I. LƯỢC SỬ CHÙA
THIẾU LÂM.
Núi Tung Sơn
ở phía Bắc huyện Ðông Phong tỉnh Hà Nam (Trung Quốc), là một ngọn
núi trong Ngũ Nhạc chữ Tung (hoặc viết là Tung (), núi cao lớn gọi
là Tung. Chùa Thiếu Lâm ở phía bắc chân núi Thiếu Thất. Ðây là đạo tràng
số một của phái Thiền Tông trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Tại trong
chùa này sản sanh ra nhiều vị Cao Tăng thạc đức, chẳng những chỉ mở mang
cho thiên hạ liễu ngộ Thiền Tông mà đối với sự nghiệp dịch kinh, lưu thông
văn hóa Trung Quốc - Ấn Ðộ riêng có sự cống hiến đặc thù.
Chùa Thiếu
Lâm khai sáng xây dựng vào năm Thái Hòa thứ hai mươi, đời Bắc Ngụy (477
TL). Chính Hiếu Văn Ðế vì ngài thiền sư Phật-đà, Cao Tăng Ấn Ðộ, mà kiến
tạo. Thiền Sư Phật-đà vốn người Thiên Trúc, ngài đối với Thiền học có công
phu tu dưỡng thâm hậu. Vào năm Thái Hòa thứ mười bảy, ngài đến nước Ngụy,
ban đầu ở tại Hằng An, sau theo vua dời đến Lạc Dương. Hiếu Văn Ðế kính
trọng ngài chí thành, thiết lập riêng Thiền viện cung cấp nơi cư trú.
Nhưng tính thiền sư ưa chốn rừng, núi hang u tịch, thường đến núi Tung
Sơn. Bấy giờ, Hiếu Văn Ðế ra lệnh kiến lập thiền viện ở núi Thiếu Thất, để
cung cấp nơi cư trú cho ngài, tức là chùa Thiếu Lâm ngày nay vậy. Từ đây
những người “hữu tâm” trong bốn biển nghe phong thanh tụ hội đến, thường
có đến vài trăm. Ngài đôn đốc dạy bảo điều cốt yếu, có thành tựu rất lớn.
Ngài Phật-đà lại xây dựng tháp Xá-lợi, đồng thời kiến lập nhà phiên dịch
kinh. Chưa bao lâu thì ngài Cần-na-ma-đề từ Ðông độ sang, đến ở đây phiên
dịch Thập Ðại Bảo Tích Luận .v.v... Ngài Bồ-đề-lưu-chi cũng từng ở đây
phiên dịch kinh luận.
Sơ Tổ Bồ-đề Ðạt-ma đã từng ở đây
diện bích (quay mặt vào núi) 9 năm. Nhị tổ Tuệ Khả ở đây chặt tay cầu
pháp, sẽ có chương riêng trình bày. Chỉ trong môn nhân của thiền sư
Phật-đà như Huệ Quang, Ðạo Phong, Tăng Trù .v.v... đều là những Cao Tăng
kiệt xuất trên lịch sử Thiền Tông. Hơn hết là Tăng Trù, công phu thiền
định thâm sâu mà thần dị lại nhiều. Hiếu Minh Ðế đã từng ba lần triệu mời
mà ngài chẳng đáp ứng, mỗi lần nhập định hơn tuần nhật (mười ngày).
Người đương thời xưng ngài là một vị thiền định tối thâm của Ðông độ.
Trong năm Kiến Ðức, lúc Võ Ðế đời Bắc Chu bài xích Phật giáo, phế hủy tự
viện, chùa Thiếu Lâm đương nhiên chẳng thể tránh khỏi, đến đời Ðại Tượng
Tỉnh Ðế mới phục hưng, hiệu là Trắc Hỗ Tự (Ơ). Tuyển chọn Sa-môn
đức nghiệp sáng ngời, đồng thời sắp đặt Tăng Bồ-tát gồm hai mươi người.
Huệ Viễn, Hồng Tuân .v.v... đều trụ ở đây. Hồng
Tuân cùng Từ Vân tuyên dương Tứ phần
luật. Chẳng lâu, tổ nhà Tùy
đến đây thọ thiền, ban sắc phục hồi tên chùa cũ. Trong năm Khai
Hoàng, vua ban cho một trăm khoảnh đất khai khẩn ở Bách Cốc để chấn hưng
cửa chùa (ý gọi chùa Thiếu Lâm). Ðến cuối đời Ðại Nghiệp,
ngoài trừ Linh Tháp đều bị giặc đốt cháy hết. Ðang lúc nhà Tùy mạt, thiên
hạ đại loạn, có Vương Thế Sung ở phía tây bắc của chùa nổi binh làm loạn.
Bấy giờ những vị Tăng có chí khí như Huệ Thắng, Ðàm Tông tổ chức Tăng đoàn
đứng lên phá diệt. Ðể tỏ rõ thuận nghịch, Ðường Thái Tông (627 TL) đối với
Tăng lữ chùa Thiếu Lâm khen ngợi rất nhiều, ban cho bốn mươi trang trại ở
Bách Cốc và một dụng cụ kéo nước. Ðây là một giai đoạn lịch sử sự thật của
Tăng chúng chùa Thiếu Lâm thực hành vận động hộ quốc. Năm Trinh Quán về
sau, Tuệ An, Minh Tuân, Từ Vân, Huyền Hiếu, Trí Cần, Pháp Như, Huệ Siêu
.v.v... đều phát dương môn phong. Năm Trinh Quán thứ mười chín, ngài Tam
Tạng Huyền Trang tấu thỉnh xin đến chùa Thiếu Lâm, tùng sự công tác dịch
kinh, nhà vua chẳng cho ngài ở núi, liền lệnh cho ở chùa Hoằng Phước, đồng
thời phái người chuyên thủ hộ. Trong năm Hàm Hanh, vua Cao Tông “hành
hạnh” (vua đi) cho gởi nhanh bạch thư và ban cho đồ vật .v.v...
Trong năm Vĩnh Thuần (Ðường Cao Tông - 682 TL) lại xuống ngự trát và gởi
nhanh bạch thư .v.v... Võ hậu Tắc Thiên (690 TL) đối với chùa này cũng rất
là sùng kính. Năm Trường An thứ tư, chủ chùa là Nghĩa Trang, Thượng tọa là
Trí Bảo .v.v... cúi thỉnh ngài Nghĩa Tịnh và các đại luật sư: Hộ, Huy,
Khắc, Uy cùng các đại thiền sư: Si, Tư, Tuân ở đây kiết giới đàn, hoằng
dương giới pháp. Trong năm Cảnh Long, y theo sắc chỉ bố trí mười vị đại
đức. Quay lại với Long Vận (trong
Khai Nguyên), Ðồng Hưng (trong Ðại Lịch), Duy Khoản
.v.v... về sau suy lạc dần. Năm thứ năm niên hiệu Thuần Hựu, Nam Tống
(1245), Tuyết Ðình Phước Hựu y theo bệnh của Nguyên Thế Tổ chủ trì làm
việc phục hưng, đề xướng dẫn đường truyền giáo. Nơi ấy về sau có Linh Ẩn
Văn Hậu, Cổ Nham Phổ Tựu, Tức Am Nghĩa Nhượng, Thuần Chuyết Văn Tài, Ngưng
Nhiên Liễu Giải, Câu Không Khế Bân, Ðơn Chu Văn Tải, Huyễn Hưu Thường
Nhuận, Vô Ngôn Chánh Ðạo, Tâm Hoảng Tuệ Hỷ .v.v... nối nhau chủ trì, đều
chấn hưng tông phong, truyền suốt chánh mạch từ trên. Năm thứ mười ba Thế
Tông nhà Thanh (1644), chùa được trùng tu cho đến hôm nay.
II. CẤU TẠO CỦA CHÙA THIẾU LÂM.
Hình thể kiến
tạo của chùa Thiếu Lâm đại để phảng phất với những đại tòng lâm tự viện
hiện đại, chỉ có điều qui mô ngôi chùa ấy rất lớn. Tính ra có Sơn môn,
điện Thiên Vương, điện Ðại Hùng, điện Bạt-đà, điện Diêm Vương, lầu Chuông,
lầu Trống, điện Khẩn-na-la,
Tổ đường, phòng kho bên Ðông, phòng kho bên Tây, nhà khách Ðông, nhà khách
Tây, pháp đường, phương trượng, đình Lập Tuyết,
điện Phật Tổ, Tỳ-lô các, điện Bạch Y, điện Ðịa Tạng .v.v... Ở sau chùa có
am Sơ tổ, am Nhị tổ, động Ðạt-ma v.v... Tựu trung lầu chuông, trống đứng
đối nhau ở bên trái, bên phải phía trước điện Ðại Hùng, trụ làm bằng đá
tạo hình vưông, bên phải bên trái, cửa vào chánh điện dùng trụ bát giác,
chung quanh trụ ấy khắc mây rồng, hoặc chạm nổi hoa mẫu đơn, cỏ đường,
phượng hoàng, khổng tước, trẻ con .v.v... chạm rất mỏng, thật là đẹp đẽ.
Trên mái mỗi đầu thanh gỗ (phương pháp “chồng đấu tiếp dui”) và hiên mỗi
tầng đều có sự biến hóa (chạm trổ hoa văn nhiều), cấu thành một vùng lớn
hùng vĩ, bật lên sự lạ lùng. Trụ phía nội đường có “ngày... tháng bảy năm
Ðại Ðức
thứ tư”, trụ phía nam có: “khắc lời minh tháng sáu năm Ðại Ðức thứ sáu”, ở
đây có thể biết niên đại tạo tác. Thật là một kiến trúc cổ đại rất hiếm
thấy trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, quả là rất cụ thể cho giá trị
lịch sử nghệ thuật. Nhưng mà ngày nay nhà bị hỏng, hiên bị rơi, hoang phế
chẳng cam, thật là đáng tiếc!
Am của Sơ Tổ
ở chỗ phía tây bắc chùa chừng hai dặm, lại xưng là điện Bích Am, cũng là
nơi Ðạt-ma đại sư diện bích chín năm. Ðiện trước, điện sau là chủ, do biết
bao nơi đã dựng nhà nhỏ phụ thuộc, đều theo lối tạo bằng cây, trụ đá.
Chúng đều có khắc “Cư dân thôn Ô Châu Kinh Ðường, làng Ðồng Dương, huyện
Nhân Hóa, châu Lộ Chiếu phía đông Quảng Nam, nam đệ tử Lưu Thiện cung kính
phụng Phật, kính cẩn cúng dường một cây trụ này.
Ðốt hương
viết ngày Phật thành đạo năm Tuyên Hòa thứ bảy thời Ðại Tống” (Quảng
Nam, đông Lộ Chiếu châu Nhân Hóa huyện Ðồng Dương hương Ô Châu (ngọc) Kinh
Ðường thôn cư, phụng Phật nam đệ tử Lưu Thiện cung, cẩn thí thử trụ nhất
điều. Ðại Tống Tuyên Hòa thất niên, Phật thành đạo nhật phần hương thư).
Do đây có thể biết niên đại xây dựng lại. Sau vách của nội điện có bài ký
Trùng Tu Diện Bích Am, do Lý Thuần Phủ soạn năm Kim Hùng Ðịnh thứ bảy
(tức là năm Gia Ðịnh thứ mười sáu đời nam Tống). Ðồng thời có cả bài
ký nói về việc sửa mới Tuyết Ðình, nhà tây .v.v... được khắc bia nhỏ khảm
vào.
Am Nhị Tổ ở
chỗ tám dặm phía tây nam của chùa, qui mô rất nhỏ, nội đường an vị phụng
thờ tượng Nhị tổ Tuệ Khả. Lại nữa, bên trong chùa có nhiều bia đá, tựu
trung như là “Tung Nhạc Thiếu Lâm Tự bi” ở tại mặt trước của lầu chuông do
Ðông Bộ Thượng Thư Bùi Thôi soạn văn và viết chữ, tạo lập tháng bảy năm
Khai Nguyên thứ mười sáu đời Ðường- Riêng có Ðường Thái Tông Văn Hoàng Ðế
ban ngự thư bảy chữ trên hoành phi (ngạch) của chùa, đoạn trên khắc
ngự thư chúc mừng Thái Tông ban cho dinh điền Bách Cốc, đoạn dưới lược ghi
khái quát về ngôi chùa đến hồi đầu nhà Ðường và bia “Tứ Ðiền Ngự Thư Sắc
Văn” v.v... Mặt bên của lầu chuông có bia “Khai Sơn Hựu Công” do Hàn Lâm
học sĩ Trình Cự Phu soạn lời văn, Tập hiền
học sĩ Triệu Mạnh Phủ viết chữ, Gia nghị đại phu Quách Quán Triệu làm
hoành phi, kiến lập năm đầu niên hiệu
Diên Hựu, đời Nhân Tông nhà Nguyên. Bên ngoài điện Thiên Vương,
phía phải liệt bày bia, trong số ấy có văn bia “Tức Am Thiền Sư Hành
Thật”, do môn nhơn của ngài là Cổ Nguyên Thiệu Nguyên (người Nhật Bản)
soạn, tạo lập đầu niên hiệu Chí Chính nhà Nguyên (1341 TL). Còn số khác do
ngài Nghĩa Tịnh soạn văn, Lý Ung viết chữ. Năm Khai Nguyên thứ ba (Ðường
Huyền Tông - 713 TL), Như Thông tạo lập bài minh Giới Ðàn, do Tuyên Ðức
Lang Thôi Kỳ soạn. Tháng tư năm Thiên Bảo thứ chín (742 TL), Kiên Thuận
kiến lập “Linh Vận Thiền Sư Công Ðức Pháp Minh”, do Ðăng Phong Huyện lệnh
Quách Thục soạn văn. Tháng sáu năm Ðại Lịch thứ sáu (Ðường Ðại Tông - 766
TL) lập tháp và bài minh “Ðông Quan Thiền Sư Tháp” .v.v... Những bài minh
của tháp, những lời ghi trong bia này chẳng những chỉ lời văn, ý nghĩa
thâm u mà bút lực còn tú lệ, rất đầy đủ giá trị nghệ thuật văn hóa. Hai
mươi tấm bia thiếp ở Long Môn đều thuộc tính chất loại này: Phật giáo ảnh
hưởng sâu xa đến văn hóa Trung Quốc, ở đây càng thấy rõ vậy!
III. TỔ ÐẠT-MA ỨNG ÐỐI VÕ ÐẾ.
Ngài Bồ-đề
Ðạt-ma là người nam Ấn Ðộ, vào năm đầu niên hiệu Ðại Thông nhà Lương (527
TL), từ nam Ấn Ðộ vượt biển đến Quảng Châu, thứ sử Vinh Mão tâu lên Võ Ðế,
nhà vua sai sứ mang lễ vật đến triệu thỉnh. Ngài liền đến thủ đô Nam Kinh
lúc bấy giờ (Kinh Lăng), rồi cùng với Võ Ðế mở đầu triển khai cuộc vấn
đáp.
Lương Võ Ðế
hỏi đại sư Ðạt-ma rằng:
- Như thế nào
là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa?
Ngài Ðạt-ma
đáp rằng:
- Rỗng tuếch
không thánh!
Nhà vua nói
rằng:
- Người đáp
lại trẫm là ai?
Ngài Ðạt-ma
nói rằng:
- Chẳng biết!
Thấy nhà vua
chẳng hợp, ngài Ðạt-ma liền qua sông đến nước Ngụy.
Ðó là nội
dung cuộc vấn đáp của hai người.
Ðạt-ma đại sư
nhân Võ Ðế chẳng thể lĩnh hội được lời đáp của ngài. Ðến đây ngài nhẹ
nhàng trên một cọng lau qua sông đến chùa Thiếu Lâm, trên núi Tung Sơn ở
Hà Nam mà ngồi diện bích chín năm, mọi người không ai biết. Cuối cùng ngài
có được tổ thứ hai Thần Quang Tuệ Khả mà trao cho tâm pháp. Năm Ðại Ðồng
thứ hai nhà Lương (535 TL), ngài ngồi ngay thẳng mà mất (tọa hóa), tháp
xây thờ ngài ở ngọn núi Hùng Nhĩ. Ngài là tổ truyền trì thứ hai mươi tám
của Phật giáo Ấn Ðộ, là tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Quốc.
Võ Ðế họ Tiêu
tên Diễn tự là Thúc Viễn, nguyên là tể tướng của Nam Tề, được phong là
Lương Công, rồi tấn phong Lương Vương, cuối cùng nhận Hoàng Ðế truyền
ngôi, liền lên ngôi thiên tử, đặt quốc hiệu là Lương, đổi niên hiệu là
Thiên Giám năm đầu. Vua tại vị được bốn mươi tám năm, năm Thái Thanh thứ
ba, băng hà thọ tám mươi sáu tuổi. Võ Ðế chẳng những chỉ là vị Phật giáo
đồ nhiệt tâm mà còn là người kiến tạo nhiều tự viện, độ vài mươi vạn người
xuất gia, đồng thời hay mặc áo cà sa, tự giảng “Phóng Quang Bát-nhã", cảm
ứng từ trời hoa rơi như mưa, đất biến thành hoàng kim, biệân đạo phụng
Phật, cảm hóa quần chúng, đã từng ba lần xả thân ở chùa Ðồng Thái, tự xưng
là “Tam Bảo Nô” (tôi tớ của Tam bảo), nghiêm trì giới ưu-bà-tắc,
thần dân gọi là “Phật tâm thiên tử”.
Lịch sử khái
quát của hai vị Võ Ðế và Ðạt-ma đại sư đã giới thiệu qua. Ðến đây có thể
xem ra Võ Ðế thuộc dạng người Phật giáo nhiệt tâm, còn Ðạt-ma thì thuộc
dạng Ðại sư siêu thoát bạt tục giáo hóa người. “Như thế nào là Thánh Ðế đệ
nhất nghĩa?”. Câu ấy hiển nhiên là Võ Ðế đối việc nghiên cứu Phật pháp rất
có tâm đắc, chẳng phải là lời nói hời hợt của hạng người hồ đồ. Võ Ðế
thường cùng với Lâu Ước pháp sư, Phó Ðại Sĩ, Chiêu Minh thái tử chủ trì
bàn luận chân - tục hai đế. Căn cứ trong giáo lý mà nói thì Chân đế làm
sáng cái chẳng phải có, Tục đế làm sáng cái chẳng phải không, chân tục
chẳng hai, tức là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa. Ðây là chỗ huyền diệu cùng cực
của giáo gia. Nhà vua đón lấy chỗ huyền diệu cùng cực này mà hỏi ngài
Ðạt-ma: “Như thế nào là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa?". Lời hỏi của Võ Ðế hiển
nhiên lập luận bám vào chân lý của Chân đế trong nhị đế ngôn thuyết. Cái
gọi là đệ nhất nghĩa ấy, tuyệt chẳng phải là chân lý tự chứng tự ngộ, mà
chỉ là chân lý trong "giác giả” (nhà lý luận theo kinh điển, giáo lý),
hiển nhiên rơi vào sự nói năng giải thích mà thôi!
Phật pháp từ
Hán Minh Ðế truyền sang Ðông độ, đến thời Ðạt-ma ước chừng hơn năm trăm
năm. Xu thế Phật giáo thời ấy là đã kinh qua việc phiên dịch nhiều kinh
điển, rồi thì tiến vào thời kỳ nghiên cứu. Bấy giờ người ta tranh nhau
chia giáo lập tông mà chẳng quay lại tự coi xét bên trong của mình, vùi
đầu vào những lý luận khách quan, lãng quên việc giải thoát sinh mạng là
trung tâm Phật giáo, đọa lạc ở trong lý luận. Ðạt-ma đại sư đặt biệt đề
xuất tôn chỉ căn bản “Giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh
thành Phật”, để cứu vớt trào lưu Phật giáo đang đọa lạc vào trong ngôn
thuyết (nói bằng lời không thật chứng), cần phải hướng vào trong
tâm mình mà cầu giải thoát, chẳng ở trong “ngôn giáo” (lời dạy trong
giáo lý) mà huyền luận chân lý (huyền luận: luận về đạo). Do đó
tổ Ðạt-ma đáp: “rỗng tuếch không thánh”, hiển nhiên đủ phủ định hết mọi
việc, vì Võ Ðế rơi vào trong “nhị đế ngôn thuyết”. Chẳng rơi một điểm so
tính tình trần, không chỉ “chẳng phải chẳng phải” (phi phi) cũng
chẳng phải “đúng đúng” (thị thị). Võ Ðế có chữ Thánh (chấp trước) ở
ngực, cố nhiên cần phải chém đứt vẻ ngoài. Vô ngại của kẻ hám si cho “làng
xóm” vô sự. Cần phải chém đứt ngay, chém đứt tất cả tri kiến, phi phàm
thánh; như vậy Ðạt-ma muốn khai thị giác ngộ (đương nhơn cước cân
ị)
cho thế nhân. Cho nên trong Khuê Phong Tông Mật
Ðịa ghi:
“Ðạt-ma thọ
pháp ở Thiên Trúc, thân đến Trung Hoa, thấy người địa phương này phần
nhiều chưa đắc pháp, chỉ dùng danh số làm lợi giải, lấy sự tướng làm hạnh,
phải làm cho họ biết vầng trăng chẳng ở tại ngón tay, pháp ở tại đầu tâm
của ta, chỉ lấy tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự, hiển tông phá chấp, nên
có lời này: chẳng phải lìa khỏi văn tự nói giải thoát vậy” (Thiền
nguyên chư luận tập trên).
Ðến đây có
thể thấy tôn chỉ của Tổ Ðạt-ma đến Ðông thổ, tức là lúc cứu vớt tệ hại,
dùng lập trường của Phật giáo bản lai khiến cho nhất nhất trở về với chính
mình mà thu hoạch được sanh mệnh chân thật của chính mình nên đáp: “Rỗng
tuếch không thánh”, chính là cắt đứt diệu lý trong giáo lý đã nói, là siêu
việt tất cả, là không Phật, không chúng sanh, không cảnh giới xưa nay. Cái
cảnh địa ấy chính là bản lai sinh mạng của chúng ta. Võ Ðế chỉ mới giác
ngộ (lập cước) trong ngôn thuyết, lấy Thánh đế làm nhất nghĩa nên một khi
nghe Ðạt-ma đại sư, chẳng những chỉ phủ nhận Tục đế mà luôn cả Thánh đế
cũng phủ nhận nốt, thì nghĩ Phật giáo đã đến mạt vận rồi sao? Nhân có chút
khí khái nên xấu hổ mà thành giận, nhà vua hướng về ngài Ðạt-ma thị oai
nói rằng: “Người đáp lại trẫm là ai?”, ý nói rằng: Thánh đế bị ông phủ
nhận hết, ta là đương kim hoàng thượng, giàu có bốn biển, tôn quí là thiên
tử, thế giới hiện thực ở trước mắt ông. Nhà vua nhận thức tổng quát thế
thôi, nào biết Ðạt-ma đại sư tợ như vị lão tướng bày trận qua long môn,
xem Võ Ðế tựa như đứa trẻ con mân mê binh quyền, nên hướng về nhà vua
khiêu chiến, liền khinh khỉnh đáp rằng: “Chẳng biết”. Hai chữ chẳng biết
ấy tức là lời nói không nói (vô ngôn chi ngôn), chẳng được dùng lời
nói là phủ định hết lời nói của ngôn ngữ. Tuy hai chữ nhẹ nhàng nhưng âm
thanh lại chấn động tầng mây, làm điếc tai người ba ngày. Khổng Tử đã từng
nói qua: “Người biết chẳng nói, người nói chẳng biết”. Nhân Võ Ðế chẳng
khế hợp thì ở lại đây làm gì? Do đó ngài Ðạt-ma nhẹ nhàng cất bước ra đi:
“liền qua sông đến nước Ngụy”.
Ấy
là một bức họa cảnh qua sông, nó đã giúp cho họa gia Trung Quốc vạch ra
những bức tranh cảnh ý siêu nhiên. Từ đây những bức “Ðạt-ma một cành lau
qua sông”, “Ðạt-ma diện bích”, “Chích lý tây qui”, đều là từ Thiền mở ra
“sinh mạng” mới cho nghệ thuật.
“Qua sông”
(độ giang) là từ Giang nam đến Giang bắc, “Ðến Ngụy” đương thời Nam,
Bắc phân chia cai trị, sử gia gọi là thời đại “Nam Bắc Triều”,
Giang Nam là Nam Triều, Giang Bắc là mười sáu nước của Ngũ Hồ, chính là
thời kỳ rất hỗn loạn của lịch sử. Phương Bắc thống nhất dần lập ra nhà
Ngụy, về sau lại phân làm Ðông, Tây, Ngụy, sử gia gọi là Bắc ngụy. Ðạt-ma
qua sông chính là thời đại của Hiếu Minh Ðế nhà Bắc Ngụy.
IV. TỔ ÐẠT-MA VÀ NGÀI TUỆ KHẢ
Tổ Ðạt-ma đến
Ngụy, diện bích 9 năm, mọi người đều chẳng biết là ai, chỉ gọi ngài là
người Bà-la-môn quan sát vách (bích quan Bà-la-môn).
Ðương thời có vị tăng tên là Thần Quang, sống khá lâu ở Y Lạc,
rộng xem đủ thứ sách, giỏi nói về huyền lý (lý lẽ huyền vi), thường
than rằng: “Lời dạy của Khổng, Lão chỉ là lễ nghĩa, thuật số, phong tục,
qui củ, sách Trang dịch chưa tận cùng lý huyền diệu”. Nhân nghe Ðạt-ma đại
sư dừng ở chùa Thiếu Lâm mới đến tham vấn, chỉ có điều Ðạt-ma đại sư trọn
ngày ngồi thẳng quay mặt vào vách, không cách gì thưa thỉnh được. Một ngày
trời vừa đổ mưa tuyết lớn, Thần Quang với lòng cầu pháp tha thiết, đứng ở
trong tuyết, tuyết ngập quá gối mà không một mảy may sợ sệt. Ðến đây
Ðạt-ma đại sư thương xót mà hỏi rằng: “Ông đứng lâu trong tuyết để cầu
việc gì?"
Thần Quang
buồn rầu nuốt lệ thưa rằng:
- Nguyện xin
Hòa thượng từ bi “khai nhãn, bày tâm”, rộng độ quần phẩm! (chỉ cho
chúng sinh, quần sinh)
Tổ nói rằng:
- Trên pháp
chư Phật, đạo nhiệm mầu, kiếp mênh mông, tinh cần hay làm hạnh khó làm,
điều không ai nhẫn được mà nhẫn được (nhịn được), đâu có thể đem đức nhỏ,
trí nhỏ, lòng khinh, lòng nhờn mà mong mỏi được chân thừa, uổng công lao
nhọc cần khổ!
Thần Quang
nghe Tổ Ðạt-ma khai thị, có hơi sợ hãi nhưng để bày tỏ lòng cầu pháp thiết
tha, liền lấy dao bén tự chặt cánh tay trái, đem đặt trước mặt Tổ. Tổ
Ðạt-Ma biết đây chính là pháp khí, mới nói rằng:
- Các đức
Phật đầu tiên cầu đạo, vì pháp quên thân hình, Ông nay chặt tay trước mặt
ta để cầu thì cũng có thể được!
Rồi Tổ đổi
tên cho ngài là Tuệ Khả. Ðồng thời ngài thỉnh thị rằng:
- Pháp ấn của
chư Phật còn có thể được nghe chăng?
Tổ Ðạt-ma
dạy:
- Pháp ấn của
chư Phật chẳng phải từ con người được sao?
Ngài Tuệ Khả
thưa:
- Lòng con
chưa yên ổn, xin thầy cho con tâm an!
Tổ Ðạt-ma bảo
rằng:
- Hãy đem tâm
lại đây, ta an cho ông!
Hồi lâu Tuệ
Khả thưa rằng:
- Con tìm
kiếm tâm rồi mà chẳng thể được.
Tổ nói rằng:
- Ta đã an
tâm cho ông rồi!
Ðồng thời Tổ
khai thị rằng:
- Xưa đức Như
Lai đem chánh pháp nhãn (con mắt chánh pháp) trao cho Tổ Ca-diếp,
rồi lần lượt đến ta. Nay ta trao lại cho ông, ông phải khéo hộ trì. Ðồng
thời ta trao cho ông áo Ca-sa để làm tín pháp, sự việc đều có biểu trưng,
nên đáng biết vậy. Chỉ sợ đời sau, cho là ta với ông khác đất nước, hoặc
chẳng tin sư thừa thì ông phải dùng cái này để khẳng định tông phái ấy.
Sau khi ta ra đi, pháp tuy đại vinh, người biết đạo nhiều, người hành đạo
ít, người nói lý nhiều, người ngộ lý ít, ta có bốn quyển Kinh Lăng Già
cũng đem giao phó cho ông. Ðấy tức là yếu môn tâm địa Như Lai, khiến cho
chúng sanh khai thị ngộ nhập.
Lời nói ấy là
vì Ðạt-ma thông suốt hết sự tệ hại của thời đại mà răn bảo Tuệ Khả. Tưởng
Chi Kỳ
- người đồng thời đại với tổ Ðạt-ma - trong bài tựa của Kinh Lăng Già nói
rằng:
“Ðến sau đời
tượng pháp, mạt pháp, cách đức thánh đã xa, con người bắt đầu đắm chìm vào
văn tự, chịu cảnh khốn đốn vào biển đếm cát, mà đối với chân thể mới buông
tuồng chẳng tỉnh xét vậy”.
Do đó mới có
Tổ sư xuất hiện lấy “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” làm “giáo
ngoại biệt truyền”.
Ðến đây có
thể thấy ra tập quán tệ hại của thời đại. Sở dĩ Ðạt-ma đại sư đề ra ý thú
“Kiến tánh thành Phật” tựu trung là cần cứu vãn ngọn gió tệ hại của thời
đại. Nhân đây, một hoa năm cánh (nhất hoa ngũ diệp),
từ Tuệ Khả đến Tăng Xán, Ðạo Tín, Hoằng Nhẫn, Lục Tổ (Tuệ Năng) một mạch
nối dõi nhau. Từ Lục Tổ về sau lại xuất hiện nhiều đệ tử ưu tú như Thần
Hội, Tuệ Trung, Hành Tư, Hoài Nhượng. Những vị ấy lại truyền cho đệ tử,
như: Mã Tổ, Bách Trượng, Nam Tuyền, Triệu Châu, Ðan Hà, Dược Sơn, Ðiểu
Khoa .v.v... những vị ấy đều đốn ngộ Thiền, hưng chấn tông phong, chỉnh
đốn đại giang Nam, Bắc.
V. TÔNG PHONG MĨ MÃN THIÊN HẠ.
Thiền Tông
của Trung Quốc, tuy khởi đầu ở Ðạt-ma
đại sư, nhưng chung cục tổ Ðạt-ma đến Ðông độ đã mang lại những gì?
Vậy nên đặt vấn đề đến Thiền, tựu trung chẳng thể không nghĩ đến tính chất
đặc biệt của văn hóa dân tộc Trung Quốc, tinh túy của văn hóa phương Ðông,
triết học thâm áo, nghệ thuật tuyệt vời, tợ hồ đều thai nghén nuôi dưỡng ở
trong Thiền ấy!
Phật giáo từ
Hán đến Lục Triều đã kinh qua giai đoạn phiên dịch mà tiến vào giai đoạn
nghiên cứu, mở ra xu thế tranh nhau “phân giáo lập tông” (chia giáo lập
tông). Trong thời gian ấy, ngài Ðạt-ma bỗng nhiên đi đến Kim Lăng, đầu
tiên đối đáp với Võ Ðế về vấn đề “Thánh giáo đệ nhất nghĩa”, bằng cách
kiên quyết phủ nhận “khuếch nhiên vô thánh”, lớn tiếng đề xướng “kiến tánh
thành Phật”. Ngài đem pháp tự chứng, không Phật, không chúng sinh, không
xưa nay... truyền vào Trung Quốc, đem những giới hạn trước đây ở ngôn
thuyết, phải trái, thường đoạn, tất cả những tri kiến đối chọi đều quét
một chổi sạch trơn. Chỉ nhân việc Võ Ðế chưa có thể lãnh ngộ được chân
nghĩa của vấn đề Ðệ nhất nghĩa đế, tổ Ðạt-ma đến Bắc Ngụy diện bích chín
năm, từ đây Thiền tông phát triển ở phương Bắc, Tuệ Khả, Tăng Xán, Ðạo
Tín, Hoằng Nhẫn một mạch nối nhau. Từ Hoàng Mai trở đi, tông phái chia
Nam, Bắc kế tục mà “một hoa năm cánh”. Tông phong mĩ mãn khắp thiên hạ,
môn đình ngày một phồn vinh! Từ đó các thiền gia tận tình khai thị theo
bệnh cho thuốc, nào là công án, truyện ký... ngữ lục của thiền gia không
dưới vạn quyển, truyền cho đời sau như đèn một ngọn sáng ngời vĩnh viễn.
Những ngữ lục ấy có thể khiến cho kẻ quyền quí như thiên tử đế vương phải
khuất tất (quì gối), bọn Nho gia cao ngạo phải hồi tâm hướng theo
cả. Người trước như Tuyên Tông đời Ðường, Hồng Võ đời Minh, Ung Chính đời
Thanh .v.v... đều đã từng thưởng thức qua hương vị đậm đà của Thiền. Kẻ
sau như Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, Âu Dương Tu, Lục Du, Tam Tô, Vương An Thạch,
Tống Liêm, Cung Ðịnh Am .v.v... đều ảnh hưởng thấm đượm tư tưởng Thiền lạc
(vui trong pháp vị thiền). Do vậy không thể không nói ánh sáng của Thiền
gia không gì sánh nổi. Từ Ðường Tống trở về sau, Phật giáo Trung Quốc lấy
Thiền làm trung tâm, các Tông phái khác đều dần dần suy lạc, chỉ có một
mình Thiền tông phát huy môn đình, vĩ nhân kiệt xuất, vạn người xưng tụng
sự hưng thịnh của Thiền môn, quả thật là “không tiền tuyệt hậu”. Kinh qua
Hán, Ngụy, Tùy, Ðường trải ngàn năm nhào nặn, dung nhiếp hết huyền lý của
Khổng, Mạnh, Lão, Trang, sản sinh ra Thiền Tông không gì sánh nổi. Từ đời
Ðường về sau, bất luận là mỹ thuật, thi ca, luân lý, đạo lý, huyền
học...không thứ nào chẳng hấp thụ sâu sắc tư tưởng tung hoành của Thiền.
Chính nó đã thúc giục sản sinh ra phái Tính Lý học đời Tống mà xuất hiện
“Học phong” (tông phong học phái): Chu Liêm Khê, Trình Minh Ðạo, Chu Tử,
Lục Tượng Sơn .v.v... đặc biệt là triết học “tri hành hợp nhất” của Vương
Dương Minh. Học thuyết ấy không thể không qui công về cho lực lượng của
Thiền. Vậy nên Thiền đã chẳng là sản phẩm của Ấn Ðộ, mà là tinh túy của
văn hóa phương Ðông. Do đó, chỉ cần giỏi nhận thức về Thiền thì đủ tài
năng nhận thức được tinh thần văn hóa phương Ðông.