SỐNG VÀ CHẾT
Thích Như Điển
Lời vào sách
Hôm nay là ngày Mồng Một tháng
Năm nhuần năm Mậu Dần, nhằm ngày 24 tháng 6 năm 1998 sau khi làm lễ Bố Tát
(Uposatta) tụng giới nơi chánh điện, trở lại thư phòng, tôi bắt đầu viết
cho quyển sách của năm nay nhan đề là: Sống và Chết theo quan niệm của
Phật Giáo.
Mỗi người trong chúng ta đều có
một thói quen khác nhau. Tôi thì có thói quen hay viết sách vào mùa hè. Vì
đây là mùa an cư kiết hạ; nên có nhiều thời gian hơn các tháng khác. Vả
lại, chính trong 3 tháng nầy nội tâm cũng yên tĩnh hơn và ngoại cảnh cũng
đẹp hơn và thông thường tôi hay uống 3 chung trà trước khi đi vào một
quyển sách, để biết đâu, với hương vị quen thuộc ấy có thể giúp mình thêm
một ý sáng tạo nào đó trong khi viết sách.
Cả 2 tuần nay, khi mùa an cư
kiết hạ đã bắt đầu; nhưng tôi đã chẳng viết được một trang sách nào cả, lý
do chỉ đơn thuần là còn phải chuẩn bị cho một số công việc bên ngoài nữa;
cho nên mãi đến hôm nay mới bắt đầu. Năm nay lại nhuần 2 tháng năm nữa;
nên an cư cũng bắt đầu vào giữa tháng 5 âm lịch, chứ không phải giữa tháng
4 âm lịch như mọi khi. Do vậy mà rằm tháng 7 âm lịch năm nay cũng sẽ trễ
đến đầu tháng 9 dương lịch. Ngày 16 tháng 7 âm lịch mới là ngày ra hạ của
chư Tăng; năm nay nhằm ngày 6 tháng 9 năm 1998. Đã gần đến mùa Thu rồi,
còn gì nữa?
Còn không mấy ngày nữa là lần
sinh nhật thứ 50 của tôi. Ở Á Đông kể như vậy, chứ theo Tây Phương mới lần
thứ 49 mà thôi. Người Tây Phương và Đông Phương có nhiều cái giống nhau và
nhiều cái khác nhau lắm. Biết làm sao giải thích cho hết được. Thôi thì
phải tập làm quen với nhau rồi mới có thể hiểu với nhau thôi. Ví dụ người
Á Châu phải làm quen với dao nĩa khi ăn uống và người Âu Châu phải quen
với đũa khi muốn tìm hiểu đến văn hóa của Á Châu. Trên tầng thượng trước
phòng của quý chú có một chậu hoa quỳnh rất đẹp và mỗi năm thường hay cho
rất nhiều bông vào mùa hạ. Năm nay sinh nhật của tôi có độ 8 hoa quỳnh đã
nở. Dĩ nhiên là vô tình rồi; nhưng loài hoa nầy có lẽ cũng muốn cống hiến
một chút hương sắc với đời, nên mới nở rộ vào ngày nầy chăng? Nghe đâu hoa
quỳnh nở mang nhiều vui tươi và ước vọng đến cho mọi người.
Hoa màu vàng nhạt, hương thơm.
Lẽ ra phải nở về đêm; nhưng ở xứ Âu Châu nầy hay nở vào buổi chiều, lúc
mặt trời gần lặn và chỉ một đêm thôi, ngày mai quỳnh lại tàn. Quỳnh cưu
mang cả tháng, từ khi còn ở trạng thái là một chồi và trở thành búp, để
rồi nở hoa, nhưng chỉ một đêm, quả thật là loài hoa vương giả.
Năm rồi 1997 là năm tuổi của
tôi. Khi nói đến năm tuổi là hay nói đến tam tai. Có nghĩa là năm ấy sẽ có
3 cái nạn lớn. Đó là hao tài, tiêu tán và mất mạng. Dĩ nhiên là tôi không
tin tử vi rồi. Vì tôi đã tin theo Đạo Phật; nhưng cũng có nhiều cái thuộc
về hình nhi hạ học cũng phải tin, nhất là chuyện ấy đã qua rồi và nghiệm
lại thấy đúng, chứ không phải nhất thiết là ở hình nhi thượng học hết.
Nhiều người Á Châu hay tin từ 49 đến 53 tuổi cuộc sống nặng nề lắm. Vì năm
tuổi, vì sao hạn v.v... Vả lại cái tuổi nầy có lẽ cũng là cái tuổi đi vào
xế chiều của cuộc sống; nên đã có nhiều điều không may đến với mọi người
chăng? Theo sự giải thích về tam tai thì những năm ấy người ta phải mất
mát tiền bạc; người thân ra đi, hay chính mình phải chết. Nghiệm lại thử
năm rồi có đúng với tôi điều nào chăng? Hiển nhiên là có một đến hai sự
việc. Đó là 2 Sư Cô lớn tuổi ở chùa ra đi đột ngột cách nhau trong vòng 7
tiếng đồng hồ. Một người mất vào lúc 4 giờ chiều và một người khác mất vào
1 giờ rưỡi khuya. Đó là điều ly tán hay tiêu tán. Còn mất mạng thì tôi
chưa chết; nhưng năm rồi cũng phải mổ chân để lấy ra một cục thịt dư; như
vậy là mất đi một ít của mạng mình rồi. Còn hao tài thì năm rồi không đáng
kể. Bù lại đó ở chùa có trồng 2 cây đồng tiền (Geldblaetter); cây nầy hiếm
khi trổ bông lắm; nhưng trước khi cô Hạnh Niệm và cô Hạnh Tịnh mất, cả 2
cây đều nở hoa và cả 3 tháng hoa vẫn chưa tàn. Cây nầy tôi ít thấy khi nào
ra hoa. Do vậy mà nhiều người đã bảo là tôi hên, sẽ có chùa lớn hơn chùa
Viên Giác nữa. Điều ấy có đúng không thì hãy chờ xem. Cây đồng tiền có lá
nhỏ như đồng bạc bằng kẽm, màu đỏ tía và thân ủng nước; nhưng rất chắc.
Khi Đông sang cũng như Hè đến, cây đều mạnh khỏe và uống nước rất nhiều.
Bông của cây nhỏ li ti như các hoa dại, màu trắng, có thêm một ít màu phụ,
trông cũng rất phát tài. Hoa nở có lẽ mang đến cho người niềm vui, hơn là
tiền bạc; nhưng có lẽ nhiều người và nhiều đời tin như vậy, ngay cả người
Đức nữa; nên tên của cây mới được gọi là "Cây Lá Tiền".
Đến năm nay 1998 chùa Viên Giác
tại Hannover, phần ngoại duyên gặp nhiều chuyện không may; nhưng đồng thời
cũng có lắm điều may mắn. Ví dụ năm nay ở trong chùa có nhiều người bịnh
cảm, ho cả mấy tháng. Điều nầy có lẽ tại thời tiết bên ngoài. Mà đúng vậy.
Tại Đức năm nay không có mùa hè. Thông thường thì tháng 6 hay tháng 7 nắng
chói chang; nhưng năm nay ba chặp nắng cháy da, ba chặp lạnh; nên phải mặc
áo ấm. Đi đâu cũng nghe người ta nói về thời tiết đổi thay; nhưng riêng về
con người thì rất ít người nhắc đến. Đó phải chăng là một sự thiếu sót.
Rồi quý vị cận sự của chùa lại ra đi vĩnh viễn, có vị lại phải vào nhà
thương. Đúng là cuộc đời vô thường rồi, chứ còn gì nữa. Không có gì chắc
thật cả, mặc dầu đó là bản thân của ta, bằng da bằng thịt nầy. Xe chùa mấy
chiếc cũng bị tông hư, hoặc đi tông người khác, hoặc phải vào nghĩa địa xe
hơi để an giấc ngàn thu như thân thể của con người. Khi còn sống lo đi
phục vụ chuyên chở cho người ta; nhưng khi bị phế thải đi rồi chẳng ai dòm
ngó đến nữa, mà còn ra chiều khinh khi hất hủi nữa.
Mấy Thầy đệ tử đi học xa tại Đài
Loan thì gặp nạn bị đánh cắp mất hết giấy tờ và tiền bạc. Rõ là khổ ở xứ
người; nhưng nếu hiểu lý nhân duyên của nhà Phật, sẽ có được một phần an
ủi nho nhỏ nào đó.
Điều hên năm nay cũng không phải
là ít, trước nhất phải nói đến vấn đề đầu tư trí tuệ - Hạnh Tấn và Hạnh
Nguyện là 2 Thầy đệ tử xuất gia của tôi, đã tu học tại Đức và Ấn Độ hơn 12
năm rồi.
Hạnh Tấn tốt nghiệp Cao Học Tôn
Giáo Học tại Đại Học Hannover và sang Ấn Độ học tiếp tục chương trình hậu
Đại Học tại New Delhi và năm nay xong chương trình Tiến Sĩ Tôn Giáo Học.
Hạnh Tấn là người có học, có hạnh và có tu. Năm 1999 sẽ về lại Đức để lo
cho Expo năm 2000 với chú Hạnh Hảo người Đức và lo việc chùa, phụ giúp cho
tôi trong những năm tới. Hạnh Tấn cũng đã viết và dịch nhiều tác phẩm hay
như: Người Mang Hy Vọng, Xứ Phật Tình Quê, Uống Lửa Thở Đất v.v...
Hạnh Nguyện đang tu học tại tu
viện Sera theo truyền phái Phật Giáo Tây Tạng, đã học năm thứ hai tại Đại
Học Tu Viện nầy, cũng đã sáng tác đóng góp với Đời và Đạo qua các tác phẩm
Milarepa bằng tranh, tự truyện Một Người Tu 1 + 2, Xứ Phật Tình Quê v.v...
Tuy quý Thầy nầy được đào tại
tại ngoại quốc; nhưng văn phong và ý hướng vẫn một lòng cho Quê hương và
Giáo hội. Cũng chính năm nầy 2 Thầy đệ tử đã có chương trình kêu gọi quý
Đạo Hữu và quý Phật Tử khắp nơi ủng hộ Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ
Đề Đạo Tràng, Ấn Độ, và cũng đã được quý Phật Tử khắp nơi hỗ trợ.
Rồi Frank Sanzenbacher Pháp danh
Thiện Bình, Pháp tự Hạnh Hảo. Một người Đức cao lớn, nói tiếng Trung Hoa
rất rành và Việt ngữ cũng khá. Còn tiếng Đức cũng như tiếng Anh là tiếng
mẹ đẻ của chú rồi. Năm nầy cũng đã xong luận án tốt nghiệp Cao Học tại Đại
Học Hamburg với đề tài ra trường là: "Thập Mục Ngưu Đồ Tụng" bằng tiếng
Hán của Hòa Thượng Quảng Trí người Việt Nam biên soạn, vào thời
Trịnh-Nguyễn phân tranh, dịch và bình chú ra tiếng Đức. Cả một công trình
nghiên cứu như thế rất công phu. Sau khi xuất gia và thọ giới Sa Di, cho
đến nay chú đã ở chùa Viên Giác hơn 4 năm rồi và đang lo hướng dẫn các lớp
học người Đức tại Chùa cùng với ông Rotar Rieder. Có lẽ sau năm 2000 sẽ
cho chú thọ giới Tỳ Kheo và tha phương cầu học.
Hạnh Bảo có khả năng về tiếng
Trung Hoa, nên tôi đã cho sang Singapur tu học; nhưng ở đây giấy tờ khó
khăn, đành phải về lại Đức làm giấy tờ để đi Đài Loan để học tại các Phật
Học Viện và có thể tại Đại Học. Tuy khổ tâm vì mất giấy tờ và tiền bạc tại
Đài Loan; nhưng có lẽ sẽ tiếp tục con đường học Phật tại đó.
Ở tại chùa, chú Hạnh Hòa năm nay
đang học năm thứ 2 về phân khoa Tôn Giáo Học và Anh văn tại Đại Học
Hannover. Chú là người giỏi ngoại ngữ nên đã phụ cho tôi về phương diện
ngoại giao tại đây. Tại Đại Học nầy Đức Thụ Hồ Lộc, vẫn còn là một cư sĩ
tại gia; nhưng năm nay đã ra trường Cao Học với luận án tốt nghiệp tối ưu
với đề tài là: Phật Giáo Việt Nam tại Đức. Tác phẩm nầy sẽ được xuất bản
trong nay mai để giới thiệu với người Đức về sự phát triển của Phật Giáo
Việt Nam ở xứ nầy.
Chú Hạnh Sa vừa xong Tú Tài và
nay đã ghi danh học về Phật học tại Đại Học Hamburg.
Ngoài ra còn các chú Hạnh Vân,
Hạnh Từ, Hạnh An, Hạnh Định, Hạnh Trí, Hạnh Luận đang học nội điển tại
chùa qua sự hướng dẫn của tôi và Thầy Giáo Thọ Thích Quảng Bình. Thầy dạy
về chữ Hán và nghi lễ. Vì vậy bây giờ quý Phật Tử đến chùa Viên Giác nghe
những âm thanh lạ của trống, của chuông, linh, tang, mõ, đẩu, khánh v.v...
đó là công đức của Thượng Tọa Giáo Thọ Thích Quảng Bình đã dạy cho các
chú. Phần tôi bận rộn muôn bề, nên mỗi tuần chỉ hướng dẫn cho quý cô quý
chú 2 đến 3 lần mà thôi. Thường thì dạy cảnh sách bằng chữ Hán, luật Sa Di
bằng chữ Hán và Đại Trí Độ Luận bằng tiếng Việt. Quý cô tại chùa bây giờ
chỉ còn Ni Sư Như Viên, Sư cô Hạnh Châu, Sư cô Hạnh Ân, cô Hạnh Ngọc và
chừng 10 người làm công quả. Quý cô lớn tuổi cũng rất bận rộn cho chuyện
tu, chuyện học và chuyện công quả tại chùa. Đó là kết quả của phần trí tuệ
mà cây công đức ấy đã gieo trồng từ 12 năm trước. Hy vọng với những cây
nầy, Phật Giáo Việt Nam sẽ gặt được những quả trí tuệ vào các năm tới, ở
đầu thế kỷ 21 nầy.
Đó là chưa kể các Phật Tử tại
các địa phương khắp nơi trên xứ Đức nầy, rất nhiều người tin Phật, hành
hạnh Phật và thể hiện lòng từ bi của mình đến với tha nhân bằng hữu trong
cách sống của mình.
Đi vào đời của năm nay, Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam tại Đức dự định mua lại một khách sạn để làm một Trung
Tâm Dưỡng Lão cho người Phật Tử Việt Nam sống tại xứ Đức nầy. Đây có lẽ
cũng là một dự án đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam tại Hải Ngoại. Vì lẽ, xa
quê, cần có một quê hương thu hẹp lại để gìn giữ cội nguồn như người Đức
khi đến Úc hay Mỹ, Canada vẫn còn nghĩ về quê hương của họ vậy. Đây cũng
là một phạm trù thuộc lãnh vực tinh thần mà chúng tôi cố gắng thực hiện.
Hy vọng mọi việc sẽ gặp nhiều thuận duyên.
Trên đây là một số điểm tốt và
xấu. Xấu và tốt thực sự ra cũng là 2 mặt của cuộc đời; nhưng chỉ một lối
vào thôi. Ai ý thức, sẽ ra khỏi cửa khổ đau nầy. Ai còn thiếu tư duy, cứ
đi vào với con đường sanh tử triền miên trong cuộc sống nầy vậy. Tôi không
tin bói toán và đoán số bàn mộng; nhưng tin rằng cuộc sống có thăng trầm,
đời người có lúc nầy lúc nọ. Cũng giống như một con đường, đâu phải lúc
nào cũng thẳng tắp để đưa người đi đến đích đâu? Có lúc cong, có lúc
thẳng. Có lúc bằng phẳng, có lúc khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, lúc đường tốt,
lúc đường xấu v.v... Do vậy mà tôi vẫn thường hay nói trong cái tốt có cái
xấu và trong cái xấu nó có cái tốt là vậy.
Trở về lại sinh hoạt thường nhật
của chùa năm nay trong mùa An Cư Kiết Hạ cũng như mọi năm; nghĩa là từ
sáng sớm quý Thầy, quý cô, quý chú đã dậy và đúng 6 giờ kém 15 phút là mọi
người vân tập nơi Tổ Đường để lễ Tổ. Sau đó lên chánh điện ngồi thiền 15
phút. Nay thì quý chú đã tự hô canh được rồi, tôi không còn phải hô nữa.
Sau đó trì tụng thần chú Thủ Lăng Nghiêm và kinh hành nhiễu Phật. Đến 7
giờ nghi lễ xong, cô chú nào có phiên trực nhật phải lo nấu dọn cho trong
ngày thì phải có mặt nơi nhà bếp để sửa soạn. 8 giờ sáng tất cả Đại chúng
đều dùng sáng chung. Từ 7 đến 8 giờ sáng là giờ viết sách của tôi. Nếu
buổi sáng có thì giờ, tôi viết tiếp từ 9 đến 10 giờ rưỡi. Cứ ròng rã và
đều đặn mỗi mùa hè như thế, mà cho đến nay tôi đã được 25 tác phẩm rồi. Dĩ
nhiên sách tôi không hay so với một số tác giả nổi danh khác; nhưng nó là
những tư liệu sống và những gì có tận nơi đáy lòng, tôi đem phơi bày cho
mọi người đọc và hiểu cho một người tu, chỉ đơn giản có thế thôi. Câu: "Có
công mài sắt có ngày nên kim", tôi vẫn thường hay ứng dụng vào cuộc sống
của mình là vậy.
Từ 9 đến 10 giờ 30 sáng có lúc
quý chú Sa Di phải học luật, quý vị khác thì chuẩn bị cho buổi quá đường.
Đúng 11 giờ chư Tăng Ni dùng ngọ trai, sau đó đi kinh hành nhiễu Phật. Năm
nay có thêm phần đánh chuông trống bát nhã vào lúc chư Tăng lên chánh
điện, để cho quý chú quen dần với việc xử dụng chuông, trống lớn. Trước 11
giờ có một chú lên chánh điện cúng Ngọ nữa. 12 giờ trưa là giờ của các chú
Sa Di Thị Giả và những người giúp việc dùng trưa. Sau đó là giờ chỉ tịnh
cho đến 2 giờ chiều.
Từ 2 giờ 30 đến 4 giờ là giờ
học. Vào cuối tuần giờ học nầy không có; nhưng thay vào đó là các giờ
thuyết giảng trong các buổi Thọ Bát Quan Trai. 5 giờ chiều có buổi công
phu chiều, tụng Di Đà, Hồng Danh và Thí Thực. Đến 18 giờ 30 dùng tối bằng
cháo nhẹ và 20 giờ tất cả lên chánh điện để lễ kinh Đại Bát Niết Bàn, mỗi
chữ mỗi lạy. Kinh Đại Bát Niết Bàn gồm 2 quyển, độ chừng 1.500 trang. Chùa
Viên Giác sau khi lễ xong kinh Pháp Hoa, cũng mỗi chữ mỗi lạy, cuối năm
1995 bắt đầu qua lạy kinh Đại Bát Niết Bàn. Đến hôm nay, cuối tháng 6 năm
1998, mới được 200 trang, mà mỗi buổi tối thường lạy từ 250 đến 300 lạy.
Có lẽ kinh nầy phải lạy tất cả trong 15 mùa hạ mới xong. Sở dĩ tôi phát
nguyện lạy như thế, vì thấy bao nhiêu người lớn tuổi đi chùa muốn lễ một
lễ cũng không trọn vẹn; nên nghĩ tới già nua, tuổi tác và vô thường nên
mới phát nguyện như vậy và năm nay phát nguyện làm Trung Tâm Dưỡng Lão,
cũng vì thấy nhiều người lớn tuổi sống cô đơn trên xứ người, nên phải có
một nơi gìn giữ cũng như an ủi những bậc cao niên; nên mới bắt đầu công
việc to lớn và cực nhọc khác. Tất cả cũng chỉ khởi đi từ tâm niệm độ sanh
của người xuất gia mà thôi. Vì cuộc sống của người Tăng sĩ là:
"Nhứt bát thiên gia phạn
Cô thân vạn lý du
Kỳ vi sanh tử sự
Thuyết pháp độ xuân thu"
Nghĩa là:
"Một bát cơm ngàn nhà
Một thân muôn dặm xa
Chỉ vì sự sanh tử
Thuyết pháp độ người qua.
Đơn giản nhưng khó thực hiện vô
cùng.
Đến 21 giờ 30 là xong lễ. Sau đó
là giờ tự do của Tăng chúng như ôn bài, tắm rửa, giặt giũ v.v... Tiếp theo
là chỉ tịnh để tiếp tục ngày hôm sau.
Trong mùa an cư kiết hạ mỗi năm
3 tháng tại Chùa Viên Giác, Tăng chúng và cá nhân tôi đều thực hiện như
vậy. Ngoài ra 9 tháng khác trong năm, mỗi ngày chỉ còn lại 2 thời công phu
sáng và chiều và các lớp học được xếp vào buổi tối. Vì ban ngày có nhiều
chú phải đi học tại Đại Học.
Cuộc sống của người tu hành cứ
như thế mà thong thả trôi đi và cũng phải giúp đỡ cho mọi người trong việc
làm lễ cưới hỏi cho các Phật Tử tại gia, giải quyết những khó khăn nội tại
của gia đình và việc chết của mọi người con Phật, lẽ đương nhiên là quý
Thầy quý Cô hiện diện ngay từ lúc còn bịnh hoạn tại nhà thương kia.
Tôi là một người mà hay gần gũi
với người chết không ít. Vì lẽ mỗi lần có ai chết, gia đình đều gọi về
chùa để nhờ quý Thầy đi đám. Trước hết là cái chết của người thân, như có
lần tôi đã kể trong tác phẩm "Giọt Mưa Đầu Hạ" được Chùa Khánh Anh tại
Pháp xuất bản vào năm 1979, về sự ra đi của thân mẫu tôi và năm nay cũng
là kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thân phụ tôi, người cũng đã mất đi từ năm
1986. Tôi ra đời khi người đã 50 tuổi và là đứa con út trong gia đình; nên
cũng đã được nhiều phước duyên khi đi vào con đường đạo. Người sinh năm
1898, tức năm Mậu Tuất, năm nay 1998 là năm Mậu Dần. Đúng một trăm năm.
Một trăm năm trước tại quê hương xứ Quảng của chúng tôi, triều đình nhà
Nguyễn tại Huế, lúc bấy giờ vua Thành Thái đang trị vì, đã sắc phong cho
dân xứ nầy là "Ngũ Phụng Tề Phi". Nghĩa là 5 con phụng cùng bay một lúc.
Con chim phụng hay phượng hoàng là một trong các chúa tể của loài chim,
đẹp nhất trần gian nầy và có lúc Từ Hy Thái Hậu cũng đã lấy biểu tượng của
con chim Phượng Hoàng làm quốc huy cho triều đình của mình. Lý do là từ
Quảng Nam ra Huế thi có 3 vị đậu Tiến Sĩ, trong đó có ông Phạm Liệu, và 2
vị đậu Phó Bảng, giống như Cao Học ngày nay. Cả một nước chỉ có mấy người
đậu mà Quảng Nam đã có 5 người đậu đầu khoa Mậu Tuất ấy; nên người Quảng
Nam cũng thường hay tự hào là xứ của Văn Hiến, của ngàn năm văn vật, chỉ
có tội là nghèo hơn các xứ khác trong nước mà thôi. Nghèo nhưng vẫn tự hào
rằng:
"Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say"
Quảng Nam không biết có chế được
rượu hồng đào không? Chứ còn rượu làm từ gạo thì chắc chắn có rồi. Vì đây
là xứ nông nghiệp mà. Người Quảng Nam ở lại quê, ít có người nào làm nên
nghiệp lớn, mà phải xa quê mới tạo dựng được cho xứ sở của mình một giá
trị sâu thẳm của nội tâm. Về thơ văn có Phan Khôi, Bùi Giáng. Về cách mạng
có Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, về Phật Giáo có các vị Cao Tăng thạc đức
như Hương Hải Thiền Sư và Vĩnh Gia Đại Sư v.v... và ngày nay ở ngoại quốc
cũng đã có nhiều người con của xứ Quảng đang gây dựng nghiệp lớn.
Quyển sách nầy được viết nhằm
lúc kỷ niệm 100 năm của phụ thân và 50 năm ra đời của tác giả; nên cá nhân
tôi cũng muốn nhân đây hồi hướng phước báu nầy lên 2 bậc sinh thành đã quá
vãng và nguyện cầu cho những ân đức sanh thành dưỡng dục cao dày ấy được
đền đáp trong kiếp hiện tại nầy, để kiếp lai sinh khác được nhẹ gánh tang
bồng.
Mỗi năm Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên
Bang Đức tài trợ cho tôi xuất bản một quyển sách, kể từ năm 1981 đến nay,
gần 20 năm rồi, còn gì nữa. Ơn ấy xin nguyện khắc ghi và nghĩa cử cao đẹp
nầy chắc năm tháng trôi qua không bao giờ mất nơi tâm thức của một người
luôn luôn mong muốn ơn đền nghĩa trả.
Tôi cũng mong rằng tập sách nầy
sẽ được dịch ra tiếng Đức. Vì lẽ người Đức đã làm quen ít nhiều với việc
sống, chết, tái sanh qua Phật Giáo Tây Tạng; nhưng với Phật Giáo Việt Nam
và các xứ Phật Giáo Á Châu khác hầu như còn xa lạ. Mà không riêng gì người
Đức, ngay cả người Việt Nam cũng ít khi lưu tâm đến sự chết. Vì nghĩ rằng
mình chưa chết; nên chưa lo. Nhưng đâu có ai ngờ rằng: ai sinh ra rồi cũng
phải chết hết. Thực tế nầy lại hay phũ phàng và trái ngược, vì ai cũng chỉ
ham sống chứ rất ít người lo chuẩn bị cho sự chết cả.
Một ngày ăn cơm 3 buổi, uống
nước, dùng điện, gas, sưởi, áo mặc, hít thở không khí của đất trời v.v...
Tất cả đều là ơn nghĩa của chúng sanh và muôn loài, không nên hoang phí.
Vì tất cả đều phục vụ cho tha nhân và mang sự lợi ích sống chung và cùng
chia sớt với nhau nhiều bổn phận. Cũng như con người thì cần O2 và cây cỏ
cũng phải cần đến CO2 là vậy. Cái nầy sống nhờ vào cái kia và cái kia tồn
tại được là nhờ cái nầy. Điều nầy cũng rất hợp với thuyết nhân duyên của
nhà Phật.
Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên Bang Đức
giúp cho chúng tôi ra một quyển sách gồm 2 thứ tiếng Việt và Đức mỗi năm.
Có như thế văn hóa của Việt Nam, đặc biệt văn hóa của Phật Giáo mới có cơ
hội tồn tại nơi mảnh đất tỵ nạn nầy. Những người tỵ nạn sống tại Cộng Hòa
Liên Bang Đức nầy, một mặt phải hội nhập vào đời sống văn hóa, phong tục
của xứ Đức và đồng thời người tỵ nạn cũng không được phép quên ngôn ngữ mẹ
đẻ của mình. Vì nếu quên phong tục tập quán và tôn giáo cũng như văn hóa
của mình thì ý nghĩa hội nhập vào xã hội mới không còn nữa. Điều ấy đã bị
đồng hóa rồi.
Năm nầy là năm thứ 20, Bộ Nội Vụ
Đức đã giúp đỡ cho người Phật Tử Việt Nam tỵ nạn của chúng ta ở nhiều lãnh
vực khác nhau của văn hóa. Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của chính phủ
đến người Việt Nam của chúng tôi tại đây và đồng thời người tỵ nạn cũng đã
hiến dâng những tinh hoa văn hóa của dân tộc mình, đặc biệt là văn hóa của
Phật Giáo, như mang một bông hoa mới lạ, đẹp đẽ khác trồng vào trong một
vườn hoa khác, vốn đã đẹp rồi, sẽ còn đẹp hơn nữa. Điều ấy có lẽ cũng
không phụ công lao khó nhọc mà chính phủ Đức đã giúp đỡ cho người tỵ nạn
Việt Nam hơn 20 năm qua và mong rằng ơn nghĩa ấy vẫn còn tồn tại mãi mãi.
Cho đến giờ nầy, viết sách hay
bất cứ viết bài gì, tôi đều viết bằng tay lên giấy bản thảo, chứ không
dùng Computer. Vì đây chỉ là thói quen. Đôi khi sợ dòng tư tưởng của mình
bị chi phối, do đó hay dùng bút để viết, hơn là đánh máy vào máy. Nhưng
viết phải là loại viết đặc biệt, mực loãng, nhẹ. Khi viết không cần phải
dùng sức đè nặng lên viết và có như thế mới viết được nhiều hơn, dòng tư
tưởng cũng liên tục như thế mà chảy mãi, chảy mãi. Sau đó mới cho đánh
máy, sau khi đánh máy, tôi lại sửa lại một lần nữa và sau đó mới cho dịch
ra tiếng Đức cũng như trang trí và xem lại lần cuối trước khi làm phim.
Chữ viết của tôi tương đối khó
đọc, tuy nhiên Chú Sanh và Chị Nga đã quen nên cũng không gặp nhiều trở
ngại mấy. Nếu ai là người lần đầu đọc thư tôi, có lẽ sẽ không đọc được
hết. Vì lẽ không có thì giờ để viết chậm và sợ dòng tư tưởng bị ngưng
đọng, nên phải viết nhanh. Vì viết nhanh nên chữ xấu cũng là chuyện bình
thường.
Đức Thụ năm nay cũng cố gắng
dịch sách nầy ra tiếng Đức để giới thiệu với người Đức về cái nhìn của một
người Phật Tử về sự sống và sự chết qua các nước Phật Giáo Đông Nam Á mà
lâu nay họ chưa có cơ hội làm quen.
Trình bày, trang trí, in ấn do
anh Như Thân và các anh em công quả Thiện Như, Thiện Lai thực hiện. Từ khi
viết một quyển sách, đến khi in, đóng và cắt thành sách, thời gian ít nhất
cũng mất từ 6 tháng đến một năm, tùy theo độ dày mỏng của sách. Nhưng tựu
trung phải cần một thời gian ít nhất là như thế.
Tất cả những ơn nghĩa ấy, nơi
thâm tâm tôi bao giờ cũng ghi nhớ mãi. Vì không có những trợ duyên nầy,
chắc chắn rằng tác phẩm sẽ không được ra đời và độc giả sẽ không có cơ hội
để hiểu biết thêm một vấn đề, nhiều khi cũng không phải là vô bổ.
Chim bên ngoài đang hót, mặt
trời đang dần lên cao. Nơi nội tâm của mình cảm thấy có một cái gì đó đổi
thay. Có lẽ đây cũng là một trong những viễn ảnh của tâm thức và mong rằng
những trang sách tiếp theo sẽ phơi bày hết mọi khía cạnh của vấn đề, để
độc giả có một cái nhìn tổng quát hơn.
Nếu được như vậy quả là ích lợi
cho cả người viết lẫn người đọc.
Mong lắm thay.
Tác giả cẩn bút
Viết tại thư phòng Chùa Viên Giác
vào một sáng mùa hạ năm Mậu Dần 1998
Chương
I.
Những mẩu chuyện liên
quan về vấn đề đi đầu thai
Suốt 49 năm thuyết pháp độ sanh,
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni đã hoằng hóa không ngừng nghỉ. Ngài đã đi khắp
miền Trung, Nam Ấn Độ để giảng pháp và ngày nay sau 25 thế kỷ đã trôi qua,
mặc dầu Ngài đã thị tịch Niết Bàn; nhưng pháp âm ấy đã vang vọng khắp mọi
nơi mọi chốn ở cõi Ta Bà nầy. Thật đúng với ý nghĩa "Hãy tự mình thắp đuốc
lên mà đi". Đó là lời dạy của Đức Phật trước khi thị tịch Niết Bàn.
Khi Đức Phật còn tại thế, Ngài
là một bậc giáo chủ và khi Ngài tịch diệt đi rồi, không có một giáo chủ
khác thay thế vào vị trí của Ngài, chỉ có giáo pháp, mới là bậc Thầy của
tất cả chúng sanh, còn Tăng Đoàn cũng như Cư sĩ là những người hành trì
giáo pháp ấy. Nếu ai thực hành đứng đắn qua việc nghe thấy, suy nghĩ và
hành động theo sự hiểu biết nhận thức của mình, thì giáo lý ấy chính là
một chất liệu dưỡng sinh trong cuộc sống hằng ngày khi còn sống, cũng như
sẽ mang theo khi qua bên kia bờ giải thoát.
Đức Phật đã vì chúng sanh và
khai ngộ mọi vấn đề trong cuộc sống. Từ sự khổ cho đến con đường diệt khổ.
Từ sự tìm ra nguyên nhân, rồi đến dùng thuốc giới định huệ để chữa lành
căn bịnh tham, sân, si của con người vốn có cội gốc từ trong vô lượng
kiếp. Ngài cũng đã nói về vô thường, khổ, không, vô ngã, vô tướng, vô tánh
về Niết Bàn sanh tử. Ngài đã nói về nhân duyên, về luân hồi, về giải thoát
sanh tử. Ngài đã giảng và kể những câu chuyện về tiền thân của Ngài lúc
còn thực hành hạnh Bồ Tát. Có lúc Ngài còn trong A Tỳ địa ngục, có lúc
Ngài ở Đẩu Suất thiên cung. Có lúc Ngài làm con nai, có lúc Ngài làm con
chim. Có khi Ngài làm Vua, có lúc làm Thái Tử; nhưng hầu như bao nhiêu vai
tuồng trong 6 nẻo luân hồi, Ngài đều đóng vai thiện nam tử, hầu như và
không khi nào Ngài đóng vai một người ác, mà tất cả đều hiền lành, đức
hạnh, chơn tu theo mỗi vai trò mà Ngài đã thể hiện nơi chốn Ta Bà nầy. Có
khi Ngài kể chuyện Ngài với Công chúa Da Du Đà La về nhân duyên ở tiền
kiếp. Có khi Ngài nhìn thấu suốt qua tam giới và về vô lượng kiếp về trước
để nhắc lại những sự liên hệ giữa Ngài và Ngài Xá Lợi Phất hay Ngài Mục
Kiền Liên hay Đề Bà Đạt Đa, hay A Nan, hay Di Mẫu Kiều Đàm Di, hoặc Vua
Tịnh Phạn v.v...
Qua con mắt trí tuệ sau khi đã
chứng đạo Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cho tất cả chúng sanh
ở thế giới Ta Bà nầy nhiều thế giới khác, nhiều cuộc đời khác, mà vốn bị
màn vô minh che khuất; nên chúng sanh không thể dùng con mắt thường tình
và trí hiểu biết bình thường để nghe, hiểu và thấy được. Ngài đã nói rất
rõ thế giới ấy ở đâu; chốn khổ ấy ở chỗ nào; con người đầu thai ở kiếp
trước và kiếp sau ấy là ai; nhưng ai có thể tin được điều đó, ngoại trừ
những bậc đã chứng thánh quả.
Thật sự ra trước khi Đức Phật
chứng quả cũng đã có những bậc Thánh của Ấn Độ giáo chứng thánh quả, cũng
đã nói về luân hồi, về tái sanh; nhưng những vị Thánh nầy họ không chỉ lối
giải thoát cho chúng sanh. Do vậy mà Ngài đã phải đi tìm một lối giải
thoát cho riêng mình và đưa chúng sanh ra khỏi vòng luân hồi sanh tử ấy.
Đức Phật sau khi thành đạo, Ngài rời khỏi cây bồ đề và nói câu nói đầu
tiên là: "Kỳ lạ thay, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh". Chính cái Phật
tánh nầy là cái nhân để giác ngộ; nhưng đa phần cái nhân ấy bị che lấp bởi
nghiệp lực và vô minh, nên ít ai tự tìm ra lối thoát, giống như con ngựa
bị che 2 mắt, chỉ có đường thẳng chạy thôi và chờ cho khi nào người chủ mở
2 mắt bị che, mới thấy được chung quanh có những cảnh lạ khác. Thông
thường chúng ta tự trói buộc mình vào khổ đau, tình ái, nghiệp lực v.v...
nhưng ít ai tự mình cởi trói được khỏi khổ đau, mà chỉ nhờ người khác mở
dùm và ủy thác sinh mạng của mình cho những người có quyền thế ấy. Điều đó
hẳn sai, vì không ai có thể thay cho mình cởi trói khỏi vô minh cả, ngoại
trừ chính mình phải cởi trói cho mình qua sự hỗ trợ của giáo lý.
Có lần Đức Phật kể lại nguyên
nhân làm sao mà vua A Xà Thế lại bất hiếu với phụ vương của mình là vua
Tần Bà Sa La như thế, thì đây là câu chuyện:
"Khi vua Tần Bà Sa La đã lớn
tuổi nhưng chưa có con để nối dõi ngôi vua, thì nhà Vua và Hoàng Hậu lo sợ
rằng ngôi báu ấy sẽ bị trao về tay người khác, do vậy cả Vua lẫn Hoàng Hậu
luôn khẩn cầu ngày đêm mong có được một người con để nối dõi vương nghiệp.
Một hôm vua nằm mộng thấy có một vị thần nhân đến mách bảo rằng: Trong núi
Hy Mã Lạp Sơn kia có một vị Tiên nhơn tu đã 500 năm rồi và sau khi mãn
kiếp sống, sẽ thọ thai nơi Hoàng Hậu, đản sanh thành Thái Tử để giúp vua
trị nước. Sau khi tỉnh dậy Vua báo tin nầy cho Hoàng Hậu và bá quan văn võ
triều thần đều biết, ai nấy đều hết sức vui mừng và từ đó chính nhà Vua
cùng với tùy tùng vào sâu trong núi Hy Mã Lạp Sơn để tìm vị tu tiên ấy.
Quả đúng như vậy, khi vua Tần Bà Sa La đến, vị Tiên nhơn kia cũng kể lại
rằng, sau khi chết, sẽ đầu thai vào hoàng gia của nhà vua; nhưng vua lại
năn nỉ, vì vua tuổi đã già rồi, không biết còn sống bao lâu nữa để chăm
sóc cho Thái Tử, khi Thái Tử ra đời. Vị Tiên nhơn ấy suy nghĩ mãi; nhưng
đồng thời nhà vua cũng hối thúc mãi, nên cuối cùng vị Tiên nhơn ấy quyết
định bằng cái chết lập tức để tâm thức của mình đi đầu thai và trước khi
chết, vị Tiên nhơn ấy có nói rằng: Tôi chưa tới lúc phải chết; nhưng vì bệ
hạ khẩn cầu. Vậy sau nầy đứa trẻ được đầu thai có điều gì bất hiếu, mong
bệ hạ không oán trách. Lúc bấy giờ vua Tần Bà Sa La chỉ muốn có con chứ
không muốn gì khác; nên mới trả lời rằng: Dầu bất cứ mọi hậu quả gì, ta
cũng sẽ gánh chịu. Sau khi hai bên nói lời ấy xong, vị Tiên nhơn ấy kết
liễu đời mình và thần thức được đầu thai vào Hoàng Hậu Vi Đề Hy, vợ vua
Tần Bà Sa La. Ngày lại tháng qua Hoàng Hậu lâm bồn; nhưng các vị tướng số
đều đoán rằng sau khi Thái Tử nầy được sanh ra sẽ đoạt ngôi vua và giết
cha, giam giữ mẹ. Vua nghe như thế tức giận bảo là hãy giết đi; nhưng
Hoàng Hậu vì công mang nặng đẻ đau nên không nỡ lòng nào giết khi còn bào
thai trong bụng mẹ. Hoàng Hậu chỉ nghĩ rằng, khi sanh, tìm cách đứng chứ
không nằm. Lúc thai nhi sanh ra rơi từ trên cao xuống sẽ bị chết thì tốt
hơn là tự giết. Thế nhưng Thái Tử chỉ bị gãy nơi ngón tay út thôi. Và
chính ngón tay út này mà cũng là đầu mối của câu chuyện khi A Xà Thế lớn
lên, hỏi nguyên nhân tại sao với Đề Bà Đạt Đa và Đề Bà Đạt Đa đã kể rõ lại
mọi tình tiết đã xảy ra, thế là một sự oán thù đã bắt đầu vay trả, cho nên
nói oan oan tương báo là như thế đó...."
Câu chuyện còn dài lắm, dài suốt
cả một đời người mấy mươi năm luôn, không phải chấm dứt nơi đây; nhưng
điều muốn nói ở quyển sách nầy không phải việc xấu tốt, lành dữ v.v... mà
điều muốn nói ở đây là những hành động lúc cận tử nghiệp và ý niệm lúc đi
đầu thai nó quan trọng như thế nào.
Có nhiều chủ thuyết cho là không
có luân hồi, không có quả báo. Có nhiều tôn giáo chủ trương rằng có một
linh hồn bất tử. Nếu tin tưởng vào Thượng Đế sẽ được lên Thiên Đàng. Nếu
không, thì ngược lại. Có nhiều chủ nghĩa bảo rằng: Chết là hết, không còn
gì hết cả; nhưng điều ấy có thật không? Qua câu chuyện của Đức Phật vừa kể
lại ở trên và qua kết quả của chúng ta vẫn thường thấy hằng ngày?
Việc vị Tiên nhơn đi đầu thai mà
mang mối hận cừu, rằng chưa đến lúc chết mà phải chết. Do vậy mới có oan
oan tương báo với nhau. Đây là điểm hành nghiệp chính mà thuyết luân hồi
của Đạo Phật đã chỉ vẽ rất rõ ràng, nhưng ít có người lưu ý. Vì khi sống,
thích tranh danh đoạt lợi, ưa dua nịnh, đấu tranh, khen chê thù tạc. Tất
cả đều chỉ vì tự ngã và cố nâng niu bản ngã để chiều chuộng theo thói hư
tật xấu của mình, ít khi để ý đến sau khi chết sẽ đi về đâu và dầu có đến
giờ phút cận tử nghiệp đi chăng nữa cũng ít có người lo sợ. Đến khi đi đầu
thai vào một chốn nào đó trong 6 nẻo luân hồi, lúc ấy mới bừng tỉnh, thì
đã trễ quá rồi.
Cái nhân sân hận sẽ ra cái quả
sân hận. Cái nhân từ bi sẽ gặt hái cái quả từ bi. Cái nhân tham lam sẽ gặt
hái quả keo kiệt. Cái nhân hiếu hạnh sẽ gặt hái được cái quả sống đầm ấm
hạnh phúc trong gia đình. Cái nhân sát sanh sẽ gặp cái quả thường hay đau
ốm và chết yểu. Cái nhân trộm cướp, chắc chắn sẽ bị người khác trộm lại.
Hoặc giả sanh vào kiếp khác sẽ bị bần cùng, cơm không đủ ăn, áo không đủ
ấm. Cái nhân tà dâm sẽ gặt hái cái quả là chính mình hay vợ con sẽ đem
lòng lan chạ với kẻ khác. Cái nhân uống rượu sẽ gặt hái cái quả là trí tuệ
không có, tối tăm mù mịt, sanh ra đời bị ám độn không có lợi căn như bao
nhiêu người khác. Cái nhân đâm thọc, chửi bới sẽ ra cái quả gia đình của
mình bị lộn xộn không yên. Cái nhân giận hờn sẽ sinh ra cái quả si mê ngu
muội.
Ngược lại những nhân và quả xấu
bên trên, chúng ta có thể thấy được những nhân và quả tốt như sau:
Người ưa phóng sanh và cứu mạng
sống của kẻ khác thì cái quả của người ấy sẽ gặt là kiếp nầy hay kiếp sau
được sống lâu và ít hay bịnh hoạn. Người hay bố thí giúp người thì cái quả
của kiếp nầy hay kiếp sau được giàu sang vinh hiển. Nếu đàn ông hay đàn bà
sống một đời sống đức hạnh, không lan chạ thì đời nầy hoặc đời sau sẽ được
tướng mạo trang nghiêm, khi gặp, ai ai cũng kính mến. Nếu người luôn luôn
nói lời chân thật thì hiện tại và vị lai luôn luôn được người khác tin
cậy. Nếu một người không uống rượu thì trí tuệ dần dần sáng tỏ.
Trên đây là một số nhân tốt và
quả tốt; đồng thời cũng có một số nhân xấu và quả xấu. Có những loại nhân
gây ra trong đời nầy, kết quả sẽ gặt hái ngay trong hiện tại; nhưng cũng
có nhiều loại nhân gây ra trong đời nầy mà đời sau mới gặt hái và cũng có
nhiều loại nhân gây ra trong đời nầy mà nhiều đời sau mới gặt hái. Cũng có
lúc những gì đang hưởng trong hiện tại là cái quả đã gieo trong đời trước,
hoặc tốt hoặc xấu. Cái nầy làm nhân cho cái kia. Cái kia làm nhân cho cái
nọ. Có nhiều khi người ta nghĩ là trái ngược nhau; nhưng trên thực tế
không phải vậy. Ví dụ có người trong đời nầy chỉ làm toàn là chuyện lương
thiện; nhưng lúc nào cũng gặp những chuyện khổ đau phiền não. Do đó không
tin nhân quả của nhà Phật; nhưng trên thực tế phải hiểu rằng: Dẫu cho
người ấy trong hiện tại có làm thiện nhiều; nhưng cái nhân trong quá khứ
đã làm việc xấu, ác; nên trong hiện tại phải trả quả xấu trước, mặc dầu
vẫn làm thiện. Hoặc ngược lại có nhiều người sống trong đời nầy tàn ác, vô
tâm; nhưng họ luôn luôn giàu sang vinh hiển. Có người cũng bảo rằng luật
nhân quả của nhà Phật không đúng; nhưng trên thực tế phải hiểu như thế
nầy. Sở dĩ người nầy hưởng được quả lành là do đời trước hoặc nhiều đời
trước nữa đã gây nhân lành; nên hiện tại đang hưởng quả tốt, mặc dầu họ
đang làm những việc xấu. Nói cho dễ hiểu, ta có thể tóm tắt những việc
trên như sau:
Người nhân hậu nhưng vẫn gặp tai
ương ví như người bỏ tiền trong ngân hàng nhưng chưa sinh lời. Vì tiền lời
được trừ vào vốn đã mượn trong thời gian quá khứ. Ngược lại người ác vẫn
gặp chuyện lành, ví như người để tiền trong ngân hàng nhiều năm, bây giờ
chỉ lo hưởng lợi, do vậy mà sung sướng; nhưng khi hưởng xong, không lo tu
phước tiếp thì quả xấu sẽ đến thay thế vào đó. Đây mới chính là nhân quả
mà Đạo Phật hay Đức Phật muốn nhắc đến cho chúng ta hiểu để hành trì.
Câu chuyện thứ hai cũng xảy ra
tại Ấn Độ. Đây là nội dung của câu chuyện:
"Có một cặp vợ chồng người Bà La
Môn sinh được một người con trai. Khi con khôn lớn, cha mẹ muốn con tu
hạnh thanh tịnh và trở thành một giáo sĩ của Bà La Môn giáo. Cậu con trai
được giáo dục trong một môi trường rất tốt và dĩ nhiên cậu ta có nhiều cơ
hội để học hỏi qua kinh điển và sách vở để tìm hiểu những điều chân thiện
mỹ; nhưng cái học của cậu ta không dừng lại ở đó, cậu còn muốn học hiểu xa
hơn nữa. Do vậy mà cậu ta được cho đến học với một Giáo sĩ Bà La Môn khác
danh tiếng ở trong làng. Khi đến học, cậu ta rất chăm chỉ ngồi thiền,
luyện nội tâm, quán chiếu ngoại cảnh v.v... chẳng bao lâu cậu ta thông
suốt kinh sử của Bà La Môn giáo, nên Thầy dạy học lại cho về nhà. Khi về
đến nhà cha mẹ cậu ta han hỏi đủ điều về sự học vấn cũng như sự tiến bộ
của nội tâm. Cậu ta từ từ trả lời thông suốt. Cuối cùng bà mẹ hỏi cậu ta
rằng: Mẹ thấy con đã nhắc qua những loại kinh con đã học; nhưng con đã học
về loại kinh tình yêu chưa con? Người con nghe thế mới hỏi lại mẹ mình
rằng:
- Bộ có bộ kinh đó sao mẹ? sao
con không nghe Thầy con nói?
- Làm sao không có được. Có lẽ
Thầy con chưa dạy cho con đó. Thôi con hãy nghỉ đây vài ngày và hãy trở về
lại nơi Thầy con, để học nốt bộ kinh ấy đi. Sau khi học xong, con hãy trở
về lại đây với cha mẹ.
Người con vâng lời mẹ, lại một
lần nữa khăn gói lên đường. Khi đến nhà vị Thầy cũ, ông ta ngạc nhiên hỏi
tại sao còn trở lại đây. Vì những loại kinh căn bản ông ta đã dạy hết rồi.
Cậu ta tình thiệt trình bày với Thầy mình rằng: Mẹ cậu ta bảo phải trở lại
đây học nốt về bộ kinh tình yêu mới xong bổn phận.
Thực sự ra thì không có bộ kinh
nào gọi là kinh tình yêu hết cả; nhưng nếu cậu muốn, thôi thì ta sẽ dạy
cho.
Nguyên là vị Thầy Bà La Môn nầy
có một người mẹ già 120 tuổi. Ngày ngày ông ta săn sóc cho mẹ rất chu đáo.
Nào tắm giặt, rửa ráy thân thể cho mẹ, đút cơm, hầu cháo khi trái gió trở
trời. Tất cả đều chỉ vì mẹ và là một tình thiêng liêng mẫu tử; nhưng khi
nghe người học trò nầy muốn học về kinh tình yêu nên ông ta mới bảo rằng:
- Mẹ ta già 120 tuổi, ta vẫn
thường chăm sóc hằng ngày. Ngươi hãy thay ta tắm rửa, bồng ẩm mẹ ta, thay
thế ta để học hỏi về bộ kinh quan trọng nầy.
- Không có gì khó khăn cả. Người
học trò trả lời thế. Rồi cậu ta ngày lại tháng qua làm công việc của Thầy
mình đã làm cho bà lão.
Một hôm lão bà phụng phịu kề bên
tai cậu học trò của con mình, bà ta nói rằng: Ta yêu ngươi. Khi mới nghe
đến đó, người học trò choán váng mặt mày. Vì mình chỉ xứng vai cháu con
thôi, làm sao có thể nghĩ đến việc ấy. Vả lại bà ta đã quá già, làm sao có
thể nói chuyện yêu đương như vậy được. Người học trò sợ sệt và trả lời
rằng:
- Con đâu dám thế. Vì lẽ con
cũng chỉ làm một bổn phận thôi, con thay thế cho Thầy của con mà.
- Không sao cả. Bà lão bảo thế.
- Nhưng Thầy con thì sao? mặt
mũi nào con gặp Thầy con.
- Không sao cả. Con hãy giết
quách nó đi.
- Nhưng người ấy là Thầy con mà.
Đã dạy cho con nên người như ngày hôm nay.
- Có sao đâu, giết đi là yên
chuyện. Nếu ngươi không giết thì ta sẽ giết con ta. Bà lão trả lời trong
sự phều phào như thế.
Người con là một người liễu đạo
và biết rằng căn cơ của mẹ mình và nghiệp lực đã chiêu cảm nặng nề về tình
yêu như thế, nên ông ta mới bảo cho người học trò rằng:
- Con hãy lấy một trái bí thật
tròn giả làm cái đầu của ta và hãy vào vườn chặt một cây chuối, giả làm
thân hình của ta, chặt hai tàu lá giả làm 2 cánh tay của ta. Xong đâu đó
đem những vật nầy lên để trên giường của ta, phủ khăn chiếu lại như ta
đang ngủ bình thường, sau đó hãy ra báo cho ta biết.
Sau khi làm xong, người học trò
báo cho Thầy mình biết và Thầy cũng cho người học trò biết rằng cũng chính
hôm nay mẹ ta sẽ chết và tâm thức ấy sẽ di đầu thai vào 6 nẻo luân hồi do
chữ ái mà ra.
Người học trò trở lại giường bà
lão. Bà ta hỏi cậu học trò rằng:
- Thế con ta ở đâu rồi?
- Thưa bà, Thầy con đang ngủ
trên giường.
- Ngươi hãy lấy cho ta một cái
búa.
- Lấy làm gì vậy?
- Thì ngươi không giết nó, ta
phải giết nó để chúng ta có tình yêu, khỏi sợ dị nghị.
Người học trò điếng hồn; nhưng
cũng phải đi tìm cái búa cho bà lão. Bà ta bò lại giường người con và dùng
hết sức bình sinh để giáng xuống cổ của người con. Khi ấy khúc chuối đứt
ngang. Bà ta cũng vừa tắt thở. Vị Thầy Bà La Môn mới bảo người học trò
rằng: Đó là kinh tình yêu vậy.
Qua câu chuyện nầy chúng ta thấy
có nhiều khía cạnh khác nhau.
Khía cạnh thứ nhất là khía cạnh
về nghiệp ái. Khi đã yêu thì chẳng luận gì già trẻ. Vì nghiệp ái là nghiệp
chính trong 12 nhân duyên của nhà Phật. Từ Vô Minh cho đến hành, thức,
danh sắc, lục nhập, thụ, xúc, ái, thủ, hữu, sanh, lão, tử. Đây là 12 mắc
xích. Muốn đoạn vô minh không phải dễ. Vì trí tuệ đâu có mà đoạn vô minh.
Chỉ có ái là dễ đoạn nhất. Nhưng như trên đã nói, nghiệp ái không đơn
thuần. Tuy không có hình hài nhưng nó đã trói buộc biết bao tao nhân mặc
khách. Vì thế Tản Đà, một thi sĩ Việt Nam đã nói về cái tình như sau:
"Cái tình là cái chi chi
Dẫu chi chi cũng chi chi với tình
Đa tình là dở
Đã mắc vào đố gỡ cho ra
Khéo khuấy người một giấc thiên ma
Trói buộc kẻ hào hoa biết mấy
Đã gọi người nằm thiên cổ dậy
Lại đưa hồn mộng ngủ canh đi..."
Người chết một ngàn năm dưới mồ
mà khi nghe về chữ tình cũng lòm ngòm ngồi dậy. Ôi! đấy mới thật là tình
yêu và ái nghiệp. Có ai liễu ngộ được chăng? Hay bao nhiêu người đã ra,
rồi cũng có lắm kẻ đang phát nguyện lội vào để trả nợ xưa và gây nợ mới.
Khía cạnh thứ hai, điều đặc biệt
muốn nói ở quyển sách nầy là về cận tử nghiệp và sự tái sanh. Khi lão bà
nầy chết, chắc chắn thần thức chỉ nghĩ đến chuyện yêu đương và giết hại.
Tình yêu không dừng lại ở đâu cả. Vì nếu tâm mình không tự dừng lại thì ở
tuổi tác nào, ở cương vị nào, ở thời điểm nào, thứ ma lực nầy nó sẽ quyến
rũ mình vào cặm bẫy của khổ đau. Cũng giống như làn sóng điện, cái nầy
phát ra, cái kia thu vào tùy theo tầng số và tùy theo chu kỳ của mỗi sự
việc, thì ở đây sự tái sanh vào chốn nào cũng đơn giản dễ hiểu thôi. Điều
quan trọng nơi Đạo Phật không phải chỉ là sự hiểu biết mà còn phải tri
hành hợp nhất, để hướng cái tâm ấy đi vào nẻo thiện và cố vượt ra khỏi sự
sanh tử luân hồi. Ấy mới là điểm chính của Đạo Phật.
Ở Ấn Độ vấn đề tái sinh còn rất
nhiều. Ngay cả thời Đức Phật còn tại thế hay dẫu cho đến ngày nay, người
Ấn Độ chấp nhận một cách rất dễ dàng và rất phổ cập trong dân chúng. Bây
giờ chúng ta đi xa hơn một chút nữa, hướng về Trung Quốc; nơi đó Phật Giáo
cũng đã có mặt gần 2.000 năm lịch sử và những mẩu chuyện tái sanh cũng rất
nhiều; nhưng nơi đây chỉ đơn cử 2 mẩu chuyện căn bản mà thôi.
Chuyện thứ nhất kể về Bố Đại Hòa
Thượng và những việc tiên đoán của Ngài qua con mắt trí tuệ. Chuyện rằng:
Vào thế kỷ thứ 10 có một vị Hòa
Thượng thường hay ngao du sơn thủy, đi đến đâu cũng xin ăn và hát những
bài hát khó hiểu. Con nít thường hay bu quanh Ngài để xem và nhiều khi còn
chọc ghẹo Ngài nữa. Nhưng không sao, Ngài vẫn từ bi và mỗi khi xin được
tiền hay thức ăn đều kêu chúng tới ăn chung. Dần dà trở thành thân thiện.
Ngài có hình dáng to lớn, bụng
bự và trên vai quảy một cái đãy thật lớn để chứa thức ăn cũng như dụng cụ
cá nhân. Mỗi lần các trẻ đến Ngài, Ngài đều dạy chúng niệm Phật. Mấy lần
đầu, nếu trẻ nào niệm được nhiều câu Phật hiệu, Ngài sẽ cho tiền chúng.
Chúng ham niệm Phật để có tiền; nhưng sau dần thành thói quen, không có
tiền chúng vẫn niệm Phật. Một hôm có một đám cưới đi ngang qua trước nơi
Ngài ngồi thiền. Ngài liền cười nhiều tràng không dứt, khiến cho mọi người
bảo rằng: Lão Hòa Thượng khùng. Ngài không nói chi và chỉ lo cười mãi.
Đoạn có người tò mò có vẻ thân thiện đến hỏi cớ sao Ngài cười. Ngài bảo
rằng: Ta nực cười cho cái đám cưới kia. Vì chúng giết cha, cưới bà cho
cháu. Người kia nghe không hiểu và nhờ Ngài giải thích cặn kẽ dùm. Làm sao
có chuyện giết cha cưới bà cho cháu được. Việc ấy là thế nào? Ngài ung
dung ngồi kể lại sự việc:
"Ta thấy rằng chúng sanh có mắt
cũng như mù. Vì lẽ tất cả những hành nghiệp gây ra trong đời nầy đều do vô
minh che đậy, không thấy đâu là chánh, đâu là tà. Nguyên là như thế nầy:
Cô dâu sắp cưới đó chính là bà nội của chú rể. Vì đi đầu thai xa nên không
biết; nhưng cũng vì có ân nghĩa nhiều đời, nên nay lại phải làm vợ và cũng
tại nhà kia, nhân đám cưới ấy có giết một con heo. Con heo đó chính là cha
của chú rể nầy đã đầu thai vậy".
Câu chuyện nghe như hoang đường;
nhưng đó là sự thật đối với những bậc giác ngộ có trí tuệ. Còn đối với
chúng sanh vì vô minh che đậy thì không thể giải thích được. Nếu có nói,
họ cũng không tin. Ở đây có thể nêu ra 2 vấn đề:
Vấn đề thứ nhất là sau khi chết,
con người có thể đầu thai làm người trở lại mà cũng có khi làm con vật như
câu chuyện trên đã diễn tả. Thành người, nếu cận tử nghiệp có nhân duyên
trở lại làm người. Thành vật nếu nhân duyên của cận tử nghiệp đến, phải
chấp nhận như thế. Điều nầy có liên quan với câu chuyện chấp tướng và bị
lệ thuộc vào người thân của mình như sau:
Có một vị Tăng sĩ được mời đến
một nhà quàn để tiếp dẫn cho vong linh người đã mất. Tại nhà quàn bao
nhiêu quan tài đều để ngang nhau, có tính cách bình đẳng khi chết. Trước
mỗi quan tài có để tên của người mất để thân nhân dễ nhận diện.
Khi gia đình ấy cùng vị Tăng sĩ
vào phòng thứ nhất, gia chủ thấy không phải, cười và đi tiếp phòng thứ
hai. Tại đây cũng thế, mọi người đều cười; nhưng đến phòng thứ ba, sau khi
đọc tên xong, mọi người đều khóc. Tại sao vậy? Câu trả lời đơn giản rằng:
Vì đó là người thân của mình. Điều ấy đúng; nhưng còn hạn hẹp lắm. Vì
chính chỗ chấp có, chấp tướng và bị sự liên hệ nầy mà chúng sanh cứ mãi
mãi ở trong vòng luân hồi sanh tử vậy. Sự chết, tất cả đều giống nhau;
nhưng ai liên hệ mới bị khổ đau. Nếu nhìn từ Đức Phật và các bậc giác ngộ,
thì sự khổ không riêng cho một ai; nhưng chúng sanh vì sự hiểu biết còn
giới hạn, do vậy mà vẫn còn lặn hụp mãi mãi nơi lục đạo nầy. Cũng chính sự
liên hệ nầy mà lúc làm chồng, làm cha, lúc làm con, lúc làm cháu v.v...
Khía cạnh thứ 2 ở câu chuyện đám
cưới nhắc cho chúng ta thấy rằng: Sau khi chết, con người không nhất
thiết phải trở lại làm người, mà có thể làm thú. Vì lẽ tâm của người ấy
khi chết, dán chặt vào hành nghiệp của thú, nên mới đầu thai làm con heo ở
nhà nọ và cũng chính con heo kia bị làm thịt để lo cho ngày vui của chú
rể. Khi cô dâu vui bên chú rể, cũng có thể là tình thương của kiếp trước
còn lại và bây giờ đã biến thành tình yêu để bà cháu bên nhau mà không hề
hay biết gì cả.
Cuộc đời nầy tất cả giống như
một giấc mộng; nhưng nhiều người vẫn không chấp nhận. Nhiều lúc lấy mộng
làm thật và cũng có khi lấy thật làm mộng. Ví dụ trong đêm tối chúng ta
thấy nhiều cảnh đẹp, giàu sang hay ngay cả những mộng ác, lúc ấy trong tâm
rất sung sướng hoặc sợ sệt; nhưng khi tỉnh mộng rồi, tất cả đều bình
thường. Đó là đêm, dụ cho màn vô minh đối với chúng sanh. Còn ban ngày đối
với chúng ta, ăn uống, ngủ, nghỉ, làm việc, học hành, yêu đương, thi thố
tình thương v.v... tất cả chúng ta cho là thật; nhưng trên thực tế, đối
với các bậc đã giác ngộ, nó cũng chỉ là giả danh mà thôi. Vì cái gì còn
hình tướng, tức cái ấy đều hư vọng cả. Nếu ai ai cũng ý thức được như vậy,
chắc chắn cảnh khổ không còn nơi thế gian nầy nữa; nhưng hầu như ngày nay,
còn ngược lại là khác. Chúng ta để cho vật chất làm chủ tâm mình, sai
khiến ông chủ nầy phải làm nô lệ cho mọi tiện nghi để được sung sướng;
nhưng đâu có biết rằng, chúng sẽ lừa chúng ta đi vào con đường tội lỗi.
Câu chuyện thứ hai có tính cách
cao thượng hơn, giải thoát hơn, cũng xảy ra tại Trung Quốc, xin ghi ra đây
để quý vị độc giả lãm tường. Chuyện nầy rút ra từ quyển "Tây Phương Du Ký"
của Ngài Khoán Tịnh Hòa Thượng. Ngài là một bậc tu hành đạo cao đức trọng
ở Trung Quốc. Suốt đời Ngài ở ẩn trên núi cao, chuyên tâm niệm Phật A Di
Đà để cầu nguyện vãng sanh. Đặc biệt Ngài hay tụng kinh Lăng Nghiêm và trì
kinh Pháp Hoa, chỉ mong ước gặp được Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.
Một hôm Ngài đang niệm Phật thì
có một Lão Tăng đến rủ Ngài ra đi, Ngài vâng lời ra đi cùng Lão Tăng và từ
từ Ngài có cảm giác khác lạ, thần thức của Ngài bay bổng lên không trung,
dường như không cần sự cố gắng nào nữa, Ngài chỉ lâm râm niệm thần chú.
Thế là Ngài được đến các tầng trời của chư thiên, sau đó đến cảnh giới của
trời Đẩu Suất và cuối cùng Ngài đã đến được cảnh giới của Đức Phật A Di
Đà, đã gặp Đức Quan Thế Âm Bồ Tát qua việc hóa thân là một Lão Tăng, đã
đưa Ngài Khoán Tịnh về thế giới Cực Lạc nầy. Đức Đại Thế Chí Bồ Tát và các
vị Bồ Tát khác Ngài cũng đã diện kiến. Đặc biệt ở thế giới Cực Lạc, Ngài
đã gặp Ấn Quang Đại Sư và ở cõi trời Đẩu Suất, Ngài đã gặp Hư Vân Đại Lão
Hòa Thượng.
Sau một thời gian ngắn mấy chục
ngày ở cõi trên, Ngài về lại trần gian thì thấy cảnh vật đã đổi thay khá
nhiều, ai cũng già đi hằng chục tuổi và hang động nơi Ngài tu, ngày nay
cũng bị chôn vùi với cây cỏ. Đây là câu chuyện có thật do một bậc Đại Tăng
Trung Quốc thuật lại. Đó là Ngài Khoán Tịnh Hòa Thượng. Khi nghe câu
chuyện nầy dĩ nhiên là có người tin và có lẽ cũng không tin; nhưng tin hay
không là quyền của mỗi người. Thế mà ở đời có nhiều sự thật ngoài những sự
thật đang có. Nếu dùng con mắt bình thường ít có người sẽ hiểu thấu được.
Chỉ có con mắt trí tuệ mới có thể nhận rõ nguồn cơn được.
Về Trung Quốc, 2 câu chuyện trên
tiêu biểu cho một vấn đề. Nghĩa là sau khi chết không phải là hết, mà còn
đi tái sanh nữa. Ngoài ra con người cũng có thể sanh về thế giới cao hơn,
nếu trong đời nầy nhất tâm niệm Phật, trì chú, để khi lâm chung sẽ được
vãng sanh về nước Cực Lạc.
Sau đây là 2 câu chuyện Việt Nam
tiêu biểu về việc tái sanh. Một chuyện liên quan với Trung Quốc và một
chuyện xảy ra ở Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ 20 nầy.
Chuyển kể rằng:
Vào những năm tháng xa xưa khi
mà Việt Nam và Trung Quốc còn bang giao chặt chẽ. Lúc bấy giờ nhà Minh
sang độ hộ nước Việt Nam, do vậy mà họ đã bắt đi rất nhiều người Việt Nam
tài giỏi sang Trung Quốc để xây dựng Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh bây giờ. Ngày
nay người Trung Quốc không nhắc tới ai là Kiến trúc sư của Tử Cấm Thành
tại Thiên An Môn; nhưng người Việt Nam thì luôn tự hào rằng: Đó là một
người Việt Nam. Trong số những người sang Trung Quốc đó cũng có những vị
Tăng sĩ Việt Nam tài giỏi và khi qua Trung Quốc, không biết vì quốc thể
hay vì lời nguyện, có một vị Tăng Việt Nam phát nguyện rằng sẽ làm vua
Trung Quốc. Trước khi vị Tăng viên tịch có báo cho mọi người biết rằng
trên mình Ngài có một bớt son bên tay phải. Sau một năm nếu Hoàng Hậu
đương triều mang thai mà đứa trẻ có một bớt son như thế, thì đúng là Ngài
tái sanh. Quả thật như vậy, sau khi sanh Hoàng Tử, mọi người trong cung
cấm đều đồn nhau biết rằng: Thái Tử có điềm lạ như thế. Vị Hoàng Tử ấy sau
nầy lên làm vua lấy hiệu là Càn Long.
Câu chuyện nầy thực hư thế nào
thì không rõ; nhưng qua một lời nguyện của một vị Đại Tăng. Việc ấy đã trở
thành sự thật. Điều ấy chứng tỏ rằng, qua con mắt trí tuệ chứng đắc của vị
Sư người Việt Nam, đã báo cho mọi người biết là việc gì sẽ xảy ra một năm
sau đó. Nếu điều ấy sai, hẳn việc ấy đã trở thành thêu dệt; nhưng điều ấy
đã đúng. Vậy chúng ta có nên tin chăng?
Câu chuyện thứ 2 xảy ra cho một
người đàn bà Việt Nam tại tỉnh Mỹ Tho. Câu chuyện được chính đương sự kể
lại trong quyển sách "Cô Ba Cháo Gà", như sau:
Bình sinh bà ta làm nghề bán
cháo gà. Mỗi sáng sớm bà cắt cổ gà, nhổ lông, luộc gà và sau đó là nấu
cháo. Đoạn mang ra chợ bán, đến trưa hoặc xế bà lại đi mua gà, để ngày mai
còn làm thịt tiếp, đem ra chợ bán nữa. Cứ thế và cứ thế, ngày lại tháng
qua bà sinh sống với nồi cháo gà. Sáng mang cháo ra chợ bán, chiều quảy
gánh về. Một hôm nọ bà bị bịnh thật nặng, thân thể yếu đuối, thần thức bị
vua Diêm Vương và quỷ sứ dẫn đi xuống nhiều cửa ngục khác nhau. Đến đâu bà
cũng bị những con gà đến đòi mạng. Nhiều nơi còn có quỷ dữ muốn hại mạng
bà. Sau khi đi hết 9 tầng địa ngục và nhiều cửa ngục khác nhau, bà hối hận
lắm nên mới phát tâm làm lành lánh dữ và quyết chừa bỏ mọi lỗi lầm. Do vậy
mà thần thức của bà trở lại dương thế, nhập vào hình hài đang nằm thoi
thóp trên giường bệnh. Sau thời gian tịnh dưỡng bà nhớ lại mọi chi tiết
của câu chuyện trên, bà thuật lại cho mọi người biết và chép thành một
quyển sách với tựa đề như trên, diễn tả nhiều cửa ngục đã đi qua và những
hình phạt sau khi chết.
Đây cũng là một câu chuyện có
thật; nhưng khi kể ra cũng ít người tin. Vì thông thường "chưa thấy quan
tài, chưa đổ lệ" là vậy. Mà nếu có đổ lệ cho người thân, cho gia đình lúc
ban đầu, rồi chẳng bao lâu lại quên đi. Vì nghiệp thức của chúng sanh bản
chất là vô minh nên hay quên những gì được gọi là tội lỗi, mà cũng chẳng
nhớ những gì gọi là thánh thiện nơi tâm thức của mình lâu bền hơn.
Trên đây là 6 câu chuyện, 2 câu
chuyện xảy ra tại Ấn Độ, 2 câu chuyện tại Trung Quốc và 2 câu chuyện tại
Việt Nam. Mỗi câu chuyện mang một màu sắc khác nhau. Giải thoát có, đọa
lạc có. Cao thượng có, thấp hèn có. Thánh thiện có mà thấp hèn cũng chẳng
phải là không. Tất cả cũng đều đi đến một điểm chung là: Trước khi sinh ra
và sau khi chết đi, không phải là không có gì cả, mà trong cái khoảng
không to tướng ấy lại có những cái vô hình, mà chính cái nầy làm nhân cho
cái kia tác dụng lên nhau, như lớp sóng nầy chồng lên lớp sóng khác, cứ
thế và cứ thế cuốn tròn trôi giạt vào bờ, rồi lại lùi xa hơn nữa để trở
thành những đợt sóng cao hơn, lớn hơn và lan rộng xa hơn, để làm cho sinh
linh ấy mãi mãi chìm ngập nơi cõi địa đàng. Chỉ có ai muốn tách ra khỏi
lớp sóng ấy, vươn mình ngồi dậy, đi thẳng vào đời, xây dựng đạo một cách
chơn thành, thì kẻ ấy mới là kẻ thức tỉnh. Kẻ ấy mới là kẻ đáng nói và
đáng noi theo.
Chương II
Quan niệm về sự sống
và chết đối với người Việt Nam
Người Việt Nam thường hay quan
niệm rằng: "Sống Gởi Thác Về". Họ chỉ nói đơn giản thế thôi. Câu nói chỉ
có 4 chữ ấy bao gồm một triết lý sâu xa của Đạo Phật. Đầu tiên nói về ý
niệm vô thường của cuộc sống. Sau đó cho biết cuộc sống nầy trước đó đã có
sự sống và sau khi chết lại còn sự sống khác tiếp tục nữa.
Đức Phật đã dạy về vô thường,
khổ, không và vô ngã; nhưng chấp nhận lời dạy ấy phải trải qua hàng ngàn
năm người ta mới hiểu và hành trì được. Vì một triết lý cao siêu như thế
không đơn giản để hội nhập vào một dân tộc chỉ trong vòng một thời gian
ngắn mà có được. Vô thường, vì cuộc sống nầy không chắc thật; nên gọi là
gởi. Chữ gởi ở đây cũng có nghĩa là tạm bợ thôi. Gởi thân nầy ở cõi trần
thế 10 năm, 20 năm, 50 năm hay dẫu cho đến một trăm năm đi chăng nữa, cũng
chỉ là một cuộc sống tạm bợ thôi; không có gì chắc thật hết. Nhưng sau khi
chết, người Việt Nam nói chung và người Phật Tử nói riêng đều mong muốn
trở về. Vậy họ sẽ trở về đâu? Ở đây là một thế giới vô hình. Có thể về lại
nguyên thỉ của đất trời vạn vật, mà cũng có thể về với Phật, với Thánh,
với Tiên. Hay gần hơn nữa là về với Ông Bà Tổ Tiên.
Ở Thiền Tông có một công án hay
cho các Thiền sinh phải thực tập suy nghĩ rằng: "Trước khi cha mẹ chưa
sinh ta, ta là ai vậy?". Câu hỏi nầy khiến cho người học đạo phải đập nát
vỏ vô minh mới có thể khám phá ra chân lý được. Do vậy, người bình dân chỉ
nói chung chung và hiểu tổng quát thôi, chứ không đi vào từng chi tiết cụ
thể.
Mọi người Việt Nam đều quan niệm
rằng có một cái gì đó trước khi cha mẹ mình sinh ra mình. Cho nên người
Việt Nam cũng thường hay nói: Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh. Điều ấy
đúng; nhưng chữ trời ở đây dùng để chỉ cho những đấng tối cao, cao hơn
trên đầu của loài người, chứ không nhất thiết phải là một vị giáo chủ của
các tôn giáo khác. Họ tin rằng cha mẹ chỉ là một cái nhân tác hợp để sinh
ra một người con với trọn vẹn vóc dáng, hình hài; nhưng cha mẹ chắc chắn
rằng không thể sinh được tinh thần của người con được. Mà cái tánh ấy,
chính là một sự tái sanh của một kiếp luân hồi nào đó.
Sự sống của chúng ta giống như
một cái bóng đèn. Bóng đèn ấy có nhiều hình tướng khác nhau như dài, ngắn,
tròn, vuông. Hoặc giả có nhiều màu sắc khác nhau và độ sáng cũng có nhiều
khác nhau; nhưng đến một hôm nào đó bóng đèn nầy bị hư đi và màu sắc cũng
phai nhạt vì trải qua thời gian năm tháng đã xử dụng. Nhìn lại thân thể
của chúng ta cũng vậy, đâu có khác gì những bóng đèn kia. Có người có thân
hình cao, có người thấp, có người đẹp, có người xấu v.v... nhưng tất cả
đều là thân thể của một con người. Bóng đèn hư cũng có nghĩa là thân thể
con người phải mất. Nhưng chắc chắn một điều là dòng điện vẫn còn tồn tại
cũng như tâm thức không thể mất hẳn đi được. Vì lẽ, nếu thay một bóng đèn
khác thì bóng đèn lại sáng. Cũng như thế ấy khi tâm thức va chạm với sự
ước muốn của đối phương, tâm thức ấy sẽ nhập vào và trở thành cái đối
tượng sẽ có tiếp tục, có thể là người, có thể là động vật, mà cũng có thể
sinh ra vào những thế giới khác ngoài con người. Tất cả đều do những
nguyên nhân của chúng ta đã tự tạo từ kiếp nầy hay kiếp trước mà thôi.
Như vậy có thể nói rõ ra rằng:
Không ai tự sinh, mà cũng không ai tự diệt cả. Tất cả đều lệ thuộc vào
nhân duyên của một việc hay một sự việc. Vì lẽ ấy mà cụ Nguyễn Du cũng đã
diễn tả trong truyện Kiều rằng:
"Có trời mà lại có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan"
Ta sống ở đây giữa đất trời bao la của thế
giới, ta là mhân chứng của mọi vật, ta cũng có thể cao thượng, mà ta cũng
có thể yếu hèn như bao nhiêu sinh linh khác. Chỉ có con đường tu tâm dưỡng
tánh mới là con đường phúc đức. Ngoài ra những chuyện tình lẩm cẩm của thế
gian đều là những sợi dây oan trái cột chặt cuộc đời mình vào những nỗi
khổ triền miên không lối thoát ấy. Dầu cho đó là mối tình vương giả của
vua chúa hay mối tình của những kẻ lãng tử không nhà không cửa đi chăng
nữa, tất cả cũng chỉ là những sợi dây oan nghiệt của cuộc sống mà thôi.
Nhưng ở đời mấy ai được toại
nguyện với cuộc sống của mình? Ở bất cứ một hoàn cảnh nào, một địa vị nào
trong xã hội đi chăng nữa, họ cũng không thỏa mãn. Nếu nguyện ước không
thành, họ đâm ra trách trời, trách người; nhưng chưa ai tự trách mình để
thấy rằng việc gì cần phải làm ngay. Bởi thế trong truyện Kiều cụ Nguyễn
Du cũng đã kết luận cho tác phẩm nầy bằng thơ dài hơn mấy ngàn câu theo
tinh thần tam giáo Phật, Lão, Khổng, như sau:
"Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách bởi trời gần trời xa
Thiện căn vốn tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
Lời quê góp nhặt dông dài
Mua vui chỉ được một vài trống canh"
Người nào biết an phận với cuộc
sống của mình và nghĩ rằng kết quả của sự sống ngày hôm nay là do chính
mình đã gây tạo từ nhiều đời nhiều kiếp, thì người ấy sẽ an lạc mà tiếp
tục đoạn hành trình còn lại. Nếu kẻ nào không biết chân lý nầy, dầu có
sống trên nhung lụa, vật chất dư thừa, họ vẫn cảm thấy thiếu và thấy đau
khổ như thường. Chúng ta khi gặp hoạn nạn, hay trách trời, trách người,
nhưng rất hiếm người tự trách mình. Câu nầy có nghĩa là hãy tự quán chiếu
nội tâm của mình đấy. Phải nhìn vào bên trong mới biết mình là ai, chứ cứ
nhìn mãi bên ngoài thì chỉ hiểu người khác mà sẽ không bao giờ hiểu mình
nổi.
Cái căn lành ấy đã sẵn có nơi
tâm của mình rồi, không nên chạy đi tìm kiếm ở nơi nào xa xôi nữa. Dầu
người nào có lịch lãm trên chiến trường hay thương trường, kịch trường đi
chăng nữa, đến một ngày nào đó cũng phải gác kiếm từ quan thôi. Cái tài
thao lược nó có giới hạn của tuổi tác. Còn cái tâm nó lại thay đổi qua rất
nhiều giai đoạn của cuộc đời, ngay cả trước hoặc sau khi sinh ra. Do vậy
mà hãy lo tu sửa cái tâm nầy.
Nguyễn Công Trứ, một vị tướng,
một nhà thơ lớn của Việt Nam sau khi thể nghiệm cuộc đời, ông ta đã đưa ra
được những tư tưởng sống như sau:
Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc
Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn
Nghĩa là:
Biết đủ, đợi đủ, chờ đủ sẽ không bao giờ
đủ
Biết nhàn, đợi nhàn, chờ nhàn sẽ không bao
giờ nhàn.
Đây là tư tưởng của Nho giáo đã
ảnh hưởng vào tâm trạng của sĩ phu cũng như nhân dân Việt Nam trong cuộc
sống hằng ngày. Người nào biết đủ tức biết sống. Vì cái mong cầu không bao
giờ có cái cuối cùng. Tư tưởng nầy của Nho gia cũng tương hợp với Phật
Giáo. Do vậy mà Đạo Phật khi được truyền vào Việt Nam đã được dân tộc Việt
Nam chấp nhận một cách dễ dàng. Nhìn về các xứ có đời sống vật chất tân
tiến như Âu Châu và Mỹ Châu, từ đó chúng ta cũng có thể nhìn qua tận các
xứ nghèo nàn của Phi Châu hoặc một phần đất của Á Châu. So sánh giữa người
nghèo và người giàu cách sống và nhân cách của con người ở những nơi ấy ra
sao?
Tại Mỹ Châu và Âu Châu người ta
có một cuộc sống đầy đủ về vật chất, nếu không nói là dư thừa; nhưng con
người có hài lòng với hiện tại không? Mọi người đều đi tìm cái gì lợi ích
hơn, sung sướng hơn, giàu có hơn, tiện nghi hơn v.v... nhưng tất cả cũng
chỉ để cung phụng cho tấm thân tứ đại giả hợp nầy mà thôi. Trong khi đó
thì tâm hồn họ hầu như rỗng toát. Niềm tin về Tôn Giáo bấp bênh, tâm trí
bị rối loạn; nhiều cuộc tự sát đã xảy ra, luân lý đạo đức, học đường bị
suy đồi một cách trầm trọng. Đó là cái giá trị phải trả, khi con người
phải sống theo đà sống văn minh của vật chất.
Nhìn về các dân tộc đói khổ khác
của Phi Châu hoặc một vài nước tại Á Châu, chúng ta thấy họ khổ sở về vật
chất đó; nhưng lúc nào trên môi của họ cũng nở một nụ cười khoan dung, độ
lượng; trong khi đó tại Âu Mỹ tìm những nụ cười như thế rất là hiếm. Mặc
dầu họ nghèo về vật chất; nhưng nội tâm của họ rất phong phú. Vì trong họ
còn chứa cái gì đó có tính cách uyên nguyên thuộc về đất trời vạn hữu.
Người Việt Nam cũng khổ đau
không thua gì các dân tộc trên thế giới. Suốt gần một thế kỷ thứ 20 nầy,
người Việt Nam đã bị chết bởi chiến tranh chừng 11.000.000 người, đồng
thời cũng sanh ra gấp 3 hay 4 lần thư thế. Cái khổ về vật chất và cả tinh
thần lại tăng lên nhiều lần hơn nữa; nhưng người Việt Nam cũng phải biết
quên đi quá khứ mà sống. Nếu cứ níu kéo lại quá khứ, chẳng khác nào đi tìm
một vật, biết rằng không thể nào tìm được; nhưng vẫn đi tìm. Đó là điều vô
nghĩa vậy.
Trong nhân gian Việt Nam cũng có
một quan niệm sống rất đơn giản là: Ở hiền, gặp lành. Cũng chỉ 4 chữ như
"Sống gởi Thác về" như bên trên đã trình bày; nhưng đây là một triết lý
sống của dân tộc. Vì nếu trong đời trước hoặc đời nầy ăn ở hiền lành phước
đức, thì chính đời nầy hoặc đời sau sẽ gặt hái được những thành quả tốt
đẹp về mọi mặt trong cuộc sống. Điều nầy nó cũng ứng hợp với câu: Thiện
hữu thiện báo, Ác hữu ác báo, trong kinh điển của nhà Phật. Nghĩa là làm
việc lành sẽ được quả báo tốt và làm việc ác sẽ bị quả báo xấu.
Người Việt Nam và có lẽ mọi
người trên thế giới cũng đều hiểu như thế; nhưng thực hành đúng theo lời
dạy đạo đức nầy mỗi dân tộc lại có cách làm khác nhau. Có người vì vô minh
che khuất mà hành động một cách mù quáng để thủ lợi về mình. Có người vì
áp lực phe nhóm mà phải làm những điều trái với lương tâm đạo đức; nhưng
tất cả đều không qua chữ nghiệp và lòng ham muốn của con người không biết
dùng đúng chỗ. Cũng may là thế gian nầy còn có học đường, còn có tôn giáo,
còn có luật pháp. Nếu không, có lẽ thế giới nầy sẽ đi vào một cơn đại nạn
biến thiên của lịch sử ghê gớm lắm, chưa từng thấy xảy ra.
Nhìn về quá khứ, con người sống
nơi rừng sâu núi thẳm. Tuy vật chất không phát triển khả quan như ngày hôm
nay; nhưng tâm hồn ai ai cũng thảnh thơi trong sáng, sống hòa hợp với
thiên nhiên. Còn bây giờ cuộc sống ở thị thành quá đầy đủ tiện nghi; nhưng
nhìn qua nhìn lại mỗi người đều sống trên một hải đảo cô đơn xa lạ, mặc
dầu là vợ chồng, con cái sống trong một gia đình với nhau. Họ gần nhau
trong gang tấc; nhưng tâm thức thì xa nhau trong muôn vạn dặm.
Trong bất cứ ngôi chùa nào của
Việt Nam cũng đều có thờ ông Thiện và ông Ác. Ông Thiện có trách nhiệm phò
hộ, giúp đỡ cho những người sống ngay thẳng trung trực. Ông Ác sẽ trừng
trị những người sống ngoài vòng pháp luật và đạo đức. Khi mà nền văn minh
nhân bản của nhân loại chưa đạt đến những sự tinh tế của luật pháp như
ngày hôm nay, thì tư tưởng thưởng phạt của các Tôn Giáo cũng là một cán
cân công lý để nghiêm trị những người không đi đúng theo con đường đạo
đức.
Người Việt Nam sống một đại gia
đình, nhiều khi gồm cả 5 đời cùng cư ngụ dưới một mái nhà; nên gọi là ngũ
đại đồng đường. Đó là ông bà cố, ông bà nội, cha mẹ, con cái và cháu chắt.
Sống như thế thể hiện được một tinh thần cộng hữu và dễ cảm thông nhau
hơn. Chia sẻ những khó khăn khi một thành viên trong gia đình gặp phải. Ví
dụ như khi đau ốm hay bận việc.
Xã hội Á Châu, nhất là xã hội
Việt Nam tất cả đều sống về nông nghiệp; nên ruộng đồng là chính. Họ tự
canh tác bằng sức lao động của họ để sống, để nuôi bản thân và gia đình.
Có thể họ xem gia đình họ là một quốc gia thu hẹp. Nơi ấy không có tiền
trợ cấp xã hội khi bị thất nghiệp hoặc tiền trợ cấp thuốc men; nhưng chính
con cái của họ là một nguồn tài trợ rất dồi dào. Họ quan niệm rằng: Cha mẹ
có công sinh ta ra, khi lớn lên người con ấy phải có bổn phận đi làm lụng
và phụng dưỡng cha mẹ cho đến khi già khi chết và rất ít người con nào ở
Việt Nam mà không lo phụng dưỡng cha mẹ. Thỉnh thoảng cũng có một số người
con bất hiếu; nhưng rất hiếm thấy.
Trong khi đó các xã hội Âu Mỹ
thì ngược lại. Ai cũng muốn sống riêng lẽ một nhà, một mình, một xe v.v...
tất cả đều thuộc về chủ quyền riêng, ngay cả tiền bạc của vợ chồng. Con
cái nuôi lớn lên đến 18 tuổi thì ra ở riêng. Tất cả đều trông chờ và xã
hội. Nếu đứa trẻ ấy biết lập thân, sẽ thành người. Nếu không, sẽ bị hư đốn
và là một gánh nặng của xã hội. Đó là gánh nặng đạo đức bị băng hoại.
Các nhà tâm lý học ngày nay cũng
xác nhận rằng một đứa trẻ bú sữa mẹ và một đứa trẻ bú sữa bò, khi lớn lên,
tình cảm của 2 đứa trẻ nầy đối xử với mẹ rất khác nhau. Vì cái tình thương
và nhân cách sống của mẹ chúng, ảnh hưởng lên chúng rất nhiều. Nói như thế
không có nghĩa là chuộng cũ bỏ mới, mà nói ra để rút một bài học kinh
nghiệm trong sự sống hằng ngày.
Nhưng đó là xã hội nông nghiệp
ngày xưa, nếu trong tương lai xã hội Việt Nam phát triển về công nghiệp và
đời sống nông thôn không còn coi trọng nữa, thì cái luân lý đạo đức ấy
cũng chẳng khác gì các xã hội Tây Phương trong hiện tại.
Nhìn chung giữa 2 quan điểm Đông
và Tây. Ở phía nào cũng có cái tích cực và tiêu cực của nó; nhưng nếu nhìn
dưới nhãn quan của Phật Giáo có lẽ dễ kết luận hơn. Nghĩa là dầu sống dưới
bất cứ chế độ nào, hoàn cảnh nào, mà con người không biết đủ thì người đó
vẫn khổ như thường. Có thể cả 2 mặt, vật chất và ngay cả tinh thần. Ở đây
xin nêu ra một câu chuyện cổ nhân gian Việt Nam có liên quan đến mọi vấn
đề trong cuộc sống cũng như nhân quả của Phật Giáo để người đọc có một cái
nhìn cụ thể hơn.
Chuyện kể rằng:
"Có một gia đình nọ có 2 người
con trai, khi cha mẹ sắp qua đời, cha mẹ kêu 2 người con đến để chia của;
nhưng người anh ỷ thế mình lớn nên lấn hiếp em và giành phần lớn ruộng đất
về minh, chỉ chia cho em mình một thửa đất nhỏ trên đó có một cây khế rất
sai trái.
Vợ chồng người anh đã giàu có
nhờ ruộng đất của cha mẹ để lại mà còn sanh tánh tham lam bỏn xẻn; nên
chẳng bao lâu gia đình người anh lại còn có tiền của nhiều hơn. Trong khi
đó người em an phận sống với thửa vườn của mình. Bỗng một hôm có một bầy
quạ từ đâu bay đến đậu trên cây khế, vừa ăn khế vừa nói rằng: "Ăn khế trả
vàng, may túi ba gang, đựng vàng ăn không hết". Vợ chồng người em mới lấy
làm lạ và hỏi lại chúng kỹ càng hơn. Chúng bảo rằng ngày mai hãy mang đến
đây một túi nhỏ và cùng đi với chúng. Chàng đúng hẹn, ngày mai tới ruộng
thì lũ quạ cũng bay đến. Chúng khênh chàng lên, từ từ bay vào không trung
với túi đựng vàng. Chúng mang chàng đến đâu, chàng thấy mới lạ đến đó.
Bỗng chúng từ từ đáp xuống một hòn núi, nơi đó chỉ thấy toàn là vàng bạc
và kim cương, chàng tha hồ chọn lựa. Sau khi lượm đủ một túi 3 gang tay,
lũ quạ lại mang chàng về lại quê hương cũ.
Từ ngày ấy chàng ăn nên làm ra
và giàu có hơn cả vợ chồng anh của mình gấp bội. Một hôm chị dâu của chàng
sang nhà chàng thăm chơi, mới thấy làm lạ, tại sao cậu em chồng giàu có
đến thế, có phải ăn cắp của gia đình mình chăng? hay cậu ta trúng số? Đó
là những câu hỏi được nghi vấn bởi chị dâu của chàng. Nhưng sau khi hỏi kỹ
càng người chị dâu mới biết được rằng, người em chồng giàu là nhờ cây khế
và lũ quạ. Thế là người chị dâu về bàn với chồng mình nên đến cây khế quan
sát và làm y hệt như người em, biết đâu lại có cơ hội để giàu hơn em mình.
Vợ chồng người anh lắng nghe bầy quạ nói: "Ăn khế trả vàng, may túi ba
gang đựng vàng, ăn không hết". Khi nghe vậy, người vợ nổi tâm tham bàn với
chồng, túi chỉ 3 gang đựng sao được nhiều vàng; chúng ta nên may gấp đôi
để lấy cho được nhiều.
Thế rồi bầy quạ cũng khênh ông
anh của chàng đi, trải qua các núi đồi trùng điệp, cuối cùng cũng đến một
núi nọ. Nơi ấy toàn là vàng bạc và kim cương. Sau khi lượm xong những của
quý nầy vào túi 6 gang, chàng còn tìm cách nhận đầy mình đầy túi những vật
quý giá nầy. Lũ quạ cũng bu lại để khênh chàng về lại quê xưa; nhưng vì lẽ
vàng đã quá tải, khiêng đến nửa đường chúng không đủ sức nữa nên đành thả
rơi chàng xuống đất. Thế là chàng đã chết và của cải lại có người khác đến
đánh cắp. Ở nhà vợ chàng chờ chồng mãi cũng ra héo mòn, một ngày nọ vợ
chàng cũng đã ra người thiên cổ. Trong khi đó gia đình người em sống một
cuộc sống hạnh phúc bên người vợ của mình cũng như gia tài sự nghiệp phong
phú ấy".
Đây là một câu chuyện cổ tích
nhân gian Việt Nam nhưng nó đượm màu sắc về Tôn Giáo, nhất là vấn đề nhân
quả. Có nghĩa là càng tham lam bao nhiêu thì càng gặt hái nhiều khổ đau
bấy nhiêu. Càng an phận bao nhiêu thì cuộc sống càng được an lạc bấy
nhiêu. Không tham lam ích kỷ thì kết quả sẽ không khổ đau sầu muộn. Nếu
không tự chế bớt sự ham muốn của mình thì kết quả lại rất phũ phàng.
Cũng có một số câu chuyện khác
liên quan đến vấn đề luân lý đạo đức, nhằm nhắc nhở con người như sau:
Sống làm vợ khắp người ta
Chết xuống âm phủ làm ma không
chồng"
Câu trên nói về nhân của sự
việc. Câu dưới nói về kết quả của sự việc. Khi còn sống, người đàn bà ấy
có một cuộc sống buông thả, lẳng lơ. Lúc làm vợ người nầy, lúc làm tình kẻ
khác, gây cho biết bao nhiêu khổ đau về sự trắc nết của mình; nhưng nào
đâu có hay biết. Đến khi chết, chắc chắn thần thức không được đi lên cõi
cao hơn rồi, mà phải đi xuống. Đi xuống ở đây để chỉ cảnh giới khổ đau hơn
cảnh giới của loài người và cốt yếu là để trả quả của đời trước, những gì
mà đương sự đã gây ra. Đó là việc không có chồng con hoặc người thân bên
cạnh. Đây là một hình phạt thuộc về nhân nào quả nấy ở trần gian hay ngay
cả nơi địa ngục và đây cũng là một bài học luân lý rất xứng đáng cho những
người đàn bà trắc nết.
Cũng có nhiều câu chuyện nghịch
lý trong cuộc sống; nhưng đó là sự thật trong bao nhiêu sự thật của cuộc
đời. Đó là việc: "Cứu vật, vật trả ơn. Cứu nhơn, nhơn trả oán". Có một câu
chuyện kể rằng:
"Một người học trò nghèo đi thi
không đậu, giữa đường gặp một ông Thầy tướng số. Ông ta bảo rằng: Tôi thấy
tướng cậu sẽ chết yểu, chắc sống không còn bao lâu nữa đâu. Người học trò
nghe vậy buồn lắm; nhưng cũng lửng thửng về nhà. Khi đi qua sông gặp một
bầy kiến đang bị trôi giữa dòng nước, chàng thư sinh thấy tội nghiệp, nên
vớt bầy kiến lên bờ. Đoạn trở về nhà trong vô tư và chờ ngày mãn số. Chàng
chờ đến 3 tháng sau, rồi 4 tháng, 5 tháng rồi 6 tháng; nhưng thần chết
cũng không đến gọi chàng đi. Chàng bèn trở lại chốn xưa gặp ông Thầy tướng
số cũ. Ông Thầy ấy cũng ngạc nhiên, không hiểu làm sao chàng có thể sống
mãi cho đến ngày nay. Sau đó chàng mới kể đầu đuôi ngọn ngành những việc
gì chàng ta đã làm trong thời gian mấy tháng trước đó. Đúng ra số chàng
phải chết; nhưng nhờ cứu thoát bầy kiến kia khỏi sự chết, mà mạng sống của
chàng lại được kéo dài thêm ra. Như vậy nhờ cứu vật , mà vật đã mang lại
sự sống cho mình. Trong khi cứu người mà không được phước, trái lạ