NHƠN QUẢ, NGHIỆP & LUÂN HỒI
HT Thích
Thiện Hoa
---o0o---
CHƯƠNG MỘT
LUẬT NHÂN QUẢ
I. ĐỊNH NGHĨA
1.- Luật:
Có người cho rằng đã gọi là luật thì tất phải có một đấng Thiêng liêng
nào, người nào, hay xã hội đặt ra. Quan niệm này có nghĩa hẹp hòi và nông
cạn. Luật ở đây là luật thiên nhiên, luật tự nhiên, nó bao trùm cả vũ trụ,
vạn vật, chớ không nằm trong phạm vi của loài người, hay trong một xã hội
nào. Người ta có thể khám phá ra luật ấy, chứ không thể đặt ra luật ấy
được. Đức Phật, mặc dù là một Đấng Giảc ngộ, cũng không đặt ra luật ấy,
Ngài chỉ là người đã dùng trí huệ sáng suốt của mình, để vạch cho mọi
người thấy rõ ràng cái luật nhân quả đang điều hành trong vũ trụ mà thôi.
2.- Nhân quả:
Nhân là nguyên nhân, Quả là kết quả. Nhân là cái hạt, Quả là cái trái do
hạt ấy phát sinh. Nhân là năng lực phát động, Quả là sự thành hình của
năng lực phát động ấy. Nhân quả là một định luật tất nhiên, có tương quan
mật thiết với nhau và chi phối tất cả mọi sự mọi vật.
II. NHỮNG ĐẶC TÍNH CỦA LUẬT NHÂN QUẢ
1.- Nhân quả là một định luật nằm trong lý nhân duyên:
Nhân quả là một định luật, mới ngó thì rất giản dị, nhưng nếu càng đi sâu
vào sự vật để nghiên cứu thì lại càng thấy phức tạp, khó khăn. Trong vũ
trụ mọi sự vật không phải đơn thuần tách rời từng món, mà có liên quan mật
thiết với nhau, xoắn lầy nhau, đan lấy nhau ảnh hưởng lẫn nhau, tương phản
nhau, thừa tiếp nhau. Để nói đúng trạng thái chằng chịt giữa sự vật, đạo
Phật thường dùng danh từ “Nhân duyên”, nghĩa là mọi sự, mọi vật có ra là
nhờ duyên với nhau, nương vào nhau, hay tương phản nhau mà thành, chứ
không có một cái nào đứng biệt lập được. Trong sự phức tạp của sự vật ấy,
tìm ra được cái nhân chánh của quả, hay cái quả chính của nhân, không phải
là việc dễ. Do đó mà nhiều người không quen suy nghĩ tìm tòi sâu xa, sanh
ra nghi ngờ thuyết “Nhân quả”. Thí dụ: hạt lúa có thể làm nhân cho những
chẹn lúa vàng là quả trong mùa gặt sau, nếu người ta đem gieo nó xuống
đất; nhưng nó cũng có thể làm cho người ta no bụng, biến thành máu thành
thịt trong cơ thể và thành phân bón cho cây cỏ, nếu chúng ta đem nấu nó để
mà ăn. Như thế một nhân chính có thể thành ra quả này hay quả khác, nếu
những nhân phụ khác nhau: muốn hạt lúa ở mùa này thành chẹn luá ở mùa sau,
thì phải có đất, có nước, có ánh sáng, có không khí, có thời gian, có nhân
công; muốn nó thành máu huyết thì phải nầu, phải ăn, phải có bộ máy tiêu
hóa. Cho nên, khi nói nhân quả là tách riêng sự vật ra khỏi cái chung cùng
toàn thể của vũ trụ, lấy một khía cạnh nào đó, đề dễ quan sát, nghiên cứu,
chứ muốn nói cho đúng thì phải dùng hai chữ “Nhân Duyên”. Cũng như một nhà
khoa học, khi muốn nghiên cứu một bộ phận nào trong cơ thể, khu biệt, cắt
xén bộ phận ấy ra khỏi cơ thể, để nghiên cứu cho dễ, chứ thật ra bộ phận
ấy không phái biệt lập, mà trái lại có liên quan mật thiết đến toàn cả cơ
thể.
2.- Một nhân không thể sinh ra quả:
Như chúng ta đã thấy ở đoạn trên, sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp
của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một nhân nào có thề tự tác thành
kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác. Nói rằng hạt
lúa sinh ra cây lúa, là nói một cách giản đị cho dễ hiểu, chứ thật ra hạt
lúa không thể sinh ra gì được cả; nếu để nó một mình giữa khoảng trống
không, thiếu không khí, ánh sáng, đất, nước, nhân công.
Cho nên, khi nghe ai tuyên bố rằng mọi vật do một nhân sinh ra, hay một
nhân có thể sinh ra vạn vật; ta có thể chắc chắn rằng người ấy nói sai.
3.- Nhân thế nào thì quả thế ấy:
Nếu ta muốn có quả cam thì ta phải ương hạt giống cam; nếu ta muốn có hạt
đậu thì ta phải gieo giống đậu. Không bao giờ ta trong cam mà lại thấy
đậu, hay trồng đậu mà lại được cam. Người học đàn thì biết đàn, người học
chữ thì biết chữ. Nói một cách khác nhân với quả bao giờ cũng đồng một
loại với nhau. Hễ nhân đổi thì quả cũng đổi. Nếu nhân đổi ít thì quả cũng
đổi ít, nếu nhân đổi nhiều thì quả cũng đổi nhiều.
Quả còn tùy thuộc ở những duyên phụ, mà trong đạo Phật gọi là tãng thượng
duyên hay trợ duyên. Thí dụ: Hạt lúa là nhân; đất, nước, không khí, ánh
sáng, nhân công, là trợ duyên. Nếu trồng lúa mà thiếu nước thì hạt lúa bị
lép. Khi chúng ta muốn có những trái cam thật to, chúng ta hãy ghép cái
mụt cây cam vào gốc cây bưởi. Vậy cái kết quả tốt đẹp là những trái cam to
lớn, nhiều nước ấy, không phải chỉ do cái mụt cam, mà còn do gốc bưởi nữa.
Cho nên khi chúng ta muốn có cái kết quả như thế nào đó, thì phải hội cho
đủ điểu kiện, nghĩa là cho đủ nhân duyên, thì kết quả mới được như ý ta
mong muốn. Có nhiều người muốn được kết quả như thế này, nhưng lại không
hội đủ nhân duyên như thế ấy, nên kết quả đã sai khác với ý mong muốn của
mình, và do đó, họ đâm ra nghi ngờ sự đúng đắn của luật “Nhân quả”.
4.- Trong nhân có quả, trong quả có nhân:
Chính trong nhân hiện tại đã có hàm chứa cái quả vị lai; cũng chính trong
quả hiện tại đã có hình bóng của nhân quá khứ. Một sự vật mà ta gọi là
nhân, là khi nó chưa biến chuyển, hình thành ra cái quả mà ta quan niệm;
một sự vật mà ta gọi là quả là khi nó biến chuyển hình thành ra trạng thái
mà ta đã quan niệm. Một vật đều có nhân và quả: đối với quá khứ thì nó là
quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả đáp đổi nhau,
tiếp nối nhau không bao giờ dứt. Nhờ sự liên tục ấy, mà trong một hoàn
cảnh nào, người ta cũng có thể đoán biết quá khứ và tương lai của một sự
vật hay một người. Trong kinh thường nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh
thọ giả thị; yếu tri hậu thế quả, kim sanh tác giả thị” (muốn biết cái
nhân đời trước, thì cứ xem quả đời nay đương thọ; muốn biết cái quả về sau
thế nào thì cứ xét cái nhân đang tác động trong hiện tại). Cũng như thấy
trong kho lẫm, năm nay có chứa lúa (quả) thì biết năm vừa qua có làm ruộng
(nhân). Còn muốn biết sang năm trong lẫm có lúa không (quả) thì cứ xem năm
nay có làm ruộng hay không (nhân) (trừ trường hợp bỏ tiền ra mua lúa non,
thì không kể).
5.- Sự phát triển mau và chậm từ nhân đến quả:
Sự biến chuyền từ nhân đến quả có khi mau khi chậm, chứ không phải bao
giở cũng diễn tiến trong một thời gian đồng đểu.
Có những nhân và quả xảy ra kế tiếp nhau, theo liền nhau, nhân vừa phát
khởi thì quả đã xuất hiện. Như khi ta vừa đánh xuống mặt trống (nhân) thì
tiếng trống liền phát ra (quả), hay khi hai luồng điện âm và dương vừa gặp
nhau, thì ánh sáng liền bừng lên.
Có khi nhân đã gây rồi, nhưng phải đợi một thời gian, quả mới hình thành,
như từ khi gieo hạt giống cho đến lúc gặt lúa, cần phải có một thời gian
ít nhất là bốn tháng.
Có khi từ nhân đến quả cách nhau từng chục năm, như đứa bé mới cắp sách đi
học cho đến ngày thành tài, phải qua một thời gian ít nhất là mười năm.
Có khi cần đến một vài trăm năm, hay nhiều hơn nữa, quả mới xuất hiện,
chẳng hạn như từ ý niệm giành độc lập của một quốc gia đến khi thực hiện
được nền độc lập ấy, cần phải trải qua bao thế kỷ.
Vì lý do mau chậm trong sự phát hiện của các quả, chúng ta không nên nóng
nảy hấp tấp mà cho rằng cái luật nhân quả khônghoàn toàn đúng, khi thấy có
những cái nhân chưa phát sinh ra quả.
III. PHÂN TÍCH HÀNH TƯỚNG CỦA NHÂN QUẢ TRONG THỰC TẾ
Như các đoạn trên đã nói, nhân quả chi phối tất cà vũ trụ vạn hữu, không
có một vật gì, sự gì, động vật hay thực vật, vật chất hay tinh thần, thoát
ra ngoài luật nhân quả được.
Đến đây, để có một quan niệm rõ ràng về luật nhân quả, chúng ta hãy tuần
tự phân tách hành tướng của nhân quả trong các chủng loại nằm trong vũ
trụ:
1.- Nhân quả trong những vật vô tri vô giác:
Nước bi lửa đốt thì nóng, bị gió thổi thì thành sóng, bị lạnh thì đông
lại. Nắng lâu ngày thì đại hạn, mưa nhiều thì lụt, gió nhiều thì sanh bão.
2.- Nhân quả trong các loài thực vật:
Hạt cam thì sanh cây cam, cây cam thì sanh trái cam. Hạt ớt thì sanh cây
ớt, cây ớt thì sanh trái ớt. Nói một cách tống quát: giống ngọt thì sanh
quả ngọt, giống chua thì sanh quả chua, giống đắng thì sanh quả đắng,
giống nào thì sanh quả ấy.
3.- Nhân quả trong các loài động vật:
Loài chim sanh trứng; nếu ta gọi trứng là nhân, khi ấp nó thành con là
quả; con chim ấy trở lại làm nhân, sanh ra trứng là quả.
Loài thú sanh con, con ấy là quả. Con thú lớn lên trở lại làm nhân, sanh
ra con là quả.
4.- Nhân quả nơi con người:
a) Về phương diện vật chất.- Thân tứ đại là do hấp thụ khí huyết
của cha mẹ, và do hoàn cảnh nuôi dưỡng. Vậy cha mẹ và hoàn cảnh là nhân,
người con trưởng thành là quả và cứ tiếp nối vậy mãi, nhân sanh quả, quả
sanh nhân không bao giờ dứt.
b) Về phương diện tinh thần.- Những tư tường và hành vi trong quá
khứ tạo cho ta những tánh tình tốt hay xấu, một nếp sống tinh thần trong
hiện tại; tư tưởng và hành động quá khứ là nhân, tánh tình, nếp sống tinh
thần trong hiện tại là quả. Tánh tình và nếp sồng này làm nhân để tạo ra
những tư tưởng và hành động trong tương lai là quả.
Phương diện tinh thần này, hay nói theo danh từ nhà Phật, phương diện nội
tâm, là phần quan trọng. Vậy chúng ta phải đặc biệt chú ý đến hành tướng
của nó.
i.- Nhân quả của tư tưởng và hành vi không tốt:
a) Tham: Thấy tiền của người nổi lòng tham lam, sanh ra trộm cắp,
hoặc giết hại người là nhân; bị chủ đánh đập hoặc chém giết, phải mang tàn
tật, hay bị nhà chức trách bắt giam trong khám đường, chịu những điều tra
tấn đau khố là quả.
b) Sân: Người quá nóng giận đánh đập vợ con phá hạị nhà cửa, chém
giết người không gớm tay là nhân; khi hết giận, đau đớn nhìn thấy vợ con
bịnh hoạn, nhà cửa tiêu tan, luật pháp trừng trị phải chịu nhiều điều khổ
cực, là quả.
c) Si mê: Người say mê sắc dục, liễu ngõ hoa trường không còn biết
sự hay dở, phải trái, đó là nhân. Làm cho gia đình lủng củng, thân thể suy
nhược, trí tuệ u ám, là quả.
d) Nghi ngờ: Suốt đời cứ nghi ngờ việc này đến việc khác, ai nói gì
cũng không tin, ai làm gì cũng không theo đó là nhân. Kết cuộc không làm
nên được việc gì cả, đến khi lâm chung, buông xuôi hai bàn tay trắng, đó
là quả.
đ) Kiêu mạn: Tự cho mình là hơn cả, khinh bỉ mọi người, chà đạp
nhân phẩm người chung quanh, là nhân; bị người ghét bỏ, xa lánh, sống một
đời lẻ loi, cô độc là quả.
e) Nghiện rượu trà: Chung nhau tiền bạc ăn nhậu cho thỏa thuê là
nhân, đến lúc say sưa, chén bát ngổn ngang, ghế bàn nghiêng ngã, nhiều khi
rầy rà chém giết nhau, làm nhiều điều tội lỗi, phải bị phạt vạ và tù tội
là quả.
g) Say mê cờ bạc: Thấy tiền bạc của người muốn hốt về mình, đắm
đuối quanh năm suốt tháng theo con bài lá bạc, là nhân; đến lúc của hết,
nhà tan, nợ nần vây kéo, thiếu trước hụt sau, là quả.
ii.- Nhân quả của tư tưởng và hành vi tốt:
Như trên chúng ta đã thấy, những tư tưởng hành vi xấu xa, tạo cho con
người những hậu quả đen tối, nhục nhã, khd như thế nào, thì những tư tưởng
và hành vi đẹp đẽ tạo cho con người những hậu quả xán lạn, vinh quang và
an vui cũng như thế ấy.
Người không có tánh tham lam, bỏn xẻn thì tất không bị tiền của trói buộc,
tất được thảnh thơi. Người không nóng giận, tất được sống trong cảnh hiền
hòa, gia đình êm ấm; người không si mê theo sắc dục, tất được gia đình
kính nể, vợ con quí chuộng, trí tuệ sáng suốt, thân thể tráng kiện, người
không hay ngờ vực, có đức tin, thì hăng hái trong công việc, được người
chung quanh tin cậy và dễ thành tựu trong đường đời, người không kiêu ngạo
thì được bạn bè quí chuộng, niềm nỡ tiếp đón, tận tâm giúp đỡ khi mình gặp
tai biến. Người không rượu chè, cờ bạc thì không đến nỗi túng thiếu, bà
con quen biết kính nể yêu vì ... Những điều trên này, tưởng không cần phải
nói nhiều, quí độc giả cũng thừa biết. Hằng ngày, quanh chúng ta, những
cảnh tượng nhân và quả ấy diễn ra không ngớt. Mở một tờ báo hằng ngày ra,
chúng ta thấy ngay những bài học nhân quả: trước vành móng ngựa kẻ này bị
hai năm tù vì tội ăn trộm; kẻ kia giết người cướp của bị lên máy chém; kẻ
nọ say mê cờ bạc thụt két bị tịch biên gia sản; cô kia ngoại tình bị chồng
chém v.v...
Nói một cách tổng quát, về phương diện vật chất cũng như tinh thần, người
ta gieo thứ gì thì gặt thứ ấy. Người Pháp có câu: “Mỗi người là con đẻ của
công nghiệp mình” (chacun est le fils de son oeuvre).
IV. LỢI ÍCH DO SỰ HIỂU BIẾT LUẬT NHÂN QUẢ ĐEM LẠI CHO CHÚNG TA
Khi chúng ta đã biết rõ luật Nhân quả, nhưng nếu chúng ta không đem nó ra
ứng dụng trong đời sống của chúng ta, thì sự hiểu biết ấy trở thành vô
ích. Cho nên chúng ta đã hiểu rõ luật nhân quả thì phải cố gắng thật hành
cho được bài học ấy trong mọi trường hợp. Nếu chúng ta biết đem luật nhân
quả làm một phương châm hành động và suy luận, thì chúng ta sẽ thuộc lượm
được rất nhiều lợi ích:
1.- Luật nhân quả tránh cho ta những mê tín dị đoan, những tin tưởng
sai lầm vào thần quyền:
Luật nhân quả cho chúng ta thấy được thực trạng của sự vật, không có gì là
mơ hồ, bí hiểm. Nó vén lên tất cả những cái màn đen tối, phĩnh phờ của mê
tín, dị đoan đang bao trùm sự vật. Nó cũng phủ nhận luôn cái thuyết chủ
trương vav do một vị Thần sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài. Do
đó, người hiểu rõ luật nhân quả sẽ không đặt sai lòng tin tưởng của mình,
sẽ không cầu xin một cách vô ích, không ỷ lại thần quyền, không lo sợ,
hoang mang.
2.- Luật nhân quả đem lại lòng tin tưởng vào chính con người:
Khi đã biết cuộc đời là do nghiệp nhân của chính mình tạo ra, mình là
người thợ tự xây dựng đời mình, mình là kẻ sáng tạo, mà không tin tưởng ở
mình thì còn tin tưởng ở ai nữa? Lòng tự tin ấy là một sức mạnh vô cùng
quí báu, làm cho con người dám hoạt động, dám hy sinh, hăng hái làm điều
tốt, vì những hành động tốt đẹp ấy, ho biết sẽ là những cái nhân quí báu
đem lại những kết quả đẹp đẽ.
3.- Luật nhân quả làm cho chúng ta không chán nản, không trách móc:
Người hay chán nản, hay trách móc, là vì đã đặt sai lòng tin của mình, là
vì đã có thói quen ỷ lại ở kẻ khác, là vì đã hướng ngoại. Nhưng khi đã
biết mình là động lực chính, là nguyên nhân chính của mọi thất bại hay
thành công, thì còn chán nản trách móc ai nữa? Đã biết mình là quan trọng
như thế chỉ còn lo tự sửa mình, lo thôi gieo nhân xấu để khỏi phải gặt quả
xấu, thôi tạo giống ác để khỏi mang quả ác.
V. MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT TRONG KHI ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ: NGHĨ ĐẾN QUẢ
TRƯỚC KHI GÂY NHÂN
Chúng ta đã thấy rõ những ích lợi do sự hiểu biết luật nhân quả đem lại
cho mỗi chúng ta. Đến đây chúng tôi muốn dành riêng một đoạn, để nhấnn
mạnh vào một điểm vô cùng quan trọng, mà nếu chúng ta biết triệt để khai
thác trong khi áp dụng luật nhân quả, thì lợi ích sẽ vô cùng rộng lớn. Đó
là trong mọi hành động của chúng ta, bao giờ cũng nên nghĩ đến quả, mà
trồng nhân. Những người không nghĩ đến quả mà cứ gieo nhân bừa bãi, thì
thế nào cũng gặt nhiều tai họa, gây tạo cho mình nbh điều phiền phức, có
khi làm ung độc cả cuộc đời, cả sự sống. Chỉ có những người nông nỗi, liều
lĩnh mới không nghĩ đến ngày mai, mới sống qua ngày. Chứ những người sáng
suốt làm việc có kế hoạch khôn ngoan, thì bao giờ cũng nhắm cái đích, rồi
mới đi tới, hình dung rõ ràng cái quả rồi mới trồng nhân.
Câu chuyện sau đây có thể chứng minh một cách hùng hồn ý nghĩa nói trên:
Xưa có một vị Hiền giả nêu ở giữa chợ một tấm bảng như sau:
“Ai chịu trả một ngàn lượng vàng,
Tôi sẽ bán cho một bài học”.
Tấm bảng treo đã nhiều ngày mà không ai thèm hỏi đến. Một hôm, một vị vua,
nhân đi dạo chơi ngang qua chợ, trông thấy, động tánh hiếu kỳ, mới đến chỗ
Hiền giả, lấy một ngàn lượng vàng, hỏi mua bài học ấy.
Sau khi nhận đủ số vàng, nhà Hiền triết đưa bài học ra. Bài học vỏn vẹn
chỉ có một câu giản dị như sau:
“Phàm làm việc gì, trước phải xét kết quả của nó về sau”.
Các quan tùy tùng thấy vậy, xầm xì với nhau: “Nhà vua bị gạt! Một câu nói
như thế, có hay ho gì đâu mà phải mua đến một ngàn lượng vàng?”
Trong lúc đó, nhà vua cũng phân vân, không hiểu bài học giản dị ấy, tại
sao lại đắt giá đến thế?
Khi về cung, nhà vua cứ suy nghĩ mãi về câu nói ấy. Trong lúc ấy như mọi
đêm khác, trong cung đều có mở yến tiệc linh đình, cung phi mỹ nữ ca hát
suốt đêm, để nhà vua mặc tình vui chơi với tửu sắc. Nhưng hôm nay, vì bị
bài học của nhà Hiền triết ám ảnh, bắt vua suy nghĩ:
“Nếu ta say mê tửu sắc mãi như thế này, thì kết quả sẽ ra sao? Thân thể
sẽ suy nhược tinh thần tiều tụy và mau chết, việc triều đình phế bỏ, rồi
sẽ đi đến chỗ mất nước, dân chúng trở thành nô lệ cho ngoại bang, đời đời
nhục nhã và khổ đau! ...”
Nhận thấy rõ cái kết quả xấu xa nghuy hiểm của tửu sắc như thế, vua liền
truyền lịnh dẹp ngay yến tiệc, ca hát, và bd từ đó vua lo chỉnh đốn lại
nước nhà, sửa sang binh bị ...
Hai năm sau, một nước láng giềng đem binh đến cướp nước, nhà vua nhờ sớm
giác ngộ, lo xây dựng cho nước được hùng cường, nên đã đuổi lưi được quân
giặc. Bấy giờ nhà vua mới tự bảo:
“Bài học của nhà Hiền triết quý giá lắm! Một ngàn lượng vàng còn rẻ”.
Nhà vua bèn ra lịnh chép bài học ấy, dán khắp tất cả mọi nơi, cho đến mâm
cơm, chén nước cũng truyền khắc vào.
Một hôm có người trong hoàng thân muốn tiếm đoạt ngôi vua, nên thuê quan
Ngự y một số tiền lớn để thừa lúc vua đau, tráo dâng thuốc độc. Lãnh tiền
xong, quan Ngự y sau khi chế thuốc độc xong, lén rót vào chén, định dâng
lên vua uống, nhưng khi nhìn thấy mấy chữ khắc trong chén:
“Phàm làm việc gì, trước phải xét kết quả của nó về sau”.
Quan Ngự y sực tỉnh và suy nghĩ: “Tội thí vua này, nếu bị phát giác ra, sẽ
bị tru di tam tộc, chứ không phải tầm thường”. Quan Ngự y sau khi xét kết
quả việc làm của mình gớm ghê như thế, nên đã đổ chén thuốc và thú tội với
nhà vua. Nhà vua thấy quan Ngự y đã biết ăn năn hối cải như thế, nên rộng
lòng ân xá và còn ban cho một số tiền bạc to tát nữa. Nhờ bài học này,
nước nhà khỏi mất, dân tộc khỏi làm nô lệ cho ngoại bang, nhà vua khỏi
chết, nên vua cho bài học này là vật báu vô giá.
Vậy
chúng ta cũng nên đem bài học này áp dụng vào mọi công việc hằng ngày của
chúng ta. Khi chúng ta ham mê cờ bạc, nên nhớ cái kết quả của nó sẽ là
vong gia bại sản, thiếu trước hụt sau, nợ nần đòi hỏi. Khi lăm le muốn gần
tửu sắc, hãy xét đến kết quả của nó sẽ làm thân thể hao mòn, đa mang tật
bệnh, danh giá chôn vùi. Khi nóng giận muốn làm hại người, nên xét cái kết
quả của nó về sau là “oan oan tương báo”, hại người tất sẽ bị người hại
lại. Khi móng niệm tham lam tiền bạc của cải của người, nên xét kết quả về
sau là tù tội gông xiềng v.v...
Tóm
lại, nếu chúng ta biết đem bài học nhân quả này mà áp dụng trong tất cả
mọi công việc làm hằng ngày của đời mình, thì chúng ta sẽ thấy tánh tình
và hành vi của chúng ta mỗi ngày cải tiến, các việc sái quấy sẽ giảm bớt,
và từ địa vị người vượt lên địa vị thánh, hiền, không phải là điều không
làm được.
---o0o---
Mục Lục >> 01 >>
02 >>
03 >>
04 >>
05
---o0o---
Vi tính: Minh Trí.
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 3-2008