Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Thánh Tích Phật Giáo


...... ... .


Pháp Tạng 79

 PL. 2547 - 2003

 

Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc

 

Chủ biên: Trương Mạn Ðào

Việt dịch: Tuệ Khai cư sĩ

Hiệu đính: Thích Ðỗng Minh

Chú thích: Thích Tâm Nhãn

---o0o---
 

KHẢO XÉT CHÙA BẠCH MÃ

 

Nguyên tác Hán văn: Cao Vĩnh Tiêu

Việt dịch: Tuệ Khai Cư Sĩ 

 

I. DUYÊN DO.

Chùa Bạch Mã ở tại Lạc Dương, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ðó là tự viện Phật Giáo được tạo lập sớm nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc. Chùa Bạch Mã kiểu kiến xây dựng thời Minh Ðế đời Ðông Hán (58 TL) mà khoảng cách lịch sử ước chừng trên một ngàn chín trăm năm, hiện nay vẫn còn tại vùng đất cách thành Ðông huyện Lạc Dương hai mươi lăm dặm Trung Hoa. Nơi đó là thắng địa của người cúng lễ sùng bái và du ngoạn. Học nhơn đã thận trọng khảo chứng ngôi chùa đó, ghi lại để kỷ niệm vùng đất phát khởi tốt đẹp mở đầu cho sự du nhập Phật giáo Trung Quốc.

 

II. SỰ TRUYỀN NHẬP CỦA PHẬT GIÁO.

Cuối đời Ðông Hán, Mâu Dung soạn ra “Lý Hoặc Luận” đã ghi chép thuật lại quá trình Phật giáo truyền vào Trung Quốc như sau:

Xưa Hiếu Minh Hoàng Ðế nằm mơ thấy thần nhân thân sáng như mặt trời, bay ở trước điện, hớn hở vui mừng. Sáng ngày, nhà vua hỏi khắp quần thần: “Ðây là thần gì?”. Có người biết chuyện quả quyết tâu rằng: “Thần nghe ở Thiên Trúc có người đắc đạo, hiệu là “Phật” bay đi trong hư không, thân sáng như mặt trời, thần ngờ là vị thần ấy!”. Hiểu ra, nhà vua sai sứ giả Tương Khiên, Vũ Lâm Trung Lang Tần Cảnh, Bác sĩ đệ tử Vương Tuân... gồm mười hai người đến nước Ðại Nguyệt Thị1, chép được bốn mươi hai chương kinh Phật, cất ở gian thứ mười bốn của Lan Ðài thạch thất. Bấy giờ đã khởi dựng chùa Phật ở bên ngoài Ung môn, phía tây thành Lạc Dương. Vách chùa ấy vẽ cảnh nghìn xe muôn ngựa vây quanh tháp ba vòng (Xem quyển 1 của Lương Tăng Tựu Hoằng Minh Tập).

Những điều thuật ở trên được ghi chép tương tự ở trong kinh Lão Tử Hóa Hồ, trong bài ký Xuất Tam Tạng của Lương Tăng Hựu, trong Cao Tăng Truyện của Lương Tuệ Kiểu. Trong những sách ấy có viết rằng:

Trong năm Hán Vĩnh Bình, vua sai Trung Lang Thái Âm Bác sĩ, đệ tử Tần Cảnh .v.v... đi xứ sang Thiên Trúc tìm hỏi Phật pháp. Ðoàn sứ giả Thái Âm ở sứ đó gặp được Ma-đằng mà mời trở về đất Hán.

Nơi Ma-đằng đã ở hiện nay là chùa Bạch Mã, ở bên ngoài Ung môn phía tây thành Ly Dương.

Lịch sử hai ngàn năm trở về đây, thuyết Vĩnh Bình Hiếu Minh cầu pháp đã được giới Phật giáo Trung Quốc khẳng định. Nhưng Lương Khải Siêu, ở trong bài viết “Phật giáo chi sơ thâu nhập” (Sơ khởi Phật giáo du nhập Trung Quốc) nhận định việc Hán Vĩnh Bình, Hiếu Minh Hoàng Ðế cầu pháp hoàn toàn là hư cấu. Nguyên do dựng những chuyện ấy là vì sự đấu tranh của Thích giáo và Ðạo giáo. Hai việc ấy đều do kẻ quê mùa chẳng học tạo dựng lên. Ðui mù dắt dẫn nhau, kẻ trước người sau dựa dẫm vào dấu vết trên đường đi, rõ ràng có thể tìm thấy .v.v... Ông ấy đã phủ định tính chân thật của kinh Tứ Thập Nhị Chương và Lý Hoặc Luận của Mậu Tử (xem thiên 18 trong Phật học nghiên cứu của Lương Khải Siêu).

Người học chỉ y cứ vào phần thứ 78 của truyện Tây Vực trong Hậu Hán Thư, phần thứ ba mươi bảy của Hán Kỷ trong Tư Trị Thông Giám, phần thứ ba mươi lăm của Phật Tổ Thống Kỷ, phần thứ hai của Lịch Ðại Tam Bảo Kỷ, phần thứ năm của Phật Tổ Lịch Ðại Thông Tải .v.v... Làm điển cứ lịch sử mà xác định vấn đề. Còn vấn đề chân hay ngụy của thuyết này, chắc là phải để lại cho độc giả quyết định vậy.

 

III. NIÊN ÐẠI KIẾN TẠO CHÙA BẠCH MÃ

Chùa Bạch Mã kiến trúc vào năm Vĩnh Bình thứ mười một (68 TL). Việc ấy đọc thấy ở phần thứ 35 trong Phật Tổ Thống Kỷ:

Mười năm trước, Thái Âm .v.v... ở nước Ðại Nguyệt Thị bên Thiên Trúc gặp được ngài Ca-diếp Ma-đằng, ngài Trúc-pháp-lan, nhận được tượng Phật và kinh bản tiếng Phạm gồm sáu mươi vạn lời, chở về bằng ngựa trắng đến Lạc Dương. Ngài Ma-đằng và Trúc-pháp-lan mặc y phục Sa-môn vào yết kiến vua, vua cho ở tại Hồng Lô Tự .

Năm Vĩnh Bình thứ mười một, vua sắp lập chùa Bạch Mã ở bên ngoài cung môn phía tây thành Lạc Dương. Khởi đầu ngài Ma-đằng dịch kinh Tứ Thập Nhị Chương từ Phạn bản (bản tiếng Phạn) chứa ở Lan Ðài Thạch Thất. Rồi cho vẽ tượng Phật ở của Tây thành Lạc Dương và trên Lăng Hiển Tiết.

Chùa Bạch Mã tên Bạch Mã, nhân vì việc dùng ngựa trắng chở kinh mà đặt tên, như để đền ơn ngựa trắng. Nhưng ở chương trên đã chép rằng: “ở vách ngôi chùa ấy vẽ cảnh ngàn xe muôn ngựa, quay quanh tháp ba vòng”, với ý nghĩa kiết tường về ngôi chùa ấy thì cũng chưa có thể liệu đoán được.

Có người nhận định là chùa Bạch Mã chính do chùa Hồng Lô xây dựng lại mà thành. Chỉ xem lời thuật lại của đoạn văn trên thì hiển nhiên chẳng phải là sự thật. Hông Lô Tự do các Ðế Vương đương thời thiết lập để chiêu đãi khách quý, nên đương nhiên là nơi chốn rất là hoa lệ đường hoàng, mà đem nó cải trang thành chùa viện thanh tịnh trang nghiêm thì tựa hồ chưa có thể kết hợp điều kiện các mặt. Vậy nên chùa Bạch Mã thành lập riêng bên ngoài Ung môn phía tây thành Lạc Dương là việc thuận lý đã thành văn vậy!

 

IV. NỀN CHÙA CỦA CHÙA BẠCH MÃ.

Bên trên đã ghi chùa Bạch Mã xây dựng bên ngoài Ung môn phía tây thành Lạc Dương mà chưa có nói rõ cái nền của ngôi chùa ấy. Y cứ vào việc soạn quyển Lạc Dương Già Lam Ký của Dương Huyễn đời Hậu Ngụy, ở quyển thứ tư nói về bộ phận của thành tây (phía tây thành Lạc Dương) có chép rằng:

Chùa Bạch Mã do Hán Minh Ðế tạo dựng trong buổi đầu Phật giáo du nhập Trung Quốc. Chùa ở phía Nam đường Ngự Ðạo (đường vua đi), cách ba dặm bên ngoài cửa Tây Dương. Nhà vua nằm mơ thấy người vàng, lớn một trượng sáu, phía sau cổ có ánh sáng như mặt trời mặt trăng, thần vàng hiệu là Phật, rồi sai sứ đi đến Tây Vực cầu Phật mới được kinh và tượng. Nhờ ngựa trắng chở kinh về lại, nhân đó lấy tên ngựa đặt. Hán Minh Ðế băng hà, khởi dựng nê-hoàn (chôn cất) ở bên trên lăng. Từ đây về sau, người ta đều làm thế trên những ngôi mộ cao, hoặc xây thành tháp (Phù-đồ), cái hộp đựng kinh trên chùa đến nay vẫn còn. Người ta thường đốt hương cúng dường nó. Khi hộp kinh phóng ra ánh sáng, sáng rực cả mái đường, do đó người đạo kẻ tục lễ bái cung kính như chiêm ngưỡng chân dung.

Chùa Bạch Mã hiện nay ở phía Ðông huyện Trị, Lạc Dương, dọc theo phía bắc quốc lộ, tức là cách hai mươi dặm Trung Hoa về phía Ðông thành Lạc Dương. Trụ xứ của ngôi chùa ấy ở hai mươi dặm Trung Hoa, phía Bắc trạm Bạch Mã Tự, đường đi Lũng Hải và gần đường sắt. Tại một vùng bình nguyên, sừng sững dựng lên một Ðại tự miếu rộng lớn mầu vàng. Ðịa điểm hiện nay cùng với những điều ghi chép trong Lạc Dương Già Lam chẳng phù hợp, mà nguyên nhân vị trí thành Lạc Dương xưa và nay có sự dời đổi. Chùa Bạch Mã là đất phát tốt lành của Già Lam Phật giáo Trung Quốc. Vương triều trãi qua nhiều đời, đối với chùa Bạch Mã đều tỏ ra trọng thị. Kể từ đời Ðông Hán trở lại, kinh qua Ngụy, Tấn, Nam Bắc Triều, Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, mỗi triều đại thường tu bổ thêm và bảo hộ. Nhân đây mà Vương Thành Lạc Dương tuy trãi qua chiến loạn binh tai bị hủy hoại nhiều, mà chùa Bạch Mã vẫn có thể được bảo tồn đầy đủ, cho đến nay đã trở thành cổ tích thần thánh hơn một ngìn năm. Ðiều này tuyệt chẳng phải là việc ngẫu nhiên vậy!

Ðáng tiếc, chùa Bạch Mã là ngôi Già Lam tuy lớn nhưng thời gian sáng lập, di vật và bi ký (bia ghi chép) v.v. Còn chưa phát hiện được. Việc này khiến cho người ta cảm thấy bức rức trong lòng.

 

V. CẤU TẠO CỦA CHÙA BẠCH MÃ.

Cấu tạo của chùa Bạch Mã đến ngày nay vẫn bảo trì được trạng thái hoàn chỉnh. Do đó điện, các trong chùa ấy có thể nói cái mất đi, cái hiện hữu đều biến đổi lớn lắm. Hiện tại tổng hợp những thứ được ghi chép mà miêu tả dưới đây:

Bên ngoài chùa Bạch Mã là một vùng cỏ xanh rộng lớn, khắp chung quanh nhiều cây cối được vun trồng xanh biếc, cao vượt tầng mây, khoảng giữa có một con đường đá dẫn thẳng vào cửa chùa. Vậy chùa vào trong là vòng tường hoa mầu hoàng kim. Sơn môn (cổng chùa) là xây kiểu “Tam quan” (bài lâu Ĩ), trang nghiêm rộng lớn. Cửa chùa là ba cái cửa theo hình thức vòm thông suốt. Trên chính giữa cửa có tấm biển (ngạch ) khắc ba chữ Bạch Mã Tự. Bên phải, bên trái cửa sơn môn có một cặp sư tử đá mầu xanh đậm đối nhau. Hai bên đông, tây có chạm tô hai thớt ngựa đá để làm kỷ niệm. Trên tường vách đều rắc bột màu hồng chu, nổi bật lên lồ lộ, mười phần rực rỡ.

Bước đến cửa lớn ngôi chùa, đầu tiên thấy hai bên đông, tây đều có một phần mộ xây bằng những khối đá. Ðó là nơi yên nghỉ của hai vị đại tăng Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan đã từng theo Thái Âm về Lạc Dương dịch kinh, mà vị Ðế Vương đương thời xây dựng để kỷ niệm công đức cao dầy, đầy lao khổ của họ. Sở dĩ hai vị ấy sau khi tịch được đem chôn ở trong chùa là để Phật tử đời sau làm nơi điếu viếng.

Bên trong chùa có bốn ngôi Phật điện và một đài các. Qua cửa chùa, tiến vào ngôi thứ nhất là điện Thiên vương. Bên trong điện tô đắp tượng bốn vị Thiên vương với chữ lớn “ PHONG ÐIỀU VŨ THUẬN ”. Ngôi thứ hai là điện đại Phật. Bên trong điện, ở chính giữa thờ tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hai bên cạnh tượng Phật là tượng hai vị Tôn giả Ðại Ca-diếp và Tôn giả A-nan đứng hầu. Hai bên đông tây là tượng ngồi của Ngài Văn Thù Bồ-tát và Ngài Phổ Hiền Bồ-tát. Ngôi điện thứ ba là điện Ðại Hùng, ở đó có tòa an vị tượng đức Phật Thích Ca Thế Tôn. Hai bên cạnh tượng chạm khắc mười tám vị La-hán. Ngôi sau cùng là điện Tiếp Dẫn. Tượng Phật bên trong mỗi ngôi điện, đại bộ phận đều do sáu triều đại về sau tô tạo. Tượng các vị La-hán, sở dĩ biểu hiện được thần thái sáng láng là do tinh hoa nghệ thuật đời nhà Minh.

Ở hậu viện có một ngôi đài các tên là Thanh Lương Ðài, cao khoảng bốn trượng, chu vi hơn năm mươi trượng, đứng ở rìa phía Bắc của nội tự, trên đài cao, bên trong có Tỳ-lô Các (lầu Tỳ-lô). Ðó là chỗ chứa kinh của chùa Bạch Mã. Giữa lầu có tượng Phật Tỳ-lô-giá-na2 và tượng Bồ-tát Văn Thù, Phổ Hiền. Phía trước đặt một pho tượng Phật bằng ngọc do Miến Ðiện tặng. Dưới vách phía tây có tượng đắp Ðạt-ma Tổ Sư. Tường phía bắc có kinh văn của kinh “Bốn mươi hai chương” khắc đá. Ngoài ra, trong lầu còn có tượng đắp ngài Nhiếp-ma-đằng và ngài Trúc-pháp-lan sau khi đến Trung Quốc ở tại Tỳ-lô Các để dịch kinh, về sau bệnh viên tịch luôn trong lầu Tỳ-lô Các. Có thể nói đây là “vị pháp tuẩn thân” (chết vì pháp) vậy.

 

VI. THÁP CỦA CHÙA BẠCH MÃ.

Cùng với chùa Bạch Mã, tháp của chùa Bạch Mã đều đồng một dạng trọng yếu. Ðáng tiếc là người đương thời đối với Phật pháp đều chẳng xem trọng. Do đó việc xét tìm chứng cứ của tháp chùa Bạch Mã, sưu tập tư liệu được rất ít, chỉ có hai mẫu sau có thể thấy được chút manh mối việc ấy:

Thích Lão Chí trong Ngụy Thư chép rằng: “Trong thành Lạc Dương tạo dựng chùa Bạch Mã, tháp Phật (Phật đồ - Phật Phù-đồ) trang hoàng rất đẹp, nét vẽ rất mỹ diệu, đáng làm khuôn phép cho bốn phương”.

Sự miêu tả này đúng như hình thức cấu tạo tháp của chùa Bạch Mã hiện tại. Lại nữa, đời xưa gọi tháp Phật là Phù-đồ . Chưa biết chừng là Phù-đồà nêu ở đây tức là tháp của chùa Bạch Mã?

“... Cho sứ giả đi Thiên Trúc, chép hết kinh, tượng rồi trước tiên dùng gỗ cây du (cây sao) làm tháp, lót lá thù du (cây sơn thù du) đựng kinh, dùng ngựa trắng chở tháp (Phù-đồ) về, bày ra giữa đất nước. Cho nên đặt “Bạch Mã Tự”. Tháp gỗ du này về sau dời vào nội thành, đặt trong Phù-đồ (tháp) thái tử Mẫn Hoài, đến đời gần đây lại dời vào chùa này (xem Thủy kinh chú). ”

Vấn đề kiến tạo tháp của chùa Bạch Mã hiện nay là khi kiến trúc chùa Bạch Mã đã không xây dựng tháp. Nếu tháp chẳng xây đồng thời thì cuối cùng tháp của chùa Bạch Mã kiến lập lúc nào mà theo sử tịch này không có gì khảo chứng.

 

VII. CHÙA BẠCH MÃ CỦA NHỮNG ÐỊA PHƯƠNG KHÁC.

Sau khi chùa Bạch Mã ở Lạc Dương khai sáng kiến tạo thì các nơi khác cũng thay nhau bắt chước kiến lập chùa Phật, cũng dùng “Bạch Mã Tự” đặt tên. Xem đoạn thuật lại ở phần thứ tư của sách Lịch Ðại Tam Bảo Ký này thì rõ;

“...Xuống chiếu sai sứ giả là Vũ Lâm Trung Lang Tần Cảnh, Bác sĩ Vương Tuân .v.v... gồm 14 người sang Thiên Trúc, đến nước Nguyệt Chi gặp được Ngài Nhiếp-ma-đằng, chép được kinh Phật bốn mươi hai chương, đồng thời được cả họa tượng, dùng ngựa trắng chở về. Về đến thành Lạc Dương, nhân đó xây dựng ngôi Già Lam đặt tên là Bạch Mã Tự. Các chùa đua nhau lập chùa để đền ơn ngựa trắng”,

Về sau, các triều đại kiến lập chùa cũng dùng Bạch Mã làm tên, như chùa Bạch Mã ở Kiến Khang (tức là Nam Kinh, tỉnh Giang Tô hiện nay), được kiến tạo vào năm Ðại Hưng thứ hai đời Tấn Nguyên Ðế (Tây Lịch 319) (Xem lịch sử kiến trúc Trung Quốc của Y Ðông Trung Thái Thị).

 

VIII. SỰ NGHIỆP PHIÊN DỊCH HƯNG THỊNH TẠI CHÙA BẠCH MÃ.

Sự nghiệp phiên dịch của chùa Bạch Mã lấy Nhiếp-ma-đằng, Trúc-pháp-lan làm đầu. Từ đó về sau, tăng chúng nhiều đời của Trung Quốc cũng ở tại chùa đó phiên dịch kinh điển. Nay đơn cử ra cảnh huống hưng thịnh của sự nghiệp kinh dịch tại chùa Bạch Mã thời đại Tam Quốc.

Năm Gia Bình thứ hai (năm 250 TL) ngài Ðàm-ma-ca-la (hoặc Ðàm-ha-ca-la, dịch nghĩa là Pháp Thời), người Trung Thiên Trúc, đến Lạc Dương ở chùa Bạch Mã, dịch ra Tăng-kỳ Giới Tâm (Tăng-kỳ luật). Sa-môn Ðàm-đế (Ðàm-vô-đế) người nước An Tức3, vào năm Chính nguyên thứ hai (năm 255 TL), cũng ở trong chùa Bạch Mã dịch ra bộ Ðàm-vô-đức Yết-ma. Trước là giới bổn của Ma-ha Tăng-kỳ luật, mà sau chính là giới pháp của Ðàm-vô-đức Tứ phần luật. (Xem Cao Tăng Truyện 1, Phật Tổ Thống Kỷ 35).

Năm cuối Gia Bình, Sa-môn Thiên Trúc là Khương-tăng-khải (Tăng-già-bạt-ma) đến Lạc Dương, ở chùa Bạch Mã dịch ra bốn bộ kinh như Úc Già Trưởng Giả Sở Vấn Kinh .v.v... Kinh Vô Lượng Thọ hiện còn là bản dịch là Khương-tăng-khải. Năm Cam Lộ thứ ba (năm 258 TL) Sa-môn Bạch Diên ở chùa Bạch Mã phiên dịch kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Ðẳng Giác, cùng với bản dịch của Chi-sấm.

Ðương thời Lạc Dương là đô thành Ðế Vương, cũng là trung tâm văn hóa nên sự nghiệp phiên dịch phát triển là điều không thể nghi ngờ gì nữa.

 

IX. SỰ QUAN HỆ CHÙA BẠCH MÃ CÙNG VỚI VĂN HÓA TRUNG QUỐC.

Từ khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc, ảnh hưởng mối quan hệ văn hóa của Trung Quốc rất là trọng đại. Chùa Bạch Mã là chùa Phật Trung Quốc được sáng lập đầu tiên. Ðối với các mặt kiến trúc, mỹ thuật, công nghệ đều có sự cống hiến rất lớn. Tương truyền, thường là y chiếu vào tự viện Ấn Ðộ mà làm phỏng theo. Nhưng sau khi kinh qua khảo chứng thì nhận thấy điều đó chẳng đáng tin (xem lịch Sử Kiến Trúc Trung Quốc của Y Ðông Trung Thái Thị). Bất luận như thế nào, việc xây dựng nên chùa Bạch Mã cũng đã khiến cho nước Trung Quốc nhờ vào lịch sử tự viện Phật Giáo mà mở ra một vấn đề mới

Ðồng thời, tại chùa Bạch Mã dịch ra kinh Tứ Thập Nhị Chương cũng được nhận định chính là quyển kinh Phật phiên dịch trước tiên ở Trung Quốc. Ðiều đó chẳng riêng là tín hiệu báo trước của nền văn học Phật giáo Trung Quốc, mà còn là nền tảng của văn học phiên dịch Trung Quốc vậy. Từ khi kinh Tứ Thập Nhị Chương mở đầu, thì về sau cảnh huống hưng thịnh của kinh dịch Trung Quốc có thể nói là phồn vinh vô tiền khoáng hậu, nó ảnh hưởng đến mọi phương diện văn học, triết học, tư tưởng và phong tục của Trung Quốc rất là trọng yếu. Kết quả văn hóa Trung Quốc xán lạn, từ đây quả thật là tốt đẹp không gì hơn.

Huống chi sau khi hai vị tăng nhân Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan đến Trung Hoa, chính là mở đầu cho việc Trung Quốc có tăng nhân. Về sau, tăng chúng lục tục kéo đến và pháp sư Trung Quốc đi Ấn Ðộ cầu pháp triền miên chẳng dứt. Vấn đề giao lưu văn hóa của Trung Hoa và Ấn Ðộ nêu trên là công huân rất vĩ đại.

 

X. LỜI KẾT:

Quan sát kết hợp những điều đã thuật ở trên, người ta cảm nhận được tính trọng yếu của chùa Bạch Mã nên xem trọng và ưu ái hộ trì, như chúng ta hiện nay tiếc thương trân trọng nơi sinh ra của Ðức Phật Ðà Thích Ca Mâu Ni - vườn Lâm-tỳ-ni tại Ni-bạc-nhĩ (Nepal), là nơi bắt nguồn đầu tiên của Phật giáo. Phật giáo đồ toàn thế giới đều nhân đây mà cảm thấy tự hào.

Cũng như thế, chùa Bạch Mã là đất phát sinh ra Phật giáo Trung Quốc, ảnh hưởng đến sự truyền bá và phát triển Phật giáo hàng ngàn năm sau. Do đó Phật giáo đồ toàn thế giới cần phải hộ trì và tôn sùng ngôi chùa cổ tích thần thánh của Phật giáo Trung Quốc này.


 


1 Nước Ðại Nguyệt Thị ĩKusïana): Hay gọi Nguyệt Chi (Tk 3 -Tk 5 TCN), phía tây bắc Ấn Ðộ.   

2 Phật Tỳ-lô-giá-na anskrit. Mahªvairocana-tathª hoặc Vairocana, tên dịch âm của Ðại Nhật Phật. Một trong Ngũ Phật, hiện thân của Pháp giới. Vị Phật đầu tiên được xem là chuyển hoá từ Pháp thân.

3 An Tức  (Parthia): Vương quốc Ba Tư thời xưa, nay là nước Y Lãng (Iran).

 

---o0o---

[Mục Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]

 

[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01- 4 -2004

 

Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Thánh Tích

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@tpg.com.au