SỐNG HẠNH PHÚC - CHẾT BÌNH AN
The Joy of Living - Dying in Peace
Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14
Chân Huyền
chuyển ngữ
LỜI NGƯỜI DỊCH
Khi nào có duyên gặp lại đức
Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14, Chân Huyền sẽ lại nhất tâm đảnh lễ cảm tạ vị hóa
thân của Bồ Tát Quán Thế Âm theo nghi thức Tây Tạng: lễ phục xuống để cho
tất cả thân mạng nằm sát trên mặt đất, thật lâu. Tuy không phải là học trò
trực tiếp theo truyền thống Phật giáo của ngài, nhưng qua ba cuốn sách đã
dịch thuật. Chân Huyền đã học hỏi được nhiều điều thật đáng kính quý, hơn
tất cả những hạt kim cương lớn của thế gian.
Ðức Ðạt Lai Lạt Ma cũng như quý
thầy Thanh Từ và Nhất Hạnh, hai vị thầy Chân Huyền may mắn được trực tiếp
học hỏi, là những bậc minh sư của nhân loại trong thế kỷ 20 và nhiều thế
kỷ sau này nữa. Chân Huyền xin xúi đầu đảnh lễ ba vị. Ơn đức vô cùng tận
của ba vị để lại cho thế giới hiện tại và cho các thế hệ tương lai thực sự
không thể nghĩ bàn. Con thật may mắn vô cùng trong kiếp này được theo học
với quý ngài. Nếu tâm con còn chất chứa những vô minh, phiền trược, thì đó
là do nghiệp dĩ nặng nề khiến cho sự chuyển hóa tâm con còn quá yếu. Nhưng
giáo pháp mà quý Thầy giảng dạy, bằng ngôn từ hay bằng chính cuộc đời của
quý ngài, đều rất sâu xa, mênh mông mà thực tiển vô cùng... Con hy vọng
trong nhiều kiếp nữa, con sẽ hành trì tinh tấn hơn trên con đường giải
thoát.
Do nhiều thiện duyên, nhất là
những hướng dẫn, khuyến khích từ anh Chân Văn mà Chân Huyền đã có thể dịch
được ba cuốn sách của đức Ðạt Lai Lạt Ma thứ 14. Cuốn đầu tiên là "Tự do
trong lưu đày" hay tự truyện của ngài, kể chuyện từ lúc ngài mới được công
nhận là hóa thân của Ðạt Lai Lạt Ma thứ 13, cho tới ngày sách được nhà
xuất bản Harper ấn hành bằng tiếng Anh với tựa đề "Freedom in Exile". Họa
sĩ Võ Ðình đã cất công liên lạc với nhà xuất bản quen thuộc của ông để xin
phép cho Văn Nghệ in sách dịch lần đầu năm 1993 và tái bản ba lần ngay sau
đó. Cuốn thứ nhì, Chân Huyền cũng được nhà xuất bản Parallax cho phép
dịch, xuất bản năm 1996. Ðó là những bài ghi lại cuộc hội luận giữa đức
Ðạt Lai Lạt Ma với các tâm lý gia Hoa Kỳ năm 1989 tại New Port,
California; một cuộc hội luận quan trọng mở đầu cho nhiều đối thoại và cảm
thông giữa các khoa học gia Âu Mỹ và truyền thống tu tập để chuyển hóa của
Phật giáo. Cuốn sách "World in Harmony" đó được dịch là "Thế giới hoà
đồng" cũng do nhà Văn Nghệ ấn hành. Chân Huyền rất tri ơn ông Võ Thắng
Tiết, giám đốc nhà Văn Nghệ, đã trông coi việc in ấn và phát hành hai cuốn
sách trên với rất nhiều lòng thương.
Cuốn sách này do hội Phật Học
Làng Cây Phong (Canada) xuất bản, với sự phụ giúp phát hành của nhà Văn
Nghệ. Các bạn trong nhóm thiền Lưu Chuyển (Toronro), các nhóm thiền tập
vùng Nam California: Nụ Hồng, Pháp Vân, Khóm Hồng, Thiền Tịnh, Tam Hòa và
Anh Ðào, cùng nhiều thân hữu các nơi khác góp công đức bằng cách đặt mua
trước một số sách. Chân Huyền rất sung sướng trước những hỗ trợ tích cực
của quý bạn. Chân Huyền riêng mình xin thành khẩn nhận lỗi nếu trong bản
dịch có đọan nào không sáng sủa hoặc sai lầm. Ước mong quý vị độc giả cao
minh vui lòng chỉ điểm và sửa chửa cho.
Cũng theo đề nghị của Ban Xã
Hội Làng Cây Phong, số tiền bán sách dư ra sau khi trừ ấn phí và bưu phí
gởi sách, tất cả sẽ được dùng để giúp các chương trình giáo dục trẻ em
nghèo và thất học tại Việt Nam, trong đó có trường Mẫu Giáo Gia Môn.
Quý vị độc giả đọc xong cuốn
sách về Sống Hạnh Phúc - Chết Bình An này, chắc chắn mỗi người sẽ rút tỉa
được ít nhiều điều hữu ích. Chúng ta ai cũng sống và ai cũng sẽ chết, mỗi
người phải tự tìm lấy phương cách để mình có thể sống Hạnh Phúc, chết Bình
An. Xin cầu nguyện chư Bụt và Bồ tát gia hộ cho tất cả chúng ta, ai cũng
được tinh tấn, vững vàng trên con đường giải thoát.
Sen búp xin tặng người,
Một vị Bụt tương lai.
Chân Huyền, kính đề
Foutain Valley, Tháng 10-1999.
CHƯƠNG MỞ ÐẦU
Tôi xin tặng những bài giảng
này cho những người không có thì giờ để học hỏi nhiều. Tôi không có gì để
nói khác hơn những chuyện đã nói trước đây. Vậy, xin quý vị đừng đọc sách
chỉ để có thêm kiến thức hay thêm những từ ngữ mới, mà nên cố gắng dùng
những điều tôi giải thích để chuyển hóa tâm mình. Nếu chỉ nghe hoặc đọc
thôi không đủ, quý vị nên thực tập những gì học hỏi được, luôn luôn cố
gắng áp dụng những điều đó vào các sinh hoạt tâm linh. Như vậy giáo pháp
mới có ích lợi thực sự.
Chính Bụt đã nói: "Ðừng làm các
việc ác, hãy rán tu nhân tích đức, làm điều lành và chuyển đổi toàn diện
tâm thức mình". Ðó là giáo pháp Như Lai. Chúng ta nên nghe theo lời Bụt
dạy vì trong thâm tâm tất cả chúng ta, không ai muốn bị đau khổ, người nào
cũng muốn sống hạnh phúc. Khổ đau là kết quả của những hành động sai lầm
và bất thiện, trong khi hạnh phúc là kết quả của những hành thiện tốt đẹp.
Tuy nhiên, muốn bỏ điều xấu làm điều tốt, chúng ta không thể chỉ thay đổi
cách nói năng hoặc hành động mà chúng ta chỉ có thể làm được chuyện này
bằng cách chuyển hóa tâm của mình.
Trong đời sống chúng ta nên
hành động một cách thông minh, có mục đích và phải biết coi các mục tiêu
đó có thể thực hiện được chăng. Trong truyền thống tu học Phật giáo, mục
tiêu của chúng tôi là đạt tới Niết bàn tịch tĩnh, tới quả vị Bụt. Loài
người chúng ta may mắn có khả năng đạt tới các mục tiêu này. Quả vị Giác
ngộ mà chúng ta tìm kiếm chính là sự tự do nhờ vượt thoát được những vọng
tưởng thiêu đốt tâm tư.
1.- BẢN TÂM THANH TỊNH
Bản chất của tâm vốn dĩ thanh
tịnh, những cảm xúc bất an làm khổ chúng ta chỉ là những lầm lẫn nhất
thời.Tuy thế, chúng ta không thể loại bỏ những cảm thụ tiêu cực đó bằng
cách cắt bớt một số tế bào trong bộ não. Kỹ thuật giải phẩu tối tân nhất
ngày nay cũng không thể làm được chuyện này. Cách duy nhất là chúng ta
phải chuyển hóa được tâm của chúng ta.
Ðạo Phật dạy rằng tâm là nhân
duyên chính khiến ta bị luân hồi. Nhưng cũng chính tâm lại là cái duyên
lớn nhất giúp ta thoát vòng sanh tử. Sự giải thoát này thực hiện được khi
ta kiểm soát được những ý nghĩ bất thiện và phát huy được những tư tưởng
tích cực, hướng thiện. Ðiều cần biết là công việc chuyển đổi này đòi hỏi
sự kiên trì nhiều năm trường. Chúng ta đừng nên mong có kết quả tức thời.
Hãy nghĩ tưởng tới các vị thầy lớn trong quá khứ. Quý ngài đã chịu rất
nhiều gian khổ trong việc thực chứng tu tập. Cuộc đời tu hành của Bụt
Thích Ca là tấm gương toàn thiện nhất cho chúng ta.
Vì lòng từ bi đối với chúng
sanh, Bụt Thích Ca ra đời trước đây hơn 2500 năm tại Ấn Ðộ. Ngài lọt lòng
Mẹ đã là một hoàng tử. Ngay từ khi còn nhỏ, ngài đã có nhiều hiểu biết và
từ bi. Ngài hiểu rằng bản chất của chúng ta là ai cũng ưa sống hạnh phúc,
không ai muốn bị đau khổ. Khổ đau không phải lúc nào cũng do ngoại cảnh
đưa tới cho ta. Không phải chỉ đói kém hoặc bị hạn hán mới khổ. Trong hai
trường hợp trên, chúng ta có thể tự bảo vệ, chẳng hạn bằng cách tích trữ
lương thực. Nhưng những nỗi khổ như sanh, già bệnh chết là những cái khổ
liên hệ tới bản chất sâu xa của dòng đời, thì chúng ta không thể giải
quyết bằng những điều kiện ngoại biên được. Ngoài ra chúng ta còn có sẵn
trong mình một cái tâm không thuần hòa, có thể tiếp nhận đủ mọi vấn đề rắc
rối. Nó chứa đựng nhiều tư tưởng bất thiện, tiêu cực như nghi ngờ, sân
hận. Khi tâm ta còn bị những tư tưởng tiêu cực này bủa vây, thì dù ta có
quần áo lụa là để mặc, thực phẩm tuyệt hảo để ăn, chúng cũng không giúp ta
giải quyết được vấn đề.
Bụt Thích Ca đã để tâm quán sát
những chuyện đó và quán tưởng về bản chất của chính cuộc đời ngài. Thấy
mọi người đều khổ, ngài cũng biết rằng chúng ta sở dĩ khổ vì có cái tâm vô
kỷ luật. Ngài thấy rằng tâm ta chạy như thú hoang đến nỗi nhiều đêm ta mất
ngủ. Ðối diện với cái tâm chất chứa những đau khổ và khó khăn của con
người, ngài dùng trí tuệ để tìm xem phải chăng có một phương cách nào giúp
cho người ta thoát được những khổ đau đó?
Bụt cho rằng cuộc sống đời
vương giả trong cung điện không phải là phương cách thoát khổ mà có thể nó
còn là một trở ngại nữa. Vậy nên ngài từ bỏ hết thảy những tiện nghi hoàng
gia, kể cả liên hệ với vợ con, để sống cuộc đời của kẻ không nhà. Trong
việc tìm đạo, ngài học với nhiều vị thầy, lắng nghe họ dạy dỗ. Ngài học
được ít nhiều từ các vị thầy này, nhưng không ai đưa ra được con đường
thoát khổ một cách tuyệt đối. Ngài tu khổ hạnh rất nghiêm mật trong sáu
năm. Từ bỏ cuộc đời sung sướng của hoàng gia và tu khổ hạnh nhiều năm giúp
ngài có đủ duyên phát triển trí tuệ trong khi thiền quán. Ngồi dưới gốc
cây Bồ đề, ngài vượt thoát được tất cả mọi chướng ngại và đạt được quả vị
Giác ngộ. Sau đó, ngài bắt đầu giảng dạy, chuyển pháp luân, căn cứ vào
những kinh nghiệm và sự thực chứng của chính mình.
2.- HỌC THEO BỤT THÍCH CA
Khi nói về Bụt, chúng ta không
nói tới một con người đã có tỉnh thức ngay từ khi ra đời. Bụt bắt đầu
giống y như chúng ta. Ngài là một con người bình thường như chúng ta, cũng
nhìn thấy cái khổ của sanh, lão, bệnh, tử. Ngài cũng có những tư tưởng và
cảm thọ sướng khổ y như chúng ta. Nhưng nhờ vào ý chí tu luyện quyết tâm
và kiên trì, ngài đã đạt được những quả vị tỉnh thức đưa tới tình trạng
toàn giác.
Chúng ta nên nhìn ngài như một
tấm gương để noi theo. Chúng ta ra đời với tư cách một con người tự do và
may mắn. Dù đã phải chịu ít nhiều khổ đau, chúng ta vẫn may mắn có trí
thông minh, có sự tỉnh thức không khác gì ai. Chúng ta lại được nghe những
lời giảng dạy thâm sâu của Bụt, và hơn nữa còn có khả năng hiểu được Phật
pháp. Từ thời Bụt Thích Ca tới nay, các Phật tử đã nhìn Bụt và các đệ tử
giỏi của ngài như những tiền nhân đáng noi gương.
Dù chúng ta sanh ra là một con
người bình thường, chúng ta cũng nên rán lợi dụng những duyên may quý báu
này trước khi chết để thực chứng phần nào Phật pháp. Làm được vậy, chúng
ta sẽ không còn sợ chết. Một người tu tập giỏi có thể chết bình an không
hối tiếc gì, vì người đó đã xử dụng được tiềm năng của họ. Trái lại, làm
người mà chúng ta không mang được dấu ấn tích cực nào vào trong tâm thức,
chỉ lưu giữ những gì phiền trược, thì chúng ta đã lãng phí đời mình. Gây
đau khổ hay chết chóc cho con người hay các loài khác, ta giống như loài
quỷ chứ chẳng giống người. Vậy nên hãy sống cho xứng đáng với kiếp người,
đừng làm một thứ phá hoại.
3.- THỰC HÀNH THEO GIÁO PHÁP
Trên thế giới có khi người ta
nhân danh tôn giáo để gây ra chiến tranh. Chuyện này xảy ra khi chúng ta
coi tôn giáo là một thứ nhãn hiệu chứ không thực hành theo giáo pháp của
tôn giáo đó. Tu tập phần tâm linh là một phương cách giữ gìn kỷ luật cho
tâm trí ta. Nếu chúng ta để cho những tư tưởng bất thiện hướng dẫn, không
bao giờ chịu gắng sức chuyển hóa chúng; nếu chúng ta dùng giáo pháp để làm
cho tự ái tăng trưởng hơn, thì giáo pháp có thể trở thành mầm mống của
chiến tranh. Trái lại, nếu chúng ta thực tập để chuyển hóa tâm mình, thì
không bao giờ nó sẽ là nguyên nhân gây ra xung đột.
Có nhiều người chỉ nói giáo
pháp trên môi lưỡi. Thay vì dùng giáo pháp để trừ khử những tư tưởng bất
thiện của mình, họ lại nắm lấy nó như một thứ của cải mà họ là chủ nhân.
Họ dùng giáo pháp để gây ra chiến tranh hay thúc đẩy các hoạt động phá
hoại khác. Dù là đệ tử theo đạo Phật, đạo Ấn Ðộ, đạo Thiên Chúa, Do Thái
giáo hay Hồi giáo, chúng ta không nên hài lòng chỉ với cái danh hiệu mà
thôi. Ðiều quan trọng là ta biết rút tỉa ra những thông điệp được giảng
dạy trong các truyền thống tôn giáo khác nhau này, để chuyển đổi tâm thức
vô kỷ luật của chúng ta. Nói tóm lại, là con Bụt chúng ta nên noi gương
Bụt Thích Ca.
4.- TU TẬP KHÔNG DỄ
Ðôi khi suy ngẫm trên cuộc đời
Bụt Thích Ca, tôi cảm thấy mắc cở. Dù giáo pháp của ngài được giảng dạy
theo nhiều trình độ khác nhau, nhưng Bụt trong lịch sử rõ ràng đã khổ tu
trong sáu năm liền. Ðiều này chứng tỏ rằng tâm ta không thể được chuyển
đổi bằng cách chỉ ngủ, sống thoải mái và hưởng thụ những tiện nghi. Nó
cũng chứng tỏ ta chỉ có thể đạt đạo sau một thời gian dài tu luyện khó
khăn. Thật không dễ gì đạt tới một trình độ tâm linh trong một thời gian
ngắn hoặc khi ta không cố gắng. Ngay cả Bụt, người đề xướng ra giáo pháp
mà chúng ta theo đây, cũng còn phải khổ luyện như thế! Chúng ta làm sao hy
vọng đạt được giác ngộ khi ta chỉ tu tập ít nhiều và an vui với sự thanh
thản? Nếu đọc chuyện các bậc đại sư thời xưa, ta thấy rằng họ đã khổ công
quán tưởng và thiền tập trong ẩn mật. Họ không dùng con đường tắt nào
khác.
Nếu chúng ta thực tâm quy y
Bụt, ta phải nhìn vào ngài như tấm gương để noi theo. Muốn khổ công tu
luyện cũng phải biết tu như thế nào, không phải cứ cố gắng khổ cực là giác
ngộ được. Trong đạo Bụt, chúng ta cần có niềm tin và sự tận tụy, nhất tâm,
nhưng thêm vào đó ta cũng phải có trí tuệ sáng suốt nữa. Dĩ nhiên ta có
thể đạt tới một mức phát triển tinh thần nào đó nhờ nỗ lực và tín tâm,
nhưng muốn tới bờ giác, ta cần phải có trí tuệ.
Ðể có thể nuôi dưỡng những đức
tính và phát triển những tánh thiện đã có sẵn, ta cần hiểu là trí tuệ cũng
có nhiều trình độ. Ðiều quan trọng là ta biết chú tâm ta vào một đối tượng
đáng quán chiếu. Một người thông minh nếu không có cơ hội, thì anh hay chị
ta cũng không có cơ hội dùng trí tuệ của mình cho một đối tượng thích hợp.
Muốn có sự hiểu biết lớn, ta cần tìm những cơ hội có thể áp dụng giáo pháp
vào đời sống. Vậy nên Bụt không dạy ta chỉ cần có lòng tin vào Bụt là đủ.
Ðầu tiên, Bụt dạy về Tứ Diệu Ðế rồi căn cứ vào đó ngài giảng dạy theo
nhiều trình độ, đưa ra những phương cách khác nhau cho đại chúng học theo.
5.- HẠNH PHÚC - KHỔ ÐAU ÐỀU DO
CHÍNH TA
Kinh điển do Bụt giảng dạy đã
được dịch ra tiếng Tây Tạng gồm trên 108 cuốn, chứng tỏ ngài đã giảng dạy
rất nhiều. Nhiều kinh điển còn chưa được phiên dịch ra ngôn ngữ Tây Tạng
nữa. Học đạo đàng hoàng, ta sẽ có lòng tin và có trí tuệ. Ta nên cố gắng
học cho hiểu và hành trì những lời Bụt dạy, ta sẽ phát triển được trí tuêï
và lòng từ bi. Dần dà ta sẽ giữ được kỷ luật cho tâm mình. Theo triết lý
Phật giáo, chúng tôi không tin rằng mọi sự vật được hình thành hay chủ
động bởi những yếu tố bên ngoài. Chúng tôi cũng không tin những sự vật có
nhân duyên bất biến. Chúng tôi cho là hạnh phúc hay đau khổ là do chính
mình tạo ra. Tính chất của các hành nghiệp chúng tôi làm ra tùy thuộc vào
tình trạng của tâm thức mình, tùy tâm có kỷ luật hay không mà thôi.
Khó khăn và đau khổ tới từ cái
tâm vô kỷ luật. Vậy nên, hạnh phúc thật sự ở ngay trong tay ta. Chúng ta
tự gánh lấy trách nhiệm, chúng ta không thể mong đợi người khác mang tới
cho ta hạnh phúc. Muốn được hạnh phúc, ta cần nhận biết những nguyên nhân
tạo ra nó, rồi phát triển những cái duyên này. Trong khi đó ta nhận diện
những nguyên nhân gây đau khổ, rồi loại bỏ chúng đi. Nếu ta biết nên tập
những gì, nên bỏ những gì, thì ta tự nhiên được sung sướng.
Căn nguyên của đau khổ là vô
minh. Vô minh có nghĩa là quan niệm sai lầm về tự ngã. Tất cả những khổ
đau vô lượng chúng ta gặp đều do quan niệm sai lầm này. Vậy nên khi nói
rằng Bụt vì lòng từ bi mà loại trừ mọi tà niệm, có nghĩa là Bụt do lòng từ
bi làm lợi cho muôn loài. Muốn vậy, ngài đã dạy nhiều giáo pháp có trình
độ khác nhau để ta thoát được vô minh và những tư tưởng bất thiện. Ai học
theo ngài, hiểu được chánh kiến và thực tập được thì sẽ thoát được khổ.
Chúng ta kính ngưỡng Bụt Thích Ca vì ngài đã dạy ta những giáo pháp thâm
diệu như thế.
6.- HẠNH PHÚC DO LÒNG TỪ BI
Bụt là nơi nương tựa đáng tin
cậy vì ngài đã phát triển tâm từ bi và dùng hết cuộc đời ngài để nuôi
dưỡng tâm đó. Trong đời sống bình thường cũng vậy, người đáng tin hay
không là người có lòng từ bi hay không. Khi một người thiếu lòng từ bi,
thì dù họ học cao và thông minh, ta cũng không thích nương tựa vào họ. Học
giỏi không đủ, điều căn bản của con người biết giúp ích kẻ khác chính là
lòng từ bi. Một con gười có lòng từ bi hay có ý thiện muốn làm điều tốt
lành cho người khác, thì ta có thể yên tâm tin vào họ. Ðức tính quan trọng
nhất của Bụt là lòng từ - là ý muốn mang lợi lạc tới cho muôn loài. Vì
ngài đã phát triển được những tính thiện nơi ngài, nên Bụt có đủ khả năng
giải thích về sự quan trọng của những đức tính đó. Vì ngài đã thực chứng
được nên ta có thể nương tựa vào ngài.
Bụt Thích Ca, vị sáng lập ra
đạo Bụt, là con người vững chãi, toàn thiện, ta có thể nương tựa vào ngài
một cách an toàn. Nhưng không phải chỉ trông vào sự toàn thiện của ngài,
ta còn phải thực tập theo gương Bụt. Ta phải biết cách bỏ những con đường
bất thiện để đi vào nẻo thiện. Dù không được học hỏi trực tiếp với ngài,
nhưng nếu chúng ta hiểu biết ít nhiều về những giáo pháp này, thì ta đã có
thể đối đầu với những khó khăn và khổ lụy một cách tốt đẹp hơn.
Cứ tưởng tượng có hai người
cùng gặp một vấn đề. Tùy theo họ hiểu đạo hay không mà họ sẽ có những thái
độ và phương cách khác nhau để ứng xử. Thay vì làm giảm bớt khổ lụy, người
không biết đạo lại làm cho tình trạng bết bát hơn vì giận hờn, ghen tỵ
v.v... Con người có chút tỉnh thức và hiểu biết, sẽ có tinh thần để ứng xử
cởi mở hơn, thẳng thắn hơn. Với chút ít hiểu biết về Phật pháp và kinh
nghiệm tu tập, dù ta chưa thể chấm dứt mọi khổ đau, ta cũng có thể đối
diện với chúng một cách dễ chịu rồi. Như vậy, nhờ giáo pháp mà chúng ta
được lợi lạc trong đời sống hằng ngày.
Cuộc đời vô thường như mây mùa
thu. Sinh tử của muôn loài có thể coi như những màn kịch. Con người sinh
ra, chết đi nào khác những vai trò các nghệ sĩ đóng tuồng ra vô trên sân
khấu. Vì sự vô thường đó mà chúng ta không thể có an bình. Ngày nay hãy
biết mình may mắn được làm người. So sánh với súc vật và quỷ dữ trong địa
ngục, đời sống con người thật đáng quý. Nhưng dù nó đáng quý tới đâu,
chúng ta rồi cũng sẽ phải chết. Suy ngẫm về cuộc đời người ta từ khi sanh
ra tới lúc chết đi, ta không thấy có hạnh phúc trường cửu và cũng không có
an toàn.
Ngay sự sanh cũng đã kèm theo
đau khổ. Sau đó là phải đối diện với những vấn đề như bệnh tật, già nua,
gặp cảnh bất như ý hay khi không đạt được những gì mình ưa thích. Một vài
vấn đề ta phải đối diện như chiến tranh thì do chính con người gây ra.
Nhưng tựu chung, khi nào còn sống trong cõi luân hồi này, khi nào còn bị
những cảm thọ phiền não- một thứ độc dược - xâm nhập tâm trí, thì chúng ta
còn đau khổ, không có hạnh phúc hay an bình lâu dài.
Tất cả các phần tử của cây độc
dược - trái, hoa, rễ, lá và cành - tất cả đều bị chất độc ngấm vô. Vì mọi
sinh hoạt của chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi những cảm thọ xao động này, ta
sẽ sớm muộn gặp vấn đề và khổ đau. Vì bệnh và chết là tính cách tự nhiên
của đời sống, ta không nên ngạc nhiên khi bị đau ốm hay tử vong. Nếu không
thích bệnh không thích chết, vậy thì ta nên chấm dứt vòng luân hồi. Ta nên
chấm dứt không sanh ra trong cõi này nữa. Khi nào tham sân si còn ở trong
ta thì ta sẽ gặp cảnh khổ hoài hoài. Khi tâm trí bị phiền trược ta không
thể có bình an. Câu hỏi quan trọng là: làm sao cho ta dứt được chúng.
7.- BẢN CHẤT CỦA TÂM
Những cảm xúc phiền trược không
phải là bản chất của tâm. Vì nếu chúng là tâm thì khi nào tâm có mặt chúng
cũng có mặt. Không phải vậy. Thí dụ một người có thể rất nóng tính, nhưng
đâu phải người đó nổi nóng suốt ngày? Người khó thương đôi khi cũng dễ
chịu tươi cười. Vậy nên, những cảm xúc phiền não trong ta dù rất mạnh mẽ,
chúng không phải là những thứ dính chặt vào tâm ta. Chúng không phải là
tâm. Phiền não là do vô minh. Giống như khả năng tiếp xúc có mặt trên toàn
thân thể ta. Vô minh xâm nhập tất cả những cảm xúc tiêu cực trong ta.
Không có phiền não nào mà không liên hệ với vô minh.Vậy thì ta phải tìm
hiểu vô minh là gì. Ðó chính là tình trạng tiêu cực của tâm gây ra tất cả
những phiền não cho ta. Nó chính là cái nhân đưa ta vào vòng luân hồi. Dù
vô minh hay chấp ngã rất mạnh, nhưng đó chỉ là một tâm thức sai lầm. Có
những thành tố của tâm thiện (gọi là tâm sở thiện), có thể chống lại với
tâm vô minh. Nếu ta dựa vào chúng, ta sẽ nhổ được gốc vô minh. Bản chất
của tâm là trong sáng và tỉnh thức. Trong bản tâm, không có những phiền
não. Ðó chỉ là sự che lấp cái tâm chân thật. Vậy nên tâm chân thật có thể
nhổ bật gốc rễ của vô minh. Một ngày nào đó, ta sẽ giác ngộ: tâm ta trong
sáng tỉnh thức hoàn toàn.
8.- NIẾT BÀN TRONG TÂM
Hiện nay có thể bạn chưa thực
chứng được lòng tin tưởng vào những chân lý này. Nhưng nếu bạn chịu học
hỏi và áp dụng luận lý, phân tích học, bạn sẽ dần dần tin vào khả năng dứt
bỏ được những cản trở đó của tâm. Ðại cương, ta có thể nói Niết bàn chính
là dự vắng mặt của phiền não, và ta có thể đạt tới Niết bàn ngay trong tâm
ta. Vì ta không muốn bị khổ và ta có thể đạt tới Niết bàn, ta cần quán
tưởng vềø cái khổ. Nếu hiểu được sự luân hồi và bản chất của khổ, ta sẽ tu
tập Giới, Ðịnh và Tuệ. Khi thấy vật gì đẹp tới đâu, ta hiểu rằng nó có
tính chất gây khổ đau. Ðể có hứng khởi muốn đạt tới cảnh giới Niết Bàn, ta
nên có ý muốn đạt được một cảnh đời tốt đẹp hơn trong tương lai. Trước đó,
ta phải biết quý trọng cuộc đời hiện tại, nếu không biết cách sống sao cho
phát triển được lòng từ bi, thì có lẽ ta chẳng cần bàn tới chuyện đạt tới
đời sống tốt đẹp hơn sau này. Vì ta có thể thoát vòng sanh tử, nên điều
căn bản là ta phải tu học để làm hiển lộ Phật tánh. Muốn nuôi dưỡng ý
hướng này, ta nên quán chiếu về sự khao khát hạnh phúc và ghét khổ đau của
mọi loài cũng như mọi người. Vậy mỗi chúng ta đều nên phát nguyện giúp tất
cả chúng sanh đạt tới quả vị Phật. Muốn đạt tới mục tiêu đó, ta cần thực
tập con đường giải thoát.
Kinh điển nói tới quy y Bụt,
Pháp và Tăng để được giác ngộ. Nói chung chúng ta có thể nương tựa vào
nhiều phương pháp. Khi bị nắng cháy, ta nương vào bóng mát của cây. Khi
đói ta nhờ tới thực phẩm. Tương tự như vậy, khi muốn được lợi lạc nhất
thời, ta có thể nương tựa vào các thần quyền địa phương. Trong các tôn
giáo khác nhau, chúng ta thấy nhiều giáo pháp để nương tựa. Trong đạo Bụt,
Niết bàn tịch tĩnh hay tình trạng thoát khổ tuyệt đối, chính là nơi ta
nương tựa.
Niết Bàn hay trạng thái an lạc
hòa bình là gì? Dù chúng ta không thích đau khổ, ta vẫn cứ khổ vì tâm ta
bị những phiền não chiếm ngự. Do cái tâm không kỷ luật này mà ta tích lũy
những cảm thọ tiêu cực. Tâm vô kỷ luật chính là nguyên nhân của phiền não.
Nếu ta dứt bỏ được nguyên nhân này,ta sẽ đạt tới trạng thái dứt khổ, gọi
là giải thoát hay Niết bàn, là hạnh phúc trường cửu. Do đó ta nương vào
Phật pháp.
Ðể có thể thật sự dứt khổ, ta
phải đi theo chánh đạo. Ta cần nuôi dưỡng những tính thiện trong ta. Khởi
đầu, ta chỉ nhận biết rằng tâm ta là đối tượng của ngu si, thiên kiến và
lầm lẫn. Khi sự hiểu biết về bản chất các pháp của ta tăng tiến, ta sẽ
nghi ngờ, tìm hiểu mọi sự vật có tự tánh riêng chăng? Ta sẽ dần dà hiểu
rằng những đối tượng trước đây ta thấy hoàn toàn tốt đẹp mà ta mê thích,
thực sự chúng có bản chất riêng trong tự thân chúng hay chăng?
Tương tự như vậy, những gì làm
ta giận dữ có tự tánh độc lập không? Càng quen thuộc với những suy ngẫm
này, ta càng tiến sâu vào sự hiểu biết và thực chứng. Kết quả là ta sẽ có
khả năng phát triển trí tuệ và thực chứng về tự tánh Không của mọi sự vật.
Chuyện này y như thắp lên một ngọn đèn sáng tại nơi tối tăm. Nhưng không
có nghĩa là chúng ta có thể giác ngộ được ngay, vượt thoát vô minh tức thì
như khi ta bật ngọn đèn điện. Phát huy những tính thiện trong tâm phải có
thời gian, từ từ mới làm được.
Những tôn giáo khác có nhiều
phương pháp phát triển tình thương và lòng bác ái, nhưng không có truyền
thống tâm linh nào giải thích rằng mọi sự vật trống rỗng, rằng vạn pháp
đều nương vào nhau (tương tức, tương nhập). Chỉ có đạo Bụt cho rằng ta sẽ
được giải thoát khi hiểu được tánh Không, bản chất thật sự của vạn vật.
Vậy nên chỉ có Bụt, Pháp, Tăng là tam bảo xứng đáng cho những ai mong được
giải thoát nên nương tựa vào. Ðức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã dạy chúng ta
như vậy.
Ta quy y nương vào Phật, Pháp,
Tăng giống như ta không còn lối nào khác để đi. Có nhiều loại tín ngưỡng.
Trong niềm tin tưởng sáng láng, trong lành ta quý trọng tánh thiện của
Bụt, Pháp, Tăng. Rồi tới lòng tin vì tín nhiệm và tín tâm khao khát muốn
cố gắng đạt tới những quả vị giống như tam bảo. Nếu ta cố gắng như vậy,
chắc chắn kiếp sau ta sẽ khá hơn. Khi ta tu tập hàng ngày, lúc chết ta sẽ
không nuối tiếc chi nữa. Ðiều quan trọng lúc lâm chung làm sao ta giữ được
thiện tâm và những ý hướng thiện, trong lành. Bạn có thể thực hiện được
điều ấy vì bạn đã tu tập trong đời sống hàng ngày. Nếu ta tỉnh thức được
khi sắp lìa đời và hướng tâm ta về đường thiện, chắc chắn khi tái sanh,
bạn sẽ tới được chỗ tốt đẹp hơn.
9.- CUỘC ÐỜI QUÝ GIÁ
Học hỏi về các trình độ giác
ngộ và các giáo pháp đưa tới tình trạng hướng thiện đó là điều rất lợi ích
cho tâm ta. Khi học, ta sẽ cố gắng làm theo những bài giảng và chắc chắn
sẽ tiến bộ về tinh thần, có thể đi tới giác ngộ. Ðừng nghĩ rằng mình không
có đủ thông minh để học hành như vậy. Chớ bỏ qua những cơ hội được học hỏi
giáo pháp kẻo lỡ mất dịp may. Mọi loài chúng sanh, kể cả loài sâu bọ, cũng
được cho là có Phật tánh. Loài người chúng ta may mắn có khả năng hiểu
được Phật pháp.
Khi nghe hay đọc về giáo pháp,
rán áp dụng để hiểu được những tính bất thiện và làm hiển lộ được trong
tâm những tính thiện. Nếu ta không nhìn thấy được những khuyết điểm của
mình, ta không thể tiến bộ được. Người ta thường như vậy, khi không chú ý
đặc biệt, ta không thể nhận ra được những lỗi lầm của chính mình. Ta
thường hay kêu ca rằng ta không làm gì sai quấy hết. Tự xét mình là chuyện
tối quan trọng. Ta có thói quen sống mà không hay biết mình đã làm những
gì. Ta phải làm sao để làm tôn vẻ đẹp của tâm lên. Tôi không có nhiều kinh
nghiệm lắm, chỉ biết chút ít thôi, nhưng tôi bảo đảm với bạn rằng chúng ta
có thể làm được như vậy.
Chúng ta thấy cuộc đời quý gia
vô cùng vì ta có tự do và nhiều may mắn. Nhưng chuyện này không kéo dài
mãi mãi. Sớm muộn gì ta sẽ phải đối diện với cái chết. Nếu bị đọa vào kiếp
tệ hơn, ta khó có cơ hội gặp Phật pháp. Ta sẽ bị đau khổ triền miên. Chúng
ta rất cần tu tập ngay để có thể bảo tồn được những tính thiện, loại trừ
tính ác, trong hiện tại và tương lai. Như vậy chúng ta sẽ thực chứng được
ít nhiều con đường thoát khổ. Hiểu rõ điều này, ta sẽ biết ơn Bụt, người
thầy có giá trị và đáng tin biết bao. Ta cũng sẽ hiểu thêm được giáo pháp
của ngài.
Ðược sinh ra trong hoàn cảnh
tốt hơn, làm người hay làm thần cũng chưa đủ. Khi nào ta chưa dứt bỏ được
phiền não trong tâm, ta vẫn chưa thực chứng được an lạc và hạnh phúc vĩnh
cửu. Khi đã hiểu chút đỉnh về chánh đạo và con đường thoát khổ, ta sẽ biết
được các đối lực của phiền não mạnh ra sao và sự giải thoát là có thật. Từ
đó, ta sẽ nuôi dưỡng ý hướng muốn đạt tới Niết bàn, thoát được mọi nỗi
khổ. Nhưng như thế cũng chưa đủ, ta phải đi xa hơn, nuôi lòng mong ước
giúp cho tất cả chúng sanh đều thoát khổ.
Tôi đã giảng về những kinh
nghiệm của riêng tôi, nghĩ rằng như vậy có lợi ích cho các bạn nhất. Chúng
ta tu học thì nên nhìn xa. Ta khởi đầu với một căn bản vững vàng, xây dựng
một cái gì có giá trị tâm linh. Dĩ nhiên ta cần thời gian, nhưng khi bắt
đầu biết nhìn xa và cố gắng liên tục, ta sẽ từ từ đạt được vài kết quả. Dù
quả vị Phật là chuyện xa vời, nhưng khi thực tập hàng này, ta nên bắt đầu
trên căn bản đó. Cuối cùng ta cũng có thể đạt tới giác ngộ. Ðể có thể thực
tập, ta phải biết làm gì và làm cách nào, nên ta cần nghe hay đọc những
bài giảng như vầy.
CHƯƠNG I
TÂM TỈNH GIÁC
Ðạo Bụt đặt trọng tâm vào sự
tìm hiểu nội tâm và thực tập để phát triển nó. Theo quan điểm Phật giáo
học hay dạy Phật pháp không phải là chuyện thuần lý thuyết. Chúng ta học
hay dạy Phật pháp để cho cái tâm vô kỷ luật của ta vào khuôn phép. Như vậy
ta sẽ đánh thức được Phật tánh trong ta. Ta có khả năng dẹp hết những
chướng ngại trong tâm và kết quả là ta đạt tới những huyền năng phi
thường.
Tôi rất sung sướng khi thấy
nhiều người không phải là Phật tử, nhưng vẫn muốn học đạo Phật. Những
triết thuyết của các truyền thống khác nhau trong Phật giáo có thể thích
hợp với những khả năng và nhu cầu dị biệt của mọi người. Tất cả những giáo
pháp khác biệt này đều có chung mục đích là giúp cho con người hướng thiện
hơn, sống cuộc đời tốt đẹp hơn. Vậy nên, các tôn giáo hài hòa với nhau là
điều vô cùng quan trọng. Muốn vậy, chúng ta cần phảu hiểu nhau rõ hơn.
Ðây là giáo pháp của Bụt, trước
hết chúng ta hãy tụng hai câu kệ quy y Phật, Pháp và Tăng:
Cho đến khi được giác ngộ,
Con xin nguyện luôn nương tựa
vào Bụt, Pháp và Tăng.
Ðây là giáo pháp Ðại thừa, nhằm
giúp cho tất cả mọi loài đều được giải thoát. Chúng ta có hai câu kệ sau
đây nói về sự nuôi dưỡng tâm tỉnh giác:
Với thành ý đọc và nghe những
lời giảng pháp này,
Xin cho con được chứng ngộ để
độ tất cả chúng sanh.
Tâm tỉnh giác là ước mong đạt
được quả vị Phật để giải thoát chúng sanh khỏi cảnh khổ đau. Muốn phát
triển tâm tỉnh giác, chúng ta phải thiền tập chứ không phải chỉ phát triển
bằng cách suy tưởng, mong ước và cầu nguyện. Không phải chỉ hiểu suông
bằng tinh thần là được. Cũng không phải chỉ cần được Phật độ cho là xong.
Ta chỉ có thể đạt tới giác ngộ hay tỉnh giác bằng thiền quán sâu xa và
trường kỳ. Muốn duy trì thiền quán vào tâm tỉnh giác, ta cần biết tới
những lợi ích khi ta biết nuôi dưỡng nó. Ta phải có mong cầu rất lớn, mong
trau dồi được cái giác tâm này, cảm thấy như đó là một nhu cầu thúc bách.
Nếu ta thiền tập một cách thích thú, ta sẽ dễ thành công hơn. Ý nghĩ cao
quý muốn độ chúng sanh sẽ đem lại kết quả rất tốt. Ðó cũng là duyên chính
yếu mang lại cho ta hạnh phúc, kiên cường và thành công ở đời. Khi tâm ta
đầy nghi ngờ và xấu ác, tự nhiên ta sẽ cho rằng người khác nghĩ bậy về
mình. Liên hệ giữa ta và người khác nhuốm đầy những ý tưởng bất thiện này.
Ða số trường hợp, chúng đưa ta vào con đường đau khổ. Ðiều đó tự nhiên.
Vậy nên, ngay trong cuộc đời này, ta càng vị tha thì càng sung sướng. Càng
sân hận độc ác, ta càng kém an vui.
Dù ta đi kiếm hạnh phúc cho
chính mình hay cho người khác, dù cho ta tìm cầu an lạc ngắn hay dài hạn,
ta đều cần có lòng từ bi cao quý. Tương tự như vậy, khi muốn được làm
người hay thần linh, muốn được thành công trong những kiếp sau, ta phải
phát triển thiện tâm. Ðược tái sanh trong điều kiện tốt đẹp hơn chính là
hậu quả của sự tu tập, chẳng hạn như thực tập giới không sát sanh. Thực
vậy, được sanh ra trong cảnh giới tốt hơn là nhờ đã làm những việc thiện
như kiêng sát hại, không trộm cắp, thực hành mười điều lành (thập thiện):
Ðộ sanh (không sát hại); bố thí (không trộm cắp), và giữ lòng đoan chánh
(không dâm dục); nói lời chân thật, nói lời hòa giải (không nói dối, không
ly gián); nói lời nhã nhặn, nói điều xác thực (không nói lời ác độc, thô
lỗ và bịa đặt); không tham lam mà rộng lòng giúp đỡ người khác và giữ được
chánh kiến. Chúng ta gom góp những duyên lành để có thể được tái sanh tốt
đẹp bằng cách ngưng làm những thành động có hại cho kẻ khác. Căn bản của
chuyện này là ta phải có lòng nhân ái đối với họ.
1.- THỰC SỰ NGHỈ NGƠI
Khi gặp bác sĩ, chúng ta thường
được khuyên nên nghỉ ngơi. Nhưng nghỉ ngơi nghĩa là gì? Nghỉ không phải là
chỉ nằm dài trên giường, mà còn có nghĩa là làm cho tâm thần được thoải
mái. Dù y sĩ có giải thích hay không, khi ông khuyên ta nên nghỉ ngơi thì
có nghĩa là ta cần được thoải mái, thư dãn về tinh thần, không lo âu nữa,
chứ không phải chỉ cần cho cơ thể ngưng hoạt động. Tinh thần ta chỉ được
thoải mái khi ta có những cảm nghỉ và thái độ lạc quan. Khi tâm trí ta còn
bị những cảm thọ tiêu cực, phiền muộn chế ngự, thì không thể nào thoải mái
được. Vậy, ngay trong chuyện sức khỏe, khi ta được yêu cầu nghỉ ngơi cũng
có nghĩa là ta cần có lòng nhân ái, vì đó là cách tốt nhất để ta không bị
âu lo. Vì những duyên do như thế nên mỗi lần Atisha (vị hiền giả Ấn Ðộ)
gặp ai, ông ta cũng hỏi: "Tâm bạn có bình an không?" Cũng như ngày nay
chúng ta chào nhau: "Bạn có khỏe không?" (How are you?). Ngài không hỏi
người đối thoại coi họ có lòng tốt hay không, nhưng muốn hỏi coi họ đã
sống ngày đó như thế nào? Câu hỏi này có tánh cách sâu xa hơn, tôi nghĩ
câu hỏi của ngài không phải chỉ có tánh cách tôn giáo. Ngài muốn hỏi "Bạn
nghỉ ngơi có khỏe khoắn không?" giống như chúng ta hỏi "Bạn ngủ ngon
không?" vì nghỉ khỏe chính là kết quả của tâm tốt lành.
2.- TỪ BI VÀ TRÍ TUỆ
Dĩ nhiên ta cần nuôi dưỡng
thiện tâm, nhưng làm cách nào, đó là vấn đề. Trong việc tu luyện tâm thức
để có thiện tâm, ta cần có chánh niệm hay tâm tỉnh giác vì đó là hình thức
tối hảo, tối thượng của thiện tâm. Ðó là cái tâm thiện vô biên, được bổ
túc thêm bằng trí tuệ. Kinh điển giảng về tâm tỉnh giác, cho đó là một tâm
thức được hình thành do hai ước vọng: muốn phục vụ tha nhân và mong đạt
tới quả vị Phật.
Thế nào là bổ túc bởi trí tuệ
hay tâm hiểu biết? Ta xét tới cái tâm muốn nương tựa vào Bụt là một thực
thể tối thượng, có đủ mọi đức tánh và hoàn toàn tự do. Hoặc ta chỉ coi Bụt
là một vị thần linh quý báu thiêng liêng. Ðiều này tùy theo lòng tin của
mình. Có người chỉ xin nương tựa vào Bụt sau khi đã phân tách, tìm hiểu về
bản chất của Bụt, về sự hiện hữu có thể có của ngài. Sau khi đã nghiên cứu
như vậy, ta tin Bụt có thể là một nhân vật có thực. Ta hiểu bản chất của
ngài, là người có tâm toàn thiện và tự do tuyệt đối, không bị vướng bận
vào một ràng buộc nào. Khi hiểu về Bụt, về một con người tỉnh thức toàn
diện như thế, chúng ta hoàn toàn tin tưởng để quay về nương tựa ngài. Niềm
tin này mạnh mẽ và kiên cố hơn là chỉ có tín tâm tôn giáo mà thôi.
Nuôi dưỡng tâm tỉnh giác cũng
tương tự như vậy. Có thể có những vị Bồ Tát chưa hiểu rõ về tánh Không,
nhưng tâm họ khao khát đáp ứng được mọi ước nguyện của chúng sanh. Do ước
vọng đó, họ có thể nảy sinh ra tâm ý muốn đạt đạo để giúp mọi người và mọi
loài. Nhưng thường khi nói tới tâm tỉnh giác, ta nói tới ý nguyện muốn tìm
hiểu coi có thể chấm dứt được khổ đau cho đại chúng không, và nếu được thì
nên làm cách nào để giúp chúng sanh dứt khổ. Căn cứ vào các tư tưởng đó,
ta xét tới ý nghĩa của sự giác ngộ, theo hai điều sau đây:
- Từ bi nhằm vào chúng sanh.
- Trí tuệ chủ vào giác ngộ.
Khi chúng ta nuôi dưỡng tâm cao
quý mong được giác ngộ để giúp chúng sanh, vì biết ta có thể đạt tới trình
độ đó, thì tâm ta trở nên huyền diệu và kiên cường.
Sự khác biệt sẽ rất lớn lao khi
tâm từ bi được trí tuệ hỗ trợ. Bình thường khi nhìn vào chúng sanh khốn
khổ, ta sanh ra một tâm niệm rất mãnh liệt muốn giúp họ đở khổ, vì ta
không chịu nỗi những cảnh đau lòng đó. Nhưng nếu ta nhìn và phân tích sâu
hơn ta sẽ hiểu vì đâu mà họ khổ và biết họ có khả năng nuôi dưỡng những
yếu tố diệt khổ của chính họ. Ta có thể nhìn ra những điều đó trong người
kia nhưng chính họ thì bị bấn loạn trước các sự kiện và không biết cách
phát hiện những yếu tố tích cực nói trên. Ta có thể nhìn thấy người kia
không những đang bị đau khổ mà còn đang bị vướng vào những hành nghiệp bất
thiện nữa. Họ đang bị lầm lạc, hướng vào những hành sử gây ra đau khổ liên
tục trong tương lai.
Chúng ta sẽ khởi lên những tâm
niệm từ bi, thương xót chúng sanh khi nhìn rõ khả năng thoát khổ của họ mà
vì u mê, họ chưa nhìn ra con đường đó được. Cũng giống như khi ta thấy một
con người có thể giải quyết vấn đề của họ một cách dễ dàng mà họ không làm
nổi vì u mê hay vì thiếu sáng kiến. Nhìn thấy người khác đang khổ, ta nên
biết rằng họ cũng giống mình, không hề muốn bị khổ. Ta phát khởi ước mong:
"Nếu sự đau khổ này chấm dứt được thì hay lắm, cầu xin cho nỗi khổ đó sớm
chấm dứt!" Khi ta đã biết con đường và những phương cách thoát khổ, thì
nhìn người kia ta càng thấy thương xót họ nhiều hơn.
Khi tu tập để có tâm tỉnh giác,
chúng ta nên có hai mục tiêu: mong đạt tới quả vị Bụt và mong độ được cho
người khác. Tâm tỉnh giác hướng về tha nhân, không chỉ lo cho mình mà muốn
giúp người, đó là lòng từ bi. Muốn nuôi dưỡng tâm từ bi đích thật, ta
không những cần quan tâm tới những người đang đau khổ, mà còn cần coi họ
như những con người dễ thương, dễ mến nữa. Ðồng thời ta phải có khả năng
nhìn thấu bản chất khổ đau của họ.
Muốn nhận diện rõ ràng những
niềm đau nỗi khổ, trước hết ta hãy nghĩ tới những kinh nghiệm mình đã trải
qua. Nhận diện theo cách đó dễ dàng hơn. Chúng ta thường nghĩ lòng từ bi
và quyết tâm thoát khỏi luân hồi khổ não như hai mặt của một đồng tiền.
Quán tưởng về những khổ đau của mình và tập để xả bỏ chúng đi là vì ta có
quyết tâm muốn được giải thoát. Khi ta mong giúp người khác được khổ, là
ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi.
3.- TỨ DIỆU ÐẾ
Nền tảng của sự giải thoát khỏi
khổ đau là giáo pháp Tứ Diệu Ðế. Ðây là căn bản quan trọng nhất trong Phật
pháp. Tứ Diệu Ðế có thể chia làm hai phần: Khổ đế và Tập đế là những
nguyên nhân và các hệ quả của những cảm thọ bất an mà ta muốn thoát ly.
Diệu đế và Ðạo đế là những con đường toàn diện cho những hành nghiệp trong
tương lai. Nếu không học và không đi theo con đường này, mà chỉ quán về
hai sự thật đầu (Khổ và Tập), thì chúng ta thật sự đã tự trừng phạt mình.
Thà là ta cứ thoải mái hưởng đời thôi có lẽ còn tốt hơn. Chỉ nghĩ tưởng về
cái khổ mà thôi thì nghĩ làm gì? Khi ta được khuyên nên nghĩ về Khổ đế là
vì do đó, ta sẽ biết cách thoát được khổ. Quán về khổ để ta có quyết tâm
vượt khổ, để được tự do. Vì thế, giáo lý Tứ diệu đế rất quan trọng.
Ðể giúp chúng ta thiền quán về
cái khổ, ta nên biết có ba cái khổ khác nhau. Trước hết khổ vì bị đau đớn,
khổ vì sự thay đổi vô thường và những cái khổ tràn đầy khi sinh sống. Khổ
vì đau đớn là do những vấn đề và phiền trược trong cuộc đời. Khổ vì vô
thường liên qua tới những hạnh phúc giả tạm mà chúng ta mong cầu. Những
thứ hạnh phúc này chóng tàn không được lâu bền. Những niềm vui đó thay đổi
và trở thành nỗi khổ rất mau, nên ta gọi chúng là những cái khổ vì vô
thường. Căn bản các loại khổ trên đều lệ thuộc về cái thân tứ đại, liên hệ
tới nghiệp báo và các cảm thọ phiền não. Do đó mà sinh ra những nguyên
nhân khiến ta tái sanh liên tục trong cõi luân hồi. Vậy nên chúng ta không
thể tránh được khổ, khi còn sinh hoạt trong cuộc đời.
4.- CON ÐƯỜNG DIỆT KHỔ
Mỗi sự thật trong Tứ đế đều có
thể được giải thích căn cứ vào bốn dấu ấn của Phật pháp: vô thường, khổ,
không và vô ngã. Sự vật nào do nhân duyên mà thành cũng đều do nhân duyên
mà thay đổi và hoại diệt. Vì bản chất của nhân duyên cũng là vô thường,
thay đổi từng phút giây, nên chúng tạo ra khổ não. Ðó là nguyên nhân của
khổ. Khi quán về những tập hợp mà chúng ta gọi là thân và tâm, ta sẽ hiểu
chúng đều có bản chất vô thường. Nó thay đổi theo từng giây từng phút và
là một sản phẩm tùy thuộc vào nhiều nhân duyên mà cái duyên chính là vô
minh. Thân tâm ta gồm những tập hợp - sản phẩm của vô minh - nên ta có thể
hiểu rằng bản chất của nó là khổ.
Khi quán chiếu về sự vô thường
đó, ta sẽ hiểu rằng vô minh là nhân duyên chính của sự tập hợp ngũ uẩn
trong thân tâm ta. Khi còn là sản phẩm của vô minh, thì dù ta sinh ra
trong hình tướng nào, ta cũng sẽ bị hoại diệt. Dù xấu hay đẹp, to hay nhỏ,
thân ta rồi cũng đổi thay. Khi hiểu thấu được điều này thì ta sẽ không còn
bị khó chịu vì những khó khăn nho nhỏ nữa. Ta sẽ hiểu là khi nào chưa
thoát được những ràng buộc của phiền não, thì ta chưa thể có chân hạnh
phúc. Ta phải luyện tâm như vậy.
Khi thực tập theo lối này, ta
sẽ thấy những phiền não, bất an mới chính là kẻ thù thực sự của ta. Tiềm
ẩn lặng lẽ trong tâm thức ta từ lúc nào, chúng chỉ mang lại cho ta khổ
đau. Khi nhận diện, biết chúng là kẻ thù thì ta có thể khởi sự chống trả
chúng một cách hữu hiệu. Các đại sư Tây Tạng thời Kadampa (thế kỷ 12 và
13) thường dạy: "Khi bị những kẻ thù phiền não đè bẹp vì chúng quá mạnh,
ta chỉ có cách nghiến răng chống lại mà thôi, đừng chịu thua chúng".
Mặt khác ta nên nuôi dưỡng tâm
ý chán ghét những cảm thọ bất an đó. Ta cũng cần hiểu là khi nào còn vô
minh, ta không thể nào có hạnh phúc chân thật. Vấn đề là ta có thể loại bỏ
được vô minh chăng? Diệt đế chỉ cho ta rất rõ ràng phương cách thoát được
vô minh đó. Bụt giảng về đế thứ ba (sự diệt khổ) này rất rõ. Ai cũng có
Phật tánh - ý này có hai nghĩa: trước hết, những lầm lỗi do tâm đều vì vô
minh; thứ hai Phật tánh là thứ ta có thể đạt được. Khi quán và tư duy về
hai điều này, ta thấy diệt khổ là chuyện có thể thực hiện. Vì thế nên ta
phát sanh tâm nguyện đạt tới giải thoát, Niết bàn.
Khi tìm thấy những khuyết điểm
trong vòng luân hồi, ta có thể tìm được một lối sống nào khác hay chăng?
Một khi ta biết có Niết bàn,ta sẽ khởi tâm muốn đạt tới đó. Tâm bất an là
cản trở chính cho sự giải thoát của ta. Vậy nên ta nhìn tâm bất an đó như
kẻ thù chính và ta sẽ muốn chiến đấu để thắng nó. Trong thực tế, lúc đầu
ta khó mà chiến đấu và ngăn chận kẻ thù này. Vì chánh phạm của bất an là
vô minh, muốn hết bất an, ta phải ngăn chận được vô minh. Yếu tố duy nhất
khiến ta thắng vô minh là sự hiểu biết về vô ngã.
Ðể có trí huệ về vô ngã, không
phải ta chỉ cần hiểu nó hoăïc thỉnh thoảng tư duy về ý nghĩa của vô ngã mà
ta phải nhất tâm quán chiếu về nó, cũng như quán về Không. Ta phải có cái
thấy chân thực thì mới từ từ từng bước loại bỏ được những cảm thọ bất an.
Tóm lại, ta cần thiền quán và tập làm quen với cái nhìn vô ngã trong một
thời gian dài.
Muốn nuôi dưỡng cái thấy về vô
ngã, ta cần thực tập để có định. Nền tảng của sự thực tập này là phải
tránh hành sử một cách bất thiện. Trước khi chống chọi với các cảm thọ bất
an, ta cần đề phòng những hành sử tiêu cực. Tích lũy những nghiệp xấu đó
đây sẽ khiến ta bị những cảm thọ bất an thống trị.
Những ác nghiệp do tâm bất an
đưa đẩy có thể tìm thấy trong mười hành động sai quấy như: trộm cắp, giết
hại, tà dâm (nghiệp thân) và nói dối, lưỡi hai chiều, đàm tiếu, nói thô
(khẩu nghiệp); sau đó là tà kiến, ý muốn hại người và tham đắm (ý nghiệp).
Khi ta có cơ nguy phạm vào một trong mười điều bất thiện này, ta phải biết
kềm chế và tìm cách hóa giải nó. Như tu tập theo thập thiện chẳng hạn.
Muốn vậy, ta phải tin thuyết nhân quả và nghiệp báo. Nếu ta gây nhân xấu,
thì sẽ gặt quả xấu. Khi làm những việc có bản chất tốt, thì kết quả là ta
được an vui. Càng tin ở thuyết "nhân nào quả nấy", ta càng tu tập giỏi và
lánh xa những con đường bất thiện.
Ðược sanh ta trong kiếp người
là một sự cố độc nhất và hãn hữu. Ta cũng giống như các sinh vật khác,
nhưng con người đặc biệt hơn vì có trí thông minh và khôn ngoan. Khi hiểu
rằng kiếp người đáng quí và có giá trị, ta sẽ biết dùng trí khôn của mình
để đi vào chánh đạo. Khi hiểu biết về những kết quả xấu của mười điều bất
thiện, ta sẽ hiểu vì sao những việc ác đó là sai trái. Làm những việc bất
thiện đó, ta sẽ bị tái sanh vào cảnh khổ như bị đọa làm súc sanh chẳng
hạn. Bạn cứ nhìn những loài vật thì thấy. Không muốn bị như chúng, ta phải
tránh các nghiệp dữ. Tu tâm như vậy, từ từ ta sẽ nhận diện được khổ đau và
có quyết tâm giải thoát.
Một khi ta hiểu rõ được những
nỗi khổ đang làm mình phiền não, ta có thể thay đổi đối tượng, tập nhìn
vào nó như nhìn vào cái khổ của một người khác vậy. Rồi ta tập luyện tâm,
mong đem phúc lạc tới cho các chúng sanh. Những người đang đau khổ đó
không phải là không liên hệ gì với ta. Hạnh phúc tương lai của ta tùy
thuộc nơi họ rất nhiều. Nuôi dưỡng tâm vị tha mong cho chúng sanh được lợi
lạc là một điều tuyệt diệu. Ngay cả khi ta còn theo đuổi mục tiêu riêng
nhưng nếu tâm ta có mong ước giúp ích chúng sanh thì ta lại đạt được mục
tiêu của mình lẹ hơn. Nuôi dưỡng lòng vị tha có lợi như vậy. Chuyện tiên
khởi ta cần biết là chúng sanh và ta đều có liên hệ và chẳng có chi phân
biệt.
5.- NUÔI DƯỠNG TÂM BÌNH ÐẲNG
Chúng ta nên luyện tâm để ta
luôn luôn nhìn chúng sanh như những sinh vật gần gụi và dễ thương. Chúng
ta nên bắt đầu bằng cách quán bình đẳng. Ta thường cảm thấy gần cận với
những người thân thuộc như bà con, bạn bè. Những người ta không ưa được
xếp vào loại kẻ thù và ta cảm thấy xa cách với họ. Tỷ dụ như người Tây
Tạng chúng tôi khi nghe về những cảnh khổ đau, những thảm kịch nơi quê
hương thì chúng tôi cùng nhau tới chùa cầu nguyện. Nhưng khi nghe tin
Trung Hoa bị lũ lụt, thì thay vì cầu nguyện cho các nạn nhân, có khi chúng
tôi lại vui mừng. Ðây là cái tâm phân biệt cần tu sửa. Thực tập sự bình
đẳng là để sửa thái độ không cân bằng kể trên. Những người bạn chúng ta
bây giờ chưa chắc đã là thân hữu của ta trong các kiếp trước. Họ cũng có
khi là kẻ thù. Những người ta coi là kẻ thù ngày nay cũng vậy. Họ có thể
đã là bằng hữu. Ta không có lý do chánh đáng để khởi tâm phân biệt. Theo
đại sư Gungthang, ngay trong cuộc đời này, một người bạn ta coi là thân
nhất, cũng có thể trở thành kẻ thù khi họ lỡ nói một câu sai trái. Những
người khi trước là bạn, sau có thể trở thành kẻ thù và ngược lại. Chúng ta
ai cũng thấy như vậy. Thái độ phân biệt này cần được loại trừ, vì nó căn
cứ trên sự tham đắm và giận hờn. Rõ nhất là khi người kia đổi thái độ thì
ta cũng thay đổi. Mặt khác nếu ta cảm thấy gần gụi với các chúng sanh khác
không kể tới địa vị của họ thì dù họ đổi thái độ, ta cũng vẫn vậy thôi.
Khi nói tới bạn bè hay bà con, ta thường nói "bạn tôi, bà con tôi". Ta
nhấn mạnh tới liên hệ có tính cách ràng buộc. Ta nên cẩn thận đối với sự
phân biệt này. Khi nào còn tâm phân biệt, bạn không có khả năng để thấy
mọi chúng sanh đều bình đẳng. Ðó là lý do khiến ta nên quán chiếu để thấy
rằng bạn thân nhất của ta trong đời trước có thể nay là kẻ thù. Một khi ta
nuôi dưỡng được cái tâm bình đẳng với mọi chúng sanh, ta sẽ có khả năng
hiểu được lòng tốt của họ.
Vậy thời, kẻ thù thật sự của ta
chính là cái tâm bất an chứ không phải là những con người đang đau khổ và
bị phiền não nắm đầu. Muốn nuôi dưỡng tâm từ bi, ta nên hiểu rõ về sự khác
nhau giữa các loại đau khổ. Ta thường phát tâm từ bi ngay khi nhìn thấy
những người tàn tật hay thân thể đang bị đau đớn. Nhưng khi thấy người khá
giả hay có học, thay vì thương xót, ta thường ghen tức và muốn tranh đua
với họ. Ðiều này chứng tỏ tâm từ bi của ta có tánh cách phân biệt và không
hoàn hảo, vì ta không hiểu được những đau khổ trong tâm của tất cả chúng
sanh. Ta cần phải nhận biết tâm bất an trong ta chính là kẻ thù thật sự
của mình. Biết như vậy, ta sẽ hiểu được những khổ đau do phiền não gây ra
trong tâm mọi người khác. Ta cần phát khởi và nuôi dưỡng lòng từ bi đối
với tất cả chúng sanh. Giữ liên hệ gần gụi với một nhóm người mà ta coi là
bạn hay bà con, chỉ là sự vướng mắc, không phải do lòng từ bi đích thực.
Và kết quả của những ràng buộc đó là khổ đau. Vậy nên ta cần nuôi dưỡng
tâm bình đẳng đối với người khác, không bị ràng buộc, giận hờn, không bị
tâm phân biệt làm cho ta mất tự do.
Bước thứ hai là ta coi hết thảy
mọi người đều là quyến thuộc. Hầu như ai cũng đã từng liên hệ với ta, có
thể đã là mẹ ta chẳng hạn trong quá khứ. Trong tương lai, chắc chắn họ
cũng sẽ trở thành bạn hay bà con của ta nữa. Trong bối cảnh đó, ta hãy nên
nhớ tới sự tử tế của họ, như lòng mẹ đối với con vậy. Sau đó ta nuôi dưỡng
tâm Xả, để thấy ta bình đẳng với chúng sanh. Ai cũng như ta, chỉ mong được
hạnh phúc và thoát cảnh khổ đau. Khi luyện cho tâm ta nghĩ như thế rồi, ta
sẽ thấy mình không thể phân biệt thương nhóm này ghét nhóm kia nữa.
Ta quán chiếu để thấy được lòng
tốt của muôn loại, luôn mang phúc lợi tới cho người khác một cách trực
tiếp hay gián tiếp, không phải chỉ giúp cho bà con mà là giúp hết thảy mọi
người. Trong cuộc sống của loài người chúng ta liên hệ với nhau rất nhiều.
Ta được hưởng kết quả công trình do bao nhiêu người khác làm ra. Hàng hóa
do thợ lắp ráp trong các xưởng, các nguyên liệu do thợ đào từ hầm mỏ; ngay
khi đọc hay nghe những lời giảng này, ta cũng nhờ ơn bao nhiêu bạn đã làm
việc. Nhờ họ chịu cực mà ta được hưởng, được biết tới Phật pháp và những
phương cách nuôi dưỡng tâm tỉnh giác. Ngay cả chuyện đạt tới quả vị Bụt,
ta cũng phải nhờ vào lòng tốt của chúng sanh. Nhớ như vậy, ta sẽ thấy gần
cận với muôn loài. Ta sẽ thấy chúng sanh lúc nào cũng tử tế cả.
6.- CHO VÀ NHẬN
Quán tưởng tới lòng tốt của
chúng sanh, ta cũng nhớ nghĩ tới thái độ vị kỷ nhiều lầm lỗi của ta và
những phúc lợi do lòng vị tha đem lại. Khi hiểu được những lợi hại của hai
thái độ trái ngược này, ta sẽ khởi tâm muốn trao đổi địa vị của ta với
người khác. Cho tới nay, ta luôn coi trọng mình hơn hết. Nay ta thay đổi,
quan tâm tới người khác và coi mọi người đều đáng quý. Trước nay ta coi
nhẹ tha nhân. Nay ta nhận ra là làm hài lòng người khác quan trọng hơn và
nhu cầu cá nhân ta không có gì đáng kể. Ðó là cách tu hoán chuyển mình vào
địa vị người khác.
Khi ta huân tập tâm ta như vậy,
thì dù cho mọi người sống hay cư xử cách nào, ta cũng vẫn thấy họ dễ
thương. Ðó là căn bản của phép tu cho và nhận. Do tình thương mà ta cho -
nghĩa là hiến tặng hạnh phúc và tính thiện của ta cho người. Do lòng từ bi
mà ta nhận - nghĩa là nhận hết vào mình những khổ đau và tính ác của người
khác. Tu tập như vậy, ta nuôi dưỡng tâm thức trách nhiệm một cách mãnh
liệt. Ta tu tập như thế để có thể đem phúc lợi tới cho người khác.
Khi chúng ta có thể đạt tới
Niết bàn trong tâm ta, ta sẽ thấy người khác cũng có cơ hội như ta vậy. Và
ta khởi tâm mong ước giúp cho toàn thể chúng sanh được tới Niết bàn. Trước
tiên, ta phải đạt tới giác ngộ, đó là điều kiện duy nhất để giúp chúng
sanh. Mục tiêu của sự giác ngộ là ta muốn giúp cho chúng sanh đạt đạo.
Ðiều này đòi hỏi một sự cam kết vững chắc và can trường, một cái tâm tỉnh
giác.
Càng nuôi dưỡng tâm ý muốn mang
phúc lợi tới cho chúng sanh, ta càng có hòa bình và hạnh phúc trong tự
thân. Khi có hòa bình trong ta rồi, ta có nhiều khả năng hơn trong sự đóng
góp hạnh phúc cho người khác. Chuyển hóa tâm thức để có thái độ tích cực
chính là nhân duyên cho ta hạnh phúc trong nhiều kiếp tương lai. Nó cũng
giúp cho ta thoải mái, can cường và có tinh thần cao. Ðối với tôi, tôi cố
gắng giữ được tâm luôn lạc quan bằng cách học và hành theo chánh đạo. Khi
gặp vấn đề, tôi giải quyết nó dễ hơn vì tôi luôn nhớ và hiểu đời là bể
khổ. Khi biết rằng mọi sự đều tàn hoại và sự đau khổ cũng vậy, tôi sẽ
không mất niềm tin. Và tất nhiên không bao giờ tôi nghĩ tới chuyện tự hủy
diệt. Giáo pháp thực sự giúp ích chúng ta trong đời sống.
Nay tôi đã hơn sáu mươi tuổi,
và tôi đã thu thập đủ kinh nghiệm để có thể nói một cách tự tin rằng Phật
pháp rất hữu hiệu và thích hợp cho nhiều người. Nếu các bạn thành khẩn
thực hành các nguyên lý của giáo pháp này thì chắc chắn nó sẽ giúp bạn
trong đời sống hiện tại cũng như trong các đời sau. Tu tập rất có ích cho
bạn và tất cả chúng sanh. Nó giúp chúng ta biết cách bảo vệ và sống hòa
hợp với môi sinh. Không phải vì giáo pháp đã hữu dụng thời xưa mà nay
không còn hợp thời nữa. Trái lại nó rất khế cơ, rất hợp với thời đại này.
Khi người ta khuyên bạn nên
thực tập theo Phật pháp không phải chỉ vì muốn giữ lại một truyền thống
cũ. Dù sao, khi đọc và học về đạo Bụt, ta cũng đã đóng góp nhiều cho
truyền thống này. Nhưng khi thực tập bạn có thể tạo nên một giá trị tâm
linh nào đó cho tâm thức bạn. Khi người ta đóng góp vào việc xây chùa hay
dựng tháp, người ta nghĩ là mình đang thực hành Phật pháp. Nhưng sự học
hỏi và tu tập quan trọng hơn nhiều, vì kết quả trên tâm linh có thể kéo
dài sang nhiều dời sau. Những công trình xây cất bên ngoài có thể tàn lụi
cùng thời gian. Những gì ta xây dựng trong tâm sẽ còn lại lâu bền hơn
nhiều. Chuyện quan trọng hơn hết là ta phải sửa soạn chính ta để có thể
sống hữu dụng trong đời này và có cơ hội tu tập trong các đời sau. Sau
nữa, ta phải hiểu được rằng, những sự khổ đau phiền não trong ta đều do kẻ
nội thù, là cái tâm bất an mang tới. Khi những cảm thọ bất an đó còn ngự
trị trong tâm thức ta thì ta không thể có hạnh phúc. Ta có thể làm chủ
nhiều phương tiện, nhưng chúng có bản chất phù du, nên chúng không thể đem
cho ta hạnh phúc vĩnh cửu. Ta không nên chỉ chú ý tới các đời sau mà ngay
bây giờ phải làm sao dứt bỏ được các phiền trược. Với thái độ này, ta mới
mong đạt tới sự giải thoát tự do, dạt tới Niết bàn, ra khỏi luân hồi. Ta
có thể phát tâm rộng lớn hơn là sự mong cầu giải thoát cho riêng mình: đó
là tâm mong cho hết thảy chúng sanh được giải thoát. Sự tu tập này giống
như trẻ đi học: bắt đầu là trường mẫu giáo, rồi lên tiểu, trung học... mục
tiêu ngày càng lớn hơn. Ðó là cách xây dựng những giá trị cho tâm mình. Ta
luyện tâm để thay đổi thái độ hiện tại vị kỷ với thái độ từ bi nghĩ tới
chúng sanh.
7.- TÂM TỈNH GIÁC KỲ DIỆU
Ðược làm một con người tự do và
may mắn thật là quý, vì ta có cơ hội để nuôi dưỡng tâm tỉnh giác. Có cơ
hội tốt mà không biết dùng thì thật đáng tiếc. Không có loài nào hơn loài
người trong khả năng tạo phúc lợi. Nhưng không phải người nào cũng được tự
do thực hành Phật pháp và có phước gặp được Phật pháp. Sâu bọ hay các thú
vật đều không có những may mắn này. Chỉ có những người sanh sống nơi có
giáo pháp của Bụt mới được như vậy.
Trên thế giới này có hơn năm tỷ
người. Bao nhiêu thành phố có được ảnh hưởng của Phật pháp hay sự quan tâm
tự nhiên của con người đối với đồng loại? So với các loài sinh vật khác,
loài người hiện diện rất ít. Trong đó những người có đức tin tôn giáo còn
nhỏ nữa và trong số các tín đồ, số người có lòng từ bi đối với nhân loại
lại càng ít ỏi. Những con người như vậy rất khó tìm, vì không dễ hội đủ
các nhân duyên để cho họ hiện hữu.
Bạn đừng bao giờ nghĩ là mình
không có đủ khả năng tu tập nghiêm chỉnh hay nuôi dưỡng các đức tính. Bất
kỳ tuổi nào, trình độ thông minh ra sao, so với loài vật thì chúng ta đều
có thể thực hành Phật pháp được dễ dàng. Ngay cả khi đã già yếu hay bị tàn
tật ta vẫn có trí khôn, đừng nản chí. Người trẻ cũng nên hăng hái. Ta cứ
nhìn vào cuộc đời những hiền giả đã tu chứng để có phấn khởi. Các vị này
đã làm lợi mình lợi người biết bao nhiêu. Chúng ta nên theo gương họ.
Khi có cơ hội quý giá được làm
một con người tự do và may mắn, nếu ta không làm được chuyện gì hữu ích
thì trong tương lai, ta sẽ khó được làm người. Ngạn ngữ Tây Tạng có câu
nói rằng, muốn tu tập những tính thiện thì khó như lừa kéo xe lên đồi cao,
trong khi muốn vướng vào các hoạt động bất thiện thì dễ như cưỡi xe tuột
dốc vậy. Ta có khuynh hướng làm những chuyện bất thiện ngay cả khi ta nghỉ
là không nên. Khi nghỉ mình là một tăng sĩ, hay là một Phật tử thuần thành
của Mật tông, ta vẫn có thể thiếu hăng hái trong việc tu tập. Nhiều tính
thiện ta không tập được vì nó bị những ý tưởng bất thiện làm gián đoạn,
khiến nó trở nên mỏng manh. Một ánh chớp trong đêm đen cho ta thoáng thấy
cảnh vật chung quanh trong giây lát. Ta gặp Phật pháp cũng khó khăn và
ngắn ngủi như vậy thôi. Các thiện tính của ta yếu kém vì sự tu tập và hành
trì không mạnh, trong khi các tính bất thiện thì đầy quyền phép và xuất
hiện liên tục. Vậy ta phải hết sức cố gắng để nuôi dưỡng những tính tốt.
Chỉ có tâm chánh niệm đưa ta
tới giác ngộ là có khả năng diệt trừ được những nghiệp dữ. Sau hằng hà sa
số quán chiếu để hiểu xem điều gì có lợi ích nhất cho chúng sanh, Bụt
Thích Ca cho biết điều đó chính là tâm tỉnh giác hay tâm chánh niệm. Chư
Bụt trong quá khứ đã nuôi dưỡng tâm chánh niệm để giúp cho chúng sanh hết
khổ. Quý ngài tu tập, tạo bao nhiêu công đức và cuối cùng đạt tới giác
ngộ. Mỗi vị điều tu chứng và thấy chánh niệm chính là thứ có lợi ích nhất
cho tất cả mọi loài. Ðó là cái tâm trách nhiệm giúp mọi loài có được các
tính thiện, nó cũng giúp cho chúng sanh được hòa bình và hạnh phúc. Dù là
mới tu tập hay đã sắp đạt tới Phật tánh, tất cả đều tùy vào vào sự phát
triển tâm tỉnh giác. Trong cuộc đời bình thường, lòng vị tha mong phúc lợi
cho người khác cũng rất quý giá. Khi ta có thái độ tích cực muốn tự độ
mình và độ người, ta có khả năng gieo trồng những hạt giống hạnh phúc cho
mọi chúng sinh và giữ được hòa hợp với thiên nhiên.
Một con người sống cực như một
con chó trong cõi luân hồi, khi có được tâm tỉnh giác, thì lập tức được
coi là Bồ tát. Người và trời đều phải kính trọng con người đó. Tâm tỉnh
giác giống như một thứ nước ngọt có thể biến sắt thành vàng. Ðó là vì khi
ta có chánh niệm, các hành vi bên ngoài như nói năng, hành sử của ta đều
được chuyển hóa. Những tính thiện khác của ta giống như cây chuối, chỉ có
một chùm trái rồi bị tàn lụi, trong khi chánh niệm giống như một thứ cây
nhà trời, liên tiếp kết trái không bao giờ ngưng. Nhờ vào tâm tỉnh giác
này, chúng ta sẽ sớm được giải thoát khỏi khổ đau, sợ hãi.
Tâm tỉnh giác cũng là tâm mong
cầu hết thảy chúng sanh đều được giác ngộ. Nó hiện diện trong ta để ta có
thể giúp chúng sanh khổ não. Muốn phát triển nó, ta phải nhận ra là mọi
loài đều có cùng bản chất với ta. Ai cũng mong được hạnh phúc thoát được
đau khổ. Bản chất tâm họ cũng là thứ ánh sáng trong trẻo như tâm ta. Những
chướng ngại của họ chỉ nhất thời và ngẫu nhiên. Tôi không nói rằng họ
không bị chướng ngại, vì chúng cũng như bản chất toàn thiện và khả năng
đoạt tới quả Bụt của tâm thức họ, tất cả đều đã có từ khởi thủy. Bình
thường ta bị chướng ngại và vô minh nên không giác ngộ được, nhưng khi ta
loại bỏ được những ngăn che này thì tâm ta sẽ nhìn thấu mọi sự.
Tìm kiếm hạnh phúc, vượt thoát
khổ đau là quyền tự nhiên của mọi chúng sanh. Chúng ta có cơ hội ngang
nhau trong việc này. Khi so sánh hạnh phúc của tập thể với hạnh phúc của
một cá nhân, ta thấy ngay tập thể quan trọng hơn nhiều. Hiểu vậy, ta biết
ta nên đi tìm kiếm nguồn gốc hạnh phúc cho muôn loại.
Khi nói muốn mang chúng sanh
tới Niết bàn, ta hiểu chuyện này không thể làm bằng cách dùng của cải hay
thần lực cá nhân. Ta chỉ có thể chỉ cho họ con đường chánh đạo để đi tới
Niết bàn mà thôi. Muốn làm thế, chúng ta phải kinh qua những đoạn đường
đó. Nếu không có kinh nghiệm thực chứng, chúng ta không giúp được bao
nhiêu.
Tâm tỉnh giác hay chánh niệm
thật kỳ diệu và đáng trân quý như ngọc như ngà, trên hết mọi tâm khác. Chỉ
đạt được tâm đó đã có nhiều phước báu rồi. Ngay trong cõi luân hồi, nó
mang cho ta nhiều kết quả tốt như tâm hồn được bình an, sống hòa hợp với
môi sinh. Khi chánh niệm trở thành động cơ tạo ra các hành nghiệp, thì
phước báu sẽ tiếp tục tuôn tràn. Nếu ta hành trì Bồ tát đạo, thì nguồn ơn
phước đó sẽ liên tục hỗ trợ ta không bao giờ dứt.
Chí nguyện độ sanh đã tốt hơn
sự cúng dường chư Phật, nên hành động cứu giúp chúng sanh còn tốt đẹp hơn
nữa. Chúng ta có thể hỏi tại sao khi chúng sanh mong thoát khổ và có hạnh
phúc, ta lại không để cho họ tự cố gắng? Câu trả lời là tuy họ sợ khổ,
nhưng họ luôn luôn chạy theo nó. Tuy họ mong có an lạc, nhưng vì vô minh
và bối rối, họ liên tục hủy hoại sự bình an. Chánh niệm mang an lạc tới
cho họ. Thật không có gì quý bằng.
Khi ta khen ngợi một người vì
biết trả ơn những kẻ giúp đở anh ta, thì ta sẽ phải ca ngợi các Bồ tát ra
sao, khi các ngài độ hết thảy chúng sanh dù họ không kêu cầu? Tặng một bữa
ăn cho người đói cũng đã được người đời coi là công đức, thì ta nói sao về
các Bồ tát luôn luôn độ cho chúng sanh đạt tới an lạc của quả Bụt? Khi ta
có thể nuôi dưõng tâm Bồ tát như vậy, tự nhiên là ta sẽ được hưởng phước,
và được an lạc cũng như đạt được các ước nguyện. Tôi thường khuyên mọi
người là nếu muốn được thọ hưởng nhiều nhất thì hãy nên làm việc giúp ích
chúng sanh. Những ai không nghĩ tới người khác, chỉ muốn đạt được những
ước vọng của riêng mình thật là điên rồ.
Khi nói tới dân chủ và dân
quyền, chúng ta nói tới sự an vui của đám đông. Càng quan tâm và làm việc
tốt cho xã hội, chúng ta càng được an lạc. Mặt khác, nếu ta độc tài, tranh
hơn và áp đặt ý kiến mình trên nhiều người khác, thì ta sẽ không đạt được
các ước muốn riêng tư. Luật tự nhiên là càng nhiều người bị áp bức thì
càng nhiều chuyện lộn xộn. Công dân có quyền lợi và bổn phận đối với quốc
gia, chúng ta là Phật tử cũng có bổn phận đem an vui tới cho mọi loài. Ðó
là sự cam kết của chúng ta. Muốn có quyết tâm hơn, ta cần thanh lọc các ác
nghiệp cũ để chúng không còn xuất hiện sau này nữa. Vây nên ta hãy tham
gia vào các việc làm lợi cho chúng sanh và tránh những gì làm hại họ.
Ðây là chuyện mà mỗi chúng ta
đều nên làm. Có người được giải thoát rất mau, nhờ nghiệp thiện cũ của họ.
Nhưng đa số chúng ta không có hy vọng tới được cõi Niết bàn một cách huyền
diệu như thế. Khi ta trồng một cái hạt, đừng mong cây đơm hoa kết trái
ngay. Tôi nhớ hồi nhỏ sau khi gieo hạt, tôi không cho nó thời gian để nẩy
mầm mà đào lên ngay coi nó ra sao. Như vậy không được, ta phải cho thiên
nhiên đi theo tiến trình của nó. Nếu ta vi phạm luật tự nhiên và muốn giác
ngộ ngay lập tức, thì ta sẽ thất vọng. Tôi thường nói giỡn là khi ta nói
tới thời gian ba năm hay ba tháng để đạt giác ngộ, thì cũng là chuyện tào
lao như các khẩu hiệu tuyên truyền của người Trung hoa. Ta có thể nhập
thất ba tháng hay ba năm, khi trở ra vẫn chỉ là người thường với râu tóc
dài hơn mà thôi. Vậy nên ta phải nhìn xa và giữ ước nguyện đạt tới giải
thoát, dù cho ta cần phải tu học nhiều đời nữa.
Chánh niệm hay tâm tỉnh giác là
nhân duyên duy nhất giúp ta đạt đạo. Muốn nuôi dưỡng tâm này, cần nhất là
ta phải thanh lọc ác nghiệp và tạo nhiều thiện nghiệp. Khi ta thấy có ảnh
hưởng của nó trên tâm ta và bắt đầu thực chứng được rồi thì ta nên thọ
nhận một nghi lễ để trình lên nguyện vọng muốn đi theo con đường Bồ tát
của mình.
CHƯƠNG 2
CHẾT BÌNH AN
Ðiều mà tất cả chúng ta quan
tâm tới là làm sao sống và chết cho bình an. Chết là một nỗi khổ, một kinh
nghiệm mà chúng ta muốn tránh, mà nó cũng là chuyện chắc chắn sẽ xảy ra
cho bất cứ ai trong chúng ta. Dù sao, chúng ta có thể chọn một số hành
nghiệp để giúp ta đối diện với chuyện này một cách vô úy (không sợ hãi) và
bình an. Một trong những yếu tố chính khiến chúng ta giữ được tâm an bình,
không lo lắng khi chết, chính là cuộc sống chúng ta đã trải qua. Ðời sống
càng có ý nghĩa, khi ta chết càng ít tiếc nuối. Những cảm xúc tới với ta
khi chết tùy thuộc rất nhiều vào lối sống của ta.
1.- SỐNG CÓ Ý NGHĨA
Khi chúng ta có một đời sống
tích cực và có ý nghĩa, thì lúc hết đời - dù ta không mong đợi cái chết -
ta cũng dễ chấp nhận nó là một phần của đời ta. Ta sẽ không tiếc hận gì
cả. Bạn có thể hỏi phải làm sao để cho cuộc sống có ý nghĩa? Cuộc sống của
người ta không phải là để mang đau khổ tới cho ta và kẻ khác. Loài người
là một sinh vật có đời sống xã hội, hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào
nhiều nhân duyên. Nếu ta sống hòa hợp được với thực tại, là ta sống có ý
nghĩa.
Chúng ta không thể sống một
mình. Ta cần phải có đủ thức ăn, quần áo và chỗ ở. Tất cả những thứ này có
được là nhờ sự cố gắng của nhiều người khác. Hạnh phúc căn bản của chúng
ta tùy thuộc người khác. Sống cho thích hợp với thực tại này là một cuộc
sống có ý nghĩa. Vì hạnh phúc của ta có liên hệ vào người khác, nên ta
phải chăm sóc họ. Nhưng thường thì chúng ta tưởng như chính mình là người
đã tạo mọi thứ.
Chúng ta cần phải mở rộng tầm
nhìn, dù rằng điều ta quan tâm nhất vẫn là sự an vui của chính mình. Khi
chúng ta có cái nhìn rộng rãi, tự nhiên là chúng ta sẽ để ý và tận tâm hơn
với người khác. Ðây không phải là chuyện gì thiêng liêng và thần thánh.
Chuyện giản dị chỉ là vì tương lai chúng ta tùy thuộc vào người khác rất
nhiều. Quan điểm này không những thực tế mà nó còn là một thứ đạo đức thế
gian. Giải quyết vấn đề bằng cách dùng sức mạnh là kết quả của chuyện coi
nhẹ quyền hạn và quan điểm của kẻ khác. Con đường bất bạo động có tính
cách nhân bản, vì nó đưa tới đối thoại và hiểu biết. Người ta chỉ đối
thoại được khi có lòng kính trọng nhau, hiểu biết nhau trong ý hướng hòa
giải. Ðây là cách sống sao cho có ý nghĩa.
Bình thường khi nói về tinh hoa
của đạo Bụt, tôi hay nói về chuyện ta cần giúp đở người khác, hoặc í t
nhất, cũng không làm hại người khác. Ðó là điều căn bản của Phật pháp.
Thực tế mà xét, đây cũng là điều chánh đáng. Nếu một cá nhân có liên hệ từ
ái với người khác, thì lâu dài, thế nào người đó cũng trở thành một con
người sung sướng hơn. Những hành động bất thiện dù cho có đem lại lợi lộc
tức thì, nhưng trong thâm tâm, bao giờ bạn cũng cảm thấy khó chịu. Thái độ
từ bi không phải chỉ thuần là những cảm xúc thương xót thụ động.
Trong xã hội cạnh tranh tân
tiến này, đôi khi chúng ta sẽ phải cứng rắn. Nhưng chúng ta có thể cứng
cỏi đồng thời vẫn từ bi. Khi một con người sống như vậy, tới cuối cuộc
đời, tôi chắc chắn rằng họ sẽ chết một cách hài lòng, không tiếc hận.
Trong quan điểm tâm linh, nghĩ tới cuộc đời hay niên kỷ dài dặc sẽ cho ta
cái nhìn khác về sự chết. Trong ý niệm ta sống qua nhiều kiếp, thì cái
chết chỉ như thay đổi quần áo mà thôi. Khi áo quần đã cũ rách, chúng ta
đổi lấy cái mới. Ðiều này ảnh hưởng tới thái độ của ta đối với cái chết.
Nó làm phát khởi, biểu hiện quan niệm chết là một phần của cuộc đời. Tầng
tâm thức thô thiển tùy thuộc vào bộ óc của chúng ta, nó chỉ tồn tại khi bộ
óc còn làm việc. Ngay khi bộ óc ngưng là thần thức này ngưng. Trí óc ta là
điều kiện để cho tầng tâm thức này biểu hiện. Nhưng phần lớn của tâm thức
tinh tế thâm sâu tiếp tục hoạt động. Phần này vô thủy vô chung (không có
bắt đầu cũng không có kết thúc).
2.- SỬA SOẠN CHO CÁI CHẾT: THỰC
TẬP CHÁNH NIỆM
Khi chúng ta lìa đời, người
khác có thể nhắc nhở ta nên rán nghĩ tưởng theo hướng tích cực cho tới khi
phần tâm thức thô phù tan rã. Nhưng một khi vào tới tiềm thức tinh tế, thì
chỉ có những nghiệp lực ta đã tạo ra giúp được ta mà thôi. Lúc đó rất khó
có ai nhắc nhở ta thực tập được nữa. Vậy nên, điều quan trọng là ngay từ
khi còn trẻ, ta phải có ý thức về cái chết và tập thói quen ứng phó với sự
tan rã của tâm thức. Ta có thể tập được thói quen này qua cách quán tưởng
dùng hình ảnh. Như thế thay vì sợ chết, ta sẽ cảm thấy háo hức khi nghĩ
tới nó. Ta sẽ thấy rằng khi sửa soạn cái chết từ nhiêu năm ta có thể đối
diện với kinh nghiệm đó một cách tốt đẹp.
Khi bạn có thể đi vào vùng tâm
thức sâu xa trong thiền quán, thì bạn có thể kiểm soát được cái chết của
mình. Dĩ nhiên bạn chỉ đạt tới trình độ này khi đã tiến rất xa trong việc
thực tập thiền quán. Trong Mật Tông có những phương pháp cao cấp như pháp
"Chuyển Di Tâm Thức" (coi thêm trong cuốn Tạng Thư Sống Chết của Sogyal
Rinpoche, Sư cô Trí Hải dịch, Thanh Văn xuất bản), nhưng tôi tin rằng điều
quan trọng nhất khi chết là thực tập chánh niệm. Ðó là năng lượng mạnh
nhất.
Dù trong thực tập hằng ngày,
tôi quán tưởng tới chuyện chết và thực tập theo Mật tông chừng bày, tám
lần trong một ngày, tôi vẫn nghĩ rằng khi chết, nhớ tới tâm chánh niệm là
chuyện dễ hơn cả. Chánh niệm là một tâm thức rất gần gụi với tôi. Khi quán
tưởng về cái chết, khi đã sửa soạn chuyện ấy, dĩ nhiên chúng ta cũng hết
lo âu về nó. Dù tôi chưa thực sự sẳn sàng đối diện với cái chết, nhiều khi
tôi cũng tự hỏi không biết mình sẽ ứng xử ra sao khi thực sự đối diện với
chuyện này. Tôi biết chắc là nếu còn sống, tôi còn làm được thêm nhiều
việc. Ý muốn sống cũng ngang ngửa với sự háo hức của tôi về cái chết.
Xin nhớ rằng chết là một tiến
trình để thực tập trong đạo Bụt. Có nhiều phương pháp: một là liên tục
quán tưởng tới cái chết để làm tăng tinh thần không vướng mắc vào đời sống
cùng cám dỗ của nó. Hai là thực tập tiến trình chết để làm quen với những
tầng tâm thức khác nhau ta sẽ gặp khi chết. Khi tâm thô phù ngừng lại, tâm
vi tế sẽ biểu hiện. Quán tưởng về cái chết quan trọng vì nó giúp ta tiến
vào được tâm thức vi tế.
Chết khiến ta hiểu là cơ thể
chúng ta có những giới hạn. Khi cơ thể ta không còn tồn tại được, ta chết
đi và vào một cơ thể khác. Bản thể hay cái Ta, là kết hợp của thân và tâm
ta sẽ còn tồn tại sau khi ta chết dù cho khi đó cái thân ngũ ấm này không
còn nữa. Cái thân vi tế thì vẫn còn. Theo quan điểm này, ta không bắt đầu
cũng không hết hẳn, ta còn biểu hiện ra cho tới khi đạt tới quả vị Bụt.
3.- SAU KHI CHẾT
Dù sao thì ai cũng sợ chết. Chỉ
trừ khi bạn thấy tương lai được bảo đảm vì bạn đã làm những nghiệp thiêïn
trong đời này, khi chết đi có nhiêu nguy cơ ta bị sanh ra trong những điều
kiện tệ hơn. Trong đời này, dù bạn mất quê hương, sống đời tỵ nạn, bạn
cũng vẫn được làm kiếp người. Bạn vẫn có thể tìm được sự trợ giúp. Nhưng
sau khi chết, bạn sẽ gặp những hoàn cảnh hoàn toàn khác. Những kinh nghiệm
bình thuờng chúng ta thu thập được trong cuộc đời này không giúp gì được
cho kiếp sau. Nếu bạn không sửa soạn cho đúng cách, bạn có thể gặp những
bất hạnh. Sửa soạn bằng cách huấn luyện tâm thức. Một trình độ luyện tập
là ta tập nuôi dưỡng lòng thành thật, ý nguyện từ bi và các hành nghiệp
hướng thiện, phục vụ tha nhân. Ở trình độ khác, bạn biết kiểm soát tâm ý
của mình, một hình thức sâu xa hơn trong việc sửa soạn cho tương lai. Khi
có thể điều khiển được tâm ý mình thì đó là bạn đạt được mục tiêu chính
của thiền tập vậy.
Những người không tin rằng sau
khi chết còn có gì khác, thì nên coi cái chết như một phần của đời sống.
Sớm hay muộn chúng ta đều phải đối diện với nó. Ít nhất như vậy, người ta
có thể nghĩ tới cái chết một chuyện tự nhiên. Dù chúng ta cố tình tránh
không nghĩ tới, thì chúng ta cũng không thể né cái chết. Ðối với vấn đề
này, ta có hai cách: một là ta không nghĩ tới nó, dứt nó ra khỏi trí óc
mình. Ít nhất, cái tâm ta tạm yên. Nhưng đây không phải là giải pháp thỏa
đáng, vì vấn đề vẫn còn đó. Sớm muộn gì bạn cũng phải gặp nó. Cách thứ hai
là đối diện với nó, nhìn sâu vào nó. Có những binh sĩ cho biết trước trận
đánh họ sợ hãi nhiều hơn là khi lâm trận. Nếu bạn nghĩ tới cái chết, tâm
trí bạn sẽ quen với ý nghĩ đó. Khi chuyện đó xảy ra, bạn sẽ ít bị đường
đột và khó chịu. Vậy nên tôi cho rằng nói và nghĩ về chuyện chết có ích
lợi hơn.
Ta cần sống sao cho có ý nghĩa.
Trong kinh điển, cuộc đời được coi là vô thường như đám mây mùa thu. Sanh
tử của chúng sanh cũng giống như các diễn viên ra vô sân khấu. Bạn nhìn
thấy họ trong bộ áo mão này hoặc bọâ y trang khác. Trong một thời gian
ngắn họ thay đổi y phục nhiều lần. Cuộc đời chúng ta cũng vậy. Ðời ta tàn
đi cũng giống như tia chớp, giống như tảng đá lăn xuống vực sâu. Nước bao
giờ cũng chảy xuống, không thể chảy ngược lên đồi cao. Ðời ta sẽ chấm dứt
dù cho ta không nhận ra điều đó. Những người chấp nhận giá trị của sự thực
tập tâm linh có thể nghĩ tới những kiếp trong tương lai, nhưng bình
thường, ta chỉ để ý tới mục tiêu của cuộc đời sống này. Ðó là lý do khiến
ta bối rối và bị vướng mắc vào luân hồi. Chúng ta lãng phí cả cuộc đời.
Ngay khi ra đời là ta đã đang
tiến dần tới cõi chết. Vậy mà ta dùng cả cuộc đời để gom góp thức ăn, quần
áo và bè bạn. Tới khi chết, ta bỏ lại tất cả những thứ này. Ta sẽ phải đi
một mình qua thế giới khác, không có gì theo ta hết. Nếu ta có tu tập, đã
in vài dấu vết tốt đẹp trong tâm ta thì đó là điều duy nhất có ích cho ta.
Nếu không muốn mất thì giờ, muốn tu tập phần tâm linh, thì ta nên quán
tưởng tới sự vô thường và cái chết của chính mình. Vì ngay từ khi mới sanh
ra, cơ thể chúng ta đã là vô thường, đã bắt đầu bị hoại diệt.
Sự thực tập tâm linh không
những đem lại lợi ích cho cuộc đời này, mà nó còn mang lại an lạc cho các
kiếp sau nữa. Một trở ngại của chuyện tu tập là ta thường nghĩ mình sẽ
sống rất lâu. Chúng ta giống như một người muốn định cư ở một chốn nào đó.
Những người đó tự nhiên muốn thu góp của cải, xây cất nhà cửa, trồng trọt
mùa màng. Trái lại những người để ý tới các kiếp trong tương lai sau khi
chết thì giống như những người thích du lịch. Du khách chỉ sửa soạn để đáp
ứng nhu cầu đầy đủ cho tới khi cuộc hành trình kết thúc. Kết quả của quán
tưởng về cái chết giúp cho hành giả ít bị ám ảnh bởi chuyện đời như danh
vọng, của cải, địa vị. Khi làm việc để đáp ứng những nhu cầu của đời sống
này, người hay quán tưởng tới cái chết sẽ để thì giờ tạo ra những năng
lượng có thể mang lại an bình và hạnh phúc cho các kiếp sau.
4.- QUÁN TƯỞNG VỀ CÁI CHẾT
Ta nên biết những lợi ích của
quán tưởng về cái chết - và những thiệt thòi khi ta không làm những chuyện
này. Khi suy ngẫm về vô thường và về cái chết, ta sẽ có cơ hội tu tập.
Ðiều này mở mắt cho ta. Trước hết khi có ý thức là sớm muộn gì ta cũng sẽ
rời bỏ cõi đời này, ta sẽ để ý tới kiếp sau. Ý thức này tự nhiên sẽ đưa ta
tới những truy tầm về tâm linh. Thứ nhì, quán tưởng về cái chết giúp cho
ta kéo dài và tiếp tục việc tu tập. Trong mọi nỗ lực - dù về tinh thần hay
thế tục - đều có những khó khăn cản trở. Sức mạnh của thiền quán về cái
chết sẽ giúp bạn đối phó với những trở ngại đó. Cuối cùng, chính thiền
quán lại là một nguồn khích lệ bạn thực tập cho thành công. Do thực tập,
bạn sẽ để ý tới vấn đề sanh tử nhiều hơn, và khi loại trừ được những ý
nghĩ, những hành động do vọng tưởng, bạn sẽ làm cho cuộc sống thêm ý
nghĩa.
Có nhiều điều bất lợi khi không
nhớ tới cái chết. Khi không nghĩ tới nó, ít khi bạn chịu tu tập. Khi thiếu
chánh niệm về cái chết, thì sự tu tập của bạn cũng chỉ phất phơ mà không
có hiệu quả. Bạn sẽ bận bịu vì những chuyện đời này. Có những người đã thọ
giới và tụng kinh mỗi ngày, nhưng vì họ không thiền quán về cái chết, khi
có vấn đề, họ giống như người thường: chấp nhất, ghen tuông và giận dữ
phát điên. Ngạn ngữ Tây Tạng có câu: "Khi no ấm và có ánh nắng mặt trời,
bạn giống như một hành giả tu chứng. Nhưng khi có vấn đề, bạn mới lộ rõ
con người thật của mình" Kinh nghiệm hằng ngày cho ta thấy rằng đa số
chúng ta đều như vậy cả.
Khi không có ý thức về cái
chết, chúng ta coi trọng mọi chuyện trên đời. Vì bị ám ảnh bởi danh vọng,
địa vị và tiền tài, bạn ít khi nào chùng bước trước những hành động bất
thiện. Người không nghĩ tới cái chết dĩ nhiên là không cần để ý tới những
kiếp sau. Họ không trọng những giá trị tinh thần mà sẳn sàng suy nghĩ,
hành động theo vọng niệm. Những con người như vậy là nguồn gốc gây đau khổ
cho chính họ và cho người khác.
Nếu bạn quên là bạn sẽ chết,
bạn sẽ chỉ nghĩ tới chuyện làm sao để sống một cuộc đời giàu có. Bạn quan
tâm nhất là chuyện làm sao để có chỗ ở tốt, quần áo đẹp và thức ăn ngon
miệng. Khi có cơ hội, bạn sẽ không ngần ngại đe dọa hay làm hại người
khác. Hơn thế nữa, bạn còn cho là những hành động bất thiện đó chứng tỏ
bạn là người có khả năng và hữu hiệu. Ðiều này chứng tỏ bạn không sợ hãi
để nhìn về tương lai xa phía trước. Chúng ta ai cũng sẽ còn sống nhiều
kiếp khác. Tương lai đó hoàn toàn tối đen, ta không thể biết được nó ra
sao. Khi quên điều này, bạn sẽ thiên về những hành động có tính cách phá
hoại.
Hãy nhớ tới Hitler và Mao Trạch
Ðông một bên và phía bên kia là các thầy Milarepa, Tsong Kha Pa (các đại
sư rất được kính nể tại Tây Tạng). Họ giống nhau ở chuyện cùng là người và
đều thông minh. Nhưng ngày nay, Hitler và Mao Trạch Ðông thì bị khinh
ghét, ai cũng phải giật mình vì những hành động tàn ác họ đã làm. Trong
khi đó, ai cũng hướng về các thiền sư Milarepa và Tsong Kha Pa như những
nguồn cảm hứng. Mọi người cầu nguyện các ngài với tín tâm và lòng thành
khẩn. Ðó là những con người có tiềm năng như nhau nhưng hành động khác
nhau. Hitler và Mao Trạch Ðông dùng trí thông minh của mình trong những
hành động có mục đích phá hoại. Hai vị thiền sư thì dùng trí tuệ để xây
dựng.
Nếu chúng ta để cho tâm trí ta
bị những cảm xúc phiền trược kiểm soát, thì nó sẽ gây ra sự tàn hại trong
nhiều kiếp sau. Kết quả là ta sẽ chết trong tiếc hận. Khi còn sống, ta có
thể được nhìn như những con người tu tập giỏi, nhưng sự thật ta chỉ tu bề
ngoài. Chuyện kể một người tu tập tự cho là sau khi chết thế nào cũng được
lên cõi phúc. Bỗng nhiên ông ta bị đau nặng. Biết mình thế nào cũng chết.
Bạn ông nói: "Ðối với anh thì không sao đâu, anh sẽ lên Niết bàn, chỉ có
chúng tôi đây là mất bạn và không ai trợ giúp cho chúng tôi nữa thôi".
Người tu tập giả tướng nói: "Nhưng nếu chúng ta không phải chết thì vẫn
hơn". Lúc lâm chung ông ta không nghĩ tới tịnh độ, mà chỉ than thở về cái
chết! Ý thức về cái chết có thể được triển khai bằng các phương pháp thiền
quán thông thường. Trước hết bạn phải thực sự hiểu là cái chết chắc chắn
sẽ xảy ra. Ðó không phải là vấn đề lý thuyết mà là một sự thật hiển nhiên
quan sát được. Người ta tin rằng trái đất đã hiện hữu từ năm tỷ năm trong
khi loài người chỉ mới có trong một trăm ngàn năm nay mà thôi. Trong suốt
thời kỳ dài dặc này, có người nào mà chưa phải đối diện với tử thần? Chết
là chuyện tuyệt đối không thể tránh được cho dù bạn trốn xuống dưới đáy
đại dương hoặc bay bổng lên trời lồng lộng.
Dù bạn là ai, bạn cũng sẽ chết
thôi. Stalin và Mao là hai người có thế lực nhất trong thế kỷ này. Nhưng
họ cũng phải chết và họ đã chết trong sợ hãi và đau khổ. Khi còn sống họ
cai trị một cách độc tài, chung quanh họ là những phụ tá và đầy tớ sẵn
sàng nghe lệnh họ. Họ cai trị một cách tàn bạo, sẵn sàng hủy diệt tất cả
những gì chống đối lại uy quyền của họ. Nhưng khi đối diện với cái chết,
tất cả những kẻ mà họ tin cậy, tất cả những điều họ dựa vào như quyền lực,
khí giới, quân đội, đều không còn dùng được. Trong hoàn cảnh đó, ai cũng
sẽ sợ hãi. Cái lợi của sự có ý thức về cái chết là nó giúp cho bạn sống
một cuộc đời có ý nghĩa. Bạn sẽ thấy chuyện hòa bình và hạnh phúc quan
trọng hơn những thú vui ngắn hạn. Tưởng nghĩ tới cái chết cũng như ta dùng
một cái búa để phá tan những ham muốn và tình cảm bất thiện.
Khi chúng ta nhớ tới danh hiệu
và những công trình của các bậc thầy từ Ðức Thích Ca Mâu Ni tới những vị
thầy mới qua đời gần đây, ta có thể cả thấy như họ vẫn còn hiện diện trong
ta. Nhưng coi lại thì các Ngài đã lên Niết bàn cả rồi. Chỉ còn lại ít xá
lợi, một ít tro và xương. Ðối với đức Thế Tôn cũng vậy, ta chỉ còn thấy
được chút xương và xá lợi tại những nơi ta tới hành hương Khi nhìn thấy
những di vật này, ta đều muốn khóc.
Không còn một ai trong số các
thánh nhân Ấn Ðộ sống tới ngày nay. Ta chỉ có thể đọc về cuộc đời các ngài
trong sử sách. Chỉ còn lại những ghi chép, những đoạn ngắn của ký ức. Các
đại đế, các vị vua lớn đã thị uy trên thần dân của họ, khi đối diện với
cái chết cũng đều mất hết sức mạnh. Vua nào cũng phải chịu thua. Nhìn vào
lịch sử, ta thấy rằng chết là chuyện đương nhiên và phổ quát. Vô thường
thực sự có mặt. Nhận thức này giúp cho ta tu tập khá hơn. Tất cả các đại
lãnh tụ của thế giới, dù họ được yêu kính hay bị thù ghét, đều phải chết
cả. Không ai có thể đánh lừa được thần chết. Hãy so sánh với tình trạng
của bạn, bạn có bằng hữu, họ hàng và gia đình. Có người đã chết và bạn đã
phải chấp nhận sự đau buồn ấy. Sớm muộn gì những người khác cũng sẽ phải
đối diện với cùng vấn đề.
Một trăm năm sau, sẽ có người
nói rằng Ðạt Lai Lạt Ma đã giảng dạy tại đây. Nhưng tất cả chúng ta hôm
nay, sẽ không còn ai hiện diện nữa. Tòa nhà này có thể còn tồn tại hay đã
sụp đổ. Thần chết cũng không kính trọng người nhiều tuổi. Nó giống như một
cuộc xổ số tình cờ. Bình thường thì người già đi trước người trẻ. Nhưng
nhiều khi con cháu lại chết trước, để cho cha mẹ, ông bà phải làm đám ma
chôn chúng. Nếu chúng ta có quyền, chắc ta sẽ làm luật cấm ông trời không
được để người trẻ chết đi. Họ chưa có đủ thì giờ vui hưởng cuộc đời. Nhưng
luật tạo hóa không định ai sẽ chết trước, ai sẽ đi sau. Không có quân đội
nào bắt được thần chết. Người giàu có nhất cũng không mua nổi ông ta,
người khôn ngoan nhất không thể đánh lừa ông.
5.- ÐỪNG ÐỂ TỚI NGÀY MAI
Chúng ta không ai không yêu quí
con người mình. Chúng ta làm mọi cách để săn sóc cho chúng ta. Ðể khỏe
mạnh và sống lâu, chúng ta ăn đồ bổ dưỡng, ta tập thể dục. Khi hơi đau
yếu, chúng ta tới ngay bác sĩ và uống thuốc theo toa họ cho. Chúng ta cũng
làm những nghi lễ tôn giáo để cầu xin thoát được những rắc rối, khó khăn.
Tuy vậy, cái chết vẫn đến với chúng ta một ngày nào đó. Khi cái chết tới,
không ai có thể giúp được ta. Bạn có thể gối đầu trên chân Bụt, và đức
Dược Sư có thể tới chữa lành bệnh cho bạn nhưng khi cái chết tới thì họ
cũng đành bó tay Khi tuổi thọ đã hết, bạn phải đi thôi, cái chết chắc chắn
sẽ tới đó là điều dễ hiểu. Cuộc đời chúng ta sẽ chấm dứt, không phân biệt
chúng ta là ai đang sống nơi nào. Mỗi 24 giờ, ta lại mất đi một ngày. Mỗi
30 ngày, ta mất một tháng và mỗi 12 tháng, một năm lại qua đi. Cứ như vậy,
cuộc đời ta rồi sẽ chấm dứt.
Chỉ khi ta cố gắng tu tập phần
tâm linh thì mới sống cuộc đời hợp với giáo pháp. Chỉ sống thôi không đồng
nghĩa với tu tập. Trong hai mươi năm đầu cuộc đời, ta cho là mình quá trẻ
để tu tập. Hai mươi năm sau, ta nói: "tôi sẽ, rồi tôi sẽ tu tập", nhưng ta
vẫn không làm. Trong hai mươi năm nữa, ta nói : "Tôi không thể tu được,
tôi không có cơ hội". Ta sẽ lấy lý do là vì đã quá già, mắt không nhìn rõ,
tai nghe không tinh nữa. Cứ như thế, ta uổng phí cuộc đời ta. Ðiều lạ lùng
là dù cơ thể chúng ta già, bịnh, kiệt lực, những phiền trược trong tâm ta
vẫn còn như tươi nguyên. Chúng không bao giờ già đi. Ham muốn sinh lý có
thể hết khi ta già lão nhưng những xúc cảm phiền não khác thì vẫn mạnh mẽ
như xưa.
Khi còn là trẻ con chúng ta
dùng thì giờ để chơi. Thời thơ ấu, tôi có nhiều bạn để chơi, nhất là những
người lo quét dọn chỗ tôi trú ngụ. Thời đó, có một người vặn hỏi tôi về
những màu sắc khác nhau, những đề tài sơ học về luân lý. Tôi không biết
trả lời vì còn quá nhỏ. Tôi rất bực mình và quyết định phải học thật chăm.
Khi 15, 16 tuổi, tôi bắt đầu nghĩ tới những tiến trình của con đường giác
ngộ, nhưng sự xâm lăng của Trung quốc đã làm dở dang chuyện học hành của
tôi. Tôi đã có tu tập cho tới khi tôi 25, 26 tuổi, đồng thời tôi phải
thương thảo với người Hoa. Năm 25 tuổi, tôi trở thành người tỵ nạn phải
sống lưu đày. Trong nữa cuối của thập niên 20 tới 30 tuổi, tôi học rất
chăm chỉ. Hai mươi lăm năm đã qua, nay tôi đã vào thập niên sáu mươi rồi.
Tôi rất muốn tu nhưng cuộc đời
của tôi bị xoay chuyển như vậy. Tôi chỉ được an ủi ở chỗ đức Ðạt Lai Lạt
Ma thứ nhì Gendun Gyatso cũng phải bỏ dở công trình của ngài. Ngài vừa
trông coi xây cất ngôi chùa tại Tashilhunpo vừa dạy học trò. Tiểu sử kể
lại cho biết ngài bận rộn ra sao. Một bữa có người đệ tử nói: "Con mong
được về núi tu luyện cho nghiêm chỉnh". Ngài buồn bả trả lời: "Khi ta còn
ở ẩn tại Kangchen, ta không cần nhiêu thì giờ. Ta nghĩ nếu ta còn ở đó,
thì ta đã tới bờ giác ngộ. Nhưng ta đã bỏ cơ hội đó để làm lợi ích cho
nhiều người càng tốt, vì vậy mà ta xây tu viện Tashilhunpo này". Ðiều này
là một an ủi cho tôi. Dù tôi không thể nghiêm mật tụng kinh, cầu nguyện
hay nhập nhất, thì tôi cũng cố mang lợi ích tới cho nhiều người khác. Dĩ
nhiên tôi có tu học nhưng tôi không để hết năng lực vào đó được vì còn bận
nhiều công việc khác. Ðiều tôi muốn nói là: nếu bạn tu học thoải mái, vẫn
vui hưởng những thứ khác, thì khó mà đạt đạo.
Gampopa ở với đại sư Milarepa,
học hỏi và thiền định trong một thời gian dài. Tới lúc ông sắp đi Milarepa
nói: "Ta còn có một điều nữa để chỉ cho con, nhưng có lẽ bây giờ chưa phải
lúc". Gampopa trả lời: "Xin thầy hãy dạy con, tất cả những gì thầy có, hãy
truyền cho con". Nhưng Milarepa từ chối và Gampopa ra đi. R