Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Nguyễn Văn Tuấn
Những ai từng đọc
truyện “Tề thiên đại thánh” đều biết đến câu chuyện Tôn ngộ không nhổ một
cọng tóc, và từ cọng tóc hóa thành hàng trăm Tôn ngộ không khác với hình
dạng y chang như Tôn ngộ không “thật”. Cố nhiên, chúng ta cho rằng câu
chuyện chỉ là huyền thoại, một giả tưởng, có tính cách giải trí. Nhưng
với phát triển của công nghệ sinh học ngày nay, câu chuyện trên không còn
là huyền thoại nữa mà có thể thành sự thật. Trong một tương lai không xa,
chúng ta có thể “sao y bản chính” chính chúng ta, bằng một kĩ thuật có tên
là Biến đổi nhân của tế bào thể, còn được đề cập đến [một cách không mấy
chính xác] là “tạo sinh vô tính” (hay cloning) [1].
Tạo sinh vô tính là một trong những phát
triển cực kì quan trọng trong công nghệ sinh học. Lần đầu tiên trong lịch
sử con người, chính con người có thể đóng vai trò của một “Thượng đế” để
tạo ra chính mình. Lần đầu tiên, con người có thể được kiến tạo mà không
cần đến giao hợp giữa nam và nữ, không cần đến tinh trùng của người đàn
ông. Tạo sinh vô tính là một tiến bộ quan trọng cho thấy tiềm năng vĩ đại
của con ngườ. Con người đã tiến gần đến tình thế mà chúng ta có thể sản
xuất, hơn là sản sinh, con người.
Quá trình và phương pháp tạo sinh vô tính
bắt chước quá trình sinh sản tự nhiên trong con người, hay động vật nói
chung, và dựa vào mô hình của sinh học phân tử (molecular biology). Theo
mô hình này, con người được cấu trúc bằng hàng tỉ tế bào. Mỗi tế bào của
cơ thể (trừ hồng cầu) đều có nhân; trong nhân chứa các chất liệu di
truyền, nhiễm sắc thể (chromosome) quyết định cấu trúc đặc tính cho mỗi cá
thể. Con người có 23 đôi nhiễm sắc thể (22 đôi thường và một đôi xác
định giới tính). Trong mỗi nhiễm sắc thể có nhiều gien. Mỗi gien được
cấu tạo bằng một mảng DNA (viết tắt của từ DeoxyriboNucleic Acid) nằm
trong các nhiễm sắc thể này. Mỗi mảng DNA gồm có bốn yếu tố hóa học (hay
4 mẫu tự): A (adeline), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine).
Trong quá trình sinh sản tự nhiên, sự phát
triển của một con người bắt đầu bằng chỉ một tế bào. Khi một tinh trùng
thụ tinh với một trứng và tạo ra một tế bào đơn, và tế bào đơn này có tiềm
năng phân chia để hình thành nên một cơ thể sống hoàn chỉnh. Do đó,
phương pháp tạo sinh vô tính nhại theo quá trình này, nhưng không cần đến
tinh trùng. Có thể tóm lược phương pháp tạo sinh vô tính một cách ngắn
gọn như sau: Bước 1, lấy một trứng của một phụ nữ, rút bỏ các chất liệu di
truyền (tức là DNA hay ADN). Bây giờ cái trứng trở thành, nói như ngôn
ngữ hàng ngày, một cái hãng sản xuất các phôi. Bước 2, lấy chất liệu di
truyền DNA từ một tế bào của một người khác hay của chính người phụ nữ,
rồi chuyển chất liệu này vào cái trứng. Bước 3, chuyền điện vào trứng để
trứng bắt đầu hoạt động, và một khi trứng hoạt động thành công, chúng ta
sẽ có một phôi. Bước 4, phôi sẽ đưa vào một môi trường sinh học (chẳng
hạn như cấy vào tử cung của người phụ nữ) sao cho nó phát triển thành
nhiều tế bào mầm hay thành một thai hoàn chỉnh. Bước 5, nếu không muốn
cho nó phát triển thành phôi thai, có thể lấy tế bào mầm (và dùng nó cho
các mục tiêu trị liệu), và nếu lấy tế bào mầm thì cái phôi sẽ bị tiêu
hủy.
Công nghệ sinh học và kĩ thuật thường đi
trước luật pháp và đặt ra nhiều vấn đề đạo đức. Việc phát triển công nghệ
tạo sinh vô tính là một ví dụ. Vào cuối tháng 12 năm 2002, một công ty
sinh học ở Canada, Clonaid, có liên quan mật thiết với một giáo phái kì dị
có tên là Rael, tuyên bố rằng họ đã thành công sáng tạo ra một bé gái,
được đặt tên Eve, bằng kĩ thuật tạo sinh vô tính. Từ khi tin này được
loan truyền đi, dư luận thế giới bàn tán một cách mê loạn, từ hoài nghi
đến lên án. Chính phủ nhiều nước trên thế giới, kể cả Pháp và Mĩ, kêu gọi
tẩy chay, thậm chí cấm đoán hoàn toàn kĩ thuật tạo sinh vô tính.
Phản ứng này có thể hiểu được, vì trước
đây, một cuộc thăm dò ý kiến trong công chúng cho thấy phần lớn (90%) dân
Mĩ phản đối việc tạo sinh vô tính. Hai cuộc thăm dò ý kiến khác [3,4]
cũng cho thấy một kết quả tương tự. Nhưng kết quả của thăm dò ý kiến
thường bị ảnh hưởng bởi cách mà nhà nghiên cứu đặt câu hỏi. Ngoài ra,
công chúng thường không có kiến thức sâu về công nghệ sinh học, nên ý kiến
của họ có thể không phản ánh ý kiến “thực” của họ, và do đó, có vẻ mang
nặng cảm tính hơn là phân tích khoa học.
Cloning, hay tạo sinh vô tính, là một cách
nói chung cho ba hình thức kiến tạo di truyền, mà tôi tạm gọi là tái sản
sinh vô tính (reproductive cloning, hay adult DNA cloning), tạo phôi vô
tính (embryo cloning), và trị liệu bằng tạo sinh vô tính (therapeutic
cloning, hay biomedical cloning).
Tái sản sinh vô tính, nói một cách nôm na,
là phương pháp sao y bản chính một động vật đang sống. Người ta chiết DNA
từ một trứng và thay thế nó bằng DNA từ một tế bào lấy từ một động vật đã
trưởng thành. Sau đó, trứng thụ tinh, bây giờ gọi là tiền phôi
(pre-embryo), cấy vào tử cung và cho nó phát triển thành một động vật hoàn
chỉnh. Đây là phương pháp mà Tiến sĩ Ian Wilmut thuộc Viện Roslin ở
Scotland đã thành công tạo ra một con cừu nổi tiếng “Dolly” vào năm 1997.
Năm 1998, Tiến sĩ Ryuzo Yanagimachi thuộc Đại học Hawaii cũng thành công
tạo ra một số chuột bằng kĩ thuật tạo sinh vô tính. Cùng năm, ở Nhật một
số nhà khoa học tạo ra một số bê cũng bằng kĩ thuật này.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên chưa được
ứng dụng trong con người, mà chỉ được thực hiện trong các động vật cấp
thấp. Đến cuối năm 1998, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Kyeonghee (Nam
Hàn) tuyên bố rằng họ đã thành công trong việc tạo ra phôi con người bằng
kĩ thuật tạo sinh vô tính. Hai nhà khoa học, Kim Seung-bo và Lee Bo-yeon,
lấy một trứng từ một phụ nữ 30 tuổi, họ loại bỏ DNA trong trứng, và thay
vào đó một tế bào của chính người phụ nữ. Trong một báo cáo khoa học, họ
cho biết họ có thể “nuôi” cho phôi đến giai đoạn mà họ có thể cấy vào tử
cung của người phụ nữ để sản sinh ra một em bé. Tuy nhiên, mục tiêu của
họ không phải tạo ra một con người, mà chỉ tạo ra những bộ phận của cơ thể
để chữa trị. Dù thế, nghiên cứu của họ đã bị công chúng Nam Hàn phản đối
dữ dội.
Cách đây vài tháng, có tin đồn rằng Bác sĩ
Severino Aninori (Ý) đã thành công làm thụ thai, và sẽ cho ra đời một em
bé vào khoảng tháng Một năm 2003. Nhưng, như đã đề cập trên, cuối năm
2002, công ty Clonaid thuộc giáo phái Rael, đã đi trước ông một bước và
tuyên bố là họ đã thành công cho ra đời một em bé bằng phương pháp tái sản
sinh vô tính.
Trong thực tế tái sản sinh vô tính rất
phức tạp và còn nhiều vấn đề. Nói chung hiệu quả của tái sản sinh vô tính
hiện nay vẫn còn rất thấp. Tỉ lệ thành công chỉ khoảng 0.1 đến 3%. Tức
là trong 1000 lần thử nghiệm, chỉ có 30 trường hợp thành công. Trong
trường hợp con cừu Dolly, các nhà khoa học phải thử nghiệm 277 lần để tế
bào phân chia, và chỉ có 29 lần là họ thành công. Ngay cả khi cấy vào cừu
cái, chỉ có 13 trường hợp có thai, và cuối cùng chỉ có một Dolly ra đời.
Ngay cả khi thành công, một sinh vật được
tạo bằng tạo sinh vô tính tuy có cùng DNA với bản chính, nhưng hoạt động
của gien có thể khác với người cho DNA. Trong môi trường tự nhiên, DNA
trong phôi được lập trình sao cho một số gien hoạt hóa. Khi phôi bắt đầu
phân chia, chương trình hoạt động thay đổi. Mỗi tế bào, máu, da, xương,
thần kinh, chương trình này hoạt động khác nhau. Trong tạo sinh vô tính,
cái nhân được cấy vào trứng không có cùng chương trình hoạt động của cái
phôi tự nhiên. Nhà khoa học phải huấn luyện và lập chương cho cái nhân,
giống như huấn luyện con chó những mưu mẹo hàng ngày. Nếu lập chương hoàn
hảo, thì quá trình phát triển sẽ bình thường. Nếu lập chương sai hay
không hoàn hảo, phôi sẽ phát triển bất bình thường và có thể sẩy thai. Do
đó, không ai ngạc nhiên khi thấy các động vật được sản sinh bằng phương
pháp tái sản sinh vô tính có nhiều dị tật, hay bị ung thư, tiểu đường, và
có tuổi thọ thấp.
Nói chung, hiện nay, giới y sinh đức và
nghiên cứu khoa học xem đây là một phương pháp cực kì phi đạo đức. Ngoài
ra, về mặt kĩ thuật mà nói, tế bào con người có một chu kỳ sống nhất
định. Con cừu Dolly được tạo ra từ tế bào hơi già (khoảng 6 tuổi, tức là
ở độ tuổi trung niên), thành ra, khi ra đời, Dolly được xem là 6 tuổi, và
Dolly chỉ có thể sống 6 năm mà thôi, thay vì 11 năm như thông thường. Nếu
điều này cũng đúng trong con người thì con người được tạo sinh bằng phương
pháp tái sản sinh vô tính cũng sẽ có tuổi thọ ngắn.
Tái sản sinh vô tính chỉ cần một trứng, mà
không cần đến một phái nam. Nếu phương pháp này có thể ứng dụng trong con
người thì người ta sẽ không cần đến đàn ông trong tương lai, và khi đứa bé
ra đời mối quan hệ tình cảm của nó với người cho DNA và gia đình sẽ không
bình thường. Chẳng hạn như một đứa bé sinh ra từ một tế bào của người cha
thì em bé này sẽ là em [nhỏ tuổi] của người cha! Do đó, đạo lí xã hội và
gia đình sẽ bị hỗn loạn.
Đối với giới tôn giáo (Ki-tô giáo), có
người tin rằng con người được tạo bằng tái sản sinh vô tính sẽ không có
linh hồn. Họ tin rằng khi trứng gặp tinh trùng và thụ tinh là lúc mà phần
hồn cũng hình thành. Và khi không có tinh trùng, thai nhi sẽ không có
linh hồn. Có điều là không ai biết linh hồn có tồn tại hay không, bởi vì
linh hồn không thể thấy, sờ, ngửi, hay nghe được.
Một hình thức tạo sinh vô tính thứ hai có
tên là tạo phôi vô tính. Đây là một phương pháp bắt chước theo cách tạo
phôi tự nhiên trong quá trình thụ thai và sinh đôi trong con người. Một
hay hai tế bào được chiết ra từ phôi đã được thụ thai, rồi cấy vào tử cung
của người phụ nữ để phôi này phát triển thành một hay nhiều phôi khác có
cùng chất liệu di truyền. Đây là một phương pháp đã được dùng qua nhiều
năm (từ thập niên 1970s) trên chuột và các động vật cấp thấp khác.
Tạo phôi vô tính có tiềm năng ứng dụng
trong con người, nhưng cũng gây ra một số quan tâm. Qua nghiên cứu cách
thức tạo phôi vô tính, các nhà khoa học có thể tìm hiểu sâu rộng hơn về
nguyên nhân dẫn đến sẩy thai, mà cho đến nay vẫn còn là một bí mật. Ngoài
ra, nó có thể dẫn đến việc phát triển các phương pháp trị liệu và phòng
ngừa nạo thai. Đối với cha mẹ có những gien nguy hiểm và những gien này
có thể lưu truyền trong con cái, tạo phôi vô tính có thể phòng ngừa được
tình trạng này xảy ra. Người ta có thể thử nghiệm nhiều phôi khác nhau
cho đến khi một phôi toàn hảo và tránh tình trạng bệnh tật cho con cái sau
này.
Tạo phôi vô tính thực chất là một hình
thức làm cho người phụ nữ sinh đôi. Đối với các phụ nữ thích có con sinh
đôi (thay vì sinh hai lần), tạo phôi vô tính cũng có thể giúp họ trong
việc tạo dựng sự nghiệp và kế hoạch hóa gia đình.
Một quan tâm hàng đầu của phương pháp này
là nếu nó lọt vào tay của những người (hay nhóm người, hay chính quyền) có
những tham vọng điên rồ như thời Đức quốc xã. Đối với những nhóm người
này, họ có thể dùng phương pháp tạo phôi sinh vô tính để tạo ra những con
người hoàn hảo như giấc mộng của Đức quốc xã ngày xưa. Và một phương pháp
tương tự cũng có thể dùng để tạo ra những con người thấp kém hơn (nhưng có
thể lực mạnh mẽ) để dùng vào các mục tiêu phi nhân, phi chính khác, như nô
lệ chẳng hạn.
Sau cùng là phương pháp trị liệu bằng tạo
sinh vô tính. Đây là một phương pháp mà các giai đoạn đầu cũng giống như
phương pháp tái sản sinh vô tính. Nhưng tế bào mầm (stem cells) được
chiết ra từ một phôi với mục tiêu sản sinh ra những mô hay một cơ phận để
ghép vào một bệnh nhân, chứ không để hình thành một bào thai hay một con
người.
Thay vì dùng trứng của con người, các nhà
khoa học cũng có thể dùng trứng của lợn (cũng có gien giống như con
người). Tức là lấy trứng của một con lợn, rút DNA ra, và thay vào đó là
DNA của con người, và để cho nó phát triển thành cơ phận của một con
người.
Nói tóm lại, mục tiêu của tạo sinh vô tính
cho trị liệu là “trồng” một cơ phận của con người để dùng cho mục đích
ghép (transplant). Phương pháp này có một lợi điểm lớn là thay vì dùng cơ
phận của người khác, các nhà khoa học chỉ việc dùng cơ phận của chính bệnh
nhân. Nguồn cung cấp coi như vô tận, và sẽ không có vấn đề chờ đợi để
được giải phẫu hay ghép. Người được ghép sẽ chẳng phải dùng thuốc miễn
nhiễm (immunosuppressant drugs) suốt đời như hiện nay.
Vấn đề mấu chốt trong việc tạo sinh vô
tính cho trị liệu, hay nghiên cứu tế bào mầm, là cứ mỗi tế bào được chiết
ra từ túi phôi (gồm khoảng 100 tế bào) thì phôi bị tiêu hủy. Đối với
Ki-tô giáo, việc tiêu hủy phôi này là phi đạo đức. Giáo hoàng John Paul
II, từng tuyên bố rằng “Một xã hội tự do và đạo đức, mà nước Mĩ thiết tha
muốn có, phải từ bỏ những thói quen làm giảm phẩm cách và xâm phạm sự sống
của con người trong bất cứ giai đoạn nào từ thụ thai cho đến khi qua đời”
. Quan điểm này bắt nguồn từ niềm tin của Ki-tô giáo rằng sự sống của con
người khởi đầu từ lúc trứng và tinh trùng liên hợp. Nói một cách khác,
Ki-tô giáo công nhận quyền sống và địa vị đạo đức của trứng lúc thụ tinh.
Do đó, các tu sĩ Ki-tô giáo phản đối mạnh mẽ việc nghiên cứu tế bào mầm
phôi.
Nhiều thành phần trong xã hội cũng phản
đối việc hủy diệt một túi phôi để lấy tế bào mầm. Họ cho rằng phôi phải
được tôn trọng như một con người. Và ý kiến phản đối này còn đến từ những
vị khoa bảng có tiếng tăm. Giáo sư Pellegrino, giám đốc trung tâm Y đức
sinh học lâm sàng, Viện đại học Georgetown (Mĩ), tuyên bố: “Tôi phản đối
bất kì mọi nghiên cứu nào mà làm huỷ hoại cấu trúc phôi người còn sống.
Phôi người là thành viên của loài người tính từ khi thụ tinh, và vì vậy
cần phải gắn liên với đạo đức đặc biệt. Tôi chọn điểm mốc là 14 ngày, các
nghiên cứu tiến hành trên phôi người vào thời điểm trước đó thì chấp nhận
được”.
Tuy nhiên các quan điểm trên đây, kể cả
quan điểm của Ki-tô giáo, không giải thích tại sao một trứng thụ tinh được
xem là một con người có đạo đức, cũng như không cho biết những tiêu chí
nào mà Ki-tô giáo và những người phản đối [chương trình nghiên cứu tế bào
mầm] dùng để định nghĩa một con người. Thành ra, câu hỏi cần được đặt ra
là: “sự sống con người bắt đầu từ lúc nào?” Phát biểu một cách khác: khi
nào thì một sinh vật, một thực thể được xem là một con người.
Phải nói ngay rằng không có câu trả lời
đơn giản cho câu hỏi này, bởi vì có nhiều khía cạnh để định nghĩa thế nào
là một con người, và những khía cạnh này phát sinh trong nhiều thời điểm
khác nhau. Theo chúng tôi, một thực thể chỉ là con người khi thực thể đó
hội đủ những đặc tính di truyền, khả năng nhận thức, nhân dạng sinh học,
và ý thức đạo đức. Dựa vào những tiêu chí này, thật khó mà cho rằng phôi
là con người, và không có lí do gì để điều chỉnh cái thời điểm phát sinh
con người lùi lại thời điểm thụ tinh. Một hợp tử có thể có đầy đủ các
thông tin di truyền (cũng như một cọng tóc, một khối nước bọt, một giọt
máu đều có thông tin di truyền), nhưng hợp tử cũng có thể tự tách rời
thành hai hợp tử (sinh đôi), hay cũng có thể phát triển thành một bào
thai. Chỉ khi nào một hợp tử phát triển thành bào thai thì những khía
cạnh con người mới có ý nghĩa. Và ngay cả khi hợp tử có khả năng phát
triển thành bào thai, có nhiều yếu tố khác trong giai đoạn thai nghén có
thể ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của bào thai. Thụ tinh chỉ
là một trong nhiều bước cần thiết để phát triển thành một cá nhân, một con
người. Thụ tinh không phải là mốc thời điểm để định nghĩa một con người,
và kết quả khởi đầu của thụ tinh không phải là một con người.
Như trình bày trên đây, tạo sinh vô tính
không phải là một lĩnh vực đặc thù, mà gồm ba hình thức khác nhau từ kĩ
thuật đến mục tiêu. Do đó, không thể nào phát biểu một cách dứt khoát là
tẩy chay hay không tẩy chay, cấm đoán hay cho phép tất cả các hình thức
tạo sinh vô tính, bởi vì những phương pháp này có nhiều ứng dụng khác
nhau. Điều quan trọng cần phải nhận thức là tất cả các phát triển dù là
kĩ thuật hay công nghệ sinh học, đều có những ích lợi, và không ít thì
nhiều, tiềm năng gây ra tác hại.
Ứng dụng công nghệ tạo sinh vô tính không
phải là một vấn đề lựa chọn cá nhân hay vấn đề của y học, mà là một vấn đề
của xã hội vì nó ảnh hưởng đến quan hệ giữa con người trong xã hội hiện
tại và trong tương lai. Do đó, những tranh luận về tạo sinh nhân tính
không nên chỉ dựa vào góc độ kĩ thuật của công nghệ tái sản sinh như hiện
nay, mà cần phải chuyển điểm tranh luận từ kĩ thuật, ích lợi, tác hại đến
ảnh hưởng trong các thế hệ con người trong tương lai. Tất cả chúng ta
không muốn có một xã hội mà trong đó việc ứng dụng công nghệ tạo sinh vô
tính cho ra đời những con người như là những món hàng có thể buôn bán, và
gây thêm những bất công trong xã hội . Hiện nay, chúng ta chưa đủ sáng
suốt để đương đầu với tình trạng đói, nghèo, và suy thoái môi trường,
chúng ta khó mà có đủ sáng suốt để đối phó với quá trình tiến hóa của
chính chúng ta. Do đó, chúng tôi cho rằng xã hội có lí do để tẩy chay tái
sản sinh vô tính (tức là reproductive cloning).
Nhưng tạo phôi vô tính (embryo cloning) có
tiềm năng giúp đỡ những cặp vợ chồng hiếm muộn có con như họ mong ước, và
do đó phương pháp này có thể chấp nhận được nếu như các phương pháp khác
(như IVF) không thành công.
Những nghiên cứu liên quan đến trị liệu
bằng tạo sinh vô tính (hay stem cells research) nên được khuyến khích và
yểm trợ, bởi vì nó có triển vọng chữa trị những bệnh ngặt nghèo mà y học
hiện đang bó tay. Có người cho rằng trị liệu bằng phương pháp tạo sinh vô
tính là đóng vai trò của Thượng đế, một quyền mà con người không nên có.
Nhưng nếu việc làm đó là đồng nghĩa với vai trò Thượng đế thì các thuật
giải phẫu, uống thuốc trụ sinh, ghép thận, v.v… cũng là đóng vai trò
Thượng đế! Trong thực tế, nghiên cứu dùng tế bào mầm để chữa trị bệnh tật
là sự mở rộng lựa chọn của con người, là mưu cầu tri thức nhằm vào mục
tiêu cuối cùng là diệt khổ.
Xã hội có được những khám phá khoa học
quan trọng, kể cả những phát triển trong y học, xuất phát từ lòng khao
khát tri thức mới của con người, và sự sẵn sàng ứng dụng những tri thức
này vào thực tế, dù lợi hại không thể đoán trước được. Một số phương pháp
tạo sinh vô tính thể hiện sự mạo hiểm mới của con người trong hành trình
chinh phục bệnh tật và đem lại hạnh phúc cho con người. Trong quá khứ
chúng ta đã can đảm chấp nhận những công nghệ mới, và trong nhiều trường
hợp những mạo hiểm này đem lại nhiều lợi ích hơn là thiệt hại cho con
người. Ngày nay, chúng ta vẫn cần can đảm và lí trí để tiếp nhận công
nghệ tạo sinh vô tính. Nói theo nhà triết học người Mĩ, George Santayana,
phớt lờ quá khứ có thể làm cho chúng ta phạm thêm lỗi lầm, nhưng hiểu quá
khứ có thể giải thoát chúng ta khỏi những u tối.
Chú thích:
[1] Chữ “clone” xuất phát từ tiếng Hi
Lạp, klon, có nghĩa là “sprout” (mầm) hay “twig” (nhánh con). Cloning là
một phương pháp tái sản xuất, sao chép một sinh vật mà không phải qua các
quá trình tái sản xuất bình thường như thụ tinh giữa trứng và tinh trùng.
[2] Whatever next? The Economist 1997
March 1;79-81.
[3] Time/CNN poll. 1997 March.
[4] International Food
Information Council. Wirthlin group quorum survey, 1997 March 21-24.
---o0o---
Source: calitoday.com
Trình bày: Anna
Cập nhật: 01-9-2005