì dưới ắt nhiều lắm”. Do đó Phạm vũ lâm cung (chùa chiền của vương triều kiến tạo) lan trải khắp miền Giang Ðông, hình thành sự tích xán lạn (rực rở) cho kiến trúc Phật giáo của thủ đô Nam Triều thời bấy giờ.

Trải qua nhiều đời đế vương đã đề xướng Phật giáo mà tạo lập chùa tháp, thành một phong trào tạo dựng chùa tháp của những công chúa, hậu phi của họ. Như việc xây dựng chùa Diên Hưng của Chử Hoàng Hậu đời Tấn Khang Ðế, việc tạo chùa Dân của Hà Hoàng Hậu đời Tấn Mục Ðế, tức gọi là chùa Hà Hoàng Hậu. Việc lập chùa Thanh Viên của Tư Hoàng Hậu họ Chữ (tại núi Phúc Chu ‘ Thuyền úp ’) đời Tấn Cung Ðế. Việc tạo chùa Nam Lâm của Công Chúa Tấn Lăng đời Tống (tại làng Trung Hưng). Việc tạo rừng Trúc Viên của Công chúa Lâm Xuyên. Việc xây dựng chùa Ðại Trang Nghiêm và lập tháp bảy tầng của Lộ Thái Hậu (phía tây vùng Kiển Kiều, tỉnh Triết Giang ngày nay). Việc lập chùa Thiền Lâm của Công chúa Nam Xương và Công chúa Tân Thái. Công chúa Vĩnh Khánh dựng chùa Vĩnh Khánh (nay là Ngũ Ðài Sơn). Công chúa Vĩnh Ðịnh tạo tháp năm cấp ở chùa Khai Thiện (nay là Minh Hiếu Lăng). Nguyễn Tu Dung, thiếp của Lương Võ Ðế dựng chùa Lương An, chùa Tuyên Nghiệp, đồng thời quyên góp giúp của cải kiến tạo các chùa Phước Thành, Ðịnh quả, Linh Quang. Thử xem lời nói lên trong thiên Kim Lâu Tứ Hậu Phi: “Ngày mùng hai tháng sáu năm Ðại Ðồng thứ hai, Tu Dung mất trong Nội tẩm ở Giang Châu, tin đưa đến kinh đô thì các chùa Lương An, Tuyên Nghệp, Phước Thành, Ðịnh Quả, Linh Quang, Chánh Giác đều đồng gào khóc như đám tang người thân thích vậy”. Lại như Công chúa Vĩnh Khang nhà Lương tạo dựng U Nhan tự, thái hậu Chương Hoàng của Trần Văn Ðế bỏ nhà làm chùa Quốc Thắng... Những mẫu mực nêu trên ghi chép trong văn hiến nói lên chẳng hết. Lại nữa, thừa tướng Vương Ðạo đời Tấn, kính lễ Sa-môn Tây vực Thi-lê-mật-đa-la, người đương thời gọi là Cao Tòa, người đời sau truy tìm biển biểu việc xưa liền gọi chùa ấy là chùa Cao Tòa (nay là đài Vũ Hoa). Hàng trâm anh thế phiệt bỏ nhà xây dựng chùa, thời ấy mọi người đều nghe biết. Kẻ hậu nhân sưu tập các sách vở thống kê chùa Phật thời Nam Triều được hơn hai trăm ngôi2, những cái khác mất tên chẳng thấy ghi chép, lại chẳng biết bao nhiêu.

Trong các chùa thì chùa Ðại Ái Kính rất là to rộng tráng lệ. Chùa làm năm đầu niên hiệu Phổ Thông nhà Lương (năm 520 TL), qua ba năm xây dựng linh tháp bảy tầng, trong năm Ðại Thông thứ tư (năm 532 TL) lại tạo tượng Chiên Ðàn2 một trượng tám thước. Chùa đã xong, thái tử Chiêu Minh lại cho kiến thiết đài đọc sách ở dưới núi. Tiêu Diễn (Võ Ðế) thường đi dạo chơi, ngâm thơ vịnh phú. Khi Hầu Cảnh (năm 551 TL) biến loạn thì khu vực chùa vướng vào chiến trường nên toàn bộ bị hủy diệt. Ngày nay lên đến đỉnh núi Chung Sơn còn có thể nhìn thấy di chỉ ấy.

Các bậc đế vương thời Nam Triều tạo dựng chùa rất nhiều, nhưng những ghi chép đương thời phần thì mất mát, phần thì bị ẩn giấu nên người sau truy tìm trước thuật lại phụ thuộc nhiều vào sự hiểu biết, khó mà nhất nhất khảo chứng. Ngay đến cả sự nghiệp tạo tượng có quan hệ với kiến trúc Phật giáo cũng chẳng dễ tỏ tường. Vấn đề ấy chỉ nhờ vào Pháp Uyển Tạp Duyên Nguyên Thủy Tập Mục Lục của Tăng Hựu (Xuất Tam Tạng Ký 12), trích ra mối quan hệ như: Bài ký Tống Hiếu Võ Hoàng Ðế Tạo Vô Lượng Thọ Kim Tượng (Tống Hiếu Võ Hoàng Ðế tạo tượng vàng Vô Lượng Thọ), bài ký Tống Minh Hoàng Ðế Tạo Trượng Tứ Kim Tượng (Tống Minh Hoàng Ðế tạo tượng vàng một trượng bốn), bài ký Tống Minh Ðế Tề Văn Hoàng Văn Tuyên Tạo Hàng Tượng Bát Bộ Quỉ Thần (Tống Minh Ðế Tề Văn Hoàng Văn Tuyên tạo hàng tượng Bát Bộ Quỉ Thần), bài ký Tề Võ Hoàng Ðế Tạo Thích Ca Thụy Tượng (Tề Võ Hoàng Ðế tạo tượng ngọc Thích Ca), bài ký Hoàng Ðế (Lương Võ Ðế) Tạo Thuần Ngân Tượng (Lương Võ Ðế tạo tượng toàn bạc) v.v... những tượng Phật trong số ấy đã có tượng được tạo bằng ngọc, như trong Tạp Duyên Mục Lục có bài ký “Tống Minh Ðế Trần Thái Phi Tạo Bạch Ngọc Tượng” (Tống Minh Ðế Trần Thái Phi tạo tượng ngọc trắng) (văn thấy ở Quảng Hoằng Minh Tập, do chính Thẩm Ước viết vào năm Vĩnh Minh thứ tư, tức năm 486 TL). Lại nữa, sách Nam Tề nói rằng: Năm Vĩnh Minh thứ bảy (489 TL), Việt Châu hiến bạch ngọc, tự nhiên nghĩ đến tượng Phật, nhà vua cho làm tượng, dựng chùa Thiền Linh, đặt tượng dưới “sát”. Ðến đời Ðông Hôn Hầu3 dâm loạn xa xỉ, bóc lấy vòng ngọc báu của tháp trong chùa này, chín cái chuông ngọc của chùa Trang Nham và vừng (tướng) sáng mặt Phật của chùa ngoại quốc để làm đồ trang sức cho điện Phan Phi (xem “Nam Triều Tự Khảo” dẫn lịch sử nước Tề). Ðến đây có thể thấy hơi hướm dung tục giàu sang của tượng chùa thời Nam Triều. Xem xét việc tạo tượng thời Bắc Triều thì đều dùng chất đá, còn phong cách đục đá tạo tượng của vua chúa thời Nam Triều xem ra chẳng nhiều, có chăng chỉ có tượng Phật lớn ở núi Thê Hà, tại Nam Kinh, núi Thập Phật cùng tượng Phật đá lớn ở huyện Diệm (phía tây nam huyện Thặng tỉnh Chiết Giang ngày nay). Ngoài ra còn có đúc chuông, tạo khánh, làm nhà chứa kinh, chứa thuốc, hộp vàng đựng Xá-lợi .v.v... do cùng với bản văn này không có liên quan nên chẳng thuật lại.

 

II. ÐẶC TRƯNG CHÙA VIỆN NAM TRIỀU - SONG THÁP - XÁ-LỢI - THI Ý HỌA CẢNH.

Kiến trúc của chùa viện thời Nam Triều ngoại trừ chế độ trước tháp sau điện, thừa kế theo sư Nhất Quán thì đối với phương diện Phật pháp có hai việc còn đáp ứng: Một là việc sản sinh ra tháp đôi, và một là vị trí của trí Xá-lợi chẳng ở bên dưới tướng luân, mà ở bên dưới trụ trung tâm. Vấn đề ấy phân biệt nói rõ sau đây:

 

(1) Việc sản sinh ra tháp đôi:

Thử khảo sát việc chọn sử dụng tháp đôi trong kiến trúc chùa Phật của Trung Quốc ở trên. Di vật hiện còn thì cần phải tính đến đôi tháp đá trước đại điện chùa Linh Tuyền vùng Bảo Sơn, An Dương tỉnh Hà Nam là tối cổ4. Chẳng qua chúng ta như quả đã từ trên văn hiến, hoặc trên điêu khắc mà đi quan sát thì tác phong tháp đôi của chùa Phật đã sớm mở đầu ở thời kỳ Bắc Ngụy. Căn cứ vào Lịch Ðại Danh Họa Ký quyển 51 đã nêu: “Vương Dị, tự là Thế Tướng, người vùng Lâm Nghi quận Lang Gia (nay thuộc đông nam tỉnh Sơn Ðông), khéo văn tự, giỏi thư họa... thời Nguyên Ðế... Trấn quân Tạ Thượng tạo lập tháp bên đông của chùa Xương lạc ở Võ Xương, Tái Nhược Tư tạo lập tháp bên tây, đồng thời thỉnh Vương Dị vẽ”. Xem xét thời Nguyên Ðế đời Ðông Tấn là khoảng từ năm 317 đến năm 322 Tây lịch. Sánh với đôi tháp đó thì có tháp đôi chạm nổi, mở đầu thời kỳ chạm khắc đá của hang đá Vân Cương thì còn sớm, ước chừng 150 năm. Thậm chí đối với vị trí của tháp đôi rốt cuộc ở chỗ vào thì theo sự ghi chép của văn hiến chẳng rõ ràng, nên rất khó tỏ tường. Chẳng qua đã gọi là Ðông tháp, Tây tháp, tức là hai tháp tạo ra trạng thái đối lập, bên phải bên trái. Ðến như cái mẫu mực (lệ) biểu hiện được sự so sánh đột xuất trong chùa Phật thời Nam Triều, có một nơi là chùa Tương Cung. Căn cứ vào truyện Ngu Nguyện trong quyển thứ 70 của Nam sử thì:

- Ðế (xem xét tức là Tống Minh Ðế Lưu Úc) lấy nhà cũ khởi dựng chùa Tương Cung, rất là xa xỉ hoa lệ, do Hiếu Võ Ðế trang nghiêm “sát” 7 tầng. Nhà vua muốn khởi dựng 10 tầng, nhưng chẳng thể dựng được, nên phân làm hai “sát”, mỗi cái 5 tầng.

- “Sát” được gọi trong đoạn văn, tức chỉ cho tháp mà nói. Thời kỳ xây dựng tháp là vào năm Thái Thủy thứ 7 (năm 471 TL). Nhưng tháp đôi là không làm theo trạng thái đối lập như tháp Ðông tháp Tây thì khó xác minh. Lại dẫn lời trong Kim Lăng Tân Chí của quyển thứ 18, sách Kim Lăng Phạm Sát Chí, rằng:

“Chùa Tương Cung xưa ở trong cầu Thanh Khê, từ Bắc Ðường về sau dời đến vị trí phía bắc chợ Thanh Hóa. Theo Khánh Nguyên Chí, gần đây có người đào được một đoạn đá trong quân doanh, phía sau huyện trị Thượng Nguyên, trên đó có ba chữ “Tương Cung Tự”. Do đây mà biết rằng: chùa cũ sở tại cùng với “Thực Lục Chú” phù hợp. Ra phía đông là vườn hoa đào Thanh Khê, mà ngày nay đều là đất phía đông huyện vậy. Chùa vốn là nhà cũ của Tống Minh Ðế, hoàn bị rất tráng lệ, vua muốn tạo dựng phù-đồ mười cấp mà chẳng thể được mới phân ra làm hai”.

Trong văn cho là “muốn tạo Phù-đồ mười cấp mà chẳng thể được”, đại khái là vì nguyên do hạn chế trong kiến trúc vật liệu cây gỗ nên mới chia ra dựng làm hai tháp. Ngoài lời dẫn này, xin dẫn tiếp “Văn Hiến Thông Khảo” trong sách “Cổ Kim Ðồ Thư Tập Thành Bác Vật Vựng Biên Thần Dị Ðiển”5 quyển thứ 50, “Thích Giáo Bộ Vựng Khảo” rằng:

“Ngày 15 tháng 9, năm Ðại Ðồng thứ tư, vua (Lương Võ Ðế) đến chùa Trường Can thiết lập Vô Ngại Ðại Hội, dựng lên hai “sát”, đều dùng bình vàng, tiếp đến là bình ngọc đựng Xá-lợi và móng tay, tóc, đặt bên trong tháp Thất Bảo; rồi lại dùng hộp đá đựng bảo tháp phân ra đặt vào hai “sát”. bên dưới sát thì nào là vương, hầu, phi tần, công chúa, nhà giàu có trong bá tánh đã bỏ ra vòng, xuyến .v.v... đồ trân bảo chất đầy”.

Tháp đôi chùa Trường Can nguyên là cải tạo tháp Phật chùa A-dục Vương. Năm Ðại Ðồng thứ tư, tức là năm 538 TL. Như vậy, đó là một kiểu mẫu sau kế tục tháp đôi chùa Tương Cung.

(2) Vị trí để an trí ngọc Xá-lợi, chẳng ở dưới “tướng luân”6 mà ở dưới trụ trung tâm. Tháp Phật của Trung Quốc được truyền từ Ấn-Ðộ, mà nguyên thủy tháp Phật Ấn-Ðộ là một mộ phần lớn như hình nửa quả cầu tròn, bộ phận đỉnh có hộp báu làm hình vuông, trên hộp báu dựng “cây sát” (sát can)7, trên “cây sát” có tướng luân. Xá-lợïi của Phật được an trí ở trong hộp báu. Nhưng tháp Phật Trung Quốc ở thời Lục Triều lại chẳng như vậy, bởi lối kiến trúc tháp Phật của Trung Quốc đều dùng trụ trung tâm. Cái gọi là trụ trung tâm tức là trụ tháp mà một số người quen gọi, cũng gọi là trụ sát. Như truyện Tuệ Thọ, trong Cao Tăng Truyện - quyển thứ 13 - chép rằng:

“Ðầu tiên dựng một ngôi nhà nhỏ, mỗi tối lại mơ thấy một con rồng xanh từ phương Nam bay lại, hóa làm “trụ sát”. Tuệ Thọ dẫn Sa-di thử đến sông Tân Ðình tìm kiếm, mới thấy một cây gỗ dài theo dòng nước trôi lại. Tuệ Thọ nói rằng: “Nhất định là cái mà ta thấy trong mơ vậy”. Tới đây, ông cho người kéo lên, dựng đứng làm “sát”, gác gỗ làm một tầng. Người đạo kẻ tục đua nhau vân tập, đều khen là thần dị”.

Lời thuật này tuy liên quan đến thần thoại, nhưng từ đây có thể chứng minh rằng: trụ trung tâm quả thật cấu trúc cây gỗ là trọng yếu của tháp Phật, bỏ trụ trung tâm thì tháp không xây dựng được. Tháp 5 tầng của chùa Pháp Long ở Nhật Bản ngày nay vẫn theo thể chế này, có lẽ được truyền từ Trung Quốc vậy.

Bên dưới trụ trung tâm tháp 5 tầng chùa Pháp Long ở Nhật Bản có một chỗ đào rỗng, từ trái sang phải rộng 3 thước 7 tấc, sâu 9 thước 6 tấc, bên trên che phủ một tảng đá, trụ trung tâm được đặt trên tảng đá. Lợi dụng hang rỗng dưới tảng đá mà phụng tàng Xá-lợi của đức Phật. Khảo xét hang rỗng dưới trụ trung tâm mới thấy là kết quả tất nhiên của việc thi công. Nhân y chiếu vào phương pháp kiến trúc mà nói rằng: đời xưa không có máy cất dậy vật nặng, để dựng lên cây trụ trung tâm ấy, thì tất nhiên phải đào sẵn cái hang sâu, đem gốc trụ dẫn đến gần miệng hang, rồi dùng dây thật chắc (bện bằng sợi thao - thời xưa) kéo mà dựng trụ lên, như tình trạng dựng trụ gỗ để kéo đường điện ngày nay. Hang rỗng bên dưới trụ trung tâm, thứ này ở Trung Quốc gọi là “Long Quật ” (hang rồng). Trong hang ấy chứa Xá-lợi, tóc và móng, như kiểu của tháp 5 tầng chùa Pháp Long, nước Nhật Bản và chứa cả đồ trân bảo, vàng, bạc, mà người ta bỏ ra cúng dường. Căn cứ sách “Cổ Kim Ðồ Thư Tập Thành Bác Vật Vựng Biên Thần Dị Ðiển” quyển thứ 59, phần Thích Giáo Bộ Vựng Khảo, xin tiếp tục dẫn Văn Hiến Thông Khảo rằng:

“Ngài Tuệ Ðạt du hành lễ tháp, tiếp theo ngài đến Ðơn Dương, chưa biết chỗ tháp và ngóng nhìn 4 phía Việt Thành, thấy làng Trường Can có khí lạ, nhân đó đến lễ bái, thì quả là chỗ tháp A-dục Vương xưa, thường phóng ra ánh sáng. Do đó định biết ắt phải có Xá-lợi, ngài mới tập trung mọi người lại, đào sâu vào một trượng, được 3 cái bia đá đều dài 6 thước. Trong một bia có hộp sắt, trong hộp sắt có hộp bạc, trong hộp bạc có hộp vàng chứa 3 viên ngọc Xá-lợi, và tóc, móng, mỗi thứ một món, sợi tóc dài vài thước. Ngài liền dời Xá-lợi gần về phía bắc, tạo dựng một ngôi tháp đứng đối lại với tháp ấy, do Giản Văn Ðế tạo. Năm 16, lại sai vị Sa-môn Nhân Thượng làm thêm 3 tầng, tức là Võ Ðế đã mở ra vậy. Ðầu tiên xuyên qua đất 4 thước thì được hang rồng (Long Quật) và đủ thứ vật báu mà người xưa đã bỏ ra hiến cúng, như: vàng, bạc, vòng xuyến, thoa cài đầu, cặp tóc .v.v... Sâu chừng 9 thước thì đến tảng đá, dưới tảng đá có hộp đá, bên trong hộp đá có khuôn sắt để đựng lọ bạc, bên trong lọ bạc có cái bình vàng chạm khắc đựng 3 viên ngọc Xá-lợi lớn bằng hạt gạo, tròn trịa sáng trong. Bên trong hộp có cái bát lưu ly, bên trong bát có 4 viên Xá-lợi và tóc, móng, móng có 4 cái đều là màu trầm hương”.

Trong đoạn văn gọi “Long Quật” sâu chừng 9 thước thì xét ra cùng với thước tấc của hang ở tháp 5 tầng trong chùa Pháp Long nước Nhật Bản, phù hợp nhau. Tóm lại, vị trí an trí Xá-lợi của tháp Phật Trung Quốc chẳng ở dưới tướng luân, mà ở trong hang rồng, tại mặt dưới trụ trung tâm. Ðây mới là quan niệm của tăng nhân phụng tàng Xá-lợi thời Lục Triều và địa điểm, đồ dựng, văn khắc minh .v.v... đều đã chịu ảnh hưởng, quan hệ của tập quán truyền thống cố hữu của Trung Quốc. Do đó, nên cùng với Ấn-Ðộ chẳng đồng 8.

Ðặc trưng của chùa viện Nam Triều, ngoại trừ hai đặc điểm song tháp và Xá-lợi thì ở trên bình diện lại có một đặc trưng lớn, tức là việc chọn “ý thơ, cảnh họa” (thi ý họa cảnh) làm bố cục, nhân vì chùa viện Nam Triều đều gắn liền kiến trúc với vườn rừng, phối hợp hoàn cảnh thiên nhiên, rất giàu ý thơ. Ở trong những ngôi cổ sát còn lưu lại đến ngày nay thường có tàn tích của những khu vườn danh tiếng, tức là chứng cớ này vậy. Ðây cũng có thể nói là một phong cách đặc sắc của chùa Phật đất Giang Nam.

Chúng ta thử xem ở trong bài thơ Giang Nam Xuân của Ðỗ Mục - một đại thi nhân trứ danh đời Ðường - đã vịnh “Nam Triều tứ bá bát thập tự, đa thiểu lâu đài yên vũ trung ” (xin tạm dịch: Nam Triều bốn trăm tám mươi chùa, bao nhiêu là lâu đài trong khói mưa), thật có thể gọi là một bức tranh sáng về kiến trúc chùa viện thời bấy giờ. Tương truyền, Ðại Sư Các 7 tầng bên ngoài điện Tuyền Ki ( tại chùa Ðồng Thái (nay là chùa Kê Minh ở Nam Kinh), chất đá thành núi, dáng trời lồng lộn, nước trào tung tóe, theo dòng uốn quanh. Tìm đến cảnh thanh tịnh thì chùa Thê Hà là bậc nhất. Xem xét chùa Thê Hà ở núi Thê Hà, thuộc Nam Kinh thì phong cảnh thanh u, có xu hướng trở thành thắng tích. Do đây có thể biết, sự bố trí mặt bằng cùng sân vườn của chùa viện thời bấy giờ có sự tương đương quan hệ.

 

III. DI TÍCH CHÙA PHẬT THỜI NAM TRIỀU NGÀY NAY.

“Nam Triều bốn trăm tám mươi chùa” nhưng ngày nay sử tích của Nam Kinh còn tồn tại thì mười đã mất tám, chín. Nhưng chùa Phật có trong thời kỳ ấy chẳng nhất định hoàn toàn phải ở Kieán Khang (Nam Kinh), như chùa Kiến Lăng tại Ðan Dương, nhưng đây là ngoại lệ, còn chùa Phật thì tuyệt đại bộ phận đều chẳng ra khỏi địa vức Kiến Khang. Hiện tại chỉ cần khảo chứng nền chùa thời bấy giờ cũng cảm thấy khốn khó rồi. Căn cứ vào sách Lục Triều Sự Tích Biên Loại Tự Viện Môn của Trương Thuần Di - người đời Tống - đã ghi chép về các chùa và bổ sung tên chùa từ đời Tống trở về sau mà lập đồ biểu sau đây:

 

Lục Triều

Tùy, Ðường,

Ngũ đại

Tống, Nguyên

Minh, Thanh

Dân quốc

 Ðịa điểm

Kiến Sơ

tự

 

Pháp Tính

tự

 

 

Hoa Lộc

Cương Nam

Ðồng Thái

tự

Tịnh Cư

tự

Pháp Bảo

tự

Kê Minh

tự

Kê Minh

tự

Ðài

Thành

Khai Thiện

tự

Bảo Công viện

Thái Bình Hưng Quốc

 tự

Linh Cốc

tự

Linh Cốc

tự

Chung

Sơn

Bảo Ninh

tự

 

Bán Sơn

tự

 

 

Bạch

Ðường

Ngõa Quan

tự

Thăng Nguyên tự

Sùng Thắng Giới Ðàn tự

Phụng Du

tự

Phụng Du

tự

Phụng Hoàng Ðài

Ðại Ái

Kính tự

Ái Kính

Thiền viện

Thọ Ninh tự

 

 

Trên ngọn Cao Phong phía Bắc Tưởng Sơn

Tiêu Ðế

tự

Pháp Quang

Tự

Lộc Uyển

tự

 

Thạch Quan Âm am

Ðông Nam Ngung

Thê Hà

tự

Diệu Nhân

tự

Phổ Vân

tự

Thê Hà

tự

Thê Hà

tự

Thê Hà

Sơn

Kỳ Trạch

tự

 

Kỳ Trạch Trị Bình tự

 

Kỳ Trạch

tự

Cao Kiều

Môn ngoại

Thiết-sách-la tự

 

                     

Thụy Tướng viện

 

Bích Phong

tự

Vực Nam Môn ngoại

Phật Quật

tự

 

Sùng Giáo

tự

Hoàng Giác

tự

Phổ Giác

tự

Ngưu Thủ

Sơn

 Ðầu Ðà

tự

 

 

Phổ Tế

tự

 

 

     Tưởng

Sơn

Tề An

tự

 

Tịnh Diệu

tự

 

 

Phía Nam

Tần Hoài

Ðồng Hành

tự

Tú Phong

viện

Bảo Lâm

tự

 

 

Mạc Phủ

Sơn

Thảo Ðường

tự

 

Bảo Thừa

viện

 

 

Chung

Sơn

Trường Can

tự

 

Thiên Hỷ

tự

Báo Ân

tự

Báo Ân

tự

Ngoại¹môn Trung Hoa

Báo Ân

Tự

Phụng Tiên tự Báo Từ viện

Năng Nhơn

tự

 

 

Ngoại môn Thành Nam

 

So sánh chùa Phật trọng yếu trong số chùa nêu ấy, hoặc ngày nay di tích chúng vẫn còn, riêng một lần nữa trình bày thêm vài ba ngôi chùa mẫu mực, đồng thời làm công việc kết thúc bài văn này.

Trên đồ biểu liệt kê Thiết-sách-la tự , căn cứ vào sự tích thời Lục Triều mà gọi tên chùa này, vốn liên hệ với chùa ni sáng lập ở thời đại Ðông Tấn. Năm Nguyên Gia thứ 10, thời Nam Tống (năm 433 TL) có nữ ni Thiết-sách-la, người Tích Lan đến, liền về chỗ này xây dựng chùa ni và lấy tên Thiết-sách-la, làm tên chùa. Trung Quốc đầu tiên có chùa ni là ở đây, mà việc truyền thọ giới luật của Tỳ-kheo-ni Trung Quốc cũng đầu tiên ở đây. Do đó việc giảng nói lại ngôi chùa này đối với lịch sử Phật giáo Trung Quốc có một ý nghĩa nhất định. Nhưng những di tích hiện chẳng tồn tại. Ngôi chùa gọi là Bích Phong tự, ngày nay đã là di vật kiến trúc của năm đầu niên hiệu Hồng Võ, đời Minh (năm 527 TL) rồi.

Ðem thêm 3 ngôi chùa: Ðồng Thái, Ngõa Quan, Thê Hà trong số chùa Phật thời Nam Triều, rồi dựa theo tài liệu xưa giới thiệu sau đây:

1- Chùa Ðồng Thái :

Xây dựng đầu tiên vào năm đầu niên hiệu Ðại Thông (năm 527 TL). Chế độ về chùa thời bấy giờ căn cứ vào sách Nam Triều Phật Tự Chí có nêu lên như sau:

“Chùa Ðồng Thái ở tại phía tây con đường bên ngoài dịch môn (cửa nách), phía bắc Cung Thành, vốn là vườn sau của Ngô Vương, chỗ làm việc cũ của Tấn Diên Úy. Lương Võ Ðế lấy đất ấy làm chùa, ở phía hậu cung mở riêng một cửa đối lại với cửa Nam. Lấy phản ngữ Ðồng Thái gọi là Ðại Thông (gần như cáh nói lái của ta - chú của Dịch giả), rồi lấy tên đó đổi niên hiệu là Ðại Thông nguyên niên vậy. Nhà vua sớm tối giảng nói, bàn bạc phần nhiều theo cửa này ra vào. Chùa có tháp 9 tầng, 6 ngôi đại điện, hơn 10 sở tiểu điện và nhà đài Bát-nhã bên Ðông bên Tây đều 3 tầng, Ðại Phật Các 7 tầng, bên ngoài điện Tuyền Ki chất đá làm núi, tượng dáng trời, nước trong, theo dòng chảy quanh. Vua đã đúc tượng vàng thập phương, tượng bạc thập phương9, đều rất tráng lệ... Rồi trong năm đầu niên hiệu Ðại Ðồng, chùa bị lửa trời đốt cháy, chỉ còn lại điện Thụy Nghi Tướng, rồi lại tạo dựng tháp 12 tầng, nhưng chưa xong thì Hầu Cảnh làm loạn, đồng đảng với hắn là Phạm Ðào Bổng chiếm cứ chùa Ðồng Thái, thì chùa ấy thành gò đống vậy... Nam Ðường liền lấy đất ấy làm chùa Tịnh Cư, lại đổi là chùa Viên Tịch. Nhà Tống chia một nửa chùa ấy làm chùa Pháp Bảo .v.v...”

Xem đây có thể biết, chùa Ðồng Thái của triều Lương ở trong khoảng năm Ðại Ðồng (năm 546 TL) đã bị cháy mất một phần, đến khi Hầu Cảnh làm loạn, Phạm Ðào Bổng chiếm lĩnh chùa ấy, thì nó đã thành ra gò đống. Ðến năm Hồng Võ thứ 20, triều Minh (năm 1387) lấy đất chùa xây dựng chùa Kê Minh, dời công hàm báu ở Linh Cốc về chôn ở núi này, đồng thời dựng tháp 5 cấp, gọi là tháp Chí Công. Trước chùa có đài Thí Thực, tấm đá dựng cao là “Văn hiến công thư” đời Tống. Năm đầu niên hiệu Hồng Võ, rước tăng Tây Tạng kiết đàn thí thực để độ cõi U minh. Ngôi các sau chùa là Hàm Hư Các, thời Nam Ðường, là một thắng cảnh để du lãm. Tháp nay đã phế bỏ, còn chùa thì đến khoảng năm Ðồng Trị được trùng tu, đến nay còn hoàn hảo.

2- Chùa Ngõa Quan :

Chùa ở Tiểu Trường Can, địa danh Tam Tĩnh Cương, nay là dãi Phượng Hoàng Ðài ở sườn núi Hoa Lộc, phía Nam thành. Chỗ ấy nguyên là đất công làm gốm nung. Năm Hưng Ninh thứ 2, thời Tấn (năm 364 TL) Tăng Tuệ Lực xin đất làm chùa, chọn lấy tên Ngõa Quan10. Chùa này quy mô tuy chẳng lớn lắm, nhưng ở thời Tấn lại là một ngôi tự viện rất trứ danh. Trong chùa tàng chứa 3 thứ tuyệt (tam tuyệt):

- Một là Ðái Ðạo An đã chế tạo 5 pho tượng vàng.

- Hai là Tượng ngọc, đồ cống lễ của nước Sư Tử (nay là nước Tích Lan), cao 4 thước 2 tấc, màu ngọc nhuần nhị thanh khiết mà hình chế rất đặc thù.

- Ba là Cố Trường Khan đã vẽ hình ngài Duy-Ma.

Ngoài đây ra, còn có Ðái Ngung đúc tượng vàng 1 trượng 6 và Trương Tăng Dao vẽ vách (bích họa) cũng tại bên trong chùa. Tất cả đều được xem trọng trong lịch sử mỹ thuật Trung Quốc. Tiếc thay! Vào lúc quân Tống (Triệu Tống) đánh xuống phương nam, những thủ tích nghệ thuật Phật giáo quý báu danh tiếng đều bị hủy diệt.

Ðang khi năm Nguyên Gia thứ 16 (năm 439 TL) đời Tống, có 3 con chim lạ bay đến chỗ ấy, mới đặt để Phượng Hoàng Ðài, làng gọi là làng Phượng Ðài, núi gọi là núi Phượng Ðài. Vào thời nhà Lương thì xuất hiện tháp Xá-lợi của chùa. Vua ra lệnh (sắc) nơi thị tứ chừng vài trăm nóc nhà thì tạo dựng các đài điện và tượng điềm ứng, nên đã xây dựng gác cao gọi là Ngõa Quan Các, cao 240 thước (một thuyết cho là cao 340 thước). Về sau, Ngõa Quan Các xiêu dần về phía tây nam, đến năm Khai Nguyên thứ 9 triều Ðường (năm 721 TL), nhờ gió tự đứng ngay lại. Ðang lúc sáng sớm, bóng đài đổ xuống dòng sông, chiều về thì phản chiếu vào thành quách, phong cảnh rất đẹp. Từ thời Lục Triều về sau, vùng Kiến Khang bị quét sạch thành bình địa, mà riêng Phượng Hoàng Ðài, Ngõa Quan Các vẫn còn là danh thắng của đất Giang Nam, mà nhiều thi nhân đời Ðường đến thăm viếng, như câu thất ngôn luật thi:

“Phượng Hoàng Ðài Thượng Phượng Hoàng Du ” (Trên đài Phượng Hoàng, Phượng dạo chơi).

Và câu: “Bạch Lãng Cao Ư Ngõa Quan Các ” (Sóng bạc vỗ cao gác Ngõa Quan).

Từ của thi hào Lý Bạch rất trứ danh. Cảnh tượng bấy giờ có thể tưởng tượng mà biết được. Thời Dương Ngô đổi tên chùa là Ngô Hưng, Nam Ðường đổi tên chùa là Thăng Nguyên. Tên các đều theo sự thay đổi đó mà biến đổi. Từ sau cuộc binh lửa Ngô - Việt đến nay, cổ tích ngàn năm phó mặc cho kiếp tro tàn. Năm Hưng Quốc thứ 5, triều Tống (năm 980 TL) xây dựng lại, làm Sùng Thắng Giới Ðàn Viện, xây Lô-xá-na Phật Các. Năm Vạn Lịch thứ 19, triều Minh (năm 1591 TL), tăng nhân Viên Tử khai sáng lại “sát tự”. Sau này, nhà văn học Tiêu Hoằng đổi tên chùa là Phụng Du. Ngày nay, ngôi chùa ấy chỉ còn lại vài gian phòng thất mà thôi.

3- Chùa Thê Hà 

Chùa ở tại núi Thê Hà. Xem xét núi Thê Hà còn có tên là Nhiếp Sơn, ngày nay rời khỏi Nam Kinh về phía Ðông bắc, ước chừng 40 dặm, là một thắng địa Phật giáo trong quá khứ của Trung Quốc, là ngôi chùa có lịch sử 1.500 năm. Vào khoảng năm Thái Thủy, đời Lưu Tống, thời Nam Triều (465-471 TL) có bậc xử sĩ11 Minh Tăng Thiệu kết tranh làm nhà ở đất ấy. Ðến năm Vĩnh Minh thứ 5, triều Tề (năm 487 TL) bỏ nhà làm chùa, thỉnh ngài Pháp Ðộ về ở đó, đặt tên là Thê Hà tinh xá. Con của Tăng Thiệu là Trọng Vĩ, đến vách đá của ngọn phía tây núi ấy khắc tạo tượng Phật Vô Lượng Thọ, chiều cao thân ngồi là 3 trượng 2 thước, kể luôn cả tòa ngồi là 4 trượng; bên phải bên trái có 2 vị Bồ-tát đứng hầu, cao ước chừng 3 trượng, diện mạo của tượng từ bi hòa ái, thần khí uy nghiêm. Hệ tượng ấy biểu thị một thứ tác phong điển nhã, tú mỹ của đất Giang Nam. Việc tạo tượng này cùng với việc tạo tượng ở Vân Cương của Bắc Ngụy chẳng có một điểm đồng. Ðến đời Tề, hai đời Lương lại mài dũa thêm tượng đá nhiều vô số, nên đương thời còn xưng hiệu là Thiên Phật Nham (Ðộng Ngàn Phật)12 mà tên chùa Thê Hà nhân đó trở nên nổi tiếng.

Chùa Thê Hà là tông đình của phái Tam Luận thuở xưa, chính đạo tràng thiền quán của Tăng Lãng, Tăng Thuyên ở tại đất này. Nghệ thuật khắc đá trong ngôi chùa ấy đối với lịch sử Phật Giáo Trung Quốc xét lại thì rất trân quý phi phàm. Việc khắc đá trong chùa, ngoại trừ việc tạo tượng ở Thiên Phật Nham thuật ở trên, còn có bia đá và tháp đá. Bia đá tức là “Minh Trưng Quân Bi” một tảng đá đặt ở bên ngoài cửa chùa. Khảo sát bia Minh Trưng Quân thì ra là bia lập để kỷ niệm Minh Tăng Thiệu. Văn bia là ngự chế của Lý Trị (Ðường Cao Tông), đại thần Cao Chính viết chữ. Nay có nhà bia để bảo hộ nên bia còn hoàn hảo. Ngoại trừ những bia mộ đặt trước lăng mộ thời Lục Triều, thì bia này có thể được tính là một tấm bia đá tối cổ tồn tại ở Nam Kinh ngày nay. Tháp đá tức là một tòa tháp Xá-lợi ở bên trong chùa. Tháp được kiến tạo đầu tiên vào đời Tùy (khoảng năm 601 TL), đến đời Ngũ Ðại, thời kỳ Nam Ðường (937-975 TL) lại thêm một lần tu chỉnh lớn, phỏng theo cách thức của A-dục Vương, trụ tháp có khắc văn kệ của kinh Phật, thân tháp đều chạm trổ, có khắc lên đá việc của Phật giáo, tinh vi đẹp đẽ tuyệt vời, rất nổi tiếng trên đời.

Tóm lại, chùa Phật thời đại Nam Triều tuy hưng thịnh, nhưng do hoàn cảnh địa hình thiên nhiên nên hang đá có thể làm ở vách núi nham thạch không thích đáng, tuy có đó nhưng cũng thuộc loại tác phẩm cở nhỏ. Tượng khắc đá ở Thiên Phật Nham, tại núi Thê Hà tức là cái đẹp tiêu biểu của tính cách một đại biểu. Vả lại, do Giang Nam là một vùng đất diện tích tuy nhỏ nhưng mà thật đáng quý, những di vật ấy tựu về đây.


 

1 Chùa Kiến Sơ : Nhân năm Xích Ô thứ 10 (247 T.L) nhà Ngô, Sa-môn Tăng-hội - người nước Khương-cư, đầu tiên đến Kiến Nghiệp dựng nhà tranh lá, bày tượng Phật hành đạo. Tôn Quyền vì ông dựng tháp lập chùa, do Giang Ðông đầu tiên có chùa Phật, nên lấy hiệu chùa là Kiến Sơ.

2 “Nam Triều bốn trăm tám mươi chùa”, vốn là câu thơ của người đời Ðường hình dung việc nhiều chùa viện thời bấy giờ. Thanh Thượng Nguyên, Tôn Bá Trừng sưu tập các sách chỉ được 226 chùa, còn chưa đầy một nửa. Trần Tác Lâm ở Giang Ninh có được di cảo ấy, biên soạn làm Nam Triều Phật Tự Chí (2 quyển thượng và hạ) cho lưu hành ở đời. (cht. Tác giả)

2 Chiên-đàn : Skt. Candana, tên một loại cây thơm.

3 Ðông Hôn Hầu : Con thứ hai Nam Tề Minh Ðế, tên Tiêu Bảo Quyển, tự Trí Tạng, tức vị năm 499 niên hiệu Vĩnh Nguyên.

4 Căn cứ vào sự ghi chép của Hà Sóc, trong “Phỏng Cổ Tân Lục” thì cho rằng tháp đôi ấy có khắc đá đề tên của thời kỳ Sơ Ðường. (cht. Tác giả)

5 Cổ kim đồ thư tập thành bác vật vựng biên thần dị điển: Sách tập thành vựng biên hình ảnh cổ kim thần dị vạn vật học (Ðộng vật, thực vật, khoáng chất, sinh lý học v.v...). bộ sách này biên soạn vào đời Thanh, niên hiệu Khang Hy (1662), tác giả Trần Mộng Lôi. Bộ sách sưu tập các loại tư liệu từ đời Khang Hy trở về trước, gồm một vạn quyển, chia thành 6 thiên, 32 điển, 6109 bộ, hơn 160 triệu chữ.

6 Tướng luânem cht. 20, tr. 92.

7 Sát can ïtïi)òn gọi Sát trụ, Kim sát, Biểu sát... Tên gọi khác của tháp. Sát: ïatª, phiên âm lạt-sắt-chi à cột cờ hay tâm trụ của tháp. Bởi thời xưa trước Phật đường có dựng cột phướntức là ‘sát’). Và do chữ Lạtịch là Can nên người ta đem nghĩa trụ cột gán cho nó nên gọi Sát trụ, Sát can... Người Ấn không dựng cột cờ riêng mà dựng cột trên đỉnh tháp, đầu cột đặt Xá-lợi, cũng gọi Xá-lợi can.

8 Căn cứ vào một lời văn trong bài “An trí xá-lợi trong tháp Phật thời Lục Triều” của Tiểu Sam Nhất Hùng trên Ðông Dương Học Báo, kỳ 21, quyển 3 mà nói. (cht. Tác giả)

9 Vua đúc tượng Phật bằng vàng và bạc cúng dường mười phương.

10 Căn cứ  trong “Kiến Khang Thật Lục” mà nói. (cht. Tác giả) 

11 Xử sĩ  (cổ ngữ) : Là bậc ẩn sĩ tài đức thời xưa.

12 Thiên Phật nham : Hay gọi Tây Thiên Phật động ,Hang Mạc Cao (Dmag-mgo), Lôi Âm tự. Vị trí dưới chân núi Sa Minh thành phố Ðôn Hoàng tỉnh Cam Túc. Những bích họa và tượng trong hang được điêu khắc từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 14.

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au