Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
KHẢO XÉT CHÙA BẠCH
MÃ
Nguyên tác Hán
văn:
Cao Vĩnh Tiêu
Việt dịch:
Tuệ Khai Cư
Sĩ
I. DUYÊN DO.
Chùa Bạch Mã
ở tại Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ðó là tự viện Phật
Giáo được tạo lập sớm nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Chùa Bạch
Mã kiểu kiến xây dựng thời Minh Ðế đời
Ðông Hán (58 TL) mà khoảng cách lịch sử ước chừng trên một ngàn
chín trăm năm, hiện nay vẫn còn tại vùng đất cách thành Ðông huyện Lạc
Dương hai mươi lăm dặm Trung Hoa. Nơi đó là thắng địa của người cúng lễ
sùng bái và du ngoạn. Học nhơn đã thận trọng khảo chứng ngôi chùa đó, ghi
lại để kỷ niệm vùng đất phát khởi tốt đẹp mở đầu cho sự du nhập Phật giáo
Trung Quốc.
II. SỰ TRUYỀN NHẬP CỦA PHẬT GIÁO.
Cuối đời Ðông
Hán, Mâu Dung soạn ra “Lý Hoặc Luận” đã ghi chép thuật lại quá trình Phật
giáo truyền vào Trung Quốc như sau:
Xưa Hiếu Minh
Hoàng Ðế nằm mơ thấy thần nhân thân sáng như mặt trời, bay ở trước điện,
hớn hở vui mừng. Sáng ngày, nhà vua hỏi khắp quần thần: “Ðây là thần gì?”.
Có người biết chuyện quả quyết tâu rằng: “Thần nghe ở Thiên Trúc có người
đắc đạo, hiệu là “Phật” bay đi trong hư không, thân sáng như mặt trời,
thần ngờ là vị thần ấy!”. Hiểu ra, nhà vua sai sứ giả Tương Khiên, Vũ Lâm
Trung Lang Tần Cảnh, Bác sĩ đệ tử Vương Tuân... gồm mười hai người đến
nước Ðại Nguyệt Thị,
chép được bốn mươi hai chương kinh Phật, cất ở gian thứ mười bốn của Lan
Ðài thạch thất. Bấy giờ đã khởi dựng chùa Phật ở bên ngoài Ung môn, phía
tây thành Lạc Dương. Vách chùa ấy vẽ cảnh nghìn xe muôn ngựa vây quanh
tháp ba vòng (Xem quyển 1 của Lương Tăng Tựu Hoằng Minh Tập).
Những điều
thuật ở trên được ghi chép tương tự ở trong kinh Lão Tử Hóa Hồ, trong bài
ký Xuất Tam Tạng của Lương Tăng Hựu, trong Cao Tăng Truyện của Lương Tuệ
Kiểu. Trong những sách ấy có viết rằng:
Trong năm Hán
Vĩnh Bình, vua sai Trung Lang Thái Âm Bác sĩ, đệ tử Tần Cảnh .v.v... đi xứ
sang Thiên Trúc tìm hỏi Phật pháp. Ðoàn sứ giả Thái Âm ở sứ đó gặp được
Ma-đằng mà mời trở về đất Hán.
Nơi Ma-đằng
đã ở hiện nay là chùa Bạch Mã, ở bên ngoài Ung môn phía tây thành Ly
Dương.
Lịch sử hai
ngàn năm trở về đây, thuyết Vĩnh Bình Hiếu Minh cầu pháp đã được giới Phật
giáo Trung Quốc khẳng định. Nhưng Lương Khải Siêu, ở trong bài viết “Phật
giáo chi sơ thâu nhập” (Sơ khởi Phật giáo du nhập Trung Quốc) nhận
định việc Hán Vĩnh Bình, Hiếu Minh Hoàng Ðế cầu pháp hoàn toàn là hư cấu.
Nguyên do dựng những chuyện ấy là vì sự đấu tranh của Thích giáo và Ðạo
giáo. Hai việc ấy đều do kẻ quê mùa chẳng học tạo dựng lên. Ðui mù dắt dẫn
nhau, kẻ trước người sau dựa dẫm vào dấu vết trên đường đi, rõ ràng có thể
tìm thấy .v.v... Ông ấy đã phủ định tính chân thật của kinh Tứ Thập Nhị
Chương và Lý Hoặc Luận của Mậu Tử (xem thiên 18 trong Phật học nghiên
cứu của Lương Khải Siêu).
Người học chỉ
y cứ vào phần thứ 78 của truyện Tây Vực trong Hậu Hán Thư, phần thứ ba
mươi bảy của Hán Kỷ trong Tư Trị Thông Giám, phần thứ ba mươi lăm của Phật
Tổ Thống Kỷ, phần thứ hai của Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ, phần thứ năm của Phật
Tổ Lịch Ðại Thông Tải .v.v... Làm điển cứ lịch sử mà xác định vấn đề. Còn
vấn đề chân hay ngụy của thuyết này, chắc là phải để lại cho độc giả quyết
định vậy.
III. NIÊN ÐẠI KIẾN TẠO CHÙA BẠCH MÃ
Chùa Bạch Mã
kiến trúc vào năm Vĩnh Bình thứ mười một (68 TL). Việc ấy đọc thấy ở phần
thứ 35 trong Phật Tổ Thống Kỷ:
Mười năm trước, Thái Âm .v.v... ở nước Ðại Nguyệt Thị bên Thiên Trúc gặp
được ngài Ca-diếp Ma-đằng, ngài
Trúc-pháp-lan, nhận được tượng Phật và kinh bản tiếng Phạm gồm sáu
mươi vạn lời, chở về bằng ngựa trắng đến Lạc Dương. Ngài Ma-đằng và
Trúc-pháp-lan mặc y phục Sa-môn vào yết kiến vua, vua cho ở tại Hồng Lô Tự
.
Năm Vĩnh Bình
thứ mười một, vua sắp lập chùa Bạch Mã ở bên ngoài cung môn phía tây thành
Lạc Dương. Khởi đầu ngài Ma-đằng dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương từ Phạn bản
(bản tiếng Phạn) chứa ở Lan Ðài Thạch Thất. Rồi cho vẽ tượng Phật ở của
Tây thành Lạc Dương và trên Lăng Hiển Tiết.
Chùa Bạch Mã
tên Bạch Mã, nhân vì việc dùng ngựa trắng chở kinh mà đặt tên, như để đền
ơn ngựa trắng. Nhưng ở chương trên đã chép rằng: “ở vách ngôi chùa ấy vẽ
cảnh ngàn xe muôn ngựa, quay quanh tháp ba vòng”, với ý nghĩa kiết tường
về ngôi chùa ấy thì cũng chưa có thể liệu đoán được.
Có người nhận
định là chùa Bạch Mã chính do chùa Hồng Lô xây dựng lại mà thành. Chỉ xem
lời thuật lại của đoạn văn trên thì hiển nhiên chẳng phải là sự thật. Hông
Lô Tự do các Ðế Vương đương thời thiết lập để chiêu đãi khách quý, nên
đương nhiên là nơi chốn rất là hoa lệ đường hoàng, mà đem nó cải trang
thành chùa viện thanh tịnh trang nghiêm thì tựa hồ chưa có thể kết hợp
điều kiện các mặt. Vậy nên chùa Bạch Mã thành lập riêng bên ngoài Ung môn
phía tây thành Lạc Dương là việc thuận lý đã thành văn vậy!
IV. NỀN CHÙA CỦA CHÙA BẠCH MÃ.
Bên trên đã
ghi chùa Bạch Mã xây dựng bên ngoài Ung môn phía tây thành Lạc Dương mà
chưa có nói rõ cái nền của ngôi chùa ấy. Y cứ vào việc soạn quyển Lạc
Dương Già Lam Ký của Dương Huyễn đời Hậu Ngụy, ở quyển thứ tư nói về bộ
phận của thành tây (phía tây thành Lạc Dương) có chép rằng:
Chùa Bạch Mã
do Hán Minh Ðế tạo dựng trong buổi đầu Phật giáo du nhập Trung Quốc. Chùa
ở phía Nam đường Ngự Ðạo (đường vua đi), cách ba dặm bên ngoài cửa
Tây Dương. Nhà vua nằm mơ thấy người vàng, lớn một trượng sáu, phía sau cổ
có ánh sáng như mặt trời mặt trăng, thần vàng hiệu là Phật, rồi sai sứ đi
đến Tây Vực cầu Phật mới được kinh và tượng. Nhờ ngựa trắng chở kinh về
lại, nhân đó lấy tên ngựa đặt. Hán Minh Ðế băng hà, khởi dựng nê-hoàn
(chôn cất) ở bên trên lăng. Từ đây về sau, người ta đều làm thế trên những
ngôi mộ cao, hoặc xây thành tháp (Phù-đồ), cái hộp đựng kinh trên
chùa đến nay vẫn còn. Người ta thường đốt hương cúng dường nó. Khi hộp
kinh phóng ra ánh sáng, sáng rực cả mái đường, do đó người đạo kẻ tục lễ
bái cung kính như chiêm ngưỡng chân dung.
Chùa Bạch Mã hiện nay ở phía Ðông huyện Trị, Lạc Dương, dọc theo phía bắc
quốc lộ, tức là cách hai mươi dặm Trung Hoa về phía Ðông thành Lạc Dương.
Trụ xứ của ngôi chùa ấy ở hai mươi dặm Trung Hoa, phía Bắc trạm Bạch Mã
Tự, đường đi Lũng Hải và gần đường sắt. Tại một vùng bình nguyên, sừng
sững dựng lên một Ðại tự miếu rộng lớn mầu vàng. Ðịa điểm hiện nay cùng
với những điều ghi chép trong Lạc Dương Già Lam chẳng phù hợp, mà nguyên
nhân vị trí thành Lạc Dương xưa và nay có sự dời đổi. Chùa Bạch Mã là đất
phát tốt lành của Già Lam Phật giáo Trung Quốc. Vương triều trãi qua nhiều
đời, đối với chùa Bạch Mã đều tỏ ra trọng thị. Kể từ đời Ðông Hán trở lại,
kinh qua Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, mỗi
triều đại thường tu bổ thêm và bảo hộ. Nhân đây mà Vương Thành Lạc Dương
tuy trãi qua chiến loạn binh tai bị hủy hoại nhiều, mà chùa Bạch Mã vẫn có
thể được bảo tồn đầy đủ, cho đến nay đã trở thành cổ tích thần thánh hơn
một ngìn năm. Ðiều này tuyệt chẳng phải là việc ngẫu nhiên vậy!
Ðáng tiếc,
chùa Bạch Mã là ngôi Già Lam tuy lớn nhưng thời gian sáng lập, di vật và
bi ký (bia ghi chép) v.v. Còn chưa phát hiện được. Việc này khiến
cho người ta cảm thấy bức rức trong lòng.
V. CẤU TẠO CỦA CHÙA BẠCH MÃ.
Cấu tạo của
chùa Bạch Mã đến ngày nay vẫn bảo trì được trạng thái hoàn chỉnh. Do đó
điện, các trong chùa ấy có thể nói cái mất đi, cái hiện hữu đều biến đổi
lớn lắm. Hiện tại tổng hợp những thứ được ghi chép mà miêu tả dưới đây:
Bên ngoài
chùa Bạch Mã là một vùng cỏ xanh rộng lớn, khắp chung quanh nhiều cây cối
được vun trồng xanh biếc, cao vượt tầng mây, khoảng giữa có một con đường
đá dẫn thẳng vào cửa chùa. Vậy chùa vào trong là vòng tường hoa mầu hoàng
kim. Sơn môn (cổng chùa) là xây kiểu “Tam quan” (bài lâu Ĩ),
trang nghiêm rộng lớn. Cửa chùa là ba cái cửa theo hình thức vòm thông
suốt. Trên chính giữa cửa có tấm biển (ngạch ) khắc ba chữ Bạch Mã Tự.
Bên phải, bên trái cửa sơn môn có một cặp sư tử đá mầu xanh đậm đối nhau.
Hai bên đông, tây có chạm tô hai thớt ngựa đá để làm kỷ niệm. Trên tường
vách đều rắc bột màu hồng chu, nổi bật lên lồ lộ, mười phần rực rỡ.
Bước đến cửa
lớn ngôi chùa, đầu tiên thấy hai bên đông, tây đều có một phần mộ xây bằng
những khối đá. Ðó là nơi yên nghỉ của hai vị đại tăng Nhiếp-ma-đằng và
Trúc-pháp-lan đã từng theo Thái Âm về Lạc Dương dịch kinh, mà vị Ðế Vương
đương thời xây dựng để kỷ niệm công đức cao dầy, đầy lao khổ của họ. Sở dĩ
hai vị ấy sau khi tịch được đem chôn ở trong chùa là để Phật tử đời sau
làm nơi điếu viếng.
Bên trong
chùa có bốn ngôi Phật điện và một đài các. Qua cửa chùa, tiến vào ngôi thứ
nhất là điện Thiên vương. Bên trong điện tô đắp tượng bốn vị Thiên vương
với chữ lớn “ PHONG ÐIỀU VŨ THUẬN ”. Ngôi thứ hai là điện đại Phật. Bên
trong điện, ở chính giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hai bên cạnh
tượng Phật là tượng hai vị Tôn giả Ðại Ca-diếp và Tôn giả A-nan đứng hầu.
Hai bên đông tây là tượng ngồi của Ngài Văn Thù Bồ-tát và Ngài Phổ Hiền
Bồ-tát. Ngôi điện thứ ba là điện Ðại Hùng, ở đó có tòa an vị tượng đức
Phật Thích Ca Thế Tôn. Hai bên cạnh tượng chạm khắc mười tám vị La-hán.
Ngôi sau cùng là điện Tiếp Dẫn. Tượng Phật bên trong mỗi ngôi điện, đại bộ
phận đều do sáu triều đại về sau tô tạo. Tượng các vị La-hán, sở dĩ biểu
hiện được thần thái sáng láng là do tinh hoa nghệ thuật đời nhà Minh.
Ở hậu viện có một ngôi đài các tên là Thanh Lương Ðài, cao khoảng bốn
trượng, chu vi hơn năm mươi trượng, đứng ở rìa phía Bắc của nội tự, trên
đài cao, bên trong có Tỳ-lô Các (lầu Tỳ-lô). Ðó là chỗ chứa kinh
của chùa Bạch Mã. Giữa lầu có tượng Phật Tỳ-lô-giá-na
và tượng Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền. Phía trước đặt một pho tượng Phật bằng
ngọc do Miến Ðiện tặng. Dưới vách phía tây có tượng đắp Ðạt-ma Tổ Sư.
Tường phía bắc có kinh văn của kinh “Bốn mươi hai chương” khắc đá. Ngoài
ra, trong lầu còn có tượng đắp ngài Nhiếp-ma-đằng và ngài Trúc-pháp-lan
sau khi đến Trung Quốc ở tại Tỳ-lô Các để dịch kinh, về sau bệnh viên tịch
luôn trong lầu Tỳ-lô Các. Có thể nói đây là “vị pháp tuẩn thân” (chết
vì pháp) vậy.
VI. THÁP CỦA CHÙA BẠCH MÃ.
Cùng với chùa
Bạch Mã, tháp của chùa Bạch Mã đều đồng một dạng trọng yếu. Ðáng tiếc là
người đương thời đối với Phật pháp đều chẳng xem trọng. Do đó việc xét tìm
chứng cứ của tháp chùa Bạch Mã, sưu tập tư liệu được rất ít, chỉ có hai
mẫu sau có thể thấy được chút manh mối việc ấy:
Thích Lão Chí
trong Ngụy Thư chép rằng: “Trong thành Lạc Dương tạo dựng chùa Bạch Mã,
tháp Phật (Phật đồ - Phật Phù-đồ) trang hoàng rất đẹp, nét vẽ rất
mỹ diệu, đáng làm khuôn phép cho bốn phương”.
Sự miêu tả
này đúng như hình thức cấu tạo tháp của chùa Bạch Mã hiện tại. Lại nữa,
đời xưa gọi tháp Phật là Phù-đồ . Chưa biết chừng là Phù-đồà nêu ở
đây tức là tháp của chùa Bạch Mã?
“... Cho sứ
giả đi Thiên Trúc, chép hết kinh, tượng rồi trước tiên dùng gỗ cây du (cây
sao) làm tháp, lót lá thù du (cây sơn thù du) đựng kinh, dùng ngựa trắng
chở tháp (Phù-đồ) về, bày ra giữa đất nước. Cho nên đặt “Bạch Mã
Tự”. Tháp gỗ du này về sau dời vào nội thành, đặt trong Phù-đồ (tháp)
thái tử Mẫn Hoài, đến đời gần đây lại dời vào chùa này (xem Thủy
kinh chú). ”
Vấn đề kiến
tạo tháp của chùa Bạch Mã hiện nay là khi kiến trúc chùa Bạch Mã đã không
xây dựng tháp. Nếu tháp chẳng xây đồng thời thì cuối cùng tháp của chùa
Bạch Mã kiến lập lúc nào mà theo sử tịch này không có gì khảo chứng.
VII. CHÙA BẠCH MÃ CỦA NHỮNG ÐỊA PHƯƠNG KHÁC.
Sau khi chùa
Bạch Mã ở Lạc Dương khai sáng kiến tạo thì các nơi khác cũng thay nhau bắt
chước kiến lập chùa Phật, cũng dùng “Bạch Mã Tự” đặt tên. Xem đoạn thuật
lại ở phần thứ tư của sách Lịch Ðại Tam Bảo Ký này thì rõ;
“...Xuống
chiếu sai sứ giả là Vũ Lâm Trung Lang Tần Cảnh, Bác sĩ Vương Tuân .v.v...
gồm 14 người sang Thiên Trúc, đến nước Nguyệt Chi gặp được Ngài
Nhiếp-ma-đằng, chép được kinh Phật bốn mươi hai chương, đồng thời được cả
họa tượng, dùng ngựa trắng chở về. Về đến thành Lạc Dương, nhân đó xây
dựng ngôi Già Lam đặt tên là Bạch Mã Tự. Các chùa đua nhau lập chùa để đền
ơn ngựa trắng”,
Về sau, các
triều đại kiến lập chùa cũng dùng Bạch Mã làm tên, như chùa Bạch Mã ở Kiến
Khang (tức là Nam Kinh, tỉnh Giang Tô hiện nay), được kiến tạo vào năm Ðại
Hưng thứ hai đời Tấn Nguyên Ðế (Tây Lịch 319) (Xem lịch sử kiến trúc
Trung Quốc của Y Ðông Trung Thái Thị).
VIII. SỰ NGHIỆP PHIÊN DỊCH HƯNG THỊNH TẠI CHÙA BẠCH MÃ.
Sự nghiệp
phiên dịch của chùa Bạch Mã lấy Nhiếp-ma-đằng, Trúc-pháp-lan làm đầu. Từ
đó về sau, tăng chúng nhiều đời của Trung Quốc cũng ở tại chùa đó phiên
dịch kinh điển. Nay đơn cử ra cảnh huống hưng thịnh của sự nghiệp kinh
dịch tại chùa Bạch Mã thời đại Tam Quốc.
Năm Gia Bình thứ hai (năm 250 TL) ngài
Ðàm-ma-ca-la (hoặc Ðàm-ha-ca-la, dịch nghĩa là Pháp Thời), người
Trung Thiên Trúc, đến Lạc Dương ở chùa Bạch Mã, dịch ra Tăng-kỳ Giới Tâm
(Tăng-kỳ luật). Sa-môn Ðàm-đế (Ðàm-vô-đế) người nước An Tức,
vào năm Chính nguyên thứ hai (năm 255 TL), cũng ở trong chùa Bạch Mã dịch
ra bộ Ðàm-vô-đức Yết-ma. Trước là giới bổn của Ma-ha Tăng-kỳ luật,
mà sau chính là giới pháp của Ðàm-vô-đức Tứ phần luật. (Xem Cao Tăng
Truyện 1, Phật Tổ Thống Kỷ 35).
Năm cuối Gia
Bình, Sa-môn Thiên Trúc là
Khương-tăng-khải (Tăng-già-bạt-ma) đến Lạc Dương, ở chùa
Bạch Mã dịch ra bốn bộ kinh như Úc Già Trưởng Giả Sở Vấn Kinh .v.v... Kinh
Vô Lượng Thọ hiện còn là bản dịch là Khương-tăng-khải. Năm Cam Lộ thứ ba
(năm 258 TL) Sa-môn Bạch Diên ở chùa Bạch Mã phiên dịch kinh Vô Lượng
Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác, cùng với bản dịch của Chi-sấm.
Ðương thời
Lạc Dương là đô thành Ðế Vương, cũng là trung tâm văn hóa nên sự nghiệp
phiên dịch phát triển là điều không thể nghi ngờ gì nữa.
IX. SỰ QUAN HỆ CHÙA BẠCH MÃ
CÙNG VỚI VĂN HÓA TRUNG QUỐC.
Từ khi Phật
giáo truyền vào Trung Quốc, ảnh hưởng mối quan hệ văn hóa của Trung Quốc
rất là trọng đại. Chùa Bạch Mã là chùa Phật Trung Quốc được sáng lập đầu
tiên. Ðối với các mặt kiến trúc, mỹ thuật, công nghệ đều có sự cống hiến
rất lớn. Tương truyền, thường là y chiếu vào tự viện Ấn Ðộ mà làm phỏng
theo. Nhưng sau khi kinh qua khảo chứng thì nhận thấy điều đó chẳng đáng
tin (xem lịch Sử Kiến Trúc Trung Quốc của Y Ðông Trung Thái Thị).
Bất luận như thế nào, việc xây dựng nên chùa Bạch Mã cũng đã khiến cho
nước Trung Quốc nhờ vào lịch sử tự viện Phật Giáo mà mở ra một vấn đề mới
Ðồng thời,
tại chùa Bạch Mã dịch ra kinh Tứ Thập Nhị Chương cũng được nhận định chính
là quyển kinh Phật phiên dịch trước tiên ở Trung Quốc. Ðiều đó chẳng riêng
là tín hiệu báo trước của nền văn học Phật giáo Trung Quốc, mà còn là nền
tảng của văn học phiên dịch Trung Quốc vậy. Từ khi kinh Tứ Thập Nhị Chương
mở đầu, thì về sau cảnh huống hưng thịnh của kinh dịch Trung Quốc có thể
nói là phồn vinh vô tiền khoáng hậu, nó ảnh hưởng đến mọi phương diện văn
học, triết học, tư tưởng và phong tục của Trung Quốc rất là trọng yếu. Kết
quả văn hóa Trung Quốc xán lạn, từ đây quả thật là tốt đẹp không gì hơn.
Huống chi sau
khi hai vị tăng nhân Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan đến Trung Hoa, chính
là mở đầu cho việc Trung Quốc có tăng nhân. Về sau, tăng chúng lục tục kéo
đến và pháp sư Trung Quốc đi Ấn Ðộ cầu pháp triền miên chẳng dứt. Vấn đề
giao lưu văn hóa của Trung Hoa và Ấn Ðộ nêu trên là công huân rất vĩ đại.
X. LỜI KẾT:
Quan sát kết
hợp những điều đã thuật ở trên, người ta cảm nhận được tính trọng yếu của
chùa Bạch Mã nên xem trọng và ưu ái hộ trì, như chúng ta hiện nay tiếc
thương trân trọng nơi sinh ra của Ðức Phật Ðà Thích Ca Mâu Ni - vườn
Lâm-tỳ-ni tại Ni-bạc-nhĩ (Nepal), là nơi bắt nguồn đầu tiên của Phật giáo.
Phật giáo đồ toàn thế giới đều nhân đây mà cảm thấy tự hào.
Cũng như thế,
chùa Bạch Mã là đất phát sinh ra Phật giáo Trung Quốc, ảnh hưởng đến sự
truyền bá và phát triển Phật giáo hàng ngàn năm sau. Do đó Phật giáo đồ
toàn thế giới cần phải hộ trì và tôn sùng ngôi chùa cổ tích thần thánh của
Phật giáo Trung Quốc này.
---o0o---
[Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]
[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 01- 4 -2004