| ...... ... |
. |
Pháp Tạng 79
PL.
2547 - 2003
Lịch Sử Chùa Tháp Trung Quốc
Chủ biên:
Trương Mạn
Ðào
Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ
Hiệu đính:
Thích Ðỗng Minh
Chú thích:
Thích Tâm Nhãn
---o0o---
LỜI GIỚI THIỆU
Bộ “Hiện Ðại Phật
Giáo Học Thuật Tùng San” này, gồm có 100 tập, mỗi tập độ 300, 400 trang,
do cư sĩ Trương Mạn Ðào chủ trương biên tập. Thời gian biên tập,
từ năm Dân Quốc thứ nhất (1911) đến năm Dân Quốc thứ 67 (1978) mới xong. Trong
100 tập này, có 823 tác giả, viết 1776 bài, trình bày với tính nghiên cứu uyên
thâm 10 chủ đề: Thiền tông, Phật giáo sử, Duy thức, Hoa nghiêm, Tam luận,
Thiên thai, Tịnh độ, Mật tông, Luận tông và Phật giáo Ấn Ðộ.
Tập thứ 59 này, tác
giả nghiên cứu về chùa và tháp của Phật giáo Trung Quốc; cư sĩ
Tuệ Khai vừa mới dịch xong.
Chúng ta đọc tập
sách này, mới thấy sự hùng vĩ đầy thiền vị, sự thiêng liêng đầy cao cả, sự mầu
nhiệm tuyệt vời của chùa và tháp Phật giáo Trung Quốc; đồng thời, chúng ta cũng
thấy được chư Tôn Ðức Tăng, Ni và Thiện Nam, Tín Nữ Trung Quốc, bằng cách nào,
với tấm lòng vì đạo của họ, mà họ đã xây dựng, và bảo tồn những chùa và tháp đó,
trải qua hàng ngàn năm?
Khi cư sĩ Tuệ
Khai chọn chủ đề này để dịch, có nói với chúng tôi là:“Dịch để học
về sự nghiệp chùa tháp của họ”. Ðây là một câu nói có ý thức và ý
nghĩa...
Như vậy, 100 tập
của bộ “Hiện Ðại Phật Giáo Học Thuật Tùng San” này, thì tập mang
số 59 được ra mắt chư Tôn Ðức và quí Ðộc giả trước nhất. Nhưng theo thứ thự được
sắp xếp vào “Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam”, thì nó mang số 79, chứ
không phải 59 như nguyên vị của nó, mong chư Tôn Ðức cùng quí Ðộc giả cảm thông.
Với tất cả sự trân
trọng ngưỡng mộ sự nghiệp chùa tháp của Phật giáo Trung Quốc, chúng tôi
xin mạng phép giới thiệu cùng chư Tôn Ðức và quí Ðộc giả tập Pháp Tạng mang số
79 này.
Trong công tác dịch
thuật, không sao tránh khỏi sự nhầm lẫn sai sót, mong quí vị hoan hỷ chỉ giáo
cho, để khi tái bản được hoàn chỉnh hơn.
Chúng tôi xin chân
thành tri ân quí liệt vị.
Cẩn bạch,
Tỳ-kheo Thích Ðỗng Minh
ÐÔI DÒNG DẪN
NHẬP
Tuệ Khai Cư Sĩ
Chùa
– Tháp, hai hình thức kiến trúc độc đáo biểu trưng cho Phật giáo: Nơi nào
có Chùa – Tháp thì nơi đó có Phật giáo, nước nào nhiều Chùa – Tháp là
nhân dân nước đó thâm tín Phật giáo, địa phương nào bảo tồn được cảnh chùa
ngôi tháp cổ lâu đời thì Phật giáo địa phương đó rễ sâu gốc bền trong tâm
linh của nhân dân địa phương. Có điều thú vị là từ “Chùa” (Tự) có nguồn
gốc Trung Quốc, một nước không phải là nơi phát tích Phật giáo, còn từ
“Tháp” (Phù-đồ) lại có nguồn gốc Ấn Ðộ, nơi cội nguồn của Phật giáo. Thuở
đức Phật còn tại thế, tùy theo địa bàn hành hóa của Ngài và các đệ tử mà
thành lập những cơ sở cố định gọi là “Tinh xá” (tinh xá chứ không phải
tịnh xá). Những tinh xá này có qui mô nhỏ hay lớn tùy theo nhu cầu sử
dụng, như tinh xá Kỳ Hoàn do ngài Xá-lợi Phất thiết kế xây dựng với sự phụ
trợ về tài lực vật lực của trưởng giả Cấp-cô-độc và thái tử Kỳ Ðà, có qui
mô rất lớn, nhà cửa đình viện rất nhiều, một trong những địa điểm đức Phật
thường lưu trú hay nói đầu Kinh (mở đầu các bộ kinh hay nhắc đến địa danh
này với tên gọi “Kỳ Thọ Cấp-cô-độc Viên”), là một trung tâm Phật giáo nổi
tiếng lúc bấy giờ (tại đây đã diễn ra nhiều cuộc tranh luận với ngoại
đạo). Thế tại sao hiện nay Phật giáo Việt
Nam,
Phật giáo Trung Quốc không tọi Tinh Xá – Tháp mà gọi là Chùa–Tháp? Thật ra
việc này có liên quan đến sự kiện đoàn sứ giả do Thái Âm cầm đầu cùng hai
vị tăng Tây Vực là Nhiếp-ma-đằng và Trúc-pháp-lan dùng ngựa trắng chở Kinh
về Lạc Dương được vua Hán Minh Ðế mời ở tạm nơi nhà khách tên là Hồng Lô
Tự, trong thời gian xây dựng chùa Bạch Mã (ngôi chùa đầu tiên của Phật
giáo Trung Quốc – có thuyết cho là chùa Bạch Mã do Hồng Lô Tự cải biến).
Có lẽ do hai vị khách tăng ở tạm nơi Hồng Lô Tự nên khi xây xong ngôi Bạch
Mã mà gọi luôn là Bạch Mã Tự, và từ “Tự” là Chùa Phật phát sinh từ đây
vậy.
Từ từ “Tinh Xá” đến từ “Chùa” chúng ta thấy nội dung của chúng có một điểm
giống nhau là nhà ở tinh khiết của đức Phật và chư tăng. Nhà tinh khiết
tức là người ở trong nhà phải tinh khiết và những người đến với nhà ấy
cũng phải tinh khiết (dù là tinh khiết tạm thời!). Như vậy tinh xá hay
chùa không phải là một đền thờ mà là một ngôi nhà ở của Phật và Tăng. Ðây
là điểm khác biệt cơ bản giữa tinh xá – chùa với đền thờ của các tôn giáo
khác, như nhà thờ Thiên Chúa Giáo, đền thờ Hồi Giáo v.v...
Nơi mà Phật giáo để thờ phụng chính là Tháp, do đó nơi nào có chùa, có
tinh xá thì nơi ấy phải có tháp. Ông Cấp-cô-độc đã mở đầu công việc này
bằng cách xin phép đức Phật được xây ngôi Tháp tại tinh xá Kỳ Hoàn để thờ
móng tay của đức Phật, ông trở thành người đầu tiên ở cõi này xây dựng
Tháp Phật. Vậy nên Chùa – Tháp kết thành một chỉnh thể trong nghệ thuật
kiến trúc Già Lam Phật giáo và trở thành một biểu trưng độc đáo của Phật
giáo.
Phật giáo Việt Nam có hơn một nghìn năm chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung
Quốc (tôi có nhận định này là căn cứ theo những biểu hiện thật tế của Phật
giáo Việt Nam qua các thời đại Ðinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Thật ra có
thể ở Việt Nam, Phật giáo du nhập sớm hơn Trung Quốc, bằng chứng là
Khương-tăng-hội theo gia đình từ Khương Cư đến tỵ nạn ở Giao Chỉ (Việt
Nam) khi mới mười tuổi rồi xuất gia, học đạo tại đây mà trở thành một danh
tăng, sang Trung Quốc truyền bá Phật giáo thời Tam Quốc), Chùa – Tháp
được xây dựng rất nhiều. Chẳng những ở kinh đô và những nơi thị tứ, Chùa –
Tháp được xây dựng với mật độ dày, có qui mô rộng lớn tráng lệ mà hầu như
mỗi làng mỗi ấp đều có Chùa–Tháp, thậm chí có những địa phương đã trở
thành Ðất Phật như vùng Chùa Hương ở tỉnh Hà Tây, vùng Yên Tử ở Uông Bí –
Quảng Ninh .v.v... Có thể nói Phật giáo đã hòa quyện vào tâm thức của từng
người dân Việt, bàng bạc trong từng ngọn núi, dòng sông của quê hương Vạn
Thắng. Nhưng khó thay! Nếu có người hỏi: Phật giáo Việt Nam vào thời cực
thịnh có bao nhiêu Chùa–Tháp? Hiện nay trên toàn nước ta có bao nhiêu Chùa
– Tháp? Bao nhiêu cái còn? Bao nhiêu cái mất? .v.v... thì rõ ràng chúng ta
không có câu trả lời chính xác được! Tôi biết, hiện nay Giáo hội Phật giáo
Việt Nam có thống kê chùa, viện, tinh xá, tịnh thất, niệm Phật đường và
Tăng Ni trong toàn quốc (tổng hợp qua thống kê của từng tỉnh, thành),
nhưng hình như việc thống kê này mang tính chất quản lý hành chính (chỉ
thống kê những Chùa – Tháp hiện có và được giáo hội quản lý mà thôi!). Dân
tộc ta có hơn một nghìn năm xây dựng
Chùa–Tháp, những công trình kiến trúc ấy nhất định phải là những di
sản nghệ thuật kiến trúc trân quí vô cùng
mà tiền nhân đã trao lại cho chúng ta.
Ðáng ra chúng ta phải có những công trình nghiên cứu nghiêm túc, chuẩn xác
về các phương diện: nghệ thuật, kiến trúc, lịch sử xây dựng, quá trình
hưng phế tu tạo .v.v... và nhất là đối với những ngôi cổ tự, cổ tháp
danh tiếng một thời (có cái còn, có cái mất mà mất hay còn đều phải khảo
sát cả!). Ngoài ra chúng ta phải thành tâm đem hết nhiệt tình miêu tả giới
thiệu địa danh, vị trí, khung cảnh thiên nhiên của cảnh chùa, ngôi tháp
bằng tất cả niềm tự hào sảng khoái hay với nỗi ưu tư ngậm ngùi trước những
cảnh quan thiêng liêng tráng lệ hay hoang tàn hiu quạnh. Ðiều đáng buồn là
đến nay tôi chưa được đọc một công trình nghiên cứu hay một tác phẩm văn
học về Chùa – Tháp Việt Nam để giúp tôi hiểu biết về hệ thống Chùa – Tháp
Việt Nam qua các thời đại. Mùa xuân năm Tân Tỵ (năm 2001) tôi vượt 700 cây
số bằng tàu hỏa về cố đô Huế tham dự lễ Lạc Thành Chùa Thiền Tôn, một ngôi
cổ tự danh tiếng ở đất Sông Hương núi Ngự, dù đã được nghe nhiều bài phát
biểu trong buổi lễ và đọc qua một số bài viết trong tập kỷ yếu lạc thành,
tôi vẫn mơ mơ hồ hồ về quá trình khai sơn lập tự và nghệ thuật kiến trúc
của ngôi cổ tự có ba trăm năm tuổi này. Hơn nữa, tôi lại bất hạnh không
được nhìn thấy ngôi chùa cũ, trước khi phá để xây mới, tôi ngắm nhìn ngôi
chùa mới tráng lệ bằng kỹ thuật xi măng cốt thép trong ngày khánh thành mà
bâng khuâng bày tỏ lòng mình:
Thiên thai sơn hạ vũ phân phân
Vụ tỏa sơn phong từng ủng vân
Cổ tự mao hiên hà xứ tại
Tân đường phạm vũ kỷ thời toàn
Linh sơn Phật tích lưu Thiền đạo
Cát địa nhân tung kế thế truyền
Thất thập dư niên thân nhất hiện
Sắc không tam bách hiện toàn chân
Gần đây Hòa thượng Thích Ðổng Minh trao cho tôi quyển “Trung Quốc Phật
Giáo Tự Tháp Sử Chí” do Trương Mạn Ðào chủ biên, nhà xuất bản Ðại Thừa Văn
Hóa ấn hành, để đọc và dịch ra Việt ngữ . Ðọc xong tác phẩm này, tôi bỗng
dưng ngậm ngùi thương cảm cho số phận những chùa tháp Phật giáo trên đất
nước ta. Tôi nghĩ tập sách này có thể giúp chúng ta, nhất là những nhà trí
thức nghiên cứu Phật giáo, có được một cách thể hiện tấm lòng yêu quý trân
trọng văn hóa Phật giáo, và một phương pháp bảo tồn, lưu truyền, quảng bá
nghệ thuật kiến trúc Phật giáo của dân tộc để tạo một động lực hấp dẫn mọi
người trở về với cội nguồn tôn giáo truyền thống có hàng ngàn năm gắn bó
với số phận của dân tộc. Tôi nôn nóng quyết tâm dịch tác phẩm này ra Việt
ngữ , phổ biến đến với độc giả với nguyện vọng gợi ý cho quí độc giả làm
những điều cần làm cho hàng ngàn cảnh chùa, ngôi tháp trên đất nước ta
đang từng giờ, từng ngày chịu sự tàn phá của thiên nhiên, sự hủy hoại của
con người và nhiều “ác duyên” khác... Tôi cũng mong rằng những danh sơn
thắng địa của Phật giáo Việt Nam như vùng núi Yên Tử, vùng núi Hương Sơn:
“. . . . . . . . . . . . . . . . .
Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lửng lơ khe Yến cá nghe Kinh
Thoảng bên tai một tiếng Chày Kình
Khách tang hải giật mình trong
giấc mộng
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. .”
(Hương Sơn Phong Cảnh Ca -
Chu Mạnh Trinh)
Ðược trở về đúng với trí tịch tịnh thiêng liêng ban đầu của nó, đừng để
những lễ hội hành hương ở chốn thanh tịnh này biến thành trò kinh doanh du
lịch trần tục, thấp hèn, tệ hại! Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta phải làm một
cái gì đó vậy!
Những tác giả với những bài viết
trong tập “Trung Quốc Phật Giáo Tự Pháp Sử Chí” đã cho chúng ta một cái
nhìn bao quát về quá trình hình thành nền nghệ thuật kiến trúc Chùa – Tháp
của Trung Quốc từ khởi thủy đến nay, đồng thời sự thịnh suy của Phật giáo
Trung Quốc qua các thời đại cũng hiển hiện trong từng trang sách, những
ảnh hưởng của văn hóa nghệ thuật Phật giáo như thấm đượm từng gốc cây ngọn
cỏ, bàng bạc khắp non sông, ngấm sâu vào từng thớ đất, dào dạt trong lòng
mỗi con người... làm lây lan đến độc giả chúng ta.
Có tác giả đưa chúng ta vào cả một thế giới nghệ thuật kiến trúc bằng
những chất liệu gỗ, đá, gạch ngói, kim loại... có qui mô rộng lớn, đậm đà
nét mỹ thuật tráng lệ huy hoàng với những tác phẩm điêu khắc, tô đắp, hội
họa tuyệt vời “vô tiền khoáng hậu”. Có thể chúng là những vật thật hiện
còn có tuổi đời hơn nghìn năm, có thể chúng chỉ là những công trình Chùa –
Tháp còn lại trong văn hiến, trên bia đá hay ở những vết chạm khắc nổi
(phù điêu) trong hang động, nhưng chung qui chúng đều thể hiện được quá
trình giao hòa dung hợp của ba nền kiến trúc Chùa – Tháp Ấn Ðộ – Tây Vực –
Trung Hoa để hình thành thứ nghệ thuật kiến trúc Chùa Tháp Phật giáo mang
màu sắc Trung Quốc.
Có tác giả dẫn ta vào những vùng danh sơn, thắng địa của Phật giáo Trung
Quốc với biết bao cảnh tượng hùng vĩ, tú lệ, u nhã, kỳ ảo (hùng, tú, u,
kỳ)... làm lay động lòng người. Trong bối cảnh thiên nhiên ấy, một hệ
thống Chùa – Tháp được phối trí hài hòa, tạo ra cho cảnh quan một mạch
sống tâm linh rào rạc ngấm ngầm lan tỏa vào từng ngọn núi, dòng thác, con
suối, cây tùng, gốc bách... Hoa núi sặc sỡ níu chân người, hương thơm nồng
nàn vương tay áo, chim hót líu lo, tiếng suối rì rào, tiếng thác ầm ì,
tiếng linh leng keng, tiếng chuông chiều trầm mặc, dáng sơn tăng khoan
thai nhã đạm, khách hành hương chiêm bái kính cẩn tâm thành... Tôi độc mà
có cảm tưởng như chính mình được đi vào đất Phật tiêu sái thoát trần vậy!
Kỳ diệu thay! Trên ngọn núi cao chót vót, đường leo lên quanh co hiểm trở
mà sừng sững một cảnh chùa với những điện, đường, lâu, các... to rộng nguy
nga, tú lệ lạ thường. Tôi thầm nghĩ lòng tin Phật của con người quả thật
vạn năng, không gì chẳng làm được! Trên những đỉnh núi cao hơn ba nghìn
mét (cách mực nước biển) tuyết băng giá lạnh, không vật liệu xây dựng
truyền thống chịu đựng nổi sự khắc nghiệt của thời tiết, người ta đã sáng
tạo phương pháp ốp mái, ốp tường chùa bằng vỏ cây rừng gọi là “Mộc Bì Tự”,
thật là một động thái thích nghi tuyệt vời vậy!
Có tác giả đưa ta trở lại cuộc sống đời thường của những danh tăng một
thời với những hành xử đầy tính nhân bản mà một người tu hành thánh thiện
đã sống và làm việc. Một pháp sư Huyền Trang tài năng xuất chúng, năng nổ
quật cường, một lòng vì dân vì nước và nhất là vì sự nghiệp truyền bá đạo
pháp của Ðức Thế Tôn. Ngài đã bất chấp vương pháp, bỏ nước ra đi trong vô
vàn gian khổ, đến đất Phật học hỏi giáo pháp ròng rã mười chín năm. Trở về
nước, ngài đã hiến trọn hai mươi năm cuối năm đời phiên dịch kinh Phật.
Ðiều đáng nói ở đây là ý chí kiên định vượt khó khăn đi tìm học và tinh
thần cần lao tích cực hoằng hóa lợi sinh của ngài. Việc ngài lặn lội suốt
gần mười chín năm tìm học ở Ấn Ðộ và hơn hai mươi năm cuối đời luôn tuân
thủ một lịch làm việc mỗi ngày duy nhất đã nói lên điều ấy. Những lời ca
ngợi về ngài trong những bài viết ở tập sách này có lẽ chúng ta khó tìm
được lời ngợi khen nào hay hơn! Nhưng cái “rất người” của ngài đã được Tục
Cao Tăng Truyện nêu rằng: “Ôi dùng lời tán thán ôm giữ con kỳ lân, đời có
dấu vết ấy, biết người khó thành, ngàn năm ít gặp! Nhưng mà Trang sư hại
hiền, ngăn học thì cũng chưa đáng gọi là bậc thịnh đức chất chồng được,
tại bởi vật chẳng hai cái lớn, lý chắc chắn đều vậy thôi!” (Chuyện Trang
sư đối với ngài Na-đề Tam Tạng – Do tác giả Ðông Sơ trích dẫn trong bài
“Chùa Ðại Từ Ân – Ðạo Tràng của ngài Tam Tạng Huyền Trang”). Nhân vật
Ðường Tăng, ngài Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang đầy huyền thoại ly kỳ trong
đầu óc giàu tưởng tượng của chúng ta (điều này phần lớn do Ngô Thừa Ân tạo
nên), sẽ được lột bỏ đi khi chúng ta đọc về ngài trong những bài viết ở
tập sách này. Rồi những Nhiếp-ma-đằng, Trúc-pháp-lan, Ðạt-ma Sư Tổ được
các tác giả gắn liền với những công trình xây dựng Chùa – Tháp và việc mở
Tông lập Phái của Phật giáo Trung Quốc. Nhưng có điều sẽ làm cho chúng ta
bâng khuâng nghĩ ngợi khi biết có thuyết cho rằng những nhân vật này là hư
cấu, không có thật (quyết đoán của học giả Lương Khải Siêu). Ôi! Một vị tổ
sư khai sáng Thiền Tông mà hầu như các chùa Phật ở Việt Nam đều thờ ở vị
trí chính tại tổ đường mà lại hư cấu ư? Không thật ư? Ðiều này nhất định
chúng ta phải quyết tâm tra cứu lại, chứ không khéo chúng ta lại xúm nhau
thờ một ngẫu tượng vậy!!!
Ðiều
làm cho tôi tâm đắc nhất là trong bất cứ bài viết nào các tác giả cũng thể
hiện được tấm lòng ưu ái của mình đối với Phật giáo. Họ tự hào vui sướng
trước những cống hiến vĩ đại của Phật giáo đối với văn học, triết học, hội
họa, điêu khắc, kiến trúc... của dân tộc Trung Quốc. Họ hân hoan sảng
khoái chiêm ngưỡng những danh lam thắng địa hùng vĩ, tú lệ, u nhã, kỳ
ảo... tồn tại qua hàng nghìn năm của Phật giáo trên quê hương mình. Họ
cũng ngậm ngùi tiếc nuối trước những cảnh Chùa – Tháp đổ nát hoang tàn hiu
quạnh và bâng khuâng nghĩ đến đạo lý vô thường, hận mà không oán! Họ khảng
khái trưng ra những bằng chứng, những nhận định nhằm đính chính, sửa sai,
bổ sung những lầm lẫn, thiếu sót trong quá trình lịch sử xây dựng Chùa –
Tháp ở Trung Quốc với mục đích củng cố niềm tin của Phật giáo đồ trong và
ngoài nước. Quả thật những tác giả trong tập sách này là những Phật tử đầy
tâm huyết đã trải lòng mình theo những bước thịnh suy của Phật giáo suốt
chiều dài lịch sử xây dựng Chùa – Tháp của Trung Quốc. Chính họ đã gợi ra
cho tôi và có lẽ cũng cho quí độc giả nữa, cách suy nghĩ, cách hành động
của chúng ta đối với những danh lam, thắng địa, Chùa – Tháp của Phật giáo
Việt Nam từ xưa đến nay vậy. Mong sao quí vị, nhất là những vị tăng sĩ trí
thức trẻ tuổi, tài đức kiêm toàn, những vị học giả Phật giáo giàu nhiệt
huyết, tự đặt ra cho mình những nhiệm vụ cụ thể đối với Chùa – Tháp Việt
Nam của chúng ta vậy. Mong thay!
Tôi
mạo muội phiên dịch tập sách này cũng vì một ham muốn luôn nung nấu trong
lòng là mình phải làm một cái gì đó cho Phật giáo trong phần còn lại của
cuộc đời. Vậy nên, với vốn Hán học ít ỏi, kiến thức Phật học nông cạn, lối
diễn đạt tiếng Việt quê mùa lủng củng, tôi nghĩ chắc chắn có rất nhiều sai
sót, nhầm lẫn, không làm cho quí độc giả hài lòng lắm, tôi chỉ mong quí vị
thông cảm chỉ giáo và bớt đi lời quở trách mà thôi!
Khi
dịch tập sách này tôi cố ý làm cho văn ý và văn cảnh trở thành khách quan
hơn, chung cho mọi người, nên tôi thay chữ “Ngã” chỉ cái thuộc về tác giả
bằng từ “Trung Quốc” (như ngã quốc thành Trung Quốc). Và tôi đành lược bỏ
đi một ít lời phê phán quá chủ quan, bất lợi của tác giả (tôi có lỗi với
các tác giả – đành vậy biết sao?). Tôi cũng không dịch bài “Thanh Hải Hữu
Ninh Tự Cập Danh Tăng” của Hàn Nho Lâm và bài “Phúc Ngải Khắc Giáo Thọ
Luận Lục Triều Chi Tháp” của Lưu Ðôn Trinh. Bài của Hàn Nho Lâm tôi cảm
thấy hơi xa lạ và có vẻ Phật giáo Tây Vực nhiều hơn (chủ quan mà!), còn
bài của Lưu Ðông Trinh thì hình như không phải một bài luận văn hòan
chỉnh, nên tôi tạm thời loại hai bài này mà không dịch, mong độc giả lượng
thứ! Ngoài ra, sự chứng nghĩa của ngài Hòa thượng Thích Ðổng Minh cho bản
dịch Việt văn của tôi cũng đã làm cho tôi an tâm và vô cùng cảm động vậy.
Tuệ Khai Cư Sĩ
Phan Rang, ngày 26.3.2002
SÁCH THAM KHẢO
Trung văn bách khoa đại từ điển (Trung Quốc nghiên cứu sở ấn hành)
Hán ngữ đại từ điển (Kiến Hoành xuất bản)
Từ Hải (Ðài Loan Trung Hoa thư cục ấn hành)
Hán ngữ đại từ điển (Tam Dân thư cục)
Tân tu Khang Hy tự điển (Khải Nghiệp thư cục)
Chánh trung hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển (Chánh Trung thư cục)
Phật quang đại từ điển (Phật quang xuất bản xã)
Thục dung Phật học từ điển (Cao Quán Hùng biên toản, Phật Ðà giáo dục cơ
kim hội ấn tặng)
Phật giáo tiểu tự điển (Tổng chủ biên: Nhậm Kế Dũ, Thượng Hải từ thơ xuất
bản xã)
Phật học đại từ điển (Ban biên tập: Giang Tô, Vô Tích Ðinh ..., Ðài Bắc –
Hoa Ngiêm Liên Xã ảnh ấn)
Nam Sơn tự điển luật học (Thích Trí Dụ chủ biên, Tây liên tịnh ảnh xuất
bản xã)
Pháp tướng tự điển (Châu Phi Hoàng biên soạn, Ðài Loan thương vụ thư quán
ấn hành)
Phật học thưòng kiến tư vựng (Trúc Ma Pháp sư giám định, cư sĩ Trần Nghĩa
Hiếu biên – Diệu âm học Phật thị thính đồ thư quán ấn tặng)
Tự điển Phật học Hán Việt (Kim Cương Tử chủ biên, nxb Khoa học Xã Hội)
Tự điển Phật học (Chân Nguyên, Nguyễn Tường Bách – nxb Thuận Hoá)
Trung Quốc Phật giáo nhân danh từ điển (Chấn Hoa pháp sư di cảo – Thượng
Hải từ thư xuất bản xã)
Phật giáo nan tự tự điển (Thường Xuân Thọ Thư Phường xuất bản)
Tự điển Thiền tông Hán Việt (Hân Mẫn, Thông Thiên biên dịch, Nxb TP. Hồ
Chí Minh)
Sanskrit – Enghlish Dictionary (Motilal Banarsidass Publishers)
The Pali Text Society’s – Pali English Dictionary (Edited by T. W. Rhys
Davids .... The Pali Text Society. London)
A Dictionary of Buddhism Thai-Pali-Chinese (Published by The Library, Wat
Pho Maen Khunaram)
The Seeker’s Glossary or Buddhism (The Corporate Body of the Buddha
Educational Foundation)
A Dictionary of Chinese Buddhist Terms (Buddhist Culture Service)
Concise Pali–English Dictionary (The Colombo Apothecarie’ co., Ltd)
English – Pali Dictionary (Motilal Banarsidass Publishers)
Buddhist Dictionary manual of Buddhist terms and doctrines (Frewin and
Co., Ltd., Colombo)
Dictionary of Pali Proper names (G.P. Malalasekera, Munshiram Manoharlal
Publishers Pvt Ltd)
The Oxford Dictionary of World Religions (Edited by John Bowker)
Phạn – Hòa đại từ điển (Giảng Ðàm Xả xuất bản)
Tự điển Phật học Sanskrit - Pali - Việt - Pháp - Anh (Phạm Hữu Dụng)
Tự điển Phật học Sanskrit - Pali - Anh - Hán – Việt (Nguyên Hảo, Về Nguồn
xuất bản)
Hán-Anh đại từ điển (Lục Cốc Tôn chủ biên, Thượng Hải dịch văn xuất bản
xã)
Quốc tế Anh Hán đại từ điển (Trương Phương Kiệt chủ biên, Hoa văn đồ thư
công ty xuất bản)
Nhật Anh Hán - Thế giới địa danh từ điển (Hoắc Úc Hoa chủ biên)
Từ điển tên riêng Thế giới (Nguyễn Trọng Ðịnh chủ biên, Nxb Văn hoá thông
tin)
Tân thời đại Hán Anh đại từ điển (Trình Chấn Cầu chủ biên, Thương vụ ấn
thư quán)
Trung Việt từ điển (Văn Tân, Nxb Sự Thật)
Từ điển Hán Việt hiện đại (Nguyễn Kim Thản chủ biên, Nxb Thế giới)
Hán Việt tự điển (Thiều Chửu, nhà sách Trẻ)
Hán Việt tân tự điển (Hoàng Thúc Trâm)
Vương Vân Ngũ đại từ điển (Hối Thông thư điếm xuất bản)
Từ Nguyên chánh tục biên hợp đính bổn (Lâm Vận Truyền chủ biên, Thương vụ
ấn thư quán xã)
Trung Quốc thành ngữ đại từ điển (Vương Kiến Dẫn chủ biên, Thượng Hải từ
thư xuất bản xã)
Almanach, những nền văn m9inh thế giới (Nxb Văn hoá thông tin)
Bách khoa thư Văn hóa cổ điển Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, nhà sách Trẻ)
Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, Nxb Văn hoá thông
tin)
Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc (Nguyễn Tôn Nhan, Nxb văn nghệ TP. HCM)
Ðường Thi giám thưởng từ điển (Thượng Hải từ thư xuất bản xã)
Từ điển Việt Nam (Lê Văn Ðức, nhà sách Khai trí)
Ðại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, (Nxb Văn hoá thông tin)
Việt ngữ chính tả từ vị (Lê Ngọc Trụ)
Hiện địa Hán ngữ hư từ từ điển (Bắc Kinh đại học xuất bản xả)
Cổ đại Hán ngữ hư từ từ điển (Thương vụ ấn thư quán)
Hán Việt từ điển (Nguyễn Văn Khôn)
Hán Việt từ điển (Ðào Duy Anh)
Từ điển Anh Việt (Viện ngôn ngữ học, Nxb TP. HCM)
Từ điển thành ngữ tục ngữ Hoa Việt (Lê Trí Viễn, Nxb Tp. HCM)
Tầm nguyên từ điển (Bửu Kế, nhà sách Khai Trí)
---o0o---
[Mục
Lục] [01] [02] [03] [04] [05] [06] [07] [08] [09] [10]
[11] [12] [13] [14] [15] [16] [17] [18] [19] [20]
---o0o---
Ghi chú: Xin sử dụng phông chữ: Chn
FFangsong S5
để đọc được những chú thích bằng chữ Hán
---o0o---
Chân thành cảm ơn TK Thích
Tâm Nhãn đã gởi tặng bản điện tử tập sách này.
TK Thích Nguyên Tạng,
1-3-2004
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 01- 4 -2004
|
|