Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

ÐẠO TRÀNG CỦA SƠ TỔ ÐẠT-MA

TẠI CHÙA THIẾU LÂM, NÚI TUNG SƠN

 

Nguyên tác: Ðông Sơ

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ 

 

I. LƯỢC SỬ CHÙA THIẾU LÂM.

Núi Tung Sơn ở phía Bắc huyện Ðông Phong tỉnh Hà Nam (Trung Quốc), là một ngọn núi trong Ngũ Nhạc chữ Tung (hoặc viết là Tung (), núi cao lớn gọi là Tung. Chùa Thiếu Lâm ở phía bắc chân núi Thiếu Thất. Ðây là đạo tràng số một của phái Thiền Tông trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Tại trong chùa này sản sanh ra nhiều vị Cao Tăng thạc đức, chẳng những chỉ mở mang cho thiên hạ liễu ngộ Thiền Tông mà đối với sự nghiệp dịch kinh, lưu thông văn hóa Trung Quốc - Ấn Ðộ riêng có sự cống hiến đặc thù.

Chùa Thiếu Lâm khai sáng xây dựng vào năm Thái Hòa thứ hai mươi, đời Bắc Ngụy (477 TL). Chính Hiếu Văn Ðế vì ngài thiền sư Phật-đà, Cao Tăng Ấn Ðộ, mà kiến tạo. Thiền Sư Phật-đà vốn người Thiên Trúc, ngài đối với Thiền học có công phu tu dưỡng thâm hậu. Vào năm Thái Hòa thứ mười bảy, ngài đến nước Ngụy, ban đầu ở tại Hằng An, sau theo vua dời đến Lạc Dương. Hiếu Văn Ðế kính trọng ngài chí thành, thiết lập riêng Thiền viện cung cấp nơi cư trú. Nhưng tính thiền sư ưa chốn rừng, núi hang u tịch, thường đến núi Tung Sơn. Bấy giờ, Hiếu Văn Ðế ra lệnh kiến lập thiền viện ở núi Thiếu Thất, để cung cấp nơi cư trú cho ngài, tức là chùa Thiếu Lâm ngày nay vậy. Từ đây những người “hữu tâm” trong bốn biển nghe phong thanh tụ hội đến, thường có đến vài trăm. Ngài đôn đốc dạy bảo điều cốt yếu, có thành tựu rất lớn. Ngài Phật-đà lại xây dựng tháp Xá-lợi, đồng thời kiến lập nhà phiên dịch kinh. Chưa bao lâu thì ngài Cần-na-ma-đề từ Ðông độ sang, đến ở đây phiên dịch Thập Ðại Bảo Tích Luận .v.v... Ngài Bồ-đề-lưu-chi cũng từng ở đây phiên dịch kinh luận.

Sơ Tổ Bồ-đề Ðạt-ma đã từng ở đây diện bích (quay mặt vào núi) 9 năm. Nhị tổ Tuệ Khả ở đây chặt tay cầu pháp, sẽ có chương riêng trình bày. Chỉ trong môn nhân của thiền sư Phật-đà như Huệ Quang, Ðạo Phong, Tăng Trù .v.v... đều là những Cao Tăng kiệt xuất trên lịch sử Thiền Tông. Hơn hết là Tăng Trù, công phu thiền định thâm sâu mà thần dị lại nhiều. Hiếu Minh Ðế đã từng ba lần triệu mời mà ngài chẳng đáp ứng, mỗi lần nhập định hơn tuần nhật (mười ngày). Người đương thời xưng ngài là một vị thiền định tối thâm của Ðông độ. Trong năm Kiến Ðức, lúc Võ Ðế đời Bắc Chu bài xích Phật giáo, phế hủy tự viện, chùa Thiếu Lâm đương nhiên chẳng thể tránh khỏi, đến đời Ðại Tượng Tỉnh Ðế mới phục hưng, hiệu là Trắc Hỗ Tự (Ơ). Tuyển chọn Sa-môn đức nghiệp sáng ngời, đồng thời sắp đặt Tăng Bồ-tát gồm hai mươi người. Huệ Viễn, Hồng Tuân .v.v... đều trụ ở đây. Hồng Tuân cùng Từ Vân tuyên dương Tứ phần luật. Chẳng lâu, tổ nhà Tùy1 đến đây thọ thiền, ban sắc phục hồi tên chùa cũ. Trong năm Khai Hoàng, vua ban cho một trăm khoảnh đất khai khẩn ở Bách Cốc để chấn hưng cửa chùa (ý gọi chùa Thiếu Lâm). Ðến cuối đời Ðại Nghiệp2, ngoài trừ Linh Tháp đều bị giặc đốt cháy hết. Ðang lúc nhà Tùy mạt, thiên hạ đại loạn, có Vương Thế Sung ở phía tây bắc của chùa nổi binh làm loạn. Bấy giờ những vị Tăng có chí khí như Huệ Thắng, Ðàm Tông tổ chức Tăng đoàn đứng lên phá diệt. Ðể tỏ rõ thuận nghịch, Ðường Thái Tông (627 TL) đối với Tăng lữ chùa Thiếu Lâm khen ngợi rất nhiều, ban cho bốn mươi trang trại ở Bách Cốc và một dụng cụ kéo nước. Ðây là một giai đoạn lịch sử sự thật của Tăng chúng chùa Thiếu Lâm thực hành vận động hộ quốc. Năm Trinh Quán về sau, Tuệ An, Minh Tuân, Từ Vân, Huyền Hiếu, Trí Cần, Pháp Như, Huệ Siêu .v.v... đều phát dương môn phong. Năm Trinh Quán thứ mười chín, ngài Tam Tạng Huyền Trang tấu thỉnh xin đến chùa Thiếu Lâm, tùng sự công tác dịch kinh, nhà vua chẳng cho ngài ở núi, liền lệnh cho ở chùa Hoằng Phước, đồng thời phái người chuyên thủ hộ. Trong năm Hàm Hanh, vua Cao Tông “hành hạnh” (vua đi) cho gởi nhanh bạch thư và ban cho đồ vật .v.v... Trong năm Vĩnh Thuần (Ðường Cao Tông - 682 TL) lại xuống ngự trát và gởi nhanh bạch thư .v.v... Võ hậu Tắc Thiên (690 TL) đối với chùa này cũng rất là sùng kính. Năm Trường An thứ tư, chủ chùa là Nghĩa Trang, Thượng tọa là Trí Bảo .v.v... cúi thỉnh ngài Nghĩa Tịnh và các đại luật sư: Hộ, Huy, Khắc, Uy cùng các đại thiền sư: Si, Tư, Tuân ở đây kiết giới đàn, hoằng dương giới pháp. Trong năm Cảnh Long, y theo sắc chỉ bố trí mười vị đại đức. Quay lại với Long Vận (trong Khai Nguyên), Ðồng Hưng (trong Ðại Lịch), Duy Khoản .v.v... về sau suy lạc dần. Năm thứ năm niên hiệu Thuần Hựu, Nam Tống (1245), Tuyết Ðình Phước Hựu y theo bệnh của Nguyên Thế Tổ chủ trì làm việc phục hưng, đề xướng dẫn đường truyền giáo. Nơi ấy về sau có Linh Ẩn Văn Hậu, Cổ Nham Phổ Tựu, Tức Am Nghĩa Nhượng, Thuần Chuyết Văn Tài, Ngưng Nhiên Liễu Giải, Câu Không Khế Bân, Ðơn Chu Văn Tải, Huyễn Hưu Thường Nhuận, Vô Ngôn Chánh Ðạo, Tâm Hoảng Tuệ Hỷ .v.v... nối nhau chủ trì, đều chấn hưng tông phong, truyền suốt chánh mạch từ trên. Năm thứ mười ba Thế Tông nhà Thanh (1644), chùa được trùng tu cho đến hôm nay.

 

II. CẤU TẠO CỦA CHÙA THIẾU LÂM.

Hình thể kiến tạo của chùa Thiếu Lâm đại để phảng phất với những đại tòng lâm tự viện hiện đại, chỉ có điều qui mô ngôi chùa ấy rất lớn. Tính ra có Sơn môn, điện Thiên Vương, điện Ðại Hùng, điện Bạt-đà, điện Diêm Vương, lầu Chuông, lầu Trống, điện Khẩn-na-la3, Tổ đường, phòng kho bên Ðông, phòng kho bên Tây, nhà khách Ðông, nhà khách Tây, pháp đường, phương trượng, đình Lập Tuyết4, điện Phật Tổ, Tỳ-lô các, điện Bạch Y, điện Ðịa Tạng .v.v... Ở sau chùa có am Sơ tổ, am Nhị tổ, động Ðạt-ma v.v... Tựu trung lầu chuông, trống đứng đối nhau ở bên trái, bên phải phía trước điện Ðại Hùng, trụ làm bằng đá tạo hình vưông, bên phải bên trái, cửa vào chánh điện dùng trụ bát giác, chung quanh trụ ấy khắc mây rồng, hoặc chạm nổi hoa mẫu đơn, cỏ đường5, phượng hoàng, khổng tước, trẻ con .v.v... chạm rất mỏng, thật là đẹp đẽ. Trên mái mỗi đầu thanh gỗ (phương pháp “chồng đấu tiếp dui”) và hiên mỗi tầng đều có sự biến hóa (chạm trổ hoa văn nhiều), cấu thành một vùng lớn hùng vĩ, bật lên sự lạ lùng. Trụ phía nội đường có “ngày... tháng bảy năm Ðại Ðức6 thứ tư”, trụ phía nam có: “khắc lời minh tháng sáu năm Ðại Ðức thứ sáu”, ở đây có thể biết niên đại tạo tác. Thật là một kiến trúc cổ đại rất hiếm thấy trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, quả là rất cụ thể cho giá trị lịch sử nghệ thuật. Nhưng mà ngày nay nhà bị hỏng, hiên bị rơi, hoang phế chẳng cam, thật là đáng tiếc!

Am của Sơ Tổ ở chỗ phía tây bắc chùa chừng hai dặm, lại xưng là điện Bích Am, cũng là nơi Ðạt-ma đại sư diện bích chín năm. Ðiện trước, điện sau là chủ, do biết bao nơi đã dựng nhà nhỏ phụ thuộc, đều theo lối tạo bằng cây, trụ đá. Chúng đều có khắc “Cư dân thôn Ô Châu Kinh Ðường, làng Ðồng Dương, huyện Nhân Hóa, châu Lộ Chiếu phía đông Quảng Nam, nam đệ tử Lưu Thiện cung kính phụng Phật, kính cẩn cúng dường một cây trụ này.

Ðốt hương viết ngày Phật thành đạo năm Tuyên Hòa thứ bảy thời Ðại Tống” (Quảng Nam, đông Lộ Chiếu châu Nhân Hóa huyện Ðồng Dương hương Ô Châu (ngọc) Kinh Ðường thôn cư, phụng Phật nam đệ tử Lưu Thiện cung, cẩn thí thử trụ nhất điều. Ðại Tống Tuyên Hòa thất niên, Phật thành đạo nhật phần hương thư). Do đây có thể biết niên đại xây dựng lại. Sau vách của nội điện có bài ký Trùng Tu Diện Bích Am, do Lý Thuần Phủ soạn năm Kim Hùng Ðịnh thứ bảy (tức là năm Gia Ðịnh thứ mười sáu đời nam Tống). Ðồng thời có cả bài ký nói về việc sửa mới Tuyết Ðình, nhà tây .v.v... được khắc bia nhỏ khảm vào.

Am Nhị Tổ ở chỗ tám dặm phía tây nam của chùa, qui mô rất nhỏ, nội đường an vị phụng thờ tượng Nhị tổ Tuệ Khả. Lại nữa, bên trong chùa có nhiều bia đá, tựu trung như là “Tung Nhạc Thiếu Lâm Tự bi” ở tại mặt trước của lầu chuông do Ðông Bộ Thượng Thư Bùi Thôi soạn văn và viết chữ, tạo lập tháng bảy năm Khai Nguyên thứ mười sáu đời Ðường- Riêng có Ðường Thái Tông Văn Hoàng Ðế ban ngự thư bảy chữ trên hoành phi (ngạch) của chùa, đoạn trên khắc ngự thư chúc mừng Thái Tông ban cho dinh điền Bách Cốc, đoạn dưới lược ghi khái quát về ngôi chùa đến hồi đầu nhà Ðường và bia “Tứ Ðiền Ngự Thư Sắc Văn” v.v... Mặt bên của lầu chuông có bia “Khai Sơn Hựu Công” do Hàn Lâm học sĩ Trình Cự Phu soạn lời văn, Tập hiền7 học sĩ Triệu Mạnh Phủ viết chữ, Gia nghị đại phu Quách Quán Triệu làm hoành phi, kiến lập năm đầu niên hiệu Diên Hựu, đời Nhân Tông nhà Nguyên. Bên ngoài điện Thiên Vương, phía phải liệt bày bia, trong số ấy có văn bia “Tức Am Thiền Sư Hành Thật”, do môn nhơn của ngài là Cổ Nguyên Thiệu Nguyên (người Nhật Bản) soạn, tạo lập đầu niên hiệu Chí Chính nhà Nguyên (1341 TL). Còn số khác do ngài Nghĩa Tịnh soạn văn, Lý Ung viết chữ. Năm Khai Nguyên thứ ba (Ðường Huyền Tông - 713 TL), Như Thông tạo lập bài minh Giới Ðàn, do Tuyên Ðức Lang Thôi Kỳ soạn. Tháng tư năm Thiên Bảo thứ chín (742 TL), Kiên Thuận kiến lập “Linh Vận Thiền Sư Công Ðức Pháp Minh”, do Ðăng Phong Huyện lệnh Quách Thục soạn văn. Tháng sáu năm Ðại Lịch thứ sáu (Ðường Ðại Tông - 766 TL) lập tháp và bài minh “Ðông Quan Thiền Sư Tháp” .v.v... Những bài minh của tháp, những lời ghi trong bia này chẳng những chỉ lời văn, ý nghĩa thâm u mà bút lực còn tú lệ, rất đầy đủ giá trị nghệ thuật văn hóa. Hai mươi tấm bia thiếp ở Long Môn đều thuộc tính chất loại này: Phật giáo ảnh hưởng sâu xa đến văn hóa Trung Quốc, ở đây càng thấy rõ vậy!

 

III. TỔ ÐẠT-MA ỨNG ÐỐI VÕ ÐẾ.

Ngài Bồ-đề Ðạt-ma là người nam Ấn Ðộ, vào năm đầu niên hiệu Ðại Thông nhà Lương (527 TL), từ nam Ấn Ðộ vượt biển đến Quảng Châu, thứ sử Vinh Mão tâu lên Võ Ðế, nhà vua sai sứ mang lễ vật đến triệu thỉnh. Ngài liền đến thủ đô Nam Kinh lúc bấy giờ (Kinh Lăng), rồi cùng với Võ Ðế mở đầu triển khai cuộc vấn đáp.

Lương Võ Ðế hỏi đại sư Ðạt-ma rằng:

- Như thế nào là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa?

Ngài Ðạt-ma đáp rằng:

- Rỗng tuếch không thánh!

Nhà vua nói rằng:

- Người đáp lại trẫm là ai?

Ngài Ðạt-ma nói rằng:

- Chẳng biết!

Thấy nhà vua chẳng hợp, ngài Ðạt-ma liền qua sông đến nước Ngụy.

Ðó là nội dung cuộc vấn đáp của hai người.

Ðạt-ma đại sư nhân Võ Ðế chẳng thể lĩnh hội được lời đáp của ngài. Ðến đây ngài nhẹ nhàng trên một cọng lau qua sông đến chùa Thiếu Lâm, trên núi Tung Sơn ở Hà Nam mà ngồi diện bích chín năm, mọi người không ai biết. Cuối cùng ngài có được tổ thứ hai Thần Quang Tuệ Khả mà trao cho tâm pháp. Năm Ðại Ðồng thứ hai nhà Lương (535 TL), ngài ngồi ngay thẳng mà mất (tọa hóa), tháp xây thờ ngài ở ngọn núi Hùng Nhĩ. Ngài là tổ truyền trì thứ hai mươi tám của Phật giáo Ấn Ðộ, là tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Quốc.

Võ Ðế họ Tiêu tên Diễn tự là Thúc Viễn, nguyên là tể tướng của Nam Tề, được phong là Lương Công, rồi tấn phong Lương Vương, cuối cùng nhận Hoàng Ðế truyền ngôi, liền lên ngôi thiên tử, đặt quốc hiệu là Lương, đổi niên hiệu là Thiên Giám năm đầu. Vua tại vị được bốn mươi tám năm, năm Thái Thanh thứ ba, băng hà thọ tám mươi sáu tuổi. Võ Ðế chẳng những chỉ là vị Phật giáo đồ nhiệt tâm mà còn là người kiến tạo nhiều tự viện, độ vài mươi vạn người xuất gia, đồng thời hay mặc áo cà sa, tự giảng “Phóng Quang Bát-nhã", cảm ứng từ trời hoa rơi như mưa, đất biến thành hoàng kim, biệân đạo phụng Phật, cảm hóa quần chúng, đã từng ba lần xả thân ở chùa Ðồng Thái, tự xưng là “Tam Bảo Nô” (tôi tớ của Tam bảo), nghiêm trì giới ưu-bà-tắc, thần dân gọi là “Phật tâm thiên tử”.

Lịch sử khái quát của hai vị Võ Ðế và Ðạt-ma đại sư đã giới thiệu qua. Ðến đây có thể xem ra Võ Ðế thuộc dạng người Phật giáo nhiệt tâm, còn Ðạt-ma thì thuộc dạng Ðại sư siêu thoát bạt tục giáo hóa người. “Như thế nào là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa?”. Câu ấy hiển nhiên là Võ Ðế đối việc nghiên cứu Phật pháp rất có tâm đắc, chẳng phải là lời nói hời hợt của hạng người hồ đồ. Võ Ðế thường cùng với Lâu Ước pháp sư, Phó Ðại Sĩ, Chiêu Minh thái tử chủ trì bàn luận chân - tục hai đế. Căn cứ trong giáo lý mà nói thì Chân đế làm sáng cái chẳng phải có, Tục đế làm sáng cái chẳng phải không, chân tục chẳng hai, tức là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa. Ðây là chỗ huyền diệu cùng cực của giáo gia. Nhà vua đón lấy chỗ huyền diệu cùng cực này mà hỏi ngài Ðạt-ma: “Như thế nào là Thánh Ðế đệ nhất nghĩa?". Lời hỏi của Võ Ðế hiển nhiên lập luận bám vào chân lý của Chân đế trong nhị đế ngôn thuyết. Cái gọi là đệ nhất nghĩa ấy, tuyệt chẳng phải là chân lý tự chứng tự ngộ, mà chỉ là chân lý trong "giác giả” (nhà lý luận theo kinh điển, giáo lý), hiển nhiên rơi vào sự nói năng giải thích mà thôi!

Phật pháp từ Hán Minh Ðế truyền sang Ðông độ, đến thời Ðạt-ma ước chừng hơn năm trăm năm. Xu thế Phật giáo thời ấy là đã kinh qua việc phiên dịch nhiều kinh điển, rồi thì tiến vào thời kỳ nghiên cứu. Bấy giờ người ta tranh nhau chia giáo lập tông mà chẳng quay lại tự coi xét bên trong của mình, vùi đầu vào những lý luận khách quan, lãng quên việc giải thoát sinh mạng là trung tâm Phật giáo, đọa lạc ở trong lý luận. Ðạt-ma đại sư đặt biệt đề xuất tôn chỉ căn bản “Giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, để cứu vớt trào lưu Phật giáo đang đọa lạc vào trong ngôn thuyết (nói bằng lời không thật chứng), cần phải hướng vào trong tâm mình mà cầu giải thoát, chẳng ở trong “ngôn giáo” (lời dạy trong giáo lý) mà huyền luận chân lý (huyền luận: luận về đạo). Do đó tổ Ðạt-ma đáp: “rỗng tuếch không thánh”, hiển nhiên đủ phủ định hết mọi việc, vì Võ Ðế rơi vào trong “nhị đế ngôn thuyết”. Chẳng rơi một điểm so tính tình trần, không chỉ “chẳng phải chẳng phải” (phi phi) cũng chẳng phải “đúng đúng” (thị thị). Võ Ðế có chữ Thánh (chấp trước) ở ngực, cố nhiên cần phải chém đứt vẻ ngoài. Vô ngại của kẻ hám si cho “làng xóm” vô sự. Cần phải chém đứt ngay, chém đứt tất cả tri kiến, phi phàm thánh; như vậy Ðạt-ma muốn khai thị giác ngộ (đương nhơn cước cân ị)8 cho thế nhân. Cho nên trong Khuê Phong Tông Mật9 Ðịa ghi:

“Ðạt-ma thọ pháp ở Thiên Trúc, thân đến Trung Hoa, thấy người địa phương này phần nhiều chưa đắc pháp, chỉ dùng danh số làm lợi giải, lấy sự tướng làm hạnh, phải làm cho họ biết vầng trăng chẳng ở tại ngón tay, pháp ở tại đầu tâm của ta, chỉ lấy tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự, hiển tông phá chấp, nên có lời này: chẳng phải lìa khỏi văn tự nói giải thoát vậy” (Thiền nguyên chư luận tập trên).

Ðến đây có thể thấy tôn chỉ của Tổ Ðạt-ma đến Ðông thổ, tức là lúc cứu vớt tệ hại, dùng lập trường của Phật giáo bản lai khiến cho nhất nhất trở về với chính mình mà thu hoạch được sanh mệnh chân thật của chính mình nên đáp: “Rỗng tuếch không thánh”, chính là cắt đứt diệu lý trong giáo lý đã nói, là siêu việt tất cả, là không Phật, không chúng sanh, không cảnh giới xưa nay. Cái cảnh địa ấy chính là bản lai sinh mạng của chúng ta. Võ Ðế chỉ mới giác ngộ (lập cước) trong ngôn thuyết, lấy Thánh đế làm nhất nghĩa nên một khi nghe Ðạt-ma đại sư, chẳng những chỉ phủ nhận Tục đế mà luôn cả Thánh đế cũng phủ nhận nốt, thì nghĩ Phật giáo đã đến mạt vận rồi sao? Nhân có chút khí khái nên xấu hổ mà thành giận, nhà vua hướng về ngài Ðạt-ma thị oai nói rằng: “Người đáp lại trẫm là ai?”, ý nói rằng: Thánh đế bị ông phủ nhận hết, ta là đương kim hoàng thượng, giàu có bốn biển, tôn quí là thiên tử, thế giới hiện thực ở trước mắt ông. Nhà vua nhận thức tổng quát thế thôi, nào biết Ðạt-ma đại sư tợ như vị lão tướng bày trận qua long môn, xem Võ Ðế tựa như đứa trẻ con mân mê binh quyền, nên hướng về nhà vua khiêu chiến, liền khinh khỉnh đáp rằng: “Chẳng biết”. Hai chữ chẳng biết ấy tức là lời nói không nói (vô ngôn chi ngôn), chẳng được dùng lời nói là phủ định hết lời nói của ngôn ngữ. Tuy hai chữ nhẹ nhàng nhưng âm thanh lại chấn động tầng mây, làm điếc tai người ba ngày. Khổng Tử đã từng nói qua: “Người biết chẳng nói, người nói chẳng biết”. Nhân Võ Ðế chẳng khế hợp thì ở lại đây làm gì? Do đó ngài Ðạt-ma nhẹ nhàng cất bước ra đi: “liền qua sông đến nước Ngụy”.

Ấy là một bức họa cảnh qua sông, nó đã giúp cho họa gia Trung Quốc vạch ra những bức tranh cảnh ý siêu nhiên. Từ đây những bức “Ðạt-ma một cành lau qua sông”, “Ðạt-ma diện bích”, “Chích lý tây qui”, đều là từ Thiền mở ra “sinh mạng” mới cho nghệ thuật.

“Qua sông” (độ giang) là từ Giang nam đến Giang bắc, “Ðến Ngụy” đương thời Nam, Bắc phân chia cai trị, sử gia gọi là thời đại “Nam Bắc Triều”10, Giang Nam là Nam Triều, Giang Bắc là mười sáu nước của Ngũ Hồ, chính là thời kỳ rất hỗn loạn của lịch sử. Phương Bắc thống nhất dần lập ra nhà Ngụy, về sau lại phân làm Ðông, Tây, Ngụy, sử gia gọi là Bắc ngụy. Ðạt-ma qua sông chính là thời đại của Hiếu Minh Ðế nhà Bắc Ngụy.

 

IV. TỔ ÐẠT-MA VÀ NGÀI TUỆ KHẢ

Tổ Ðạt-ma đến Ngụy, diện bích 9 năm, mọi người đều chẳng biết là ai, chỉ gọi ngài là người Bà-la-môn quan sát vách (bích quan Bà-la-môn). Ðương thời có vị tăng tên là Thần Quang, sống khá lâu ở Y Lạc11, rộng xem đủ thứ sách, giỏi nói về huyền lý (lý lẽ huyền vi), thường than rằng: “Lời dạy của Khổng, Lão chỉ là lễ nghĩa, thuật số, phong tục, qui củ, sách Trang dịch chưa tận cùng lý huyền diệu”. Nhân nghe Ðạt-ma đại sư dừng ở chùa Thiếu Lâm mới đến tham vấn, chỉ có điều Ðạt-ma đại sư trọn ngày ngồi thẳng quay mặt vào vách, không cách gì thưa thỉnh được. Một ngày trời vừa đổ mưa tuyết lớn, Thần Quang với lòng cầu pháp tha thiết, đứng ở trong tuyết, tuyết ngập quá gối mà không một mảy may sợ sệt. Ðến đây Ðạt-ma đại sư thương xót mà hỏi rằng: “Ông đứng lâu trong tuyết để cầu việc gì?"

Thần Quang buồn rầu nuốt lệ thưa rằng:

- Nguyện xin Hòa thượng từ bi “khai nhãn, bày tâm”, rộng độ quần phẩm! (chỉ cho chúng sinh, quần sinh)

Tổ nói rằng:

- Trên pháp chư Phật, đạo nhiệm mầu, kiếp mênh mông, tinh cần hay làm hạnh khó làm, điều không ai nhẫn được mà nhẫn được (nhịn được), đâu có thể đem đức nhỏ, trí nhỏ, lòng khinh, lòng nhờn mà mong mỏi được chân thừa, uổng công lao nhọc cần khổ!

Thần Quang nghe Tổ Ðạt-ma khai thị, có hơi sợ hãi nhưng để bày tỏ lòng cầu pháp thiết tha, liền lấy dao bén tự chặt cánh tay trái, đem đặt trước mặt Tổ. Tổ Ðạt-Ma biết đây chính là pháp khí, mới nói rằng:

- Các đức Phật đầu tiên cầu đạo, vì pháp quên thân hình, Ông nay chặt tay trước mặt ta để cầu thì cũng có thể được!

Rồi Tổ đổi tên cho ngài là Tuệ Khả. Ðồng thời ngài thỉnh thị rằng:

- Pháp ấn của chư Phật còn có thể được nghe chăng?

Tổ Ðạt-ma dạy:

- Pháp ấn của chư Phật chẳng phải từ con người được sao?

Ngài Tuệ Khả thưa:

- Lòng con chưa yên ổn, xin thầy cho con tâm an!

Tổ Ðạt-ma bảo rằng:

- Hãy đem tâm lại đây, ta an cho ông!

Hồi lâu Tuệ Khả thưa rằng:

- Con tìm kiếm tâm rồi mà chẳng thể được.

Tổ nói rằng:

- Ta đã an tâm cho ông rồi!

Ðồng thời Tổ khai thị rằng:

- Xưa đức Như Lai đem chánh pháp nhãn (con mắt chánh pháp) trao cho Tổ Ca-diếp, rồi lần lượt đến ta. Nay ta trao lại cho ông, ông phải khéo hộ trì. Ðồng thời ta trao cho ông áo Ca-sa để làm tín pháp, sự việc đều có biểu trưng, nên đáng biết vậy. Chỉ sợ đời sau, cho là ta với ông khác đất nước, hoặc chẳng tin sư thừa thì ông phải dùng cái này để khẳng định tông phái ấy. Sau khi ta ra đi, pháp tuy đại vinh, người biết đạo nhiều, người hành đạo ít, người nói lý nhiều, người ngộ lý ít, ta có bốn quyển Kinh Lăng Già cũng đem giao phó cho ông. Ðấy tức là yếu môn tâm địa Như Lai, khiến cho chúng sanh khai thị ngộ nhập.

Lời nói ấy là vì Ðạt-ma thông suốt hết sự tệ hại của thời đại mà răn bảo Tuệ Khả. Tưởng Chi Kỳ12 - người đồng thời đại với tổ Ðạt-ma - trong bài tựa của Kinh Lăng Già nói rằng:

“Ðến sau đời tượng pháp, mạt pháp, cách đức thánh đã xa, con người bắt đầu đắm chìm vào văn tự, chịu cảnh khốn đốn vào biển đếm cát, mà đối với chân thể mới buông tuồng chẳng tỉnh xét vậy”.

Do đó mới có Tổ sư xuất hiện lấy “trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” làm “giáo ngoại biệt truyền”.

Ðến đây có thể thấy ra tập quán tệ hại của thời đại. Sở dĩ Ðạt-ma đại sư đề ra ý thú “Kiến tánh thành Phật” tựu trung là cần cứu vãn ngọn gió tệ hại của thời đại. Nhân đây, một hoa năm cánh (nhất hoa ngũ diệp)13, từ Tuệ Khả đến Tăng Xán, Ðạo Tín, Hoằng Nhẫn, Lục Tổ (Tuệ Năng) một mạch nối dõi nhau. Từ Lục Tổ về sau lại xuất hiện nhiều đệ tử ưu tú như Thần Hội, Tuệ Trung, Hành Tư, Hoài Nhượng. Những vị ấy lại truyền cho đệ tử, như: Mã Tổ, Bách Trượng, Nam Tuyền, Triệu Châu, Ðan Hà, Dược Sơn, Ðiểu Khoa .v.v... những vị ấy đều đốn ngộ Thiền, hưng chấn tông phong, chỉnh đốn đại giang Nam, Bắc.

 

V. TÔNG PHONG MĨ MÃN THIÊN HẠ.

Thiền Tông của Trung Quốc, tuy khởi đầu ở Ðạt-ma đại sư, nhưng chung cục tổ Ðạt-ma đến Ðông độ đã mang lại những gì? Vậy nên đặt vấn đề đến Thiền, tựu trung chẳng thể không nghĩ đến tính chất đặc biệt của văn hóa dân tộc Trung Quốc, tinh túy của văn hóa phương Ðông, triết học thâm áo, nghệ thuật tuyệt vời, tợ hồ đều thai nghén nuôi dưỡng ở trong Thiền ấy!

Phật giáo từ Hán đến Lục Triều đã kinh qua giai đoạn phiên dịch mà tiến vào giai đoạn nghiên cứu, mở ra xu thế tranh nhau “phân giáo lập tông” (chia giáo lập tông). Trong thời gian ấy, ngài Ðạt-ma bỗng nhiên đi đến Kim Lăng, đầu tiên đối đáp với Võ Ðế về vấn đề “Thánh giáo đệ nhất nghĩa”, bằng cách kiên quyết phủ nhận “khuếch nhiên vô thánh”, lớn tiếng đề xướng “kiến tánh thành Phật”. Ngài đem pháp tự chứng, không Phật, không chúng sinh, không xưa nay... truyền vào Trung Quốc, đem những giới hạn trước đây ở ngôn thuyết, phải trái, thường đoạn, tất cả những tri kiến đối chọi đều quét một chổi sạch trơn. Chỉ nhân việc Võ Ðế chưa có thể lãnh ngộ được chân nghĩa của vấn đề Ðệ nhất nghĩa đế, tổ Ðạt-ma đến Bắc Ngụy diện bích chín năm, từ đây Thiền tông phát triển ở phương Bắc, Tuệ Khả, Tăng Xán, Ðạo Tín, Hoằng Nhẫn một mạch nối nhau. Từ Hoàng Mai trở đi, tông phái chia Nam, Bắc kế tục mà “một hoa năm cánh”. Tông phong mĩ mãn khắp thiên hạ, môn đình ngày một phồn vinh! Từ đó các thiền gia tận tình khai thị theo bệnh cho thuốc, nào là công án, truyện ký... ngữ lục của thiền gia không dưới vạn quyển, truyền cho đời sau như đèn một ngọn sáng ngời vĩnh viễn. Những ngữ lục ấy có thể khiến cho kẻ quyền quí như thiên tử đế vương phải khuất tất (quì gối), bọn Nho gia cao ngạo phải hồi tâm hướng theo cả. Người trước như Tuyên Tông đời Ðường, Hồng Võ đời Minh, Ung Chính đời Thanh .v.v... đều đã từng thưởng thức qua hương vị đậm đà của Thiền. Kẻ sau như Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, Âu Dương Tu, Lục Du, Tam Tô, Vương An Thạch, Tống Liêm, Cung Ðịnh Am .v.v... đều ảnh hưởng thấm đượm tư tưởng Thiền lạc (vui trong pháp vị thiền). Do vậy không thể không nói ánh sáng của Thiền gia không gì sánh nổi. Từ Ðường Tống trở về sau, Phật giáo Trung Quốc lấy Thiền làm trung tâm, các Tông phái khác đều dần dần suy lạc, chỉ có một mình Thiền tông phát huy môn đình, vĩ nhân kiệt xuất, vạn người xưng tụng sự hưng thịnh của Thiền môn, quả thật là “không tiền tuyệt hậu”. Kinh qua Hán, Ngụy, Tùy, Ðường trải ngàn năm nhào nặn, dung nhiếp hết huyền lý của Khổng, Mạnh, Lão, Trang, sản sinh ra Thiền Tông không gì sánh nổi. Từ đời Ðường về sau, bất luận là mỹ thuật, thi ca, luân lý, đạo lý, huyền học...không thứ nào chẳng hấp thụ sâu sắc tư tưởng tung hoành của Thiền. Chính nó đã thúc giục sản sinh ra phái Tính Lý học đời Tống mà xuất hiện “Học phong” (tông phong học phái): Chu Liêm Khê, Trình Minh Ðạo, Chu Tử, Lục Tượng Sơn .v.v... đặc biệt là triết học “tri hành hợp nhất” của Vương Dương Minh. Học thuyết ấy không thể không qui công về cho lực lượng của Thiền. Vậy nên Thiền đã chẳng là sản phẩm của Ấn Ðộ, mà là tinh túy của văn hóa phương Ðông. Do đó, chỉ cần giỏi nhận thức về Thiền thì đủ tài năng nhận thức được tinh thần văn hóa phương Ðông.


 

1 Tổ nhà Tuỳ: Dương Kiên phế bỏ Chu Tĩnh Ðế Vũ Văn Xiển, lên ngôi đế lập nhà Tuỳ, là Tuỳ Văn Ðế (581 TL).

2 Ðại Nghiệp : Niên hiệu Ðại Nghiệp năm thứ 14 đời Tuỳ Dượng Ðế (Dương Quảng-605 TL). 

3 Khẩn-na-la : Skt. Kimïnara, Pali. Kinnara, là thần âm nhạc.

4 Ðình Lập Tuyết : Lập tuyết là đứng trong tuyết. Dựng đình Lập Tuyết là để tưởng niệm chuyện Nhị Tổ Huệ Khả đứng trong tuyết nhiều ngày và chặt cánh tay trái dâng Bồ-đề Ðạt-ma cầu pháp.

5 Cỏ Ðường ĩ: Cùng loại cỏ Thỏ ty (tức dây tơ hồng).

6 Ðại Ðức: Ðời Nguyên Thành Tông (Thiết Mục Nhĩ), năm 1297 TL.

7 Tập hiền : Hay gọi Tập hiền viện, cơ quan giữ việc soạn văn chương, hiệu chính kinh điển thư tịch v.v...

8 Cước cân: Cái gót chân, chỉ cho sự giác ngộ .

9 Khuê Phong Tông Mật : Thiền sư đời Ðường (780-841), là vị tổ thứ năm tông Hoa nghiêm, trụ trì thảo đường Khuê Phong ở núi Chung Nam Trung Quốc.

10 Nam Bắc triều : Một thời kỳ lịch sử xuất hiện sau Ðông Tấn, từ năm 420-589. Nam Triều: Tống, Tề, Lương, Trần (420-588). Bắc Triều: Bắc Ngụy (Ðông ngụy, Tây Ngụy), Bắc Tề, Bắc Chu (396-581).

11 Y Lạc : Lược xưng tên sông do hai dòng nước Y, Lạc chảy qua huyện Lạc Dương, cùng xuôi về con sông tại tỉnh Hà Nam (Sông Y bắt nguồn từ núi Hùng Nhĩ tại huyện Lô Thị tỉnh Hà Nam. Sông Lạc bắt nguồn từ núi Trủng Lảnh, huyện Thượng Lạc tỉnh Thiểm Tây).

12 Tưởng Chi Kỳ : Người đời Tống, tự Dĩnh Thúc, Tiến sĩ khoa Hiền lương phương chánh. Năm đầu niên hiệu Hi Ninh vua Tống Thần Tông, ông được ủy nhiệm trong Ðiện trung thị ngự sử (giữ việc cứu sát triều nghi). Ðến đời vua Huy Tông, ông lại làm Quan văn điện học sĩ, khi ông mất được vua ban tên thụy Văn Mục. (Tác giả dẫn chứng Tưởng Chi Kỳ đồng thời với Ðạt-ma sư tổ có lẽ nhầm).

13 Nhất hoa ngũ diệp: Hay nhất hoa khai ngũ diệp. Khi Sơ tổ Ðạt-ma truyền trao y pháp cho Tuệ Khả có làm bài kệ:

Ngô bổn lai tư độ

Truyền pháp cứu mê tình

Nhất hoa khai ngũ diệp

Kết quả tự nhiên thành.

Ĩ







(Ta vốn đến chỗ này,

Truyền pháp cứu mê lầm,

Một hoa nở năm cánh

Kết quả ắt sẽ thành. 

        Cảnh Ðức Truyền Ðăng Lục q. 3, Ðại 51n2076, tr. 219c).

     Nhất hoa là chỉ cho Ðạt-ma truyền pháp. Ngũ diệp là tông Thiền từ ngài Huệ năng diễn biến thành ngũ phái: Tào Ðộng, Lâm Tế, Vân Môn, Qui Ngưỡng, Pháp Nhãn.   

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au