CHẾT TRONG AN
BÌNH
LOVING AND DYING
Tỳ Kheo Visuddhacara
Thích Tâm Quang dịch
PHẬT LỊCH 2548 – DƯƠNG LỊCH 2004

MỤC LỤC
LỜI TỰA
Tôi viết tác phẩm này nhằm chia
sẻ một số suy nghĩ về cái chết với bất cứ ai quan tâm muốn tìm hiểu về cái
chết. Suy nghĩ về cách chúng ta có thể trực diện với cái chết – bằng can
đảm và tính thanh thản, có phẩm cách.
Và nếu bạn muốn bằng một nụ cười. Suy nghĩ về cách
đương đầu với khổ đau, cách sống bằng trí tuệ
và lòng từ bi, hay bằng nhiều thứ về
điều đó mà chúng ta có thể tập trung
được cho đến khi chúng ta chết.
Nhưng thường thường người ta
không thích nói về cái chết. Bất cứ lúc nào vấn
đề này
được đề cập, người tạ bắt đầu cảm thấy khó chịu. Ðặc biệt
được coi là cấm kỵ không
được nói đến vào những dịp tốt lành
như sinh nhật hay Năm Mới. Làm như
đề cập đến từ chết vào những dịp tốt
lành có thể gây tai hại và mang lai vận rủi hay chết sớm! Ðương nhiên, tôi
không đồng ý với những ý tưởng như thế. Với
tôi, điều đó chỉ là dị đoan. Tôi có
thể hiểu dù cho người ta coi vấn đề về
cái chết trong những dịp tốt lành là không ý nhị. Nhưng tôi cho
rằng nghẫm nghĩ về cái chết và cả đến những
dịp như sinh nhật và Năm Mới là
tốt và đúng, có lẽ nên suy ngẫm nhiều
hơn nữa vào những dịp như vậy. Tại sao? Bởi vì chúng ta có thể xét thấy
chúng ta không phải ngày một trẻ lại mà ngày một già
đi và cứ mỗi năm
trôi qua mang chúng ta đến gần nhà mồ. Trong suy ngẫm như thế,
chúng ta có thể đánh giá lại đời sống mình,
thẩm xét lại vị trí của mình và xem xét liệu chúng ta có
đi đúng hướng hay không - hướng của trí tuệ và
từ bi.
Là một nhà sư, tôi thường trầm
tư (thiền) về cái chết. Việc này nhắc nhở tôi sống một cuộc
đời có ý nghĩa hơn, không uổng phí ngày
giờ vô ích dù tôi phải thú nhận tôi vẫn còn thỉnh thoảng lãng phí thì giờ
quý báu; vì như quý vị biết cái tâm đôi khi
rất bướng bỉnh và lười biếng. Tuy nhiên bởi suy ngẫm thường xuyên
về cái chết, tôi luôn nhớ rằng tôi phải tìm ra nhiều thì giờ hành thiền
tuệ giác hơn nữa để tôi có thể thanh lọc tâm
ra khỏi những ô nhiễm của tham sân và si.
Ðức Phật khuyên chúng ta nên
thường xuyên suy ngẫm về cái chết, hàng ngày hay vào bất cứ lúc nào. Nó sẽ
khơi dậy trong chúng ta sự tỉnh thức – ý thức cấp bách
để phấn đấu tích cực hơn nữa nhằm loại bỏ khổ
đau do tâm ô nhiễm và bị lừa dối mang lại. Tôi thích nói về cái
chết. Ðó là đề tài sở thích của tôi.
Phải chăng tôi bệnh hoạn? Cũng được đi - Cứ
tiếp tục. Bạn có thể nói tôi bệnh hoạn và gì
đi nữa tùy bạn. Không sao cả. Tôi
không bận tâm. Người ta, có nghĩa không chỉ có tôi mà cả bạn nữa, phải
thừa nhận nhân quyền căn bản được bầy tỏ quan
điểm và cảm nghĩ miễn là bầy tỏ như vậy một cách chính
đáng, đồng cảm, không bị áp đặt và bất
bạo động. Không ai có thể giận dữ với một
người vì việc bầy tỏ bằng cách thức như vậy, dù không may là
đôi khi chúng ta quên và trở nên nóng
nảy. Nhưng trở lại với đề tài này, tôi
luôn cân nhắc, tôi luôn băn khoăn và
vẫn đang băn khoăn: Tại sao chúng
ta sống? Tại sao chúng ta chết? Tất cả cái đó
là gì? Cái đó để làm gì? Cho
mục đích gì? Vì cứu cánh gì?
Chắc chắn nhiều câu trả lời
đã được
đề nghị. Tôi chắc chắn có nhiều người rất vui vẻ cho tôi những câu trả lời
về những câu hỏi này từ khi con người biết suy nghĩ và cân nhắc.
Nhưng tôi không thể nói là tôi đã thỏa
mãn với tất cả những câu trả lời được đưa ra.
Tôi vẫn còn đang tìm kiếm.
Trong những ngày này tôi đã trở thành
một nhà sư Phật Giáo và hành thiền. Tôi nguyện giữ năm
giới không giết hay làm hại, không trộm cắp hay lừa
đảo, không phạm tội gian dâm như ngoại tình,
không nói dối và không dùng rượu hay ma túy. Thêm nữa là một nhà sư, tôi
phải tuân thủ cuộc sống độc thân và
những giới khác của một nhà sư.
Tôi không thể nói cho
đến nay tôi đã tìm thấy tất cả những
câu trả lời đối với những câu hỏi của tôi,
nhưng tôi đã tìm thấy sự an ủi, sự thoải mái nào
đó trong giáo hệ của Ðức Phật. Tôi có
thể nói hiểu lời dạy của Ðức Phật về chánh niệm và từ bi. Và tôi vẫn
thiền. Có lẽ tôi có thể tìm thấy tất cả câu trả lời vào một ngày nào
đó. Sẽ rất tốt đẹp nếu tôi có thể. Nhưng nếu
tôi không làm được, thì cũng
không sao. Những vấn đề nào mà tôi
đã thử thách. Tôi sẽ rất sung sướng dù
cho tôi phải thử chết. Vì dẫu sao thì tôi cũng
đã thử. Bằng cách
đó đời sống của tôi vẫn còn có ý
nghĩa, ít nhất là ở mức độ nào
đó. Và
đương nhiên theo đường lối này,
tôi sẽ cố gắng truyền bá càng nhiều càng tốt sự vui vẻ và hạnh phúc theo
khuynh hướng và khả năng của tôi.
Tôi
đã cố gắng viết cuốn sách này
để chia sẻ sự hiểu biết giới hạn của tôi về
cuộc sống và cái chết. Tôi cảm thấy chúng ta cần thảo luận vấn
đề cái chết một cách thẳng thắn. Chúng ta
không nên sợ đưa đề tài này ra.
Nếu không, làm sao chúng ta có
thảo luận và học hỏi được? Khi chúng ta có
thể thảo luận công khai, học hỏi và hiểu biết,
điều đó rất tốt vì chúng ta có thể
đi đến chấp nhận cái chết. Chúng ta có thể
biết cách đối phó với nó tốt hơn. Ðiều này rất quan trọng; vì lý do
đơn giản là tất cả chúng ta
đều phải chết. Không ai có thể thoát khỏi. Và
nếu chúng ta không thể hiểu cái chết ngay bây giờ, làm sao chúng ta có thể
hiểu vấn đề đó khi chúng ta nằm trên
giường lúc lâm chung, vào lúc sắp thở hơi cuối cùng? Phải chăng
chúng ta thể vượt qua được sợ hãi và bối rối? Cho nên tốt hơn là
chúng ta học hỏi tất cả về cái chết ngay từ giờ. Chắc chắn
điều đó sẽ rất có ích cho chúng ta. Vậy chúng
ta không cần sợ hãi nữa. Chúng ta sẽ có lòng tin, và khi cái chết
đến chúng ta có thể ra đi với nụ cười. Chúng
ta có thể nói: "Tử Thần, cứ làm
điều xấu nhất đi. Ta biết mi rồi và ta có thể mỉm cười".
Tôi
đã viết tác phẩm này một cách thẳng
thắn và hấp dẫn theo khả năng. Tôi đã
cố gắng để nó không quá học thuật hay cứng
nhắc. Tôi chỉ muốn quý bạn vui vẻ đọc cuốn sách này, khúc khích
cười những phần có thể đáng cười và có
thể học được một hay hai sự việc có thể giúp
ích cho bạn trong cuộc sống, tình thương và chết chóc. Ngoài ra tôi
không viết thiên về tư cách một tu sĩ với một người không chuyên môn mà là
cách nói của con người với con người. Cho nên tôi
đã viết hoàn toàn tự do vói mục
đích truyền cảm, đi vào lòng người.
Mặc dầu tôi không thể nói tôi đã thành
công hay thất bại đến đâu! Chỉ quý bạn sẽ là
sự phán xét tốt nhất về điều đó.
Vì tôi là một nhà tu Phật Giáo,
độc giả sẽ thấy nội dung có nhiều chuẩn tắc
đạo đức và khái niệm Phật Giáo. Ðương nhiên, một số giá trị như
tình thương và từ bi là phổ biến. Chúng không thuộc về một tôn giáo nào cả
mà thuộc về tất cả. Tất cả các tôn giáo đều
dạy tình thương và từ bi. Chúng đều là
những tôn giáo tốt. Nhưng chính chúng ta những tín
đồ lại không tuân theo. Cho nên chúng
ta giết, làm thương tổn, và gây tác hại dưới danh nghĩa tôn giáo. Ai là
người đáng trách ngoài chúng ta ra!
Không phải tôn giáo hay những khai sáng ra tôn giáo bao giờ cũng thuyết
giảng tình thương, trí tuệ, và lòng khoan dung, tha thứ và từ bi sao. Nếu
chúng ta có thể tỉnh thức trước sự ngu si của chúng ta thì chúng ta có thể
thương yêu thật tình. Chúng ta có thể sống như anh chị em với
độ lượng, kiên tâm và thông cảm, với
tình thương và từ bi.
Tôi viết tác phẩm này chủ yếu
là cho Phật tử. Nhưng những người không phải là Phật tử có thể
đọc và tìm thấy một số lợi ích, một số
lãnh vực đồng thuận, đánh giá đúng và
hiểu biết chung. Tối thiểu, họ cũng biết đến
quan điểm của Phật Giáo, cách giải quyết vấn đề và trí tuệ của Phật
Giáo. Ðiều bổ ích là biết quan điểm của nhau,
nó dẫn đến độ lượng hơn, thông cảm hơn và
đánh giá đúng cách giải quyết và niềm
tin của người khác. Về phần tôi, tôi không có một chút ý thích nào nhằm
đổi đạo của người khác. Việc đó phải thật rõ
ràng. Hãy để cho mọi người thực hành
tôn giáo của riêng họ và hãy để cho họ rèn
tập tốt tôn giáo của họ, như người trúng giải thưởng Hòa Binh Nobel, Ngài
Ðạt Lai Lạt Ma đã nói từ bi rốt cuộc
là cốt lõi của tất cả tôn giáo.
Tôi
đã cố gắng chia sẻ sự hiểu biết của
tôi trong khả năng tốt nhất của tôi. Nhưng
tôi chắc chắn sẽ có một số khuyết điểm ở chỗ này chỗ kia. Hay ở một
số lãnh vực có thể có những khác biệt trong việc giải thích hay hiểu biết.
Rất có thể bạn không thích hay không đồng ý
với một số sự việc tôi nói. Hay bạn có thể không thích cách tôi diễn đạt.
Bạn có thể nghĩ điều đó không thích hợp, khiếm nhã, vô tình, ủy mị,
khó chịu, méo mó, vô lý, hay gì đi nữa. Cũng
được đi. Ðiều này là tự nhiên. Chỉ cần có hai người là sẽ có những
bất đồng ý kiến. Bạn chỉ cần không chấp thuận
những điều bạn không đồng ý, bác bỏ chúng ấy là nói vậy. Bạn không
cần phải chấp nhận mọi điều tôi nói. Tại sao
bạn phải chấp nhận? Ðương nhiên bạn có một tâm tốt của mình, và bạn
có thể nghĩ và quyết định cho chính bạn.
Chúng ta có thể đồng ý hay không đồng ý mà không bối rối hay giận
dữ. Chúng ta có thể đồng ý hay không đồng ý mà
vẫn giữ được tình bằng hữu. Phải chăng
chúng ta không thể? Ðó là việc tuyệt vời nhất, cái tinh hoa của sự
trưởng thành tinh thần. Vì mỗi người chúng ta quyết
định một cách thành thực và ngay thẳng
cho chính chúng ta những điều chúng có thể
hiểu và những điều chúng ta không thể
hiểu. Chúng ta không cần phải tin mọi thứ hay bất cứ thứ gì.
Chính Ðức Phật
đã nói tốt hơn là phải xem xét cẩn
thận, điều tra nghiên cứu và kiểm tra
cho chính chúng ta trước khi chấp nhận một
điều gì. Ngay cả đến những lời của
Ðức Phật cũng phải được kiểm tra kỹ
lưỡng. Rốt cuộc, Ðức Phật không ngoại trừ
điều nào cả. Ngài không bao giờ tin
trong niềm tin mù quáng. Ngài không bao giờ bảo chúng ta chỉ tin vào
điều Ngài nói hay chỉ bác bỏ
điều người khác nói. Mà Ngài bảo chúng
ta hãy điều tra nghiên cứu, thực hành
và minh định cho chính chúng ta. Nếu chúng ta
thấy điều gì tốt, điều ấy là
điều thiện, lành mạnh dẫn
đến loại bỏ tham sân si, thì chúng ta
chấp nhận. Nếu không, chúng ta bác bỏ. Ðó là một lời khuyên tuyệt hảo. Cho
nên lấy ý của Ðức Phật, tôi bao giờ cũng thích nói: Không tin vào
điều gì cả. Nhưng hãy suy nghĩ, thực
hành và minh định cho chính mình. Với
tôi đó là cách giải quyết tốt nhất và
an toàn nhất. Nhưng về bất cứ lỗi lầm nào trong phần trước tác cuốn sách
này, tôi xin lỗi và xin được tha thứ.
Nguyện cầu tất cả chúng sinh
đều hạnh phúc. Chúc cho chúng ta tìm
được trí tuệ và hạnh phúc mà chúng ta
đang tìm kiếm theo con
đường riêng của từng người; và vui
đọc sách!
XIN CHÀO TỬ THẦN,
CHÀO TỪ BIỆT CÕI ÐỜI
Một ngày nào
đó khi tôi chết, vì tôi phải chết, tôi
muốn chết với một nụ cười trên môi. Tôi muốn ra
đi bình thản, muốn chào tử thần như
một người bạn, có thể nói vui vẻ: "Xin chào Tử Thần, Chào Từ Biệt Cõi
Ðời".
Tôi có thể tưởng tương chính
tôi có một cuộc đối thoại với tử thần. Có lẽ
có thể như thế này: "Chào Thần Chết! Mi có khỏe không? Ta
đã chờ
đơi ngươi từ lâu. Suốt đời ta mong mỏi ngươi đấy. Phải chăng rốt cuộc
ngươi đang đến với ta? Ðã đến giờ ta
phải ra đi rồi phải không?
"Ðúng,
đúng, Tử Thần! Ta đang đến đây. Hãy
kiên nhẫn. Ta đã sẵn sàng. Ngươi không
biết ta là gì? Từ lâu ta đã dự tính
chào ngươi bằng một nụ cười. Phải, Tử Thần à, ta hiểu. Ngươi không phải
xin lỗi. Ta biết ngươi có việc phải làm. Ta không có gì chống lại ngươi
cả. Không có cảm nghĩ khó chịu. Không có gì là riêng tư, ta hiểu.
"Như ta
đã nói, Tử Thần à, suốt
đời ta mong đợi lúc này. Ðể xem liệu
ta có thể gặp ngươi với một nụ cười không. Ít ra cũng
để xem liệu ta có hứng trong cái chết không,
nếu không có hứng ở trong cõi đời. Bây
giờ ngươi đang cho ta cơ hội này và ta cảm ơn ngươi về
điều đó.
"Phải, ta
đã nghe rất nhiều về ngươi. Ngươi
không đợi ai. Ngươi đến như một tên
trộm ban đêm. Ngươi không mặc cả với
một ai. Ngươi không chấp nhận câu trả lời "không".
Tử thần,
được rồi. Ta sẽ đến với ngươi một cách vui
vẻ. Ta đã mệt rồi. Tấm thân này như một cái vỏ vỡ. Nó
đã rệu rã. Nó
đã sống lâu hơn thời gian nó
được sử dụng. Như ngươi thấy, ta đã
sẵn sàng kề cái chết. Và ta đã chịu
đựng tất cả sự đau đớn này, cố gắng
mỉm cười với tất cả khách đến mời gọi ta. Tử
thần, nói thật với ngươi, lẽ ra ngươi phải đến sớm hơn. Xét cho cùng
sự đau đớn này, ngươi là khoảng thời
gian thoải mái như của trời cho. Nhưng nói đủ
rồi. Tử Thần, không lần lữa nữa. Nào lên
đường. Hãy cầm tay ta."
Và ta phải
đi như ta thường mơ ước với nụ cười trên
môi. Cách chết đẹp đẽ biết là nhường
nào! Tất cả những người xúm quanh tôi không cần phải khóc. Họ vui vẻ vì
thấy tôi đang mỉm cười. Họ sẽ biết tôi được
lắm chứ. Cái chết chẳng là cái gì mà phải sợ hãi. Hãy
đối xử với cái chết như một người bạn. Hãy
sẵn sàng nói lời chào tử thần và chào từ biệt cõi
đời.
Ðương nhiên không ai
được miễn trừ trước cái chết. Tất cả chúng ta
phải chết. Như Ðức Phật đã nói:
Ðời sống mong manh và cái chết là điều
chắc chắn. Trong khi chúng ta sống chúng ta
đau khổ khi chia lìa xẩy tới với cái
chết của một người thân. Cả hai ông bà tôi
đều đã chết. Tôi không nhớ ông nội tôi. Ông chết lúc tôi còn rất
trẻ. Nhưng tôi nhớ bà nội tôi. Bà rất ân cần với tôi. Bà cũng rất nghèo
khổ. Bà thích sống ở miền quê trong khi cha mẹ tôi lại sống ở thành thị.
Tôi nhớ một lần bà đến thăm chúng tôi, tôi
xin bà năm xu. Lập tức bà lấy
ngay ví tìm ra năm xu và
đưa cho tôi. Vào thời
đó có thể mua đồ với năm xu:Bạn có thể mua
được một cục nước đá hay một ly nước đá với năm xu. Nếu bạn muốn uống nước
dừa do người da đỏ bán bạn có thể mua được hai ly nước dừa với năm xu! Và
với năm xu bạn có thể mua được năm cái kẹo.
Cha tôi chết lúc tôi mười tuổi.
Tôi nhớ có đến thăm cha tôi lần cuối vào
một đêm tại Bệnh Viện Ða Khoa, Cha tôi
nằm chết tại đấy vì bệnh lao và các
biến chứng khác. Tôi nhớ mẹ tôi nói với cha tôi: "Này Beh,
đây là con Johnny
đến thăm" Cha tôi không nói
được. Ông thở qua ống dưỡng khí ở mũi. Ông
dường như nhìn tôi một cách yếu ớt. Tôi còn nhỏ. Tôi không biết gì
về cái chết, nhưng bây giờ tôi biết khá hơn. Bà mẹ tội nghiệp của tôi
đau khổ. Bà
đã chứng kiến quá nhiều cái chết và
đã có một
đời sống cực kỳ khó khăn từ hồi còn trẻ. Chắc chắn,
đời sống không phải là thảm hoa hồng
với bà.
Một trong những người anh em
tôi chết khi còn nhỏ. Một người anh em khác chết lúc 23 tuổi cùng với vị
hôn thê. Ðó là một thảm kịch. Hai người bị chết
đuối. Tôi vẫn còn nhớ nhìn thấy xác
của họ tại nhà quàn. Mẹ tôi than khóc lòng
đau xót. Thật là đau đớn cho bà
vì mất một đứa con trai thân yêu một
cách bi thảm như vậy. Tôi hoàn toàn choáng váng và không biết làm gì
để hiểu được điều này. Lúc
đó tôi đã 16 tuổi. Tôi cố gắng ra vẻ
thờ ơ, vô tình. Tôi gắng cầm nước mắt. Tôi nói và xử sự như không có gì
xẩy ra và như thể cái chết với tôi là chuyện hàng ngày, không cần phải sầu
thảm. Tôi coi điều đó là không quan
trọng và cố tỏ ra vẻ lạnh lùng.
Nhưng lúc một mình, tôi khóc.
Tôi khóc một cách đắng cay. Sau lễ mai táng
tôi quay trở lại nghĩa địa. Tôi đi vòng vòng trong nghĩa
địa đầu nặng trĩu. Tôi đào
đất và trồng hoa chung quanh mộ của
anh tôi và mộ người yêu dấu của anh. Tôi khắc vào cây thánh giá bằng gỗ
những chữ sau: "Không tình yêu vĩ đại nào
bằng tình yêu của một người đã chịu hy
sinh thân mình vì bạn", vì anh tôi đã
chết trong khi cố gắng cứu người vợ chưa cưới. Và tôi nói với Thượng Ðế
.Tôi hỏi Ngài: "Hỡi Ðức Chúa Trời, Sao Ngài cư xử với tôi thế này? Tại sao
Ngài bắt anh tôi? Phải chăng đó là ý
muốn hay lòng khát khao của Ngài? Nếu thế, xin
để ý muốn của Ngài
được thực hiện. Tôi chấp nhận việc đó".
Vì các bạn thấy lúc đó tôi là một
người Cơ Ðốc Giáo tốt. Và ý muốn của Thượng Ðế phải
đi trước tất cả mọi việc khác. Không được
nghi hoặc. Nhưng bây giờ tôi là một Phật tử, tôi tin là tôi hiểu
hơn một chút. Phải, không có Thượng Ðế nào bắt anh tôi. Nếu chúng ta chấp
nhận sự sống, chúng ta phải chấp nhận cái chết. Chết là phần thiết yếu của
sự sống. Như Ðức Phật đã nói, chính vô
minh đã làm cho vạn vật trong vòng khổ
đau, và chúng ta cứ trôi lăn
hết kiếp này đến kiếp khác theo những
hành vi của chúng ta. Thiện mang điều
lành và ác mang điều xấu. Tôi phải thú
thật rằng tôi có thể hiểu rõ hơn với cách Ðức Phật nhìn vào mọi sự.
Sau này trong cuộc sống tôi
chứng kiến nhiều cái chết hơn. Là một nhà báo, tôi
đã nhìn thấy xác những người chết vì
tai nạn, băng đảng đánh nhau, tự tử, độc dược
vân vân... Tôi đã viết những chuyện bi kịch, cảm xúc hay bi thảm về
người ta chết ra sao. Có một người hôn đứa
con gái nhỏ từ biệt rồi tự bắn vào đầu
mình. Có một cặp trai gái thỏa thuận cùng nhau tự tử trên giường
của một khách sạn. Người con gái chết vì thuốc
độc họ mang theo, người con trai thoát chết.
Và có tên cướp khét tiếng bị bắn chết bởi Cảnh Sát vào Ngày Tết.
Tên cướp này bị theo dõi nên đã không
thể sống để nhìn thấy hết ngày
đầu năm mới. Nhưng đối với tôi đó chỉ là
một câu chuyện nữa. Tôi chưa bao giờ nghĩ sâu xa về cái chết. Tôi hoàn
toàn bị tê liệt bởi nó. Tất cả tôi muốn là câu chuyện hay
được đặt trên trang nhất của tờ báo.
Hầu như không có cảm nghĩ hay tình thương trong tôi
đối với những nạn nhân tội nghiệp. Tôi quả là
một người nhẫn tâm và ích kỷ chỉ chú trọng
đến phúc lợi của mình.
Mãi sau này, là một nhà sư, tôi
đã gặp những cái chết – vào lúc này
tôi thấy nhiều cảm nghĩ và từ bi hơn. Khi tôi thăm
người bệnh tôi thông cảm với họ. Tôi cố gắng hết mình
để an ủi họ. Với những người Phật Tử, tôi
tụng kinh, những bài kinh Phật. Tôi nói với họ câu Ðức Phật dạy:
Thân bệnh nhưng đừng để tâm bệnh.
Chúng ta có thể không làm được gì
nhiều cho thân nhưng chúng ta có thể làm được
gì đó cho tâm. Chúng ta có thể giữ tâm
bình tĩnh khi chúng ta đau yếu. Chúng
ta có thể chú tâm. Chúng ta có thể theo dõi sự tăng
giảm của đau đớn, nó đến và đi từng
đợt như thế nào. Chúng ta có thể hiểu biết bản chất của khổ
đau. Chúng ta có thể gặp nó và học hỏi
từ nó. Chính đó là một cuộc thử nghiệm
– làm sao chúng ta hiểu rõ bản chất của sự sống, làm sao chúng ta hiểu rõ
rằng không có cái ngã thường còn nơi đây mà
chỉ có sự thay đổi liên miên của sinh
và diệt, giống như dòng sông trôi chảy bất tận; làm sao chúng ta hiểu rõ
chính cái vô minh, tham ái, luyến chấp, giận hờn, sợ sệt vân vân của chúng
ta là nguyên nhân của khổ đau.
Bằng sự hiểu biết
đó chúng ta có thể đứng lên
đón nhận cái đau đớn. Chúng ta có thể coi
điều đó là việc bình thường. Chúng ta có thể giữ bình tĩnh và ôn
hòa. Thậm chí không một chút gì ngã lòng. Ðúng chúng ta có thể mỉm cười,
ngay cả lúc đau đớn. Chúng ta có thể nói:
"Này đau đớn, mi thật tình muốn
ta chết phải không? Người khác có thể gục ngã với mi nhưng với ta thì
không. Ta đã
được huấn luyện và sắt
đá với mi. Ðức Phật dạy ta nên
đáp lại mà không giận dữ hay ghét bỏ.
Cho nên ta cố gắng đáp lại mi không giận dữ
hay ghét bỏ. Ta hiểu rằng bằng chánh niệm và an lạc trong tâm ta,
ta có thể vượt lên mi. Ta có thể cười mi. Mi dạy ta
đời là khổ
đau. Nhưng mi cũng dạy rằng ta có thể vượt lên
mi." Và bạn có thể mỉm cười trước cơn đau.
Bạn sẽ cảm thấy khỏe hơn ngay lập tức.
Cuộc sống hầu như là bèo bọt
Chỉ có hai điều trân quý
Tử tế với người phiền muộn,
Can đảm tự trong lòng
Adam Gordon
HAI QUYẾT TÂM
Khi tôi viết những dòng này,
tôi nhớ lại mới hôm qua một nhà sư bạn tôi chết. Ông bị ung thư giai
đoạn cuối cùng
đã tám tháng. Khi tôi ở bên cạnh ông
tại bệnh viện một vài ngày trước khi ông chết, ông
đang ở trong cơn đau đớn. Tôi cố gắng đút cho
ông ăn một chút canh nhưng ông không ăn được. Ông trông rất hốc hác và
khủng khiếp. Ông hầu như không nói được. Bênh
ung thư đã tàn phá thân thể ông và
không phải là một nhiệm vụ dễ dàng để chịu
đựng cho tinh thần của ông. Tôi cố nài ông lưu ý quan sát cái
đau đớn như ông thường làm trong lúc
hành thiền, để càng giữ
được bình tĩnh và thanh thản càng tốt.
Ông là một người thiền định vững vàng
và tôi chắc chắn ông đã thiền về chính
phút cuối cùng này.
Tôi nhớ lại một dịp khác khi
tôi đến thăm một ông già khả ái bị
bênh bạch cầu. Ông cũng ở trong cơn đau đớn.
Ðau đớn hiện trên nét mặt ông.
Có những giọt mồ hôi trên trán và mặt ông. Tôi lấy cái khăn
và nhẹ nhàng lau mồ hôi cho ông. Tôi ghé vào tai ông thì thầm cố
gắng làm cho ông giảm đau. Ông này
cũng là người hành thiền và tôi lại nhắc nhở ông giữ chánh niệm quan sát
cái đau càng
điềm tĩnh càng tốt. Tôi cảm thấy vui
khi nhìn thấy vẻ đau đớn biến mất trên
mặt ông. Một lúc sau đó thân nhân đến và
tôi ra về. Một vài giờ sau, ông chết. Tôi vui vì
đã có thể giúp ông một chút trước khi
ông tắt thở.
Mặc dù có hạnh phúc trong cuộc
sống, nhưng vẫn có khổ đau. Hạnh phúc hình
như rất phù du – nó ra đi không đợi chờ chỉ
để rồi được thay thế bằng phiền muộn và bất mãn. Bởi vì sự sống kết
thúc bằng cái chết nên tự nó là một thảm kịch. Có người nói
đời sống giống như một củ hành: bạn
bóc nó làm chảy nước mắt. Ðức Phật nói sinh là khổ
đau vì sinh dẫn
đến suy tàn và chết. Chúng ta nên hiểu
rõ điều này. Nếu chúng ta chấp nhận sự
sống chúng ta phải chấp nhận cái chết. Nếu chúng ta muốn khóc khi người
nào đó chết thì chúng ta cũng nên khóc
vào lúc người ấy ra đời. Vào lúc
đứa trẻ sinh ra thì mầm mống của cái
chết đã ở trong nó. Nhưng chúng ta lại
mừng rỡ khi đứa trẻ được sinh ra. Chúng ta
cười và chúc mừng cha mẹ đứa trẻ. Nếu
chúng ta hiểu sinh – nó phải dẫn đến cái chết – thì khi cái chết
đến chúng ta có thể đối mặt với nó bằng một
nụ cười.
Nhìn con người chết trong
đau đớn ra sao, thân thể của họ bị suy sup vì
bệnh, và thấy tất cả đời sống phải kết liễu
bằng cái chết (sự việc đó đã làm cho tôi hiểu mỗi lần
đi đến nhà quàn
để tụng kinh), hai quyết tâm phát sinh trong
tâm tôi: Trước nhất, đến lúc tôi chết, tôi muôn chết với một nụ cười trên
môi. Tôi muốn tôi có thể giữù chánh niệm và
được thanh thản. Nói một cách khác tôi muốn giữ bình tĩnh. Tôi muốn
có thể vẫn mỉm cười dù cái đau đớn nó hành
hạ tôi đến thế nào
đi nũa. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với tất
cả khách khứa đến thăm viếng tôi. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với tất cả
các bác sĩ và y tá tốt bụng săn sóc
tôi. Tôi muốn tôi có thể mỉm cười với những bệnh nhân bạn tôi để giúp họ làm
bất cứ cách nào có thể ở bênh viện, hoặc để
truyền cảm hứng hoặc để an ủi.
Thay vì những bác sĩ và y tá
hỏi tôi có khỏe không, tôi muốn hỏi họ: "Bác sĩ có khỏe không? Chị có khỏe
không? Hôm nay quí vị thế nào? Quí vị biết không quí vị
đang làm một công việc cao cả. Chúng
tôi rất may mắn có quý vị. Xin tiếp tục công việc tốt
đẹp này. Xin cảm ơn quý vị nhiều." Và
với những khách là Phật tử, tôi sẽ nói Phật Pháp. Tôi sẽ nói: Hãy nhìn
tôi. Tôi sắp chết rồi. Kết thúc rồi! Quý bạn biết
đấy hành thiền lúc sắp chết không phải
là dễ. Vậy nên trong khi bạn còn khỏe hãy cố gắng tận dụng
điều đó. Hãy hành thiền! Hãy thực hành
Pháp! Không còn hối hận sau này. Ðừng đợi đến
lúc bạn đau nặng thì đã quá
trễ. Nhưng nếu ngay bây giờ bạn thực hành thiền, khi bạn bệnh, bạn sẽ
không bị khó khăn nhiều lúc phải đối phó với
cơn đau. Bạn có thể quan sát nó và thậm chí vượt qua nó.
Các bạn biết
đấy, Ðức Phật bảo chúng ta rằng mọi
thứ đều vô thường. Nếu chúng ta hành
thiền chăm chỉ đầy đủ, chúng ta có thể hiểu
được sự thật về vô thường sâu xa hơn, như vậy chúng ta sẽ không bị trói
buộc vào tâm và thân này. Chúng ta biết chắc chắn thân này không
phải của chúng ta, tâm này cũng chẳng phải của chúng ta. Hiểu biết, chúng
ta có thể buông bỏ. Chúng ta sẽ không bị trói buộc vào vào những dục lạc
thô thiển của sự sống. Chúng ta có thể sống một cách khôn ngoan hơn. Chúng
ta về già một cách thanh nhã. Và chúng ta không cần sợ chết.
Ðức Phật nói khổ
đau gắn liền với đời sống. Và chúng ta
phải học hỏi cách sống với nó và vượt qua nó. Chỉ bằng cách áp dụng chánh
niệm vào cuộc sống hàng ngày và hành thiền chúng ta có thể thâm nhập vaò
chân lý của khổ đau. Khi chúng ta hiểu được
khổ đau một cách sâu xa, chúng ta sẽ tranh đấu để loại bỏ nguyên
nhân của nó, đó là tham ái, bị trói
buộc vào đời sống, vào sức cám dỗ của
những cảnh tượng vui thích, âm thanh dịu dàng, những mùi vị dễ chịu, và
những đụng chạm êm
đềm. Chúng ta sẽ cố gắng thanh tịnh tâm trước
tất cả các ô nhiễm.
Theo Ðức Phật, khi tâm chúng ta
được tẩy sạch tham sân và si, chúng ta
sẽ vượt qua được tất cả khổ đau. Chúng ta sẽ
không bao giờ phản ứng lại bằng luyến chấp và ác cảm với bất cứ gì.
Thay vì điều đó sẽ có trí tuệ và từ bi
trong chúng ta. Chính điều này chính
là chấm dứt khổ đau. Không bám víu nữa chúng
ta sẽ không bao giờ khổ đau. Cả đến cái đau thể xác cũng không làm
tinh thần đau vì tâm không phản ứng
bằng ác cảm và giận dữ. Tâm sẽ bính an. Có chấp nhận và hiểu biết. Khi
chúng ta chết trong lúc có loại trí tuệ và an bình này, Ðức Phật nói
điều đó là sự chấm dứt khổ
đau. Không còn tái sanh, không còn trở
lại vòng sinh tử. Nếu chúng ta không tái sanh, không còn suy tàn và chết
kèm theo khổ đau. Chấm dứt! Hạ màn!
Cái khối đau khổ bị dập tắt. Và chúng
ta có thể nói giống như các vị thánh thời cổ
đã nói, Làm được cái đáng phải làm.
Ðược sống là cuộc đời thánh thiện.
Ðương nhiên, ngay bây giờ chúng
ta có thể vẫn còn xa mục tiêu. Nhưng người ta nói, hành trình ngàn dậm bắt
đầu bằng một bước đi. Cho nên tôi là
người lạc quan. Vâng, tôi là một Phật tử và một người lạc quan. (Ai nói
người Phật tử là người bi quan?) Và tôi tin rằng mỗi bước
đi trên con
đường chánh niệm sẽ mang chúng ta bước gần
hơn tới mục tiêu – mục tiêu Niết Bàn, sự kết thúc của mọi khổ
đau. Và là một người lạc quan, tôi
thích nghĩ rằng sớm hay muộn chúng ta sẽ đạt
tới Niết Bàn.
NÓI CHUYỆN ÐÓ BẰNG CẢ HOA LÁ
Và khi tôi
đang nằm trên giường bênh viện, tôi
thích nói Phật Pháp với tất cả những ai hỏi han tôi, hay bất cứ ai muốn
nghe.
Hơn nữa, tôi có thể gửi hoa
tặng đến tất cả những bạn hữu ngoài
kia. Tôi có thể đính kèm một cái thiệp
với thông điệp như sau: "Chào bạn! Bạn
có mạnh khỏe không? Bạn có thích những đóa
hoa này không? Hoa này không đẹp phải
không? Bạn có thì giờ để tạm nghỉ và
thưởng thức cái đẹp của bông hoa và
hít hương thơm ngát của nó không? Và khi bạn nhìn vào bông hoa, bạn có
nhìn thấy những cặp mắt long lanh của người thân hay
đứa con bạn không? Bạn có cảm thấy hiểu hy
vọng và sợ hãi của họ không? Hay là bạn quá bận, quá lo lắng với
những kế hoạch tham vọng trần tục, sự theo
đuổi danh vọng và của cải của bạn phải không?
"Bạn
đã xem xét kỹ bản chất của vô thường
chưa bạn – làm sao tất cả phải úa tàn và chết? Và làm sao trong khi chúng
ta sống, chúng ta phải sống có ý nghĩa để sau
này khỏi phải ân hận. Cũng vậy, giống như bông hoa
đang úa tàn, tôi cũng
đang chết. Nhưng tôi gửi những lời cầu chúc
tới ban. Chúc bạn khoẻ và hạnh phúc! Tôi hy vọng bạn sẽ tìm
được thì giờ cho những người thân yêu
của bạn tập hành thiền. Ban biết không, kiếm tiền, có nhiều
đồ xa xỉ, vui hưởng dục lạc không phải là
mọi thứ. Những thứ đó có thể làm cho
bạn vui một lúc nào đó thôi, nhưng thực tế tử
tế và tình thương yêu quan trọng hơn nhiều: nó làmõ cho bạn thỏa
mãn và hạnh phúc nhiều hơn. Xin tha thứ cho tôi vì
đã thuyết giảng những lời làm nhàm như
vậy nhưng xin hãy lưu ý đến những lời của một
người sắp chết. Hãy cho phép người ấy
được giãi bày. Ðúng, trong khi bạn sống bạn nên cố gắng trải rộng
vui vẻ và hạnh phúc càng nhiều càng tốt. Hãy tha thứ cho mọi người. Không
nên nuôi dưỡng một thái độ hằn học nào
hay coi bất cứ ai là kẻ thù của bạn. Luôn luôn nhớ rằng
đời sống ngắn ngủi và chẳng bao lâu
tất cả chúng ta đều phải chết. Và
thương yêu chính là cho chứ không phải là nhận. Cho tình thương không kèm
theo điều kiện. Tình thương không mong
mỏi được đền bù. Hãy cố gắng trau dồi
loại tình thương đẹp đẽ như vậy. Chúc bạn
hạnh phúc!" Tôi kết thúc bằng lời tái bút: – "Hãy bảo trọng. Không
cần phải đến thăm tôi. Nhưng bạn có thể vui
sướng cho tôi. Vì tôi đang mỉm cười và
tôi sung sướng là tôi có thể chết với một nụ cười trên môi. Tạm biệt và
chúc may mắn"
Và nếu tôi không nói
được vì quá mệt thì tôi vẫn có thể mỉm
cười để cho thấy mọi việc đều tốt đẹp, và
bệnh chỉ hại cái thân tôi nhưng không hại cái tâm tôi. Bằng cách
đó ta vẫn có thể truyền cảm hứng cả đến khi
chúng ta bệnh. Lúc ấy người ta sẽ đánh giá Phật Pháp cao hơn, và
thực hành chăm chỉ hơn. Lẽ đương nhiên,
nếu tôi đang nói với những người bạn không
phải là Phật tử, tôi phải được áp đặt
quan điểm tôn giáo của tôi lên họ. Tôi có thể giãi bày quan
điểm của tôi chứ không đời nào lại áp
đặt cho họ quan điểm ấy. Giống như tôi không
muốn họ áp đặt quan điễm của họ cho tôi, vậy cũng thế tôi phải
không áp đặt cho họ quan điểm của tôi. Chúng
ta phải tôn trọng quan điểm tôn giáo của nhau và phải có tình
thương yêu-khả ái với nhau. Bằng cách này, sẽ có chung sống hòa bình.
ÐỐI PHÓ VỚI BỆNH TẬT –
THÁI ÐỘ THÍCH HỢP
Chúng ta không nên coi bệnh tật
và khổ đau là thứ hoàn toàn tàn phá
chúng ta, và vì thế chịu thất vọng và ngã lòng. Trái lại (nghĩa là trường
hợp người Phật tử), chúng ta phải coi đó là
cuộc trắc nghiệm xem chúng ta đã hiểu
lời Phật dạy tốt đến đâu, và chúng ta
có thể áp dụng sự hiểu biết mà chúng ta cho là
đã học tốt
đến mức nào. Nếu chúng ta không
đối phó được về mặt tinh thần, nếu chúng ta
bị suy sụp, nó cho thấy sự hiểu biết của chúng ta về Phật Pháp, sự thực hành
của chúng ta, vẫn còn yếu. Vì vậy bằng cách này,
đó là cuộc trắc nghiệm và cơ hội cho
chúng ta thấy mức độ chúng ta đã quán
triệt sự thực hành của chúng ta.
Rồi bệnh cũng là cơ hội cho
chúng ta nâng cao hơn nữa sự thực hành kiên nhẫn và khoan dung của chúng
ta. Làm sao chúng ta có thể thực hành và phát triển
đến viên mãn (toàn hảo) ví như lòng
kiên nhẫn nếu chúng ta không trắc nghiệm, nếu chúng ta không bị
đặt vào những hoàn cảnh khó khó khăn
và khốc liệt? Vậy nên bằng cách này, chúng ta có thể coi bệnh là cơ
hội cho chúng ta trau dồi thêm nhẫn nại.
Chúng ta cũng có thể nhìn vào
sức khỏe không phải chỉ là sự vắng bóng của bệnh tật mà còn là khả năng
trải qua bệnh, và học hỏi và phát triển từ
đó. Ðúng, một
định nghĩa mới lạ về sức khỏe như thế bắt
nguồn từ một số chuyên gia y tế như Bác Sĩ Paul Pearsall của Bệnh
viện Sinai tại Detroit, Hoa Kỳ. Thấy bệnh không bao giờ trừ tiệt
được và cuối cùng chúng ta phải gục
ngã bằng cách này hay cách khác ra sao, những bác sĩ này
đã đi đến
định nghĩa về sức khỏe có thể giúp ta có thể thích nghi với bệnh khi nó
đến. Ðiều đó đúng phải không? Cho dù
nhiều máy móc, phương pháp và thuốc men tinh vi
đến thế nào
đi nữa, người ta vẫn cứ gục ngã trước
ung thư, bệnh AIDS, bệnh đau tim và
nhiều bệnh khác.
Cuối cùng, không có lối thoát.
Chúng ta phải hiểu và chấp nhận sự thật, để
khi nó đến và chúng ta phải gục ngã, chúng ta có thể gục ngã một
cách thanh tao. Chắc chắn, chúng ta sẽ chữa trị bệnh bằng hết sức mình,
nhưng khi bất chấp những cố gắng cao nhất của chúng ta, chúng ta thất bại
và bệnh tiếp tục gia tăng, chúng ta phải chấp
nhận và cam chịu với cái không thể tránh
được.
Phân tích
đến cùng, không phải vấn
đề là chúng ta sống lâu bao nhiêu mà
là chúng ta sống tốt đẹp ra sao mới đáng kể,
và điều đó gồm cả cách chúng ta có thể
chấp nhận bệnh tật của chúng ta đến mức nào, và sau hết chúng ta có
thể chết ra sao. Về mặt này, Bác sĩ Bernie S. Siegel trong cuốn sách của
ông, "Hòa Bình, Tình Thương và Chữa Bệnh", viết:
Những bệnh nhân khác thường
không cố gắng để không chết. Họ cố gắng để
sống cho đến khi họ chết. Họ đã thành công, mặc dù hậu quả bệnh
tình như thế nào, vì họ đã chữa lành
đời sống của họ, chơ dù họ không chữa
được bệnh của họ.
Và ông cũng nói:
Một cuộc
đời thành công không phải về cái chết.
Ðó là về sống tốt đẹp. Tôi đã thấy có
người mới hai tuổi và chín tuổi đã
thay đổi được người ta và cả các cộng
đồng bởi khả năng của họ về tình
thương, và đời sống của họ thành công
dù ngắn ngủi. Mặt khác, tôi biết nhiều người sống lâu hơn rất nhiều và
không để lại gì ngoài sự trống rỗng.
Cho nên thật tuyệt vời rốt cuộc
là đời sống của chúng ta có thể được chữa lành
mặc dầu bệnh của chúng ta có thể không được
chữa khỏi. Sao vậy? vì khổ đau là
vị thầy giáo và nếu chúng ta học bài thuộc, chúng ta có thể trở nên thành
người tốt hơn một cách đáng ngạc nhiên.Chúng
ta đã không nghe những chuyện có những
người trải qua đau đớn nhiều, thoát khỏi, đã
thay đổi thành người tốt hơn ư? Nếu họ
không kiên tâm, ích kỷ, cao ngạo và không thận trọng trước
đó, bây giờ họ có thể trở nên kiên
nhẫn, tử tế, lịch thiệp, và nhũn nhặn hơn. Ðôi khi họ nhận thấy bệnh là
một điều tốt cho họ – bệnh đã cho họ
cơ hội để xem xét lại lối sống và
những giá trị quan trọng hơn trong đời sống.
Họ đi đến đánh giá cao gia đình và bạn hữu hơn, và quý trọng thời
gian họ đã sống với những người thân
yêu. Và nếu họ bình phục lại được, họ sẽ dành
nhiều thì giờ hơn cho những người thân, và làm những việc thực sự quan
trọng và có ý nghĩa nhiều hơn.
Nhưng cho dù chúng ta bị gục
ngã vì bệnh chúng ta vẫn có thể học hỏi và phát triển từ nó. Chúng ta có
thể hiểu được cái mong manh của sự sống và
lời dạy của Ðức Phật đúng ra sao – có một yếu
điểm trong sự sống. Chúng ta có thể trở nên tử tế hơn, cảm niệm
nhiều hơn về lòng khả ái mà chúng ta nhận
được từ người khác. Chúng ta có thể tha thứ những ai đã làm cho
chúng ta đau đớn. Chúng ta có thể thương yêu
một cách hào phóng và sâu xa hơn. Và khi cái chết
đến, chúng ta có thể chết bằng sự chấp nhận và
an bình. Bằng cách đó, chúng ta có thể nói
đời sống của chúng ta được chữa lành vì chúng ta hòa hợp với thế
giới và chúng ta sống trong bình an.
CHÚNG TA CÓ THỂ HÀNH THIỀN
Khi chúng ta ốm và nằm liệt
giường, chúng ta không cần phải thất vọng. Chúng ta vẫn có thể hành thiền
khi chúng ta nằm trên giường. Chúng ta có thể quan sát tâm và thân chúng
ta. Chúng ta có thể giành được bình
tĩnh và sức mạnh bằng cách hành thiền hơi thở. Chúng ta có thể quan sát sự
hít vào và thở ra, biết chúng ta hít vào và thở ra. Việc này có thể cho
chúng ta ấn tượng bình tĩnh. Hay chúng ta có thể quan sát cái bụng phồng
lên và xẹp xuống khi hít vào và thở ra. Tâm của chúng ta có thể
đi theo sự lên xuống, và hòa nhập với
nó. Việc này cũng có thể cho ta sự bình tĩnh. Và từ sự bình tĩnh này, sự
hiểu biết có thể phát sinh. Chúng ta có thể nhìn thấy tính chất nhất thời
và hủy diệt của tất cả các hiện tượng, và có thể hòa hợp với sự thật về vô
thường, bất toại nguyện và vô ngã.
Nếu chúng ta
đã học thiền chánh niệm hay thiền Minh
Sát [*], thời gian có thể trôi qua dễ dàng. Có nhiều
đối tượng chúng ta có thể quan sát trong bất
cứ tư thế nào dù nằm, ngồi đi hay
đứng. Chúng ta có thể biết tư thế của chúng ta đang ở tư thế nào,
và cảm thấy những cảm giác phát sinh trong thân chúng ta. Chúng ta có thể
quan sát chúng bằng cái tâm vững vàng và bình thản. Và lẽ
đương nhiên, tâm cũng phải là
đối tượng quan sát. Cho nên chúng ta
có thể quan sát các trạng thái của tâm. Tất cả
đều có thể được quan sát – buồn bã,
thất vọng, bồn chồn, lo lắng, suy tư – và tất cả chúng phải qua
đi nhường bước cho trầm tĩnh, an lạc và
trí tuệ. Trạng thái thiện và bất thiện đến
rồi đi. Chúng ta có thể quan sát tất cả chúng bằng sự hiểu biết và
trầm tĩnh.
[*] Thiền Minh Sát tức Tuệ
giác thiền hay Chánh niệm thiền. Trong Thiền Minh Sát, hành già dùng chánh
niệm để quan sát bản chất hiện tượng tinh
thần và thể chất, cuối cùng nhận thấy cái
đặc điểm của vô thường, bất toại nguyện và
vô ngã. Với sự giới thiệu vào thiền Minh Sát, và sự tu tập một loại thiền
khác gọi là từ bi thiền, hay thương yêu-khả ái thiền, xin mời bạn xem
"Thiền Minh Sát" và "Kiềm Chế Nóng Giận Trải Rộng Tình Thương", cả hai
đều cùng một tác giả và phát hành bởi
Trung Tâm Thiền Mã Lai, Penang
Ðôi khi chúng ta có thể biểu lộ
lòng thương yêu-khả ái. Lập đi lập lại nhiều
lần chúng ta có thể nguyện cho tất cả chúng sinh:
Nguyện cho chúng sinh tất cả đều được khỏe mạnh và
hạnh phúc
Nguyện cho chúng sinh đều thoát khỏi tổn hại và hiểm họa.
Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau tinh thần.
Nguyện cho chúng sinh thoát khỏi khổ đau thể xác.
Nguyện cho chúng sinh có thể chăm lo cho chính mình một cách hạnh phúc.
Cũng bằng cách
đó thì giờ có thể trôi qua một cách
hoàn toàn thích hợp cho dù chúng ta nằm liệt giường. Chúng ta có thể
truyền lòng từ bi-khả ái đến các bác sĩ, y tá
và các bệnh nhân đồng cảnh ngộ. Chúng
ta cũng có thể truyền từ bi khả ái đến những người thân, họ hàng và
bè bạn chúng ta. Hơn thế nữa chúng ta có thể thỉnh thoảng suy nghĩ về Phật
Pháp, nhớ lại những gì chúng ta đã
đọc, nghe hay hiểu biết. Suy nghĩ như vậy,
chúng ta có thể đáp lại được khổ đau của chúng ta bằng trí tuệ và
trầm tĩnh.
Giáo huấn của Ðức Phật là trau
dồi tâm, hành thiền, và làm như vậy cả khi chúng ta bị ốm
đau. Thật ra, vào những thời
điểm như vậy chúng ta cần phải cố gắng nhiều
hơn nữa để tập trung chánh niệm của chúng ta. Ai biết, Niết Bàn hay
trí tuệ tối thượng, có thể đạt được vào
lúc trút hơi thở cuối cùng! Trong kinh, Ðức Phật có kể trường hợp một
người ốm – bị khổ sở vì cảm giác đau đớn thể
xác, buồn bã, đau dữ dội, hành
hạ, làm quẫn trí, khó chịu làm tàn lụi cuộc sống. Nhưng con người ấy không
ngã lòng. Người ấy cảm thấy samvega - một ý thức cấp bách phấn
đấu dù ở vào những giờ phút cuối cùng.
"Người ấy đã cố gắng phù hợp" Ðức Phật
nói, "Tâm của người ấy kiên quyết vào Niết Bàn, Người ấy
đã tự mình nhận thức
được chân lý tối thượng, người ấy thấy Niết Bàn
bằng cách thâm nhập vào bằng trí tuệ".
Ðúng là, đúng là người chủ hộ bị ốm, thân của
ngươi yếu và gây trở ngại. Vì ai mang cái thân này, hỡi này chủ hộ, chỉ
muốn sức khỏe chốc lát thì hoàn toàn ngu dại. Hỡi này chủ hộ, vì vậy,
ngươi phải tự rèn luyện:
"Dù thân bệnh, tâm tôi không bệnh."
Hỡi này chủ hộ, vì vậy, ngươi phải tự rèn luyện.
Ðức Phật
NGỢI KHEN KUAI CHAN
Tôi muốn nói với bạn về một
hành giả du già can đảm, đã chết êm ả
do bệnh ung thư với tiếng "Niết Bàn" trên môi. Tên bà là Kuai Chan và bà
ra đi vào ngày 18 Tháng Chạp Năm
1992 tại Kuala Lampur. Bà bốn mươi ba tuổi. Chồng bà, Billy, kể cho
tôi nghe bà đã
đương đầu với bệnh tình ra sao. Thấy
câu chuyện đầy hứng thú, nhất là
đối những hành giả du già (tu thiền),
tôi xin phép ông được kể lại trong sách này,
và tôi cảm ơn ông đã
đồng ý cho phép tôi.
Bà Kuai Chan
được chẩn bệnh lần đầu tiên với bệnh
ung thư vú vào tháng 4 năm 1989. Vào
thời gian này bà đã tu tập thiền Minh
Sát vào khoảng độ một năm. Bà bình
tĩnh chấp nhận bệnh tình. Billy nói, "Vợ tôi chấp nhận bệnh,
đó là cái nghiệp của bà" (nghiệp
là một định luật tự nhiên của nguyên
nhân và hậu quả). Bà không đổ cho ai hay bất
cứ cái gì. Bà cũng không cay đắng hay
rơi vào tình trạng ngã lòng. Bà hết sức vững vàng và giữ bình thản
cho đến lúc chết". Kuai Chan
đã trải qua phẫu thuật
để loại bỏ vú bị nhiễm. Ba tháng sau bà
lại phải giải phẫu lẫn thứ hai khi người ta thấy những tế bào ung thư vẫn
còn ở trong khu vực này. Sau đó bà
được xạ trị và hóa trị có tác
động phụ tối thiểu. Trong suốt thời kỳ chữa
bệnh ung thu vú và trong sáu tháng cuối
đời khi được chẩn đoán là bệnh ung thư
phổi giai đoạn cuối, bà
đã từ chối không uống một thứ thuốc
giảm đau nào. Billy nói, "Bà không
muốn thứ thuốc giảm đau nào". Cả
đến khi cơn đau lên
đến cực độ bà vẫn từ chối không uống
thuốc giảm đau, ngay cả đến một viên
Panadol. Bà là một người kiên quyết, rất mạnh mẽ và
đáng khâm phục"
Quyết
định không chữa trị bằng thuốc giảm đau vì
bà muốn giữ tâm bà càng trong sáng và tỉnh táo càng tốt. Bà là hành giả du
già, và tất cả những hành giả du già trân quý chánh niệm. Họ không muốn
một thứ thuốc nào làm cho tâm họ trì độn và
làm hại sự thiền định của họ. Cho nên
nếu họ lâm bệnh họ sẽ làm như vậy. Kuai Chan
đã sửa soạn đối đầu với cái đau nên
bà đã từ chối thuốc giảm
đau. Bà chỉ chấp nhận xạ trị - hóa trị
cho ung thư vú của bà vì phương pháp này có thể dẫn
đến chữa lành bệnh. Nhưng về sau, bà
bị ung thư phổi và được cho biết đã ở
giai đoạn cuối bà
đã từ chối chữa bằng xạ trị-hóa trị mà
bệnh viện đề nghị làm cho bà
đỡû tức thở. Và khi bác sĩ
đề nghị thuốc giảm đau như morphine, bà
cũng từ chối.
Billy cho biết khi trong
đợt ung thư vú đầu tiên Kuai Chan có
một chút khó khăn với cơn đau sau khi giải
phẫu. Là hành giả du già, bà đã
có thể nhận thấy cơn đau rất rõ ràng
và cơn đau sẽ biến đi. Nhưng ung thư phổi là
một sự thử thách thực sự với bà. Cơn đau luôn
lên đến cực điểm nhưng bà vẫn
từ chối không dùng thuốc. Có nhiều lúc bà bị ngất xỉu và ngã sóng soài
trên sàn nhà khi cơn đau đột phát. Nhưng bà
vẫn bình tĩnh. Bà cũng bị ho dữ dội dai dẳng nhiều ngày
đêm. Billy ở bên cạnh bà và khi thấy
bà không ngủ được ban đêm ông cố làm
bà dịu cơn đau bằng cách xoa dầu, chà
sát và những cách chữa trị truyền thống. Billy
đưa ba
đến các thầy thuốc Trung Hoa và mua nhiều loại thuốc bắc và sắc lên
cho bà uống.
Billy nói chính niềm tin tưởng
và thiền định đã khiến bà có thể
đối đầu với khổ đau với một mức độ thanh thản
và tự tại phi thường. Cả hai đều đã
hành thiền với Thượng Tọa Sujiva tại một đạo
tràng tại Ðài Bắc năm 1988. Sau đó
Kuai Chan tiếp tục tham gia thường xuyên các
đạo tràng khổ hạnh của Thượng Tọa
Santisukharama tại Kota Tinggi, Johor.
Khi
được chẩn đoán bị ung thư phổi sau đợt ho vào
tháng bẩy năm 1992, bác sĩ cho biết bà
chỉ sống được một tháng nữa. Chỉ cho Kuai
Chan và Billy hình chụp tia X, ông chỉ rõ ung thư
đã lan tràn ra sao khắp cả phổi. Ông
cũng rất ngạc nhiên thấy Kuai Chai vẫn đi
được và trông rất khỏe mạnh, mặc dù tình trạng ung thư tàn phá phổi
của bà. Nhưng bác sĩ không biết là Kuai Chan có một tâm thép. Bà
đã sống
được sáu tháng nữa. Ðối với bà không phải là một cuộc chiến
để sống mà là chết có nhân cách. Khi
bà và Billy gặp tôi tại Trung Tâm Trí Tuệ ở Petaling Jaya khi tôi
đến thăm nơi đây vào tháng 7, họ hỏi
họ có thể làm gì. Tôi bảo họ: Ðiều một hành giả du già có thể làm là thiền
định! Nếu tôi là bà tôi sẽ thiền
định cho đến lúc cuối cùng. Họ
được khích lệ và Kuai Chan kiên quyết
dành những ngày còn lại hành thiền tại nhà. Billy nói ông hỗ trợ bà tận
tình.
Nhưng bà không cho là cơn
đau có thể ghê gớm
đến thế. Bà nói bà chưa từng thấy cơn
đau nào như vậy. Nhất là ở phần dưới
lưng, nóng như đốt và
đau như cắt. Bà
đã dồn tất cả sức mạnh tinh thần
để biết cái đau đớn nhưng bà vẫn không
thành công. Nó quá nhiều. Có những lúc bà nằm
đó bất lực không nhận biết được cái đau đớn nữa. Bà hơan toàn cam
chịu. Nhưng bà vẫn không uống thuốc giảm đau.
Bà tham khảo với thầy dạy thiền, Thượng Tọa Sujiva khuyên bà trải
lòng từ bi khả ái và tu thiền sổ tức hít thở
để giảm thiểu cơn đau khi bà chịu không nổi nữa. Việc làm này khiến
cho bà dễ chịu. Từ sự dễ chịu này bà có thể tiếp tục thiền minh sát. Một
hôm sau ba tuần chiến đấu với cơn đau dai
dẳng, bà có một kinh nghiệm độc đáo. Bà
nói với Billy trong khi nhận thấy cái đau như
cắt, bà quan sát thấy nó càng ngày càng nhỏ
đi cho đến khi nó biến hẳn. Bà nói bà
cảm thấy như tất cả giác quan đều bị cắt bỏ,
như thể không có danh-sắc (tâm và thân) vào lúc
đó tâm và thân
đã cùng nhau biến
đi với cái đau. Bà nói với Billy bà
cảm thấy giống như bà trải nghiệm Niết Bàn, và bà cảm thấy cực kỳ sung
sướng. Sau kinh nghiệm này, bà không bao giờ gặp phải loại
đau đớn cực độ nữa.
Mười ngày trước khi lâm chung,
Billy mang bà vào một bênh viện tư vì bà khó thở. Bác sĩ
đặt ống dưỡng khí cho bà. Hình chụp
tia X cho thấy những tế bào ung thư đã
lan rộng hơn nữa làm trầm trọng sự nghẹt thở. Chữa bằng xạ trị – hóa trị
được đề nghị không phải là có thể chữa
lành bệnh mà chỉ để giảm nhẹ bệnh tình.
Nhưng Kuai Chan không muốn tâm mất sáng suốt nên bà
đã từ chối. Sau năm
ngày bà đòi Billy
đem bà về nhà vì bà cảm thấy không có
lý do nào nữa để bà phải ở lại bênh
viện. Billy lắp bình dưỡng khí tại nhà, mang bà về nhà và
để bà thở qua ống dưỡng khí hầu làm
giảm bớt khó khăn về hít thở của bà. Năm
ngày sau từ 13 Tháng Chạp đến lúc bà
chết ngày 18 Tháng Chạp bà dường như ở trong tình trạng thiêm thiếp ngủ,
thỉnh thoảng mới tỉnh dạy. Hai ngày trước khi chết bà vẫn còn nhớ ngày
sanh nhật thứ 17 của đứa con gái vào
ngày 17 Tháng Chạp. Bà nhắc Billy luộc hai quả trúng cho
đứa con gái và cho con gái một bao (lì
sì) đỏ, Billy đã làm theo lời bà.
Vào ngày 18 Tháng Chạp, bà tỉnh
dạy lúc 9 giờ sáng với một nụ cười. Bà hỏi, "Có phải tôi ngủ không?" Billy
trả lời: "Phải đã năm
ngày rồi, em biết không?" Bà ngạc nhiên. Bà dường như rất sung
sướng và mỉm cười. Bà nói bà không cần uống thuốc bắc nữa. Bà lại nhớ lại
ngày sinh nhật của đứa con gái và mặc
dầu Billy đã nói cho bà biết là ông
đã đưa
bao lỳ sì đỏ cho đứa con gái như bà
đã dặn, Bà lại nói lần nữa với Billy,
"Hãy cho cho đứa con gái một phong bao nữa
(bao lì sì khác) nhân danh tôi".
Billy nói, vào khoảng 2 giờ
chiều Kuai Chan muốn nói cái gì với ông ta nhưng quá yếu không nói nổi.
Billy nhắc bà hãy duy trì tâm trạng vô tư,
đừng lo lắng gì về chồng và các con, và cảm thấy tự do
để ra đi êm ả. Ông nói, họ
đã thảo luận nhiều lần về việc này
trước đây, rằng nếu bà có thể lành
bệnh thì tốt, và nếu không thể chữa được, thì
cũng phải chịu: bà có thể đi một cách thanh
tao, hiểu biết nghiệp luật, rằng tất cả chúng ta một ngày
đó bắt buộc phải chia lìa.
Vào lúc ba giờ, khi
đứa con trai 15 tuổi, đi học về và báo
với me: "Mẹ ơi, con đã về", bà hiểu
tuy không nói được. Bà gật
đầu để ra dấu bà biết.
Vào khoảng ba giờ ba mươi phút,
Billy nói, Kuai Chan tận dụng sức lực nói rõ ràng bằng tiếng Quảng Ðông,
Woh Yap Niphoon, có nghĩa là "Tôi đã
vào Niết Bàn", câu này có ý nói nói là bà tin tưởng bà
đã thực hiện hay chứng nghiệm Niết
Bàn. Và bà chỉ vào bụng. Ðó là lời cuối cùng của bà, bà ra
đi một cách rất êm ả vào khoảng 45
phút sau. Billy nói Kuai Chan, trong lúc hành thiền, thường quan sát sự
chuyển động lên xuống của bụng xẩy ra
mỗi lần hít vào hay thở ra. Bà thấy sự lên xuống của cái bụng là một
đối tượng tốt để đặt tâm vào, và bà
thường khuyến khích các hành giả du già nên bám vào
đối tượng ấy. Bất chấp hiện tượng nào
của thân hay tâm khi ta áp dụng chánh niệm và tập trung vào, cuối cùng ta
có thể thấy sự sinh diệt của hiện tượng và đi
đến hiểu biết tính chất vô thường, cái bất toại nguyện và vô ngã
của chúng. Sự hiểu biết có thể tiến tới đỉnh
cao trong việc đạt Niết Bàn, trạng thái chấm dứt khổ
đau. Những ô nhiễm của tham sân và si
sẽ bị hoàn toàn bị loại bỏ khi chứng nghiệm Niết Bàn
đạt được ở trình
đô A La Hán [*].
[*] Về kinh nghiệm chấm dứt
những hiện tượng duyên hợp trong khi thiền
định, Niết Bàn có thể đạt được ở bốn
bậc thánh quả. Mặc dầu kinh nghiệm của Niết Bàn là chấm dứt những
hiện tượng duyên hợp ở tất cả bốn bậc. Niết Bàn chỉ có một vị,
đó là vị "an lạc" kết quả về phương
diện loại bỏ những ô nhiễm tinh thần tuy nhiên khác biệt ở mỗi bậc của bốn
bậc.
Ở bậc thứ nhất Tu Ðà Hoàn (Nhập
lưu) tham và sân bị yếu đi nhưng chưa bị loại
bỏ hoàn toàn. Hai ô nhiễm này bị yếu
đến độ người đắc quả Tu Ðà Hoàn không thể phá năm
giới, không giết (cả đến một côn trùng) không trộm cắp hay lùa bịp,
không ngoại tình, không nói dối và không uống rượu và không dùng các chất
ma túy. Ở bậc thứ hai Tư Ðà Hàm (Nhất Lai), những ô nhiễm bị yếu hơn nữa.
Ớ bậc thứ ba A Na Hàm (Bất Lai), lạc thú nhục dục và sân hoàn toàn bị loại
bỏ. Nhưng vẫn còn dấu vết của vô minh và ham thích một thiên nhiên không
nhục dục, có nghĩa là một ham thích dược tái sinh vào cảnh trời Phạm Thiên
không nhục dục. Ở bậc thứ tư A La Hán (Bất Sanh, quả thánh hoàn toàn) tất
cả ham muốn/ tham đều bị loại bỏ. A La Hán
sống kiếp cuối cùng và không còn bị tái sinh nữa.
Billy nói khi giờ phút cuối
cùng sắp tới, mặt của Kuai Chan rạng rỡ, khi bà nói, mắt của bà long lanh
và sáng. Vào khoảng 4 giờ 15 chiều, Billy nhận thấy bà
đã tắt thở. "Bà trông rất bình thản,
thanh thoát. Billy nói, Bà đã ra
đi một cách rất an lạc.
Vào khoảng 4 giờ chiều hôm ấy,
một người bạn đạo, Lily, cư ngụ ở xa Petaling
Jaya 25 cây số, đột nhiên có ý nghĩ trải tâm từ bi-khả ái
đến Kuai Chan. Lily ngồi xuống và
thiền định, gửi đi tất cả những tư tưởng về
từ bi-khả ái đến Kuai Chan. Bà ta nói bà thấy Kuai Chan rất thanh
thản trong một ảo ảnh trong suốt như pha lê. Khi bà ngừng thiền, bà ta
nhìn đồng hồ lúc đó là 4 giờ 15, cùng
lúc Kuai Chan ra đi.
Chết theo cách Kuai Chan
đã chết, rõ ràng là một cái chết
đẹp đẽ. Cách ra đi nào tốt hơn – với
tâm bà tập trung về Niết Bàn. Ai có thể nói cái kinh nghiệm duy nhất nào
bà đã trải qua? Chỉ có mình bà biết
thôi. Nhưng có một điều chắc chắn là,
tâm bà vững vàng vào lúc cuối cùng, hướng về Niết Bàn. Tôi cớ thể nghĩ
rằng bà đã
đạt Niết Bàn. Nếu bà
đã không làm
được thế trong đời này, tôi nghĩ rằng
bằng tâm vững chắc và cương quyết của bà, bà sẽ trải qua tái sanh lành làm
người hay người trời, và sẽ đạt được mục tiêu
hằng ấp ủ trong kiếp sống đó.
Là một Phật tử, Bà
đã chỉ dẫn cho Billy tổ chức cho bà
một tang lễ đơn giản, không có những nghi lễ
và nghi thức không cần thiết. Theo ý muốn của bà, Billy
đã thu xếp việc hỏa táng vào ngày hôm
sau. Một vài nhà sư Phật Giáo, một số hành giả du già và bạn bè tụng kinh
Phật. Tang lễ rất giản dị theo lời bà yêu cầu. Billy thu thập tro cốt và
đem rắc tại cây bồ đề tại thiền đường sư phụ
của họ tại Jahor.
Hồi tưởng lại
đời sống cùng nhau, Billy nói Kuai
Chan là một người vợ tốt nhất mà ông đã
có được: "Chúng tôi lấy nhau
đã 22 năm
và bà đã sát cánh với tôi qua
thăng trầm, qua nhiều thử thách và cực
khổ. Bà có một tâm tính vui tươi và hoạt bát. Bà bao giờ cũng thương yêu
và ân cần. Ngay cả lúc bà ốm bà vẫn tuyệt vời. Bà không bao giờ phàn nàn.
Bà không ngã lòng. Không có giận hờn hay cay
đắng nơi bà. Bà vẫn bình tĩnh và vững vàng. Bà vẫn có thể mỉm cười
và cười lớn. Bà chấp nhận tất cả khổ đau với
thái độ trang nhã. Bà nói thân bà bệnh nhưng tâm bà không bệnh. Tâm
bà vẫn sung sức và khỏe mạnh. Sự quan ngại của bà không phải cho chính bà
mà cho người khác. Bà nói nếu bà có thể sống thêm 10 năm
nữa, bà sẽ thực hành Phật Pháp nhiều hơn. Bà rất quan tâm
đến tôi và những
đứa con.
"Thực ra bà
đã chịu
đựng khổ đau tốt hơn tôi. Tôi không thểâ chịu nổi khi thấy bà quá
nhiều đau đớn. Tôi cố gắng cho bà uống
thứ thuốc bắc tốt nhất hy vọng có thể chữa khỏi hay cho bà
được nghỉ ngơi. Ðôi khi tôi hỏi tại
sao tất cả việc đó lại xẩy ra cho bà.
Và tôi nghĩ: Hãy để cho bà sống thêm
mười năm và cuộc
đời tôi ngắn đi mười năm. Xin để cho tôi cho
bà 10 năm của đời tôi. Nhưng lẽ đương
nhiên điều đó không phải là
để cho chúng ta nói. Chính nghiệp mới có
quyền ăn nói cuối cùng.
"Bà thường nói với tôi: "Ðó là
nghiệp của em, Billy à. Cái đó hoàn
toàn đúng. Em không biết em đã làm gì
trong quá khứ. Em phải chấp nhận nghiệp của em." Ðôi khi bà nói: "Em rất
hối hận vì đã
đem đến cho anh tất cả khó khăn này,
Billy, tất cả cái khổ đau này. Billy
biết không em nợ anh rất nhiều trong cuộc đời
này." Tôi phải nói với bà xin đừng nói
thế. Tôi nói, bà không nợ gì tôi cả. Chúng ta là vợ chồng phải
không? – và bà là người vợ tuyệt vời của tôi. Chúng ta cùng trải qua những
lúc thăng trầm, và bây giờ là giờ phút
cần thiết của bà, tôi sẽ ở bên cạnh bà. Chúng ta sẽ một mất một còn cùng
nhau, tôi nói với bà, tôi cam đoan với bà.
"Vào những dịp khác, bà nói với
tôi:, Này Billy đây là giáo lý chân
chính, con đường thực sự, tôi rất tin điều đó",
và bà nhắc tôi đừng lơ là thực tập
hành thiền, không nên tự mãn mà phải tu tập chăm
chỉ. Chúng tôi đã mất một thời gian tìm kiếm một giáo lý mà chúng
tôi có thế hiểu. Và khi chúng tôi tình cờ gặp Phật Giáo và thiền Minh Sát
vào năm 1988, chúng tôi đã say mê nó.
Ông biết không, chúng tôi thường cùng nhau bàn luận Phật Pháp mỗi
đêm bên tách trà. Mối liên hệ của
chúng tôi rất tuyệt vời."
Người anh em họ của Kuai Chan,
Sati, hỏi liệu bà có sợ bệnh ung thư không, bà trả lời không, bà không sợ
bệnh này. Bà sẵn sàng chịu đựng đau đớn mà
không dùng thuốc. Bà quả là một hành giả du già can
đảm, mặc dù hết sức chênh lệch, mà vẫn
kiên trì thực hành Pháp. Bà làm tôi băn
khoăn, nếu tôi, một nhà sư mà ở hoàn cảnh như bà, bị ung thư, tôi
có thể chịu được nhiều như thế không, có can
đảm và chịu đựng như thế không? Bà
quả là một tấm gương đầy cảm hứng, một vị
thầy làm gương cho tất cả chúng ta. Tôi phải cảm ơn Billy
đã đưa ra
chuyện riêng tư của mình để chia sẻ
với chúng ta câu chuyện truyền cảm này
để chúng ta có thể can đảm trong việc tu tập cương quyết hơn nữa và
phấn đấu mạnh hơn nữa.
Billy yêu cầu tôi ghi nhận lòng
biết ơn của ông đối với Thượng Tọa Sujiva và
những nhà sư khác cùng với các hành giả du già về tất cả sự giúp
đỡ ân cần mà họ
đã cho ông và Kuai Chan. Những bạn
hành giả Du già tại Trung Tâm Trí Tuệ Phật Giáo, PJ,
đã đặc
biệt hỗ trợ tinh thần và khuyến khích Kuai Chan trong suốt thời
gian bà bệnh. "Tôi không biết làm sao bầy tỏ lòng biết ơn của tôi
đến tất cả mọi người đã giúp
đỡ tôi. Xin vui lòng nói với họ, tôi
xin cảm ơn tất cả, xin được nói, Cảm ơn quý
vị. Cảm ơn quý vị rất nhiều về mọi thứ mà quý vị
đã dành cho Kuai Chan."
Phần tốt nhất đó trong đời sống của một
người lương thiện là những hành
động nhỏ nhoi không sao
kể xiết bị lãng quên về lòng tốt
và thương yêu.
Woodsworth
CHÚNG TA PHẢI LÀM TRÒN
BỔN PHẬN CỦA CHÚNG TA
Trước
đây tôi đã nói khi tôi nhìn thấy một
người bệnh, người sắp chết và người chết, hai quyết tâm phát sinh trong
tâm tôi. Một là có thể chịu đựng sự đau đớn và
cái chết với một nụ cười, có thể giữ được
chánh niệm và tự tại cho đến lúc cuối
cùng. Bây giờ tôi muốn nói đến quyết
tâm thứ hai. Vâng, khi nhìn thấy con người và thực ra tất cả chúng
sinh đang sống, đều phải chịu đau khổ nhiều
như vậy, tôi cảm thấy ít nhất chúng ta có thể làm
được, trong khi chúng ta còn sống, là
đóng góp làm nhẹ bớt khổ
đau chung quanh chúng ta.
Nhiều người
đang phục vụ nhân loại theo nhiều cách thức
phi thường. Mẹ Theresa, chẳng hạn, đã dành cả cuộc
đời để săn sóc những người thiếu thốn và
cơ cực. Nhiều người và tổ chức đã dấn
thân vào làm những công tác xã hội cho người bệnh, người tàn tật, người
chết đói, người già, những người sắp
chết và nhiều người khác. Tất cả những đạo sư
tôn giáo vĩ đại đều kêu gọi các đệ tử
hãy nhân từ. Jesus Christ nói: "Hãy thương yêu người láng giềng như
chính thân mình" Và Ngài tán dương những người cho người
đói ăn, cho người khát uống, cho quần áo
người trần trụi, cho chỗ ở kẻ bần hàn, thăm
viếng người bệnh và người bị giam cầm. Ngài nói rằng: "Vì các ngươi
đã làm thế cho một trong những người
anh em của ta, tức là các ngươi đã làm
cho chính ta". Có một câu tương tự trong Kinh Koran chỗ nhà Tiên Tri
Mohamed nói Thượng Ðế có thể nói trong Ngày Phán Xét:" Ta
đói mà các ngươi không cho ta
ăn. Ta bị bệnh mà các ngươi không
đến thăm. Và khi
được hỏi bởi một người hoang mang không hiểu
như thế là thế nào, Thượng Ðế trả lời "Như một người xin bánh mà
ngươi không cho. Như một người bệnh mà ngươi không
đến thăm".
Trong Ðạo Phật, mặc dầu chúng
ta không tin vào Ðấng Thượng Ðế Sáng Tạo, chúng ta tin vào
điều thiện và hô hào không giết hại cả
đến một con vật hay côn trùng. Chúng
ta tin vào Nghiệp luật- đó là thiện
đem lại thiện, ác đem lại ác. Cho nên
chúng ta bao giờ cũng phải bám chặt vào điều
thiện: tránh không giết hại, trộm cắp, lừa đảo, tà dâm, dối trá,
uống rượu và các chất say. Chúng ta tự rèn luyện
để tiến đến chỗ chúng ta làm
điều thiện vì lợi ích làm
điều thiện và không phải vì sợ hãi
địa ngục hay mong muốn được phần thưởng.
Chúng ta làm điều thiện vì
chúng ta thích làm điều thiện và tự
nhiên ngả về điều thiện. Nói một cách khác
chúng ta không thể tránh được làm việc thiện. Ðiều thiện với chúng
ta là một.
Ðức Phật chỉ thị các
đệ tử của Ngài phải nhân từ và quan
tâm đến người khác. Ngài nói một chút
cố gắng cũng có giá trị khi cho. Cả đến ném
một vài mẩu bánh xuống nước cho cá ăn
cũng được tán dương bởi Ðức Phật. Một lần, mấy nhà sư không săn
sóc một nhà tu bệnh, Ðức Phật đích
thân tắm rửa cho vị sư bệnh này và khuyên bảo các vị kia: "Ai săn
sóc người bệnh chính là săn sóc ta".
Ðức Phật kêu gọi các vì vua hãy trị vì với lòng từ bi. Ngài khuyên các nhà
vua nên loại trừ nghèo đói vì
đó là một trong những yếu tố góp phần
vào sự cướp bóc và các tội khác. Là một người yêu hòa bình, Ngài
đã từng ngăn
cản được khi hai quốc gia đang sắp sửa lâm vào vòng chiến vì tranh
chấp một dòng sông. Ðức Phật hỏi họ: "Cái nào quan trọng hơn – nước hay
máu của con người sẽ chảy vì chiến tranh?" Hai bên lâm chiến thấy sự tranh
chấp điên rồ của họ
đã rút lui không
đánh nhau.
Một trong những vị vua nhân từ
nhất chịu ảnh hưởng trước những lời Phật dạy là Asoka, trị vì Ấn Ðộ vào
thế kỷ thứ Ba trước Công Nguyên, khoảng 200 năm
sau khi Ðức Phật nhập diệt. Nổi tiếng về lòng nhân
đạo, sự rộng lượng và lòng tốt cửa
Ngài trải đến cả con vật. Ngài
được nổi tiếng vì
đã lo liệu bác sĩ cho cả người lẫn súc
vật. Ngài đã xây công viên, trạm nghỉ
ngơi cho khách bộ hành và nhà tế bần cho những người nghèo và người bệnh.
Mặc dầu là một Phật tử thuần thành, Ngài cho dân ngài hoàn toàn tự do
trong việc thờ phượng và ủng hộ các giáo phái khác. Trong một sắc lệnh nổi
tiếng khắc trên đá, Ngài nói Ngài
"Chúc mừng những người của tất cả những tôn giáo sống ở mọi nơi trong
vương quốc của Ngài ... vinh danh người của tất cả các tôn giáo, thành
viên của những dòng tu và cư sĩ, bằng tặng vật và những biểu hiện quý
trọng khác". Ngài muốn tất cả các tôn giáo
đều được kính trọng vì "bằng cách kính trọng tôn giáo là nâng cao
niềm tin của chính tôn giáo mình và đồng thời
phục vụ niềm tin của những người khác... Cho nên chỉ có hòa thuận
không thôi là đáng khát khao ... (Và
Ngài, Asoka) mong muốn người của tất cả các tôn giáo khác hiểu biết học
thuyết của nhau và tìm được học thuyết lành
mạnh..."
Asoka coi vai trò của Ngài như
một người cha nhân từ và coi dân như con khi nói rằng Ngài muốn họ
được mọi loại thịnh vượng và hạnh
phúc. Ðức Phật nếu có thể chứng kiến triều
đại của Hoàng Ðế Asoka, thì Ngài sẽ hết sức vui mừng khi thấy giáo
lý của Ngài đã
được tôn trọng triệt để một cách chuyên
cần bởi vị hoàng đế vĩ đại này. H.G.
Wells trong cuốn "Outline of History" (Lịch Sử Ðại Cương) có nói, trong số
các vị hoàng đế đã
đến và ra
đi trên thế giới, "tên của Hoàng đế
Asoka sáng chói, sáng chói hầu như một tinh tú không có ai ngang hàng".
Chắc chắn tất cả những chính phủ sẽ thành công khi nghiên cứu và áp dụng
cách giải quyết nhân đạo của Hoàng Ðế
Asoka trong việc trị vì.
Cũng vậy, nếu chúng ta
đi theo những lời Ðức Phật dạy, thì
chúng ta cũng giống như Asoka, làm việc theo
đường lối của chúng ta để giảm bớt khổ đau và trải rộng hòa bình và
hạnh phúc. Chính Ðức Phật đã là tấm
gương tốt đẹp nhất cho chúng ta soi, Ngài
đã dành cả cuộc
đời để chỉ cho con người lối thoát khỏi khổ
đau. Vâng, Ðức Phật không những quan tâm
đến việc làm nhẹ bớt khổ
đau, mà Ngài còn quan tâm
đến việc loại bỏ nó hoàn toàn. Cho nên
sau khi giác ngộ, Ngài đã bỏ cả 45 năm
cuộc đời còn lại dạy cho con người con
đường loại bỏ khổ đau. Ngài dạy con
đường chánh niệm.
Ðức Phật thấy chỉ bằng cách
giải quyết triệt để mới có thể loại bỏ được
khổ đau. Mặc dù săn sóc người bệnh,
chữa lành bệnh tật, cung cấp thực phẩm và các trợ giúp vật chất cho
người túng thiếu là một phần thiết yếu trong việc
đối phó với khổ đau, Ðức Phật muốn
tham gia nhiều hơn là chỉ có những triệu chứng: Ngài muốn tìm cách chữa
lành hoàn toàn chứng bệnh khổ đau. Cho nên
Ngài đã thiền
định toàn bộ câu hỏi
đời sống và cái chết. Và Ngài thấy
muốn giải quyết vấn đề từ gốc rễ, chúng ta
cần phải xem xét lại toàn bộ tâm. Khổ
đau thực chất là tinh thần. Khi có đau
đớn thể chất, người ta thường phản ứng bằng buồn rầu, sợ hãi và ngã
lòng. Nhưng người tu thiền, Ðức Phật dạy, có thể chịu
đựng cái đau thể chất mà không có khổ
đau tinh thần. Nói một cách khác, người ta
không phản ứng bằng buồn rầu, lo lắng, thất vọng, ác cảm, giận hờn vân
vân... Thay vì, người ta có thể phản ứng bằng bình tĩnh và thanh
thản. Người ta có thể vui và thậm chí an ủi và khuyến khích người khác!
Cho nên Ðức Phật thấy vấn
đề thực chất là tinh thần. Nếu chúng
ta có thể giải thoát tâm chúng ta khỏi tham, sân và si (thuộc bản chất
đời sống) Ðức Phật dạy chúng ta hoàn
toàn có thể vượt qua được và loại bỏ
khổ đau tinh thần, như lo lắng và bồn
chồn, phiền muộn và than khóc. Về khổ đau thể
chất, chúng ta phải thừa nhận không thể tránh khỏi chừng nào mà
chúng ta có cái thân này. Tất cả chúng ta đều
biết không ai có thể tránh khỏi tuổi già, bệnh và chết. Nhưng Ðức
Phật dạy một khi thanh lọc được tâm ra khỏi
tất cả những ô nhiễm của tham, sân vân vân thì cái
đau thể chất không làm chúng ta sợ hãi
nữa. Ta trở nên không lay chuyển. Không có gì có thể làm ta lo ngại nữa,
cả đến cái đau cực độ mà những bệnh
như ung thư có thể mang lại. Tâm ta vẫn có thể giữ luôn luôn trầm tĩnh.
Bởi vậy khi đệ tử của Ðức Phật,
Anurudhha, một lần được hỏi làm sao
ông có thể giữ bình tĩnh khi ông bệnh nặng, Ngài trả lời
đó là vì ông
đã có thể làm chủ
được tâm ông do tu tập chánh niệm như đã
được dạy bởi Ðức Phật.
Cũng
để kết luận, Ðức Phật dạy
đối với một người hoàn hảo
đã bỏ
được tham sân si, không còn tái sanh nữa. Khi người ấy chết,
đó là kiếp cuối cùng. Người ấy
đã đạt
được trạng thái Niết Bàn – sự an lạc hoàn hảo. Không phải tái sanh
người ấy không bao giờ còn bị tuổi già, bệnh và chết. Ðức Phật nói, chỉ
điều đó là chấm dứt khổ
đau.
LÀM NHẸ BỚT KHỔ ÐAU
Trong khi phấn
đấu để chấm dứt hoàn toàn khổ
đau, chúng ta nên, trên con
đường tu tập, giúp làm nhẹ bớt khổ
đau bằng bất cứ cách nào chúng ta có
thể. Vâng, rõ ràng không thiếu gì khổ đau trên
thế giới. Nhiều người khổ đau theo nhiều cách
khác nhau. Nếu chúng ta đọc báo, chúng ta thấy khổ đau khắp nơi. Người ta
tranh chấp, đánh nhau, giết chóc, cướp bóc, nói dối, lừa đảo và gây
khổ đau lẫn nhau bằng nhiều cách. Do vô minh
chúng làm hại lẫn nhau. Xa hơn nữa, thiên tai, tai nạn, rủi ro,
chết đói, bệnh tật khắp nơi. Và bệnh
tật tuổi già, và cái chết luôn bám sát chúng ta ở từng bước.
Vâng, thế giới này
đầy khổ đau. Tại sao chúng ta lại còn
thêm vào nữa? Thay vì phải chăng chúng ta nên
cố gắng làm nhẹ khổ đau? Dù chúng ta
không làm được nhiều, chúng ta vẫn có thể làm
được ít. Mỗi một cố gắng nhỏ nhoi cũng đáng
kể. Có người nói: Không ai mắc sai lầm lớn hơn là không làm gì
dù chỉ làm một chút. Mỗi người chúng ta
đều có thể làm được việc gì
đó, theo khuynh hướng và khả năng
của mình. Ðể khởi sự chúng ta có thể bắt
đầu tử tế hơn. Chẳng hạn chúng ta có thể ngăn
chặn nóng giận của chúng ta. Mỗi khi chúng ta nóng giận chúng ta gây nên
đau đớn cho chính chúng ta và người
khác. Nhưng nếu chúng ta có thể nén được giận
của chúng ta và trau dồi khoan dung và kiên nhẫn, thương yêu và từ
bi, chúng ta có thể trở nên người tử tế hơn, và
đó có thể là một thành công
để giúp gieo rắc sự vui vẻ và hạnh
phúc .
Nói một cách khác chúng ta phải
bắt đầu bằng cách tẩy sạch tâm ta khỏi những
chất chứa bất thiện và tiêu cực của tham sân và si. Tương ứng với
khả năng kiềm chế các trạng thái bất thiện
của ta, tình thương yêu và từ bi sẽ phát triển nơi chúng ta. Chúng
ta có thể tử tế hơn trong quan hệ với những người kề cận và chung quanh
chúng ta. Chúng ta có thể cố gắng nói năng
một cách đáng yêu và nhẹ nhàng hơn, và tránh lời nói thô tục và cục
cằn. Chúng ta có thể trở nên ân cần và quan tâm
đến người khác nhiều hơn. Nếu chúng ta chỉ
quan tâm đến phúc lợi riêng của chúng ta thì chúng ta không thể
thương yêu hữu hiệu. Muốn thương yêu tốt đẹp,
chúng ta không nên coi trọng phúc lợi của mình mà phải chú ý
đến phúc lợi của người khác. Cho nên
chúng ta phải hỏi chính mình. Chúng ta có thương yêu
đủ không? Chúng ta có quan tâm đủ không? Nếu
không chúng ta không thể hành động để
làm nhẹ bớt khổ đau. Chính vì
không có thương yêu và từ bi thực sự mà chúng ta có thể hành
động.
Một thiền sư từng nói rằng nếu
bạn muốn biết bạn đã thực sự yêu
thương, bạn nên gần người thân yêu của bạn một ngày, và nhẹ nhàng nắm lấy
tay nàng trong tay bạn. Hãy nhìn thẳng vào mắt nàng và hỏi nàng: "Em thân
yêu, anh có yêu em đúng mức không? Anh có yêu
em đủ không? Anh có làm em hạnh phúc
không? Nếu là không, xin em cho biết thiếu cái gì
để anh có thể thay đổi và yêu em nhiều
hơn?" Nếu bạn hỏi nàng dịu dàng với tình yêu chân thật và quan tâm, thì
nàng có thể khóc. Sư trưởng nói, đó là
dấu hiệu tốt. Vì nó có nghĩa là bạn đã
chạm đến đúng vào tình cảm của nàng.
Và rồi ở đấy có thể có sự trao đổi tâm tình
giữa bạn và nàng.
Và vì vậy nàng có thể nói với
bạn giữa những tiếng thổn thức sao bạn đã
không có ý tứ gì rất nhiều lần. Chẳng hạn nàng có thể nói: "Anh không còn
mở cửa xe cho em nữa. Anh thường mở cửa xe cho em khi lần
đầu anh theo đuổi em và cả
đến năm đầu lấy nhau. Anh cũng cẩn thận xem
em ngồi ngay ngắn chưa rồi anh mới nhẹ nhàng
đóng cửa xe. Bây giờ anh không làm như
thế nữa. Anh vào xe trước và cho ngay máy chạy. Em phải tự mở cửa và vào
xe thật nhanh. Nếu không anh có thể chạy xe
đi trước khi em kịp đóng cửa! Em muốn khóc khi anh sử xự như thế. Cái gì
đã xẩy ra cho con người lịch sự và có
ý tứ mà em đã lấy?"
Và nàng có thể tiếp tục: "Anh
đã không nắm tay em nữa khi qua
đường. Anh đi trước và muốn em phải
theo anh. Rồi khi chúng ta vào nhà hàng. Anh không mở cửa và mời em vào
trước. Anh không kéo ghế cho em ngồi. Anh không hỏi em thích
ăn gì mà tự
động đặt các món ăn anh thích. Anh không mua
những bộ áo đẹp cho em nữa. Anh không mua tặng phẩm gì cho cha mẹ
em, ngay cả đến những dịp lễ hội. Và
mặc dầu anh có thể nhớ đến việc cho em quà
vào ngày sinh nhật, nhưng anh không kèm theo thiệp sinh nhật với những lời
tình cảm đẹp đẽ. Nói tóm lại, anh đã
không làm những việc nhỏ bé dễ thương mà anh thường làm cho em khi anh
theo đuổi em và cưới em. Nếu em biết
anh sẽ thay đổi như thế này, có lẽ em
đã suy nghĩ lại về việc lấy anh. Em băn
khoăn không biết thực sự anh còn yêu em hay quan tâm
đến em nữa không?" Và nàng có thể tiếp
tục một mạch nêu lên một bản danh sách về những bất hạnh của nàng. Nàng có
thể thổn thức to hơn và bạn có thể ngạc nhiên vì bạn không biết nàng
đã giữ trong lòng tất cả những thứ
đó, nàng
đã không nhận ra tất cả những sự việc nho nhỏ dễ thương mà bạn
thường làm cho nàng, và nàng đã không
hiểu sự bầy tỏ quan tâm và thương yêu tuy nhỏ bé nhưng quan trọng của bạn.
Ðương nhiên, rất có thể bạn
cũng có những phiền muộn chính đáng. Cho nên
đây là dịp tốt
để bạn thổ lộ, nhưng bằng một cách thật dịu dàng.
"Ồ, anh xin lỗi về cách sử xự vô tâm và không ý tứ của anh, em thân yêu.
Tin anh đi, anh thật tình. Xin tha lỗi
cho anh. Từ nay trở đi anh sẽ làm lại
cho em. Anh hứa anh sẽ không cẩu thả trong tương lai. Anh sẽ trông nom em
thật tốt. Anh sẽ bắt đầu làm trở lại
những việc nho nhỏ mà anh đã lơ là làm
cho em. Anh không nhận ra được là em
đã quá nhớ những thứ
đó.
"Nhưng em thân yêu, xin
đừng giận dỗi với điều mà anh sắp nói.
Vì anh có nhiều lầm lỗi, em cũng nên biết có một số
điều em thường làm cho anh mà em chưa
bao giờ làm. Chẳng hạn anh thích ăn đùi
gà chiên theo lối sambal belacan mà em thường nấu cho anh. Nhưng bây giờ
em không còn nấu món ấy nữa, không kể đến
những thứ súp cà chua và những món khác. Em biết không, người già
nói về cách đi vào lòng con người là
qua bao tử hãy còn rất thích đáng.
"Ngày xưa em thường
đánh thức anh dạy với một nụ cười và
một cái hôn nhẹ nhàng trên má nhưng nay em
đâu còn làm như thế nữa. Ðôi khi em còn dạy trễ nên anh phải tự làm
để ăn sáng hay ăn tại văn phòng. Em
đã thường
đợi cửa khi anh đi làm về và hỏi anh ngày ấy ra sao. Em thực tình
muốn biết và em tỏ ta rất có tình cảm và an ủi khi anh có chuyện không
vui. Nhưng dạo này dường như em không quan tâm
đến việc anh sống ra sao nữa, liệu anh có ngày
làm vui vẻ hay vất vả không. Em bận xem truyền hình, la các con, hay ở các
nơi sửa sang sắc đẹp hay làm cái này
cái nọ. Khi anh gọi, "Hello, em thân yêu, anh
đã vế", đôi lúc em gắt và nói
những thứ đó không thật khả ái, vân vân và
vân vân..."
Và như vậy cả hai trao
đổi tâm tình. Truyền thông rất quan
trong trong quan hệ. Có phải không? Quan hệ sẽ tan vỡ khi không có truyền
thông, và cả hai phía đều giữ phiền muộn
trong lòng, nuôi dưỡng chúng trong tâm. Nhưng khi có sự truyền
thông, sẽ có sự thông cảm. Cởi mở trong lòng cả hai phía sẽ
đưa đến thông cảm và thương yêu. Nếu
hai người quan tâm đủ và coi trọng
quan hệ của họ thì họ sẽ trò chuyện tâm sự. và áp dụng các biện pháp sửa
chữa khi cần. Bằng cách ấy, quan hệ sẽ trở nên mạnh mẽ và
đẹp đẽ với mỗi ngày qua.
Mỗi một người chúng ta cần phải
đóng góp bằng cách riêng của mình,
bằng bất cứ đường lối nào mà ta biết
ra sao. Trong trường hợp của tôi, là một nhà sư, tôi có thể
đóng góp bằng cách chia sẻ chút ít kiến thức
về Phật Pháp mà tôi biết, một chút hiểu biết mà tôi có. Tôi có thể
khuyến khích người ta tu tập thiền định và
hướng dẫn họ một chút trên con đường này.
Tôi có thể kêu gọi người ta hãy thương yêu và quan tâm, ân cần và nhẫn nại
vân vân... Ðương nhiên chúng ta không hoàn toàn, có những lúc chính chúng
ta thất bại không góp phần được. Nói thì
thật là dễ nhưng thực hành điều ta thuyết
giảng thì thật là khó, điều đó rất
đúng. Cho nên tôi phải là người đầu tiên
thừa nhận những thiếu sót của tôi và chấp nhận sửa chữa. Trong khi phán
xét tôi hay những người khác, tôi cầu mong người ta xem xét giảm nhẹ những
yếu tố như ý tốt. Chúng tôi có ý tốt và không có ý làm hại. Nhưng vì những
nhược điểm, không khéo léo, không kiên
nhẫn, không độ lượng, kiêu ngạo vân
vân... chúng ta có thể làm người khác đau đớn
mặc dù chúng tôi muốn làm tốt. Nhưng nếu là một người cao thượng,
người đó có thể hiểu và tha thứ. Khả năng
tha thứ là một đức tính tuyệt vời, cho
nên có câu nói, lầm lỗi là con người; tha thứ là siêu phàm,
đã được
đặt ra.
Hãy tận dụng cơ hội
để cho và chính bạn sẽ biết cách tốt
nhất để đóng góp. Tất cả chúng ta có những kỹ
năng, tài ba và năng khiếu khác nhau,
điều kiện và hoàn cảnh cũng khác. Cho nên mỗi chúng ta chỉ có thể
đóng góp theo đường lối riêng của
mình, tùy theo hoàn cảnh và khuynh hướng. Ðiều quan trọng là cố gắng;
chúng ta làm theo khả năng. Như chúng ta đã
nói, mỗi chút cũng đáng kể và khi thời
gian qua đi, chúng ta sẽ thấy thực tế chúng
ta đã làm được một chút gì phải
lẽ. Và đó là nguyên nhân cho chúng ta
hoan hỉ. Ðương nhiên nó không có nghĩa là chúng ta cứ nghỉ ngơi trên vòng
hoa chiến thắng. Còn nhiều việc phải làm. Nên chúng ta phải tinh tấn;
chúng ta phải tiếp tục tấn tới.
---*---
Người ấy sống tràn
đầy tâm từ ở phương thứ nhất, cũng như vậy ở
phương thứ hai cũng như vậy ở phương thứ ba, cũng như vậy ở phương thứ tư,
đúng vậy ở bên trên, bên dưới, chung quanh người ấy sống tràn
đầy tâm từ cả thế giới, ở khắp nơi, theo mọi
cách, tâm từ ấy sâu xa trải rộng, mênh mông, không thù hằn, không
ác ý.
Ðức Phật
Hiểu biết mọi thứ là tha thứ
mọi thứ
Và lúc ấy sẽ có có tình thương yêu
Vô danh
---*---
THƯƠNG YÊU LÀ HIỂU
BIẾT
Muốn chết tốt
đẹp chúng ta phải sống tốt lành. Nếu
chúng ta đã sống tốt lành chúng ta có
thể chết êm ả. Sẽ không còn nuối tiếc. Chúng ta sẽ ra
đi một cách an bình, mãn nguyện rằng
chúng ta đã làm cái chúng ta có thể,
rằng trên con đường mà chúng ta
đã gieo rắc cảm thông và hạnh phúc,
rằng chúng ta đã sống theo nguyên tắc
và lời cam kết trước những lý tưởng về thương yêu và từ bi.
Thương yêu là hiểu biết. Thương
yêu không phán xét hay kết tội. Thương yêu lắng nghe và cảm thông. Thương
yêu quan tâm và đồng tình. Thương yêu
chấp nhận và tha thứ. Thương yêu không biết
đến chướng ngại. Nó không phân biệt mà nói: Tôi là Nguyên Thủy, bạn
là Ðại Thừa hay Tây Tạng. Nó không nói: Tôi là Phật tử và bạn là Cơ Ðốc,
Hồi Giáo hay Ấn Giáo. Hay tôi là người Trung Hoa, bạn là người Mã Lai,
người Ấn Ðộ hay người Lai Âu Á. Hay tôi là người Phương Ðông và bạn là
người Phương Tây; hay tôi là người Mã Lai, bạn là người Nhật Bản, Hoa Kỳ,
Miến Ðiện, Thái và vân vân...
Thương yêu vượt qua tất cả
chướng ngại. Thương yêu thấy và cảm thấy chúng ta
đều là một giống nòi, một giống người.
Nước mắt của chúng ta đều giống nhau; chúng
đều mặn, và máu của chúng ta đều đỏ.
Khi có loại tình yêu và từ bi này chúng ta có thể có cảm tình với
người khác. Chúng ta có thể thấy chúng ta cùng
đi trên một con thuyền trong biển dông
bão của cuộc đời. Chúng ta là những
bạn đau khổ trong luân hồi, cái bất tận xẩy
ra trong vòng sinh tử. Chúng ta là anh em và chị em.
Khi chúng ta nhìn thấy và cảm
thấy điều này, thì tất cả những chướng
ngại về nòi giống, tôn giáo lý tưởng vân vân... sẽ biến mất. Chúng ta có
thể vươn tới bằng con tim của tình thương yêu thanh khiết. Chúng ta có thể
hiểu và cảm thông với đau khổ của người khác.
Từ bi sẽ tăng lên và tràn đầy trong lòng
chúng ta. Và trong bất cứ cái gì chúng ta nói hay làm, tình thương yêu và
từ bi này cũng sẽ in dấu. Nó sẽ xoa dịu và làm lành. Nó sẽ góp phần vào
hòa bình và hiểu biết.
CON NGƯỜI VÀ CON BỌ CẠP
Tình thương
đi đôi với từ bi. Khi chúng ta có một trái
tim thương yêu, từ bi nảy sinh dễ dàng nơi chúng ta. Bất cứ lúc nào
chúng ta nhìn thấy một người khổ đau, chúng
ta cảm thấy muốn chìa tay ra làm cho người ấy
đỡ đau. Từ bi có đặc tính là muốn loại
bỏ khổ đau. Nó có thể đặc biệt được cảm thấy
khi chúng ta tự ý hành động để loại bỏ
hay làm giảm bớt khổ đau của người
khác. Có một câu chuyện làm sáng tỏ vấn
đề: Một người trông thấy một con bọ cạp sắp
sửa bị chìm trong vũng nước. Ý muốn cứu con bọ cạp
đột nhiên nổi lên trong tâm, và không
lưỡng lự chìa tay ra nhấc con bọ cạp ra khỏi vũng nước và
để nó trên mặt
đất. Con bọ cạp đốt người đó. Và muốn
qua sang bên kia đường con bọ cạp lại bò
đi và đi
thẳng vào vũng nước. Nhìn thấy nó quờ quạng và sắp bị chìm lần nữa,
người ấy bắt nó lần thứ hai và lại bị nó đốt.
Một người khác đến và nhìn thấy tất cả sự việc xẩy ra liền nói với
người ấy: "Tại sao bạn ngu đần đến như thế?
Bây giờ bạn thấy bạn bị đốt không những một lần mà bị
đốt đến hai lần! Thật là ngu dại
đi cứu con bọ cạp". Người ấy trả lời:
"Thưa Ngài, Tôi không thể chịu được việc này.
Ngài thấy, bản tính của con bọ cạp là đốt.
Nhưng bản tính của tôi là cứu. Tôi không thể chịu
được ngoài việc cố gắng cứu con bọ
cạp".
Ðúng,
đáng lẽ người ấy có thể dùng trí tuệ
và sử dụng một cái gậy hay một thứ gì đó để
nhấc con bọ cạp ra khỏi. Nhưng người ấy có lẽ đã nghĩ rằng có thể
nhấc con bọ cạp ra bằng tay theo cách ấy mà không bị nó
đốt. Hay người ấy có lẽ đã nghĩ rằng
con bọ cạp ở trong cơn hoạn nạn khốc liệt như vậy sẽ không
đốt mình. Dù sao, tinh thần của câu
chuyện là phản ứng tự phát của người ấy trong việc muốn cứu một chúng sinh
khác, mặc dầu chúng sinh ấy chỉ là một côn trùng. Câu chuyện cũng cho thấy
người từ bi là như vậy mặc dù có thể nhận
được sự bội ơn của người mình đã
cứu giúp, điều đó không thành vấn
đề. Ðó chính là bản tính muốn giúp
đỡ và nếu có thể giúp nữa thì người ấy
vẫn làm. Người ấy không biết nuôi dưỡng niềm cay
đắng hay ác cảm ra sao!
Từ bi là tiếng nói của con tim.
Ở vào lúc khi chúng ta bị thúc đẩy bởi tình
thương và từ bi, chúng ta chìa tay ra giúp đỡ
không phân biệt nòi giống, tín ngưỡng, hay quốc tịch của người
khác. Dưới ánh sáng của từ bi, sự nhận dạng về nòi giống, tín ngưỡng vân
vân trở thành thứ yếu; chúng trở thành vô nghĩa. Hơn nữa, từ bi như vậy
không phải chỉ giới hạn ở con người mà còn trải rộng tới tất cả những vật
sống gồm có súc vật và côn trùng. Song hàng với
đề tài từ bi như tiếng nói của con
tim, tôi muốn kinh gửi quí vị một bài thơ
TIẾNG NÓI CỦA TỪ BI
Ðại Thừa Nguyên Thủy Kim Cang Thừa
Cơ Ðốc Phật Hồi Ấn Ðộ Giáo
Người Mã Hoa Ấn Ðộ Lai Âu Á
Mã Lai Nhật Bản Mỹ Phi Châu
Người Da trắng Da đen Da vàng Da nâu
và vân vân... và vân vân...
như bạn muốn.
Vấn đề đó là gì?
Tiếng nói của từ bi
là tiếng nói con tim.
Khi con tim nói
Ngàn hoa đua nở
Và tình thương tràn ngập
như mặt trời bình minh
ùa qua cửa sổ
Không cần lời
một cái nhìn, một tiếp xúc
đủ
để nói
mà ngàn tiếng không bằng.
Và Từ bi rực sáng
như vì sao sáng lạn
trong bầu trời ban đêm.
Chướng ngại sụp đổ
lay động thành kiến
Giành lại ưu thế
Tình thương và từ bi,
chế ngự mọi sợ hãi, hoài nghi
chữa lành các vết thương,
bao trùm.
Tôi cảm thấy nếu chúng ta cố
gắng trau dồi loại tình thương ấy và từ bi ấy, và
đến lúc cái chết tới, chúng ta sẽ ra đi an bình.
Cho dù chúng ta không thành công 100 phần trăm
ở trong tình thương yêu toàn hảo, chúng ta vẫn sung sướng và mãn
nguyện rằng chúng ta đã cố gắng. Và
chắc chắn chúng ta đã thành công ở một
mức độ nào
đó.
NĂM
GIỚI
Nếu chúng ta cố gắng trau dồi
loại tình thương này, thì việc giữ năm giới
không khó khăn gì. Giới thứ nhất như các bạn biết là không giết,
không lấy mạng sống cho dù là con vật hay côn trùng. Ðó là một giới
đẹp đẽ. Giới đó có nghĩa chúng ta tôn trọng
sự sống. Nói đúng hơn là chúng ta không những tôn trọng sự sống mà
chúng ta còn trân quý nó. Ðời sống quý giá cho tất cả. Khi chúng ta cho sự
sống là chúng ta cho một tặng phẩm cao quí nhất. Khi chúng ta giữ
được giới này chúng ta trở nên tử tế
hơn Không những chúng ta kiềm chế không giết, chúng ta còn kiềm chế không
làm hại bất cứ chúng sinh nào.
Ðúng, trong cái thế giới bất
toàn hảo này, người mạnh cuớp bóc kẻ yếu, giết chóc lan tràn. Chúng ta có
thể nhìn thấy điều này trong thế giới
động vật, con hổ ăn thịt con nai ra sao, con
rắn bắt con nhái, con nhái bắt chuồn chuồn, con chim bắt sâu, và cá
lớn nuốt cá bé. Và con người chúng ta giết thú vật và cá và thậm chí giết
lẫn nhau. Nhưng chúng ta ở đây không phải để
xét xử hay kết tội. Chúng ta hiểu những nhược điểm của con người và
bản chất không hoàn chỉnh của cuộc sống. Ðức Phật cũng hiểu như vậy. Ngài
nói khi chúng ta có thể thanh tịnh tâm của chúng ta và
đạt Niết bàn thì chúng ta có thể không
chọn cuộc sống bất toàn hảo, cái vòng sinh tử này. Chính chúng ta sẽ kiểm
tra xem liệu chúng ta có thể làm được điều này
không. Khi chúng ta đã tẩy sạch
được tất cả tham, sân si trong tâm chúng ta,
chúng ta sẽ biết chắc bằng kinh nghiệm trực tiếp liệu Ðức Phật nói
đúng hay không. Cho đến lúc đó, tôi có niềm
tin chẳng là gì tốt hơn là đi theo con
đường của Ðức Phật, con đường thanh
tịnh tâm.
Mỗi người trong chúng ta phải
đi theo con đường phát triển của chúng ta. Hãy
để cho mỗi người chúng ta cố gắng giữ giới
thứ nhất với khả năng tốt nhất của mình: chúng ta không nên giết;
chúng ta nên dung nạp sự sống, cho sự sống.
Giới thứ hai là không trộm cắp
hay lừa đảo, không lấy bất cứ thứ gì
với ý định bất lương. Chúng ta lương thiện
chúng ta kiếm sống bằng đường lối thật thà. Có một số người nói
rằng một con người thành thật không thể thành công hay không thể giàu có.
Tôi không đồng ý với điều này. Tôi
chắc chắn có rất nhiều người chân thật giữ
đúng nguyên tắc của họ đã thành
công. Và hơn thế nữa họ vui hưởng hạnh phúc của một lương tâm trong sạch
và tâm an lạc. Mặt khác những người lừa đảo
đều bị lộ chân tướng và cuối cùng bị trừng phạt. Cho dù họ có thể
tìm cách thoát khỏi sự phát hiện, họ vẫn bị khổ vì sợ bị phát hiện và
những day dứt của lương tâm tội lỗi. và khi họ chết, cái khổ
đau của tái sinh thống khổ chờ đợi họ. Như
vậy, thành thật đã luôn luôn và
sẽ luôn luôn là cách xử sự tốt nhất. Ðừng nghe những kẻ nói ngược lại.
Người thành thật sẽ thành công hơn. Cho dù chúng ta phải
đương đầu với những chướng ngại to lớn hơn,
chúng ta cũng không lừa đảo để thành công. Chúng ta thà thành thật
mà nghèo còn hơn là giàu có mà không thẳng thắn. Không có gì hạnh phúc hơn
khi có một lương tâm trong sạch nhất là lúc chúng ta
đương đầu với cái chết.
Giới thứ ba là có trách nhiệm
trong vấn đề tình dục. Nếu hai người
hôn phối gìn giữ mối quan hệ đứng đắn, ân
cần, thương yêu và trung thành với nhau, thì tình yêu của họ
được bảo vệ. Không có người thứ ba nào
có thể xen vào giữa. Trách nhiệm tình dục rất quan trọng. Vì nếu không có
trách nhiệm, sự đối xử tàn nhẫn sẽ xẩy
ra. Bọn chủ chứa ma cô hủy hoại đời sống của
các thiếu nữ; và những người bị gục ngã bởi tính ham nhục dục là
những kẻ tiếp tay cho những hành vi ác độc.
Nhưng ở đây chúng ta sẽ không phán xử mà là biện hộ cho tình thương
yêu và từ bi thực sự. Ðúng, nếu chúng ta có thể thanh tịnh tâm chúng ta và
kiềm chế những ham muốn nhục dục, thì sẽ có ít
đau khổ và ít bị lợi dụng hơn trong
thế giới này. Và bệnh AIDS đáng sợ nay đã
trở thành một tai họa trên khắp thế giới cũng có thể bị ngăn
chặn.
Giới thứ tư là không nói dối mà
nói sự thật. Một lần nữa chúng ta không nên nghe những kẻ nói rằng ta sẽ
không thành công nếu không nói dối và đóng
vai giả dối. Lòng chân thật là một trong thập pháp (mười
đức hạnh) được triệt để tuân theo bởi một Bồ
Tát (một người muốn đạt Phật quả). Tất cả những người Phật tử cũng phải
phát triển những đức hạnh đến một mức độ đáng kể nếu muốn đạt được A La
Hán quả - giải thoát khỏi vòng sinh tử. Ðức Phật muốn chúng ta hết
sức ngay thẳng nên đã khuyến cáo chúng
ta không nói dối thậm chí khi nói đùa
chơi. Cho nên chúng ta nên cố gắng hết mình
để giữ giới cao quý không nói dối này. Hơn nữa mặc dù chúng ta
không đi tìm nó, thanh danh của một
người chân thật vẫn lan tràn xa rộng. Thâm chí người gièm pha cũng phải
thừa nhận và kính trọng người chân thật.
Giới thứ năm
là không uống rượu và dùng ma túy vì chúng làm tâm
đần độn. Và chúng cũng có hại cho thân
thể. Một số người nghĩ rằng giới này cho phép uống một chút có tính cách
giải trí nhưng tôi không nghĩ như vậy. Ðức Phật không muốn chúng ta làm
hại chánh niệm có thể quay về khiến chúng ta làm hại những giới khác.
Ngoài ra, rượu rất có hại cho sức khỏe của chúng ta. Về ma túy tất cả
chúng ta đều đồng ý những chất ma túy mạnh
như heroin (bạch phiến) rất có hại. Nhưng thuốc lá được một số người nghĩ
rằng không ở trong giới này. Ở thời
đại Ðức Phật, thuốc lá rõ ràng chưa
được khám phá ra. Tuy nhiên dưới ánh sáng của ngày nay, chứng cớ y
khoa quá mạnh về sự tai hại của thuốc lá và những cố gắng của các chính
phủ trên khắp thế giới cấm hoặc cắt bớt sự sử dụng thuốc lá, chúng ta tin
tưởng để nói rằng nếu Ðức Phật ở
đây ngày nay thì Ngài cũng khuyến cáo
chúng ta đừng hút thuốc lá, vì Ngài
không muốn chúng ta làm hại đến sức khỏe thể
chất chúng ta và Ngài cũng chẳng muốn chúng ta bị nghiện ngập với
chất ma túy nhẹ nhưng đã
được chứng tỏ có hại này.
Có thể nói nhiều hơn nữa về tai
hại của rượu và thuốc lá đã trút và
vẫn còn đang trút lên
đầu xã hội nhưng
điều đó không nằm trong phạm vi cuốn sách này
để đi vào một cuộc thảo luận dài về
đề tài này. Chỉ cần rằng chính quan
điểm của chúng ta ngay cả đến cái gọi là
uống chơi và hút sách cũng có phần vi phạm
đến tinh thần của giới thứ năm này. Cho nên tốt hơn là tuyệt
đối giữ giới nhất là trường hợp về
rượu khi đã xét kỹ
đến những lời dạy của Ðức Phật: Này
các tỳ kheo, dùng các chất say trong lúc tu tập, phát triển, và thi hành
lặp đi lặp lại, khiến chúng ta đi vào
đia ngục, thế giới thú vật, và thế
giới ngã quỷ, và kết quả tối thiểu ta cũng phải tái sanh làm người bị mất
trí".
Khi chúng ta giữ năm
giới, chúng ta đem hạnh phúc và yên ổn
đến cho người khác. Bằng cách nào? tại sao không một ai còn phải lo
lắng về chúng ta. Họ không còn phải lo sợ chúng ta. Họ sẽ thấy an toàn và
thoải mái với chúng ta. Vì họ có thể thấy
được bảo đảm là chúng ta không làm hại họ, trộm cắp của họ hay lừa
đảo họ. Chúng ta sẽ không ngoại tình
với vợ chồng của họ. Chúng ta không nói dối họ. Và gì nữa chúng ta không
uống rượu không hút thuốc lá, họ không phải lo lắng về con cái họ bắt
chước chúng ta quen thói rượu chè hay hút thuốc lá hay nguy hiểm mà họ
phải đối đầu bởi phảiï hít các làn
khói thuốc. Họ sẽ cảm thấy họ có thể tin chúng ta vì chúng ta không còn
uống rượu. Chúng ta là người có đạo lý và
giữ vững cách sống trung thực và đạo đức.
Chúng ta không làm hại ai. Những kẻ say
đắm dục lạc có thể nghĩ rằng chúng ta sống
một cuộc đời buồn tẻ và chúng ta khờ dại. Nhưng
điều đó không thành vấn
đề. Chúng ta hạnh phúc vì chúng ta là
thế. Chúng ta hạnh phúc vì chúng ta hạnh phúc. và nói thật, chúng ta sẽ
được tán dương bởi người hiền.
Cho nên thật tốt lành khi chúng
ta giữ năm giới cơ bản. Hơn nữa chúng ta tu
tập sự khoan dung và tử tế. Chúng ta quan tâm và chia sẻ bất cứ gì
chúng ta có thể. Chúng ta cũng trau dồi chánh niệm như lời Ðức Phật
khuyên. Chúng ta cố gắng sống một cuộc đời có
chánh niệm. Chúng ta hành thiền để đạt
nhiều hiểu biết hơn nữa về bản chất cuộc sống của chúng ta, đặc tính của
nó là vô thường, khổ đau và vô
ngã. Bởi vậy khi chúng ta thực hành những
điều ấy, chúng ta đã sống một cuộc sống thiện, thì ta có gì phải sợ
khi chúng ta chết? Chúng ta có nuối tiếc gì?
Ðó là lý do tại sao chúng ta
nói để chết êm ả chúng ta phải sống
tốt đẹp và rằng khi chúng ta sống tốt
đẹp, chúng ta có thể chết êm ả. Chúng
ta có thể ra đi an lạc, mãn nguyện
rằng chúng đã làm tất cả những gì
chúng ta có thể. Ðúng, chúng ta thể mắc một số sai lầm trên
đường đời. Nhưng ai mà không lầm lẫn?
Jesus Christ có lần đã nói: "Hãy
để cho kẻ không tội lỗi ném hòn
đá đầu tiên". Cho nên trước khi chúng
ta học hỏi và trở nên chín chắn, chúng ta có thể
đã có một số hành vi xấu. Việc
đó có thể hiểu được, vì tất cả chúng
ta đều không hoàn hảo. Nhưng vấn
đề là một khi chúng ta nhận thức
được những lỗi lầm của chúng ta, chúng ta bắt
đầu trau dồi tình thương yêu và từ bi, chúng ta bắt
đầu giữ giới và thanh lọc tâm trí.
Chúng ta có thể có hạnh phúc vì chúng ta có thì giờ thay
đổi để đi đúng đường. Như người tạ thường nói
muộn còn hơn không. Chúng ta đễn muộn
một chút sau những người khác nhưng ít nhất chúng ta cũng vẫn tới.
CHÚNG TA LÀ NHỮNG CỨU TINH CỦA CHÍNH MÌNH
Ðôi khi là một nhà sư tôi
được yêu cầu
đến tụng kinh cho tang lễ. Tôi cảm thấy buồn
cho gia quyến của người chết nhưng đôi khi tôi cũng cảm thấy không giúp
được gì vì có quá nhiều khó xử trong vai trò của một nhà sư
đi tụng kinh đám tang.
Một ngày nọ, một phụ nữ trẻ
tuổi đến gặp tôi. Cha cô mới chết sáng hôm
đó. Ông mới chỉ 42 tuổi. Cô nói với tôi bằng tiếng Phúc Kiến: "Xin
mời thầy đến tụng kinh. Xin thầy mở con đường
cho cha tôi". Tôi nhìn cô ta với tất cả tấm lòng từ bi mà tôi có
thể tập trung. Tôi có thể cảm thấy sự bối rối và
đau khổ của cô. Cô khoảng chừng 20 tuổi và
là một người con gái có hiếu. Trong thâm tâm tôi nói thầm với mình: "Trời
ơi tôi sẽ mở đường cho người như thế nào
đây? Con đường tưởng tượng nào tôi sẽ
vẽ trong không khí cho hồn tưởng tượng đặt
chân lên? Làm sao tôi có thể nói với người phụ nữ trẻ tuổi tội
nghiệp đang ở trong tình trạng buồn
phiền và bối rối rằng không có con đường nào
như cô có lẽ đã tưởng tượng như thế?"
Ðức Phật cũng có lần ở trong
tình thế như vậy và Ngài đã trả lời ra
sao? Một hôm một người trẻ tuổi lại gần Ðức Phật và hỏi Ngài: "Bạch Thế
Tôn, cha con chết. Xin mời Ðức Phật đến và
cầu nguyện cho cha con, cứu độ linh hồn ông
ấy để ông ấy có thể đi lên thiên đàng.
Những người Bà La Môn cử hành những nghi thức này nhưng Ðức Phật lại còn
mạnh hơn họ nhiều. Nếu Ngài sẽ làm điều đó,
chắc chắn hồn cha con sẽ bay thẳng về thiên
đàng".
Ðức Phật trả lời, "Rất tốt, hãy
đi ra chợ và và
đem về cho ta hai cái bình
đất và một ít bơ". Người trẻ tuổi sung
sướng vì Ðức Phật đã hạ cố thi hành
một số thần thông để cứu linh hồn cha của mình.
Anh ta vội vã đi ra phố và mua các thứ
mà Ðức Phật bảo. Ðức Phật chỉ dẫn cho anh ta
để bơ vào một bình và để đá vào
bình kia. Rồi ném cả hai bình đó xuống ao.
Người trẻ tuổi làm theo và cả hai bình
đều chìm xuống đáy ao. Rồi Ðức
Phật tiếp tục: "Bây giờ hãy lấy một cái gậy và
đập vỡ hai bình
đó ở dưới ao". Người trẻ tuổi làm
theo. Hai cái bình bị đập vỡ và bơ thì
nhẹ đã nổi lên còn hòn
đá vì nặng nên vẫn ở dưới
đáy ao.
Rồi Ðức Phật nói: "Bây giờ
nhanh lên đi tập họp tất cả những thầy tu. Hãy
nói với họ đến và tụng kinh
để bơ chìm xuống và viên
đá nổi lên." Người trẻ tuổi nhìn Ðức
Phật, sửng sốt, nói, "Bạch Ðức Thế Tôn, Ngài có nói thật không ạ. Chắc
chắn Ngài không thể trông chờ bơ nhẹ mà chìm và
đá nặng mà nổi. Ðiều
đó ngược lại với qưi luật tự nhiên."
Ðức Phật mỉm cười và nói: "Này
con, con đã thấy nếu cha con có một
cuộc đời lương thiện thì những hành vi
của ông cũng nhẹ như bơ cho dù thế nào thì ông cũng lên thiên
đàng. Không ai có thể cản
được, ngay cả đến ta. Không ai có thể chống
lại nghiệp luật thiên nhiên. Nhưng nếu cha ngươi có một cuộc
đời bất thiện thì cũng giống như hòn
đá nặng, cha ngươi sẽ bị chìm vào
địa ngục. Dù tụng kinh nhiều
đến đâu đi nũa bởi tất cả các thầy tu trên
thế giới này cũng không thể gây thành khác
được."
Người trẻ tuổi hiểu rõ. Anh
chữa lại quan niệm sai lầm của anh và ngừng
đi loanh quanh đòi hỏi cái không thể
được. Nụ cười của Ðức Phật đã
đi tới điểm: Không ai có thể cứu chúng ta,
tối thiểu của tất cả sau khi chúng ta chết. Theo nghiệp luật, chúng ta là
sở hữu chủ của những hành vi của chúng ta, chúng ta là người thừa hưởng
những hành vi của chúng ta. Những hành vi của chúng ta thực sự là tài sản
của chúng ta. Chúng là chỗ nương tựa thực sự của chúng ta, là những thân
nhân thực sự của chúng ta. Chúng là trung tâm từ
đó chúng ta xuất phát. Khi chúng ta chết,
chúng ta không mang được dù chỉ có một xu với chúng ta, hay bất cứ
thứ đồ gì của cá nhân chúng ta. Cũng
chẳng có thể mang được một trong những người
thân để cùng đi với chúng ta. Giống
như chúng ta đến một mình theo nghiệp của chúng ta thì chúng ta
cũng phải ra đi một mình. Nếu chúng ta
hiểu rõ nghiệp luật, thì chúng ta sẽ cảm niệm thấy sống một cuộc
đời lương thiện quan trọng đến như thế nào
trong khi chúng ta còn sống. Ðợi đến lúc chết
thì sẽ quá muộn. Có một chút gì đó có
thể làm được.
TÁI SANH NGAY TỨC KHẮC
Tuy nhiên, có một vai trò mà
người thầy tu có thể áp dụng trong việc tụng kinh tang lễ. Ðó là cách chia
sẻ công đức của Phật Giáo. Chia sẻ công đức
hay hồi hướng công đức ảnh hưởng thế nào? Trước khi chúng ta có thể
giảng nghĩa điều này, trước hết chúng
ta phải hiểu cái gì xẩy ra vào lúc chết. Theo Ðức Phật, tái sinh xẩy ra
lập tức sau khi chết, thức có tính chất sinh diệt không ngừng. Không có
khoảng cách giữa cái chết và tái sinh kế tiếp.Vào lúc chúng ta chết thì
lúc sau tái sinh xuất hiện, cả trên bình diện con người cũng như bình diện
thú vật, bình diện ngạ quỷ, bình diện của A Tu La, bình diện
địa ngục, hay bình diện thiên giới.
Ta tái sanh theo nghiệp của ta.
Nếu ta sống một cuộc đời lương thiện, nói
chung ta sẽ được sự tái sanh tốt. Tâm ở trong trạng thái thiện vào
lúc chết làm cho tái sanh tốt đến. Ta có thể
tái sinh làm người hay thần ở một trong nhiều cảnh giới cõi trời.
Ðức Phật có thể nhìn thấy bằng năng lực tâm
linh những cảnh giới khác nhau về kiếp sống, và cũng nhìn thấy
chúng sinh chết ra sao và tái sinh ngay lập tức theo những hành vi của
chúngï. Ðức Phật và nhiều các nhà sư ở thời
đại của Ngài đã có thể nhớ lại
được tiền kiếp.
Nếu ta sống một cuộc
đời tội lỗi, thì tái sinh xấu sẽ
đến – một trong bốn trạng thái thống khổ là
địa ngục, ngã quỷ, súc sinh hay A Tu
La. Nhưng dù tái sinh vào bất cứ nơi nào, ta cũng không ở
đấy vĩnh viễn. Khi thọ mạng ở trong đó hết
hạn, cái chết xảy ra và nó đi vào
một tái sinh mới. Cho nên kiếp sống ở địa
ngục hay ngã quỷ cũng không vĩnh viễn. Có hy vọng: sẽ có cơ hội,
tuy có thể phải mất một thời gian không kể xiết
để có cơ hội này. Cho nên tốt hơn là
đừng để rơi vào những nơi thống khổ,
một khi đã rơi vào
đó không ai biết sẽ phải ở đó bao lâu. Có thể
dường như vô tận!
Tương tự như vậy, kiếp sống ở
cõi trời cũng không vĩnh viễn. Khi kiếp sống tại
đó đã mãn, rất có thể rơi vào bình
diện thấp hơn. Chỉ có các bậc A La Hán đã
rũ bỏ tất cả ham muốn để tái sinh, đã
loại bỏ được tất cả những ô nhiễm của tham,
sân và si, sẽ không phải tái sinh. Lúc chết họ không còn phải sinh
vào bất cứ một trong 31 bình diện kiếp sống. Họ không còn bị luân hồi,
không còn bị vào vòng sinh tử. Họ đạt được vô
dư niết bàn, tức là dập tắt được toàn
bộ khổ đau của thân và tâm. Nhưng cho
đến khi trở thành A La Hán, vẫn phải
tái sinh.
CHIA SẺ CÔNG ÐỨC ẢNH HƯỞNG RA
SAO
Bây giờ muốn hồi hướng công
đức được hữu hiệu, điều cần thiết là
người nhận công đức phải biết việc gì
đang xẩy ra. Người đó phải có mặt và
có thể chấp thuận những hành vi thiện được
tiến hành bằng tên người ấy hay nhân danh người ấy. Nếu người ấy
chấp thuận, thì sự chấp thuận hay trạng thái tâm vui vẻ là một trạng thái
thiện trong tâm. Nói một cách khác, người ấy giành
được công đức cho chính mình bằng cách
vui mừng những hành vi lương thiện đã
được làm vì người ấy. Bởi vậy
không phải là chúng ta chuyển công đức của
chúng ta cho người ấy. Việc đó theo nghĩa đen không thể làm
được. Cái xẩy ra là người ấy vui mừng
và sự vui mừng ấy là một hành vi công đức
khiến cho sự khổ đau của người ấy có thể giảm đi và hạnh phúc của
người ấy tăng lên.
Nếu sau khi chết, tái sinh xảy
ra trong bình diện con người hay thú, chúng sinh sẽ không ở trong vị trí
biết được điều gì xẩy ra – chẳng hạn
vẫn còn là một bào thai trong dạ con người mẹ. Trong những hoàn cảnh như
vậy, người ấy không thể vui hưởng hay chia sẻ trong việc làm công
đức.
Nếu một người
đã bị tái sinh vào
địa ngục, người ấy cũng không thể biết cái gì
sẽ xẩy ra trên thế giới này vì người ấy bị
đau khổ ở địa ngục, đây là một bình diện khác của kiếp sống trong
đó người ấy không hiểu biết về cái gì
diễn ra nơi đây trên trái
đất. Nếu người ấy được tái sinh làm
người của cõi trời, cũng không hẳn là người ấy có thể tiếp xúc
được với thế giới này. Người ta nói
rằng vì quá sung sướng và quá bận rộn tìm hiểu những cái tuyệt vời của
kiếp sống mới họ không thể quan tâm ngay đến
cái gì đang xẩy ra trên trái
đất. Thời gian chỉ là tương
đối, và một ngày ở tầng trời Tavatimsa
được nói rằng bằng 100 năm ở trái đất! Cho nên
vào lúc mà người trời, ấy là nói vậy, nhìn xuống dưới này, chúng ta tất cả
đều đã chết và
đi rồi! Hơn thế nữa, chúng ta không thể nói
chắc người trời tự động có thần thông tâm linh để nhớ lại tiền kiếp của mình,
mặc dù kinh sách có ghi lại một số trường hợp người trời nhớ những gì họ
đã làm ở tiền kiếp
để được tái sinh vào cõi trời.
Cho nên trong kinh Tirokutta,
Ðức Phật nói với một người Bà La Môn là chỉ có thần hồn bất hạnh (peta)
mới có thể chia sẻ công đức. Những thần hồn này,
tuy ở trong những cảnh giới riêng của họ, có thể quan sát bình diện của
loài người bằng chính mắt của họ. Nếu họ nhận thức
được những hành vi công
đức được làm cho họ, và vui hưởng về
điều này, thì họ có thể giành
được công đức do sự vui mừng của họ.
Ðương nhiên không ai muốn người thân của mình tái sinh làm thần hồn bất
hạnh (peta). Người ta thích nghĩ là họ sẽ tái sinh làm người hay làm người
ở cõi trời.
Vì thế người Bà La Môn hỏi Ðức
Phật cái gì sẽ xẩy ra nếu người chết đã
giành được sự tái sinh tốt. Ðức Phật
trả lời, chia sẻ công đức vẫn là tốt,
vì ta sẽ ít lạc hướng hơn luân hồi, lúc bắt
đầu chắc chắn có một số thân quyến của chúng ta ở tiền kiếp đã có
tái sinh không may thành petas. Vì tuổi thọ của peta rất dài, họ vẫn còn ở
quanh quẩn đâu đó. Cho nên chúng ta
chia sẻ công đức với thân quyến quá cố, và
với tất cả chúng sinh. Ngoài ra, Ðức Phật nhấn mạnh, người làm hành vi tốt
vì người đã ra
đi chính mình cũng giành
được công đức.
Chia sẻ công
đức là một truyền thống Phật Giáo.
Người Phật tử làm những hành vi tốt như cúng dường thực phẩm và những
đồ cần thiết cho các thầy tu, bảo trợ in kinh
và bố thí cho công cuộc từ thiện, như chỗ ở cho người già, bệnh
viện từ thiện và cơ sở cho người tàn tật. Rồi người ấy mời những người
đã ra đi
và tất cả chúng hữu tình vui hưởng và chia sẻ công
đức. Ðiều này tự nó là hành vi tốt,
người làm không "mất" tý công đức nào
mà còn được hưởng nhiều hơn bởi sự chia sẻ, vì
hành động chia sẻ là một hành vi công
đức khác. Cho nên người sống có hai
công đức – thứ nhất là thực hiện hành
vi tốt và thứ hai là chia sẻ công đức.
Sự có mặt của các nhà sư
để tụng kinh Phật và nói Pháp cho
những người thân bị mất mát vào lúc buồn phiền của họ, cũng là một sự hỗ
trợ tinh thần to lớn. Nhà sư có thể nhắc nhở những thân nhân còn sống về
giáo lý vô thường, khổ đau và vô ngã
của Ðức Phật. Các nhà sư thuyết phục thân nhân chấp nhận sự khổ
đau với trí tuệ, và phấn
đấu chuyên cần hơn
để dạt Niết Bàn, sự chấm dứt hoàn toàn
tất cả khổ đau.
Nếu chúng ta hiểu và chấp nhận
khái niệm Phật Giáo về tái sinh xẩy ra ngay lập tức, thì chúng ta sẽ hiểu
được điều quan trọng là phải thực hành
những hành vi tốt trong khi chúng ta đang
sống. Bởi làm những hành vi tốt, chúng ta có nghiệp tốt. Nghiệp là
di sản thực sự của chúng ta, vì chỉ có hành vi hay nghiệp mới có thể theo
chúng ta. Sau khi chết, việc đốt vàng
mã, nha cửa, xe cộ bằng giấy vân vân... không có lợi lộc gì cho người
chết. Việc làm này đi ngược lại với cái hợp
lý của nghiệp. Hơn thế nữa chúng ta có thể quyết định – làm sao có
thể đốt cái gì ở nơi
đây lại có thể biến thành cái gì ở bên
kia thế giới hay ở bất cứ nơi nào. Cái gì
được đốt thì chỉ là cháy; nó vẫn là cái bị cháy. Trong pham vi
nghiệp luật, cũng vậy dâng cúng đồ ăn cho
người chết cũng vô nghĩa. Khi tái sinh, chúng sinh mới sinh tồn bằng loại
đồ ăn thích hợp với bình diện của kiếp sống. Bởi vậy chúng ta thấy
Ðức Phật không bao giờ bảo chúng ta cúng đồ
ăn cho người chết hay đốt vàng mã, vân vân...
Hiển nhiên, những nghi thức và
nghi lễ về tang chế được truyền thừa từ thế
hệ này đến thế hệ nọ không có một tư
tưởng nào là căn bản và có
nghĩa lý. Ðiều mà Ðức Phật dạy là, như đã
giải thích trước đây, làm một số hành
vi tốt vì hay để tưởng nhớ đến người chết và
rồi chia sẻ công đức bằng cách tụng bằng
tiếng Pali hay bằng ngôn ngữ chúng ta có thể hiểu được: Xin
đem công đức này hướng về những người
chết. Xin những người chết hoan hỉ và chia sẻ công
đức đã
được làm.
TANG LỄ PHẬT GIÁO LÀ MỘT TANG
LỄ ÐƠN GIẢN
Con
đường Phật Giáo có nghĩa lý và
đơn giản. Nếu chúng ta hiểu và
đánh giá cao con đường Phật Giáo, thì
tang lễ Phật Giáo sẽ rất đơn giản tránh nghi
thức và nghi lễ dị đoan, tránh sợ hãi,
lo lắng hay bối rối. Ta không cần phải đốt
cái này cái kia,tiến hành những loại nghi thức xa lạ, và phải tuân
thủ tất cả những điều cấm kỵ, tất cả những
thứ hoàn toàn vô nghĩa và gây bối rối cho những người sống thường
bị cuốn theo điều đó vì sợ hãi, áp lực
xã hội hay dốt nát hơn là bất cứ cái gì khác. Ta không phải mời những
người chuyên nghiệp để tụng kinh hay thực
hiện các nghi thức cho một lệ phí nặng nề lên tới cả ngàn Mỹ Kim
hay thuê một ban nhạc để cử nhạc mặc dù
có thể là nhạc rất nghiêm trang.
Là một Phật tử, ta chỉ cần mời
những nhà sư Phật Giáo để tụng kinh Phật Giáo
không cần phải dài. Sẽ là tốt nếu có thể những kinh này
được dịch ra tiếng Anh hay Trung Hoa để tất
cả mọi người có mặt có thể hiểu được, cảm niệm và sưy ngẫm về cái
đã được
tụng những điều Ðức Phật đã dạy
về bản chất của sự sống và cái chết. Quan trọng nhất là giữ năm
giới bởi người cư sĩ – tụng bằng tiếng Pali, được phiên dịch thì
tốt hơn theo nhà sư. Sự gìn giữ và tuân theo năm
giới là sự tu hành căn bản của người
cư sĩ Phật Giáo. Sau khi thọ giới, nhà sư có thể nói Pháp
để an ủi, khuyên giải và khuyến khích
người có thân nhân chết.
Trong truyền thống Nguyên Thủy,
các nhà sư không thu một khoản lệ phí nào về buổi lễ của họ. Lễ này các
nhà sư làm do lòng từ bi, để hỗ trợ tinh thần
cho những cư sĩ thuần thành trong giờ cần thiết của họ. Bởi vậy các
nhà sư không tìm kiếm sự đền bù bằng
tiền bạc vì điều đó không hòa hợp với
tinh thần Phật Pháp. Tuy nhiên, những cư sĩ thuần thành
đôi khi cúng dường một phong thư đỏ cho vị sư
để mua những thứ cần thiết, như y áo hay thuốc men. Số tiền này,
nếu cúng dường, chỉ là một biểu hiện biết ơn. Thực ra, các nhà sư không
mong muốn phong bì đỏ, và nếu nó
được cúng dường thì chỉ là sự cúng
dường hoàn toàn theo sáng kiến của người cúng dường. Phơng bì này là biểu
hiện sự biết ơn không phải là lệ phí mà là cúng dường. Lệ phí, trong
trường hợp tang lễ, thường là một món tiền lớn lao
được ấn định bởi người làm dịch vụ
tang lễ trước khi đồng ý tiến hành
những tế lễ tỷ mỉ. Và như chúng tôi đã
nói điều đó không phải là việc làm của
một nhà sư.
Những thân quyến,
đương nhiên có thể cúng dường
đồ ăn cho các vị sư tại chùa. Những
người có khả năng hơn có thể cúng dường in
kinh sách Phật Pháp để biếu không. Họ cũng có thể cúng dường cho những cơ
sở từ thiện, cho những người nghèo, và những người túng thiếu. Thay
vì những vòng hoa tang, thân quyến và bạn bè nên
được khuyến khích cúng cho những hội từ thiện
đặc biệt. Tất cả những việc như thế làm tang lễ có ý nghĩa – bớt
đi những lề thói vụng về đem đến nhiều bối
rối và uổng phí tiền bạc.
CHÚNG TA CÓ THỂ HỌC HỎI TỪ
NHỮNG NGƯỜI KHÁC
Người chết có thể
đem thiêu hay
đem chôn ngay – vào cùng ngày hay ngày
hôm sau. Trên phương diện này tôi nghĩ những gia
đình Trung Hoa nên học hỏi một
đôi điều từ đám tang của người Hồi Giáo mà
tôi được biết là
đơn giản, thực tế và không tốn kém.
Một người Hồi Giáo bạn tôi nói cách thức của người Hồi Giáo là chôn ngay
vào ngày chết hay chậm nhất là ngày hôm sau. Cho nên nếu một người Hồi
Giáo chết lúc 2 giờ chiều, người chết có thể
được chôn trước khi mặt trời lặn vào cùng ngày. Nếu người chết vào
buổi tối hay đêm, người ấy
được đem chôn ngày hôm sau.
Tang lễ không tốn kém, dễ lo
liệu vì như người bạn tôi nói, Hồi Giáo không khuyến khích tiêu pha phung
phí mà khuyến khích đơn giản và tiết
kiệm. Một đám tang Hồi Giáo theo như bạn tôi
nói có một quan tài với giá ít ỏi là 500
đồng (tiền Mã Lai) – rất khác với một
tang lễ Trung Hoa có thể tốn kém đến 30,000
đồng hay hơn nữa! Thủ tục tang lễ của người Hồi Giáo, trong phạm vi Hồi
Giáo, tương đối đơn giản và có ý nghĩa. Tang lễ của người Cơ Ðốc
Giáo cũng đơn giản, không tốn kém và
có ý nghĩa đối với người Cơ Ðốc Giáo,
và sư chôn cất được thi hành trong
phạm vi 48 giờ.
Tôi tin rằng trong
đời sống chúng ta không bao giờ ngưng học
hỏi. Thường có những cách làm tốt hơn và có ý nghĩa hơn. Nếu chúng
ta duy trì tâm cởi mở và không thành kiến chúng ta có thể học hỏi
được từ những người khác. Trong Kinh Kalama,
Ðức Phật khuyên chúng ta phải luôn luôn suy nghĩ và
điều tra nghiên cứu chính chúng ta.
Nếu chúng ta thấy một thói quen tốt và có ý nghĩa thì chúng ta nên theo;
nếu chúng ta thấy nó xấu và vụng về thì chúng ta không theo nó, hay nếu
chúng ta đã chót theo nó, chúng ta nên
đủ dũng cảm và khôn ngoan
để bỏ nó đi. Ðức Phật nói, không có gì
mà ta phải theo một cách mù quáng không hiểu biết hay không
đặt câu hỏi. Ðức Phật khuyến khích
chúng ta đặt vấn đề và
điều tra nghiên cứu. Cả
đến những lời của Ngài cũng phải
điều tra nghiên cứu, và chỉ khi thấy
những lời nói ấy đúng thì hãy theo.
Ðức Phật không muốn chúng ta có niềm tin mù quáng mà là một niềm tin căn
cứ vào kiến thức kinh nghiệm trực tiếp.
Cho nên, nếu chúng ta thấy
những sự thực hành đơn giản và tốt ở
những tôn giáo và truyền thống khác, chúng ta có thể áp dụng và theo chúng
miễn là chúng không mâu thuẫn với niềm tin
đạo lý của chúng ta. Về phương diện này, chúng ta có thể học hỏi từ
những người về cách họ thi hành tang lễ nhanh chóng và không tốn kém.
Chúng ta cũng nên loại bỏ những lề thói dị
đoan và không phải là Phật Giáo của chúng ta.
Tôi thấy có nhiều dị
đoan trong tang lễ truyền thống của người
Trung Hoa, và chính tôi đã thấy
những lề thói này trong khi tụng kinh ở tang lễ. Tôi cảm thấy bát lực vì
tôi chỉ có thể chứng kiến trong thầm lặng. Có một chút mà ta có thể làm
được. Truyền thống rất khó để thay đổi, và
bất cứ cố gắng nào để thay đổi thường gặp
phải sự chống đối mãnh liệt và thâm chí bị kết tội nữa.
Có những lúc tôi ngần ngại
không muốn đi tụng kinh tang lễ vì băn
khoăn rằng sự có mặt của tôi ở đó là phụng sự cho mục tiêu gì.
Nhưng tôi luôn luôn hưởng ứng và cố làm những gì có thể
được bằng cách nói Pháp và làm trong
sáng tỏ lập trường của Phật Giáo bằng sự khéo léo có thể
được. Tôi nghĩ rằng bây giờ là thời
điểm cấp bách mà người Phật tử Trung
Hoa xét lại những thói quen tang lễ theo truyền thống và nên giản dị hóa
theo trí tuệ Phật Giáo. Tôi có thể bị chỉ trích về quan niệm của tôi nhưng
tôi cảm thấy nếu chúng ta không nói lên, chúng ta sẽ làm hại cho cộng
đồng Phật Giáo.
Nếu tôi có thể
đề xuất một tang lễ Phật Giáo đơn giản, tôi
sẽ đề nghị việc hỏa táng nên được tiến
hành cùng ngày nếu có thể được, còn
nếu không thì vào ngày hôm sau. Tuy nhiên một số người muốn giữ thi thể
một vài ngày để thân quyến và bạn bè ở
xa có thể về tiễn biệt người ra đi lần cuối,
hay với nhiều lý do riêng tư. Cho nên việc quyết
định sẽ là một quyết
định riêng tư do gia
đình lo liệu. Tôi
đề nghị thiêu hơn là chôn vì nhiều suy
xét thực tế như thiếu đất, dân số tăng
trưởng, và tiết kiệm chi phí tang lễ có thể hướng vào những nhu cầu
có nghĩa hơn như từ thiện.
Người chết nên
được tắm rửa, sạch sẽ và mặc quần áo
bởi thân nhân hơn là người lạ. Việc này có ý nghĩa vì xác thân là người
yêu dấu của chúng ta, và điều tối thiểu chúng
ta có thể làm được là nhẹ nhàng
thi hành vời lòng thương yêu và kính trọng. Thi hài
được mặc quần áo không cần thiết phải khoa
trương hay hình thức mà người chết nên mặc
đồ thường được thích mặc khi còn sống.
Thi hài đàn ông nên
được tắm rửa và mặc quần áo bởi thân
quyến đàn ông, và thi hài phụ nữ thì
do thân quyến phụ nữ. Chúng ta không nên cảm thấy sợ hãi gì về xác chết,
nhất là xác chết của người thân yêu.
Cũng không có
điểm nào nói là phải
để đồ trang sức trên thi thể. Một lần
trong khi tụng kinh tại tang lễ, tôi thấy những người lo việc mai táng
phục sức xác người chết với những chiếc nhẫn và những bông tai làm cho
người chết. Việc này thật mỉa mai và vô nghĩa khi cho rằng dù tái sinh nào
thì người chết cũng sẽ mang theo, ông ấy hay bà ấy không thể mang theo một
thứ gì ngoại trừ toàn bộ những hành vi tốt và xấu.
Khi nhấc xác từ trên giường và
đặt vào quan tài, việc này nên
để thân quyến làm, và bao giờ thi thể
cũng phải được tiến hành một cách kính
trọng và nhẹ nhàng. Thói quen quay lưng lại phía người chết khi thi hài
được đưa vào quan tài hay khi quan tài
được đặt vào xe tang là một việc kỳ
cục. Người chết là người thân yêu của chúng ta và chính chúng ta trước
nhất phải nhẹ nhàng đặt thi hài vào
quan tài, hoặc đứng chứng kiến một cách kính
cẩn trong khi những người khác làm. Quay
đi để lưng hướng về người chết với tôi là
một biểu hiện thất kính! Tôi không thể không nghĩ rằng nếu tôi là người
chết tôi sẽ bực mình vì bị đối xử một cách
như thế.
Thói quen quay lưng lại chỉ là
một dị đoan khác. Tại sao chúng ta phải sợ sự
không may giáng xuống chúng ta nếu chúng ta không tuân theo những điều cấm
kỵ như thế? Là người Phật tử chúng ta nên tin vào nghiệp,
nghiệp chính là nơi nương tựa và hỗ trợ
đích thực của chúng ta. Làm tốt được
tốt làm xấu bị xấu. Chúng ta nên sợ những hành vi xấu, như không
giữ giới, và những hành vi xấu như thế sẽ mang lại khổ
đau. Ðiều cuối cùng chúng ta cần sợ là
dị đoan, những điều cấm kỵ vô căn cứ.
Quan tài không cần
đắt tiền. Nó phải được đặt ở phòng lớn
với một số hoa sắp đặt khéo léo chung quanh và
hình ảnh của người chết. Một vài câu Phật Pháp có ý nghĩa, một
đoạn trích hay tục ngữ có thể treo để suy
ngẫm. Không cần giữ vòng hoa tang đến,
thay vì vòng hoa tang, tiền phúng viếng nên
được gửi cho các cơ sở từ thiện mà gia
đình người chết có thể
định rõ. Nên tiêu pha thế nào
để tiết kiệm bằng cách tổ chức tang lễ đơn
giản và có ý nghĩa để có thể hướng về
tổ chức từ thiện.
Ðồ
ăn không cần phải để trước linh cữu người chết vì chúng ta
đã giải thích, người chết sẽ không thể
ăn. Ðốt giấy tiền vàng mã cũng vô
nghĩa và không nên làm. Ðốt nến và hương cũng không cần thiết. Thực ra
nhiều lề thói dị đoan và những
điều cấm kỵ thường đi kèm với nghi lễ
truyền thống của người Trung Hoa nên được dẹp
bỏ, khi nhớ đến những lời của Ðức Phật là một người cư sĩ thuần
thành phải có năm đức tính: "Người cư
sĩ phải có niềm tin, giữ kỷ luật tinh thần, không tin vào những
điềm triệu dị đoan; tin vào nghiệp,
không tin vào điềm báo; không tìm
thiên thần quỷ vật ngoài nơi đây (ngoài
hệ thống của Ðức Phật) và chứng tỏ danh dự nơi
đây (có nghĩa là tôn trọng hệ thống
của Ðức Phật và không nên tự mình lệ thuộc vào những lề thói không phải là
Phật Giáo)".
Mặc quần áo tang chế là không
cần thiết. Ðức Phật không muốn chúng ta than khóc hay phiền muộn mà chấp
nhận sự thật về việc chia lìa và cái chết bằng trí tuệ và sự thanh thản.
Soka hay phiền não là một trạng thái tâm không lành mạnh và ta phải
vượt qua nó bằng chánh niệm và suy ngẫm khôn ngoan. Bởi vậy các bậc Tư Ðà
Hàm và A La Hán (đã
đạt được giai đoạn thứ ba và thứ tư
của quả vị thánh) không than khóc và phiền não. Khi Ðức Phật nhập diệt,
những nhà sư đã
đạt được thánh quả Tư Ðà Hàm và A La
Hán không khóc. Hiểu biết bản chất của vô thường, họ không phiền não dù
cho Ðức Phật qua đời trước mắt họ.
Ðức Phật cũng chẳng phiền não
khi hai đệ tử lớn của Ngài là Xá Lợi
Phất và Mục Kiền Liên chết trong vòng hai tuần kẻ trước người sau vào
khoảng sáu tháng trước Ngài. Chính Ðức Phật đã
nhận xét: "Tuyệt vời, hết sức tuyệt vời, này các tỳ kheo, về những bậc
giác ngộ như khi cặp đệ tử qua đời,
Ðấng Giác Ngộ không phiền não, không than khóc". Và Ðức Phật nói thêm: "Vì
về cái sinh ra, đi đến trụ, hợp thành,
và phải bị hoại thì làm sao lại nói nó không phải ra
đi? Ðương nhiên,
điều đó là không thể
được.
"Cho nên, này các tỳ kheo, các
ngươi là hải đảo của chính các ngươi, là
nơi nương tựa cho chính các ngươi chứ không có nơi nương tựa bên ngoài nào
khác, với Giáo Lý là hải đảo, Giáo Lý là
nơi nương tựa, không tìm nơi nương tựa nào khác."
KHÔNG TRIỆT BỎ ÐƯỢC PHIỀN NÃO,
MÀ PHẢI THỪA NHẬN VÀ XUA TAN NÓ BẰNG CHÁNH NIỆM VÀ HIỂU BIẾT
Cho nên nếu chúng ta
để tâm lời Phật dạy, chúng ta có thể giữ bình
tĩnh trước phiền não. Ở đây chúng ta phải
nhấn mạnh là chúng ta không nói là chúng ta phải triệt bỏ phiền não
bằng sức mạnh, lờ đi, hay phủ nhận sự tồn tại
của nó. Không, đó là cách giải quyết không khéo léo.
Cách giải quyết của chúng ta là
thừa nhận và quan sát trạng thái phiền não của tâm. Qua chánh niệm và suy
ngẫm khôn ngoan, chúng ta có thể ngăn chặn
phiền não và trở nên bình tĩnh. Chánh niệm và hiểu biết là con
đường trung đạo và là con
đường tốt nhất – nó cũng không liên
quan đến việc triệt bỏ và cũng chẳng
phải cho lối thoát chồ những cảm xúc tiêu cực và thiếu xây dựng. Chánh
niệm là thừa nhận và quan sát, từ đó, hiểu
biết, chấp nhận, hòa hợp và trí tuệ nẩy sinh. Chúng ta không thể
phủ nhận hay triệt bỏ những cảm xúc. Chúng ta thừa nhận và quan sát chúng.
Trong sự thừa nhận và quan sát
đó, chúng ta có thể đối phó tốt hơn với sự
xáo trộn và xung đột có thể xẩy ra
trong tâm chúng ta. Chúng ta có thể sử dụng cách suy nghĩ khôn ngoan về
tính chất của vô thường, khổ đau và vô ngã. Chúng ta có thể rút ra
những bài học từ trí tuệ của người xưa và bằng cách
đi đến thừa nhận phiền não của chúng
ta. Nói một cách khác, trí tuệ có thể nẩy sinh. Chúng ta có thể hiểu và
chấp nhận phiền não. Và phiền não sẽ không thể chi phối tâm của chúng ta
hay áp đảo chúng ta. Ðây là ý mà chúng
ta muốn nói khi chúng ta nói áp dụng cẩn thận chánh niệm dẫn
đến sự hiểu biết và tự tại.
Bằng cách này chúng ta sẽ không
than van. Chúng ta có thể quan sát xúc cảm của phiền não trong chúng ta,
và nó có thể bị ngăn chặn khá tự nhiên,
không cần chúng ta phải biểu lộ thái độ thô
lỗ về việc đó. Sẽ có bình tĩnh, chấp nhận và hiểu biết. Cho dù
chúng ta không kiềm chế nổi và phải khóc, chúng ta vẫn có thể hạn chế.
Cuối cùng chúng ta có thể giành lại được sự
kiềm chế và lắng dịu. Chánh niệm sẽ tới giúp chúng ta và giúp chúng
ta hòa hợp với phiền não. Chúng ta sẽ hiểu sự thật của khổ
đau, chân lý mà Ðức Phật và các
đạo sư khôn ngoan khác đã dạy, và
chúng ta có thể lại cười.
Trở lại với
đề tài than khóc, chúng ta có thể thấy
trong phạm vi trí tuệ và không-phiền não, việc mặc
đồ tang chế là không cần thiết. Nó
không có nghĩa là chúng ta không hiếu thảo, hay chúng ta thương yêu người
thân ít hơn, nếu chúng ta không mặc đồ tang
chế. Không, chúng ta vẫn hết sức kính trọng người thân nhưng chúng ta
không thấy công đức gì khi phơi bày công khai và không cần thiết
phiền não của chúng ta. Tôn kính và phiền não ở
đây là vấn
đề rất riêng tư. Chúng
được cảm thấy trong tâm của chúng ta và
không cần phải phô bày ra trước công chúng.
Thay vì nhấn mạnh những hình
thức thương tiếc bề ngoài không cần thiết, lòng hiếu thảo phải kết hợp với
những hành động hướng về người già khi
họ còn sống. Những hành vi tự chúng sẽ nói lên. Quả là hết sức bất hạnh
nếu một số người nghĩ rằng những nghi thức và nghi lễ cầu kỳ trong tang lễ
và việc mặc quần áo tang chế sẽ bù đắp được
cho những hành vi thương yêu và quan tâm không
được bầy tỏ khi người chết còn sống.
Tuy nhiên, với sự
đúng mức trong dịp trọng thể, có thể mặc quần
áo "lễ nghi". Ta có thể chọn bộ đồ mầu
sẫm, trắng hay một mầu thích hợp hơn trong tủ áo của mình. Như vậy
đối với tâm tôi thế là
đủ dù người chết, nếu
đã là một người Phật tử vui vẻ và hiểu
biết, có thể không muốn chúng ta mặc những quần áo "tang chế" mà vui mừng
là đã sống một cuộc
đời lương hảo và
đã đi tới
một tái sinh tốt đẹp hơn. Cho nên trước khi chết, người ta có thể
yêu cầu không đi theo thói dị doan hay than
khóc mà chỉ cầu một tang lễ đơn giản.
Người ta có thể ủy thác cho một người có trách nhiệm xem xét tất cả những
ước nguyện của mình có được thi hành
không. Người ta có thể viết trên giấy và ký trước sự hiện diện của nhân
chứng để tất cả người liên quan
đều biết và tuân theo lời ước nguyện
của mình.
Bầu không khí chung trong nhà
và suốt cả tang lễ phải là một bầu không khí thanh tịnh và hiểu biết.
Những hoạt động không thích hợp như rượu chè,
cờ bạc tuyệt đối không được phép. Tất cả phải
là kính cẩn và cư xử bằng sự đúng mức
thích đáng. Những đoạn có ý nghĩa trong Kinh Phật có thể thinh thoảng được
đọc lên và được suy ngẫm bởi thân
quyến trong gia đình và những người có mặt. Một người có thể
đứng đầu trong sự suy nghĩ. Nếu tất cả những
người liên quan đều có sự hiểu biết
tốt về Phật Pháp, họ có thể ngăn chặn phiền não. Người nhiều cứng
rắn hơn có thể an ủi người phiền muộn. Bằng cách ấy, sẽ có bầu không khí
an lạc và hiểu biết trong toàn bộ nghi thức. Và những người có mặt cảm
thấy quyết tâm và có động cơ hơn để phấn đấu
hăng hái hơn trong việc tìm kiếm tinh thần, và sống với tình thương
yêu và từ bi hơn.
Một khóa lễ cho người chết có
thể được cử hành tại nhà. Những thân
quyến lớn tuổi trong gia đình có thể
hướng dẫn cuộc lễ, trong đó đời và
những hành vi thiện của người chết được kể
lại. Con cái nhắc lại lòng khả ái và tình thương to lớn của cha mẹ
và quyết tâm sống một cuộc đời gương mẫu
trong sự hồi tưởng của họ.
(Về phương diện này, cha mẹ
đã để tâm
đến thực tế là các hành vi vượt qua
đời sống thể chất. Một đời sống lương thiện là một di sản tốt nhất
để lại cho con cái. Một di sản vừa thôi thúc
vừa để lại phẩm giá cho người thừa kế. Hương thơm của những hành vi
và đời sống gương mẫu sẽ còn mãi sau
khi cha mẹ đã ra
đi)
Có thể mời một vị sư
để hướng dẫn một thời Pháp thích đáng. Khóa
thiền có thể tổ chức ở phòng lớn. Ðiều
đó có thể là hành vi công đức và
vừa là sự biểu hiện lòng tôn kính đối với
người quá cố. Người quá cố, nếu là một thiền gia vững vàng, chắc
chắn sẽ rất sung sướng nếu biết được mọi
người ngồi chung quanh quan tài và thiền
định. Nếu được tái sinh lên cõi trời,
và có thể nhìn thấy những gì đang diễn ra, và
tôi chắc chắn người ấy sẽ rất thích thú. Chắc chắn tôi sẽ rất thích thú
nếu tôi nhìn xuống và thấy mọi người đang
thiền chung quanh cái quan tài của tôi. Niềm vui của tôi sẽ bất
tận. Và nếu có thể tôi sẽ xuống và vui vẻ ngồi thiền với mọi người, nhưng,
đương nhiên, bạn phải thứ lỗi cho tôi:
Tôi biết tôi đang thả lỏng trí tưởng tượng
của mình.
Vào ngày thiêu, tất cả những
công đức đã
đạt được lại được chia sẻ. Một danh sách
những tổ chức thiện nhận được tiền tặng cũng được đem ra đọc. Một khóa lễ
có ý nghĩa có thể được cử hành tại nhà thiêu ngay trước khi quan
tài được đưa vào lò thiêu. Những
đoạn kinh có ý nghĩa từ các bộ kinh có thể
được tụng. Những đoạn kinh này nói về cái vô thường của
đời sống, cái chết không tránh được và
sự cần thiết sống một cuộc đời lương thiện, hành
thiền và phục vụ đồng loại. Việc này
có thể giúp mở mang trí tuệ nhiều hơn nếu khóa lễ này
được đặc biệt biên soạn và
được đọc lên vào dịp này. Nếu một vị
sư hướng dẫn toàn bộ khóa lễ thì rất tốt nhưng nếu không thể
được thì một người lớn trong gia
đình, thân quyến hay bạn bè có thể
đúng ra.
Sau khi thiêu xong, chúng ta
phải làm gì với tro cốt? Ở xứ Phật Giáo Miến Ðiện, tôi
được biết thường thường xác thiêu
thành tro để lại tại nhà thiêu. Thân
nhân không thu thập tro vì tin rằng người quá cố ngay sau khi chết
đã có cuộc tái sinh mới, và xác thân
để lại chỉ là một cái vỏ rỗng. Tuy
nhiên thói quen của người Trung Hoa tại Mã Lai lại giữ tro cốt
để ở chùa hay ở những nơi giữ tro cốt
với chi phí đáng kể. Cảm nghĩ riêng
của tôi là không có mục đích nào
để giữ tro cốt vì nó không phục vụ cho
nhiều mục tiêu, không cần thiết phải dâng cúng hay cử hành một khóa lễ nào
trước tro cốt. Vì, như chúng ta biết về Pháp, tro cốt chỉ là những thành
phần của vật vô tri trong khi thức đã
đi vào một tái sinh mới, một xác thân
mới trong một kiếp sống mới nào đó. Cho nên
tôi nhất trí với cách để lại tro cốt của
người Phật Tử Miến Ðiện. Nếu chúng ta muốn tưởng nhớ và tôn kính
người quá cố, chúng ta nên sống một cuộc đời
lương hảo và làm những hành vi thiện
để tưởng nhớ. Vào ngày giỗ người quá cố, chúng ta có thể cúng dường
(thực phẩm và tặng phẩm) tại chùa hay quyên góp cho những cơ sở từ thiện.
Tất cả những
đề xuất về phương diện tang lễ mà tôi
đã trình bày trên
đây, có ý nghĩa và
đáng chú ý hơn những lề thói hiện nay. Nhưng
đương nhiên điều đó là tùy
độc giả quyết định cho chính mình. Ðây
chỉ là cảm nghĩ của tôi, cách tôi nhìn vào
điều đó. Tôi hiểu rằng nhiều người cảm nghĩ khác hẳn. Họ có thể không đồng
ý với tôi, và họ có quyền làm như vậy. Vì tôi bao giờ cũng có niềm
tin dứt khoát là không ai có thể áp đặt quan
điểm của mình lên trên một quan điểm
của người khác. Chúng ta tất cả đều có tâm riêng của chúng ta và
phải được phép suy nghĩ và quyết
định cho chính chúng ta.
Cho nên tôi xin nói rõ ràng nơi
đây tôi không áp đặt quan điểm của tôi lên
bất cứ ai. Thay vì tôi chỉ là bầy tỏ và chia sẻ chúng. Và tôi xin
để cho mỗi người tự quyết định cho chính mình
điều mình muốn tin tưởng và theo. Mỗi
người phải cảm thấy tự do làm điều mà
mình nghĩ rằng thích hợp. Hơn nữa, quyết định
một tang lễ sau khi có người chết, phải có sự bàn thảo và
đồng thuận giữa những người trong gia đình.
Cho nên tốt nhất là trước khi chết hãy làm cho rõ ràng loại tang lễ mà
mình muốn. Và việc này nên làm bằng cách viết ra, ký tên và có nhân chứng.
Sẽ không có ý kiến phản đối sau khi người ấy
chết. Thân nhân gia đình nên tôn trọng và làm theo những ước muốn
của người ấy.
Ðương nhiên, những
đề xuất của tôi không toàn diện. Chúng
không bao gồm tất cả những chi tiết và khía cạnh của một tang lễ. Chúng
chỉ là một khuôn khổ thô sơ, chỉ là một món
ăn nào đó cho tư tưởng. Có thể có
những biến thể khác. Cho nên nó sẽ rất tốt nếu một nhóm Phật tử có
cùng tâm ý và được tôn trọng ngồi bàn
với nhau để hình thành một tang lễ
Phật Giáo đơn giản bao gồm tất cả các khía
cạnh và chi tiết, và trả lời tất cả những câu hỏi có thể nảy sinh.
Trước tiên là những điều cần được xem xét là
những lề thói hiện tại. Chúng như thế nào? Chúng có ý nghĩa gì? Chúng ta
có biết và hiểu những gì chúng ta đang làm
không? Tại sao chúng ta thực hành chúng? Chúng có ý nghĩa không? Chúng có
phù hợp với Phật Pháp không? Hay chúng là những lề thói dị
đoan hay những thói quen không thể hòa
hợp với sự hiểu biết của chúng ta về Pháp đã
được thuyết giảng bởi Ðức Phật.
Từ những gì tôi có thể nhìn
thấy nhiều thói quen trong một gia đình
Trung Hoa tự nhận là có lối sống Phật Giáo về
đời sống, không thể hòa hợp với Pháp. Dường như nhiều người chỉ làm
theo những nghi thức tang lễ mà không có ý niệm chúng là gì. Họ chỉ làm
theo những chỉ dẫn mà không hỏi han hay hiểu biết. Vào lúc tang lễ, họ quả
thật rất bối rối và quẫn trí. Họ chỉ bàn theo những
điều được bảo vì
đó là truyền thống và họ không thể
đi ngược lại mà không bị chê trách và
bị kết tội là bất hiếu vân vân... Cho nên sự tham gia thực sự vô nghĩa.
Ðối với tôi, tất cả dường như khá cảm động.
Vô minh và cam chịu trước bất cứ điều
gì được thực hiện dường như là
chương trình làm việc.
Cho nên một nhóm Phật tử
đáng kính nhìn vào tất cả những lề
thói này có thể đi đến một sự lựa chọn có ý
nghĩa phù hợp với Phật Pháp. Chi tiết về tang lễ
được đề xuất với nhiều lựa chọn khác nhau sẽ
được soạn thảo sau khi đã thực hiện một cuộc nghiên cứu tình hình
địa phương. Một cuốn sách toàn diện
cung cấp tất cả những lựa chọn về tang lễ khác nhau và những thông tin cần
thiết có thể được biên soạn và phổ
biến. Một đề án như thế sẽ là một sự
phục vụ lớn lao cho Cộng Ðồng Phật Giáo thường bị bối rối không biết cái
gì cấu thành một tang lễ Phật Giáo thích hợp.
VỀ PHẦN TÔI
Ðối với tang lễ của chính tôi,
tôi đã
đưa ra ý nghĩ thích hợp về cách tôi muốn thân xác tôi được xử lý ra sao
sau khi chết. Thân xác thực sự không là gì khác hơn một cái xác sau
khi chết. Nó sẽ trở về với đất. Cho nên
tôi muốn làm một hành vi thiện cuối cùng có nghĩa là tặng xác cho bệnh
viện. Bác sĩ có thể lấy giác mạc ở mắt tôi và trao tặng phẩm tuyệt vời này
cho một người mù. Hãy tưởng tượng đến sự vui
mừng như thế nào khi người mù có thể nhìn lại
được, và tặng phẩm sẽ quí giá
đến nhường nào với người ấy. Và hãy
tưởng tượng tôi cũng sung sướng đến thế nào
khi biết đã tặng cho người ấy tặng
phẩm về thị lực. Tặng phẩm này không có sư hy sinh gì về phần tôi cả, vì
thân xác không còn sử dụng được gì sau
khi chết. Cho nên tôi có thể làm hành vi thiện cuối cùng trước khi thân bị
tan rã.
Nếu có thể, bác sĩ lấy tim,
thận, phổi, gan và bất cứ cơ quan nào có thể dùng
được sau cái chết của tôi, đem ghép cho người
khác. Và bất cứ gì còn lại có thể đem
lợi ích cho những sinh viên y khoa trong việc nghiên cứu của họ. Họ
có thể thực hành mổ xẻ xác tôi. Cuối cùng, họ có thể tùy nghi xử lý những
gì còn lại của thân tôi như họ muốn. Có thể phần còn lại làm phân bón cho
đất và cây cối lớn cho bóng mát và hoa
đẹp. Và cũng bằng cách này, không ai
cần phải lo lắng cho tôi về cái gọi là tang lễ thích hợp. Mỗi người
đều có thể để lại xác cho bệnh viện để tùy
nghi xử lý những gì mà họ nghĩ là thích hợp. Việc này sẽ làm cho mọi người
dễ dàng hơn. Nói cho đúng, nó sẽ làm
cho mình nhẹ nhõm. Không ai còn bị bị phiền phức về chuyện của tôi.
Và nếu có người nói về một tang
lễ thích hợp cho tôi và việc bầy tỏ lòng tôn kính cuối cùng, tôi sẽ nói:
Xin đừng bận tâm về việc đó. Tang lễ không dành
với tôi. Nhưng nếu bạn thực tâm nhớ đến tôi,
xin bạn hãy làm điều thiện. Hãy
làm bất cứ điều thiện nào bạn thích
để tưởng nhớ đến tôi. Hãy sống một
cuộc đời lương hảo. Hãy quan tâm và
chia sẻ. Hãy tha thứ và thương yêu. Hãy rộng lượng và mở rộng con tim. Hãy
tử tế và lịch sự. Ðó là tất cả những gì tôi yêu cầu. Ðiều
đó sẽ làm cho tôi rất hạnh phúc – biết
rằng tôi đã có thể truyền bá thông
điệp tốt nào
đó và đã
có ảnh hưởng tốt nào đó.
Này các tỳ kheo, một tỳ kheo
phải đối diện cái chết của mình bằng
chánh niệm và thấu triệt rõ ràng.
Ðó là huấn thị của ta cho các ngươi.
Ðức Phật
PHẢI CHẾT THANH THẢN
Tất cả chúng ta một ngày nào
đó sẽ phải chết. Chúng ta phải chết thanh
thản và an bình. Cho nên, một người sắp phải chết chúng ta nên cố
gắng làm cho cái chết càng thanh thản và đẹp
đẽ cho ông ấy hay bà ấy càng tốt. Vâng, bạn ngạc nhiên cái chết có
thể lại đẹp đẽ ư? Nếu bạn ngạc nhiên,
đó là vì chúng ta thường ác cảm
đối với cái chết. Nỗi sợ về đau đớn và
cái bấp bênh thường đến sau cái chết. Rồi có
sự gắn bó với người thân của chúng ta phát sinh nhiều đau đớn trong tâm
của chúng ta khi phải lìa bỏ họ.
Tuy nhiên chúng ta nên nhận
thức rằng sự hiểu biết và thái độ sai lầm của
chúng ta là nguyên nhân của khổ đau.
Chúng ta không hiểu Pháp đủ sâu xa. Chúng ta không hiểu và thâm
nhập bản chất của tâm và thân là vô thường, khổ
đau và vô ngã. Chúng ta không biết
cách buông bỏ một cách uyển chuyển, cách cam chịu với cái không tránh
được.
Khi bà mẹ kế của Ðức Phật Maha
Pajapati Gotami sắp chết vào lúc ở tuổi 120 già lão, A Nan và những nhà sư
nữ khóc. Maha Pajapati Gotami nhẹ nhàng quở trách họ: "Tại sao các ngươi
khóc, con trai và con gái của ta. Các ngươi không trông thấy thân ta
đã trở nên già nua và hom hem sao? Nó
giống như nơi rắn thường lui tới của bệnh tật, nơi nghỉ ngơi của tuổi già
và cái chết, cái nhà của khổ đau. Ta mệt mỏi
đã phải lớn lên trong cái xác thân này. Nó chẳng là gì cả nhưng là
một gánh nặng cho ta. Ðã từ lâu ta mong mỏi sự giải thoát Niết Bàn. Và
ngày hôm nay điều mong ước của ta sắp thành
hiện thực. Thật ra cái chết của ta là hạnh phúc. Ðó là lúc cho ta
đánh trống mãn nguyện và sung sướng.
Tại sao các ngươi lại khóc?"
Ðức Phật, khi Ngài sắp chết
giữa môi trường thiên nhiên dưới hai cây sala (tha la) trong rừng, cũng
bảo Ðức A Nan đừng khóc vào lúc Ngài
chết. Ngài nói người có trí tuệ và trầm tĩnh phải chấp nhận sự thật về cái
chết và chia ly cùng tất cả những gì mà chúng ta thương yêu là không thể
tránh được. Ðức Phật nhắc chúng ta
phải tu tập thiền chánh niệm để đạt được trí
tuệ giúp ta đối đầu với cái chết bằng sự thanh thản. Ngài nói với
các tỳ kheo: "Bởi vậy các con phải tự rèn luyện. Chúng ta phải chấp nhận
cái chết bằng chánh niệm và tự tại." Và lời dặn dò cuối cùng của Ðức Phật
là: "Tất cả những gì do duyên hợp đều phải
tan rã. Các con phải phấn đấu chuyên
cần."
Người sống một cuộc
đời đẹp đẽ có thể chết một cách đẹp đẽ. Một
ngày nọ tôi tình cờ đọc mấy dòng
hồi tưởng rất cảm động trong một tờ báo. Khi
bà trút hơi thở cuối cùng và đi vào
cõi bất diệt, mặt bà sáng ngời và môi bà nở một nụ cười. Chị F, trông thấy
vậy, thốt lên: "Hãy nhìn kìa, bà đang nhìn
thấy Thượng Ðế". Việc này xẩy ra như vậy, tôi biết bà là một người Cơ Ðốc
Giáo, đã chết một cái chết
đẹp như vậy. Bà có tính dịu dàng, tử
tế và lúc nào cũng quan tâm đến phúc lợi của
người khác. Tôi được biết bà là một nhà giáo thường tìm các học trò
yếu kém để dạy thêm và khuyến khích
chúng. Bà được thương yêu sâu xa và
trân quý bởi gia đình và tất cả những
người đã tiếp xúc với bà. Tôi
được biết bà bao giờ cũng là một người
dễ thương và thương yêu tất cả mọi người quả thật
đời bà giống như một vị thánh.
Vì
đã sống một cuộc đời đẹp như vậy, thảo
nào bà đã chết một cái chết
đẹp. Tôn giáo của chúng ta có thể khác nhau
nhưng Ðức Ðạt Lai Lạt Ma, người được
giải Hòa Bình Nobel, nói rằng: "Từ bi là cốt lõi của tất cả tôn
giáo." Niềm tin sắt đá của tôi là nếu
chúng ta đã sống một cuộc
đời tốt đẹp, thì khi chúng ta chết
chúng ta sẽ chết một cái chết đẹp dù
chúng ta là Phật Tử, Cơ Ðốc Giáo, Ấn Giáo, Hồi Giáo hay của bất cứ quan
điểm nào hay niềm tin nào. Như Ðức
Phật nói, chính hành vi tạo thành con người. Trong phương diện này, tôi
thường nói với người Phật tử: thà là một người Cơ Ðốc Giáo, một người Hồi
Giáo tốt còn hơn là một Phật tử xấu. Bởi vậy, người Cơ Ðốc Giáo tốt khi họ
chết họ có thể thấy Thượng Ðế của họ hay ánh sáng. Người Phật tử có thể
thấy những hình ảnh tinh thần của Ðức Phật, a la hán, thiên nhân, hay cảnh
thiên đường và ánh sáng rực rỡ.
Jack Kornfield, một vị thầy
thiền Minh Sát người Mỹ, có lần kể trong tờ báo Inquiring Mind khi ông
viếng thăm Howard Nudleman, một bác sĩ phẫu
thuật và là một người tu thiền một ngày trước khi ông chết về ung
thư ra sao. Ông nhớ lại rằng khi ông đi vào
phòng ông Howard giống như ông đi vào
một ngôi chùa như thế nào. Và khi ông nhìn vào ông Howard, ông Howard nhìn
ông mỉm cười, một nụ cười ngọt ngào không thể tưởng tượng
được, một nụ cười mà ông Kornfield
không bao giờ có thể quên được trong quãng
đời còn lại của ông.
Vâng, tôi tin chắc có rất nhiều
chuyện cảm động về những cái chết đẹp của
những người con người đẹp. Cho nên, chính cái chết có thể là một sự
kinh qua đẹp. Khi chúng ta sống một cuộc đời
lương hảo, và thân này trở nên yếu ớt và suy sụp, chúng ta có thể
đối mặt với cái chết một cách tao nhã
khi biết rằng chúng ta đã sống một
cuộc đời thiện và bây giờ
đã đến
lúc chúng ta tiến tới.
Cho nên khi một người thân yêu
sắp phải chết, chúng ta nên hiểu biết và để
cho người ấy ra đi an bình. Chúng ta cố gắng làm
điều đó vì người
đó càng thanh thản và
đẹp đẽ càng tốtõ. Rõ ràng, chúng ta
không nên khóc lóc than van. Than khóc chỉ gây khó khăn
thêm cho người sắp chết. Ðương nhiên nếu người ấy là một người Phật
tử hiểu biết và còn đủ sức để nói thì
người ấy, giống như Ðức Phật, sẽ nhẹ nhàng quở trách: Này các người thân
yêu, tại sao các người phải khóc? Ðức Phật chẳng
đã dạy ta bằng nhiều cách là chia ly
không thể tránh được trong đời sống đó sao? Làm
sao có thể là cái mà phải tan rã lại không tan rã? Ðiều
đó không thể được. Cho nên chúng ta
phải suy ngẫm sâu xa về Pháp. Này người thân yêu của tôi, thân này không
phải của chúng ta. Tâm này cũng không phải của chúng ta. Chúng sinh diệt
theo duyên hợp. Chúng ta phải tu tập chánh niệm sâu xa
để thấy việc này, cho nên,
đừng bám víu nữa, chúng ta có thể giải thoát
khỏi sinh tử. Người thân yêu của ta, hãy mạnh lên. Dù tôi phải cáo
từ bạn, tôi muốn nhắc nhở các bạn về những lời dặn cuối cùng của Ðức Phật:
"Tất cả những hiện tượng do duyên hợp đều
phải tan rã. Cho nên, ta kêu gọi các con, hãy phấn
đấu chuyên cần."
Vâng, tất cả Phật tử nên nhớ
lời dặn cuối cùng của Ðức Phật cho chúng ta là hãy phấn
đấu không mệt mỏi để đạt được trí tuệ hầu
giải thoát chúng ta khỏi sinh tử. Một người tu thiền định phải thiền về
cái chết. Người ấy có thể quán hơi thở, thở ra hít vào của mình hay
bụng phồng lên và xẹp xuống do hít vào thở ra. Nếu gặp phải khó khăn
gì, người ấy có thể nhận thức về chúng, ghi nhận chúng là thế không
sợ hãi lo lắng mà bình tĩnh và vững tâm. Người ấy có thể quán thấy những
cảm giác đau đớn, chịu đựng chúng dù
chúng lên cao độ. Người ấy có thể tự nhắc nhở
mình, chúng chỉ là những cảm giác, mặc dù là cảm giác khó chịu.
Người ấy cũng thấy chúng vô thường, chúng không ngừng sinh rồi diệt. Người
ấy sẽ hiểu và không bám víu hay bị ràng buộc vào thân. Người ấy biết cả
tâm lẫn thân cũng sinh và diệt theo duyên hợp. Người ấy có thể suy ngẫm:
"Thân này và tâm này không phải của tôi. Chúng chẳng bao giờ thuộc về tôi
cả. Chúng sinh vì duyên hợp, và theo duyên hợp, chúng sẽ diệt. Cho nên,
mắt này không phải của tôi, tai này không phải của tôi, mũi này không phải
của tôi... Thân này được tạo thành bởi
bốn yếu tố, đất, lửa, nước và gió,
chúng tượng trưng cho những đặc tính của vật
chất, những đặc tính về tính cứng, tính mềm, sức ép, sức căng, nóng và
lạnh vân vân... Chừng nào năng lượng của
nghiệp còn kéo dài kiếp sống của tôi trong cỡi
đời này, thân này còn sinh tồn. Khi năng
lượng của nghiệp cho đời này hết, thì thân này chết và một cái tâm
mới được duyên hợp bởi cái tâm cũ vào
lúc chết. sinh ra trong thân mới. Nếu tôi đạt
được a la hán quả, không cần phải tái sinh nữa. Nếu tôi không có a la hán
quả, tuy nhiên, đã sống cuộc
đời thiện, tôi không sợ tái sinh. Tôi có thể
có một cuộc sống mới làm người được
phú cho mọi điều tốt đẹp và thông minh hay một chúng sinh ở cảnh
trời và từ đấy tôi tiếp tục con đường phát
triển cho đến khi tôi đạt được Niết Bàn tối hậu, sự chấm dứt sinh
tử."
Suy ngẫm như vậy, người tu
thiền sẽ trở nên rất bình tĩnh và vững vàng. Người ấy sẽ trở nên rất an
lạc. Người ấy có thể mỉm cười ngay cả trước cái
đau đớn và với những người tập hợp
chung quanh. Với tâm rất an lạc, cảm giác đau
đớn của thân có thể chấm dứt. Người ấy có thể chết thanh thản và an
lành, nhẹ nhàng chút hơi thở cuối cùng.
NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT SUNG SƯỚNG
Khi Cấp Cô Ðộc, người nhân
đức và
đại ân nhân của Ðoàn Thể Tăng Già
sắp chết, Xá Lợi Phất, người Ðệ Tử lớn nhất của Ðức Phật, thuyết giảng về
sự không quyến luyến cho ông. Xá Lợi Phất nhắc Cấp Cô Ðộc là
đời sống chỉ là một tiến trình tùy
thuộc vào duyên hợp, và tâm và thân tạm bợ này không có gì
đáng để bám víu vào. Xá Lợi Phất
đưa ra một bản danh sách toàn bộ những
cái mà đời sống cấu thành, cho thấy
tất cả đều là duyên hợp phù du không
thể bám víu vào được. Ngài giảng: "Cho
nên Cấp Cô Ðộc không nên hiểu theo những dạng thức nhìn thấy và mắt, âm
thanh và tai, mùi và mũi, vị và lưỡi, xúc và thân, và ý thức tùy thuộc vào
tất cả những thứ này. Cấp Cô Ðộc không nên hiểu theo nhãn thức, nhĩ thức,
tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Ông nên hiểu bản chất vô thường
của chúng và quan sát sự sinh diệt của chúng, không bám víu vào chúng và
hay không thích chúng.
"Tương tự như vậy, Cấp Cộ Ðộc
không nên hiểu theo sự tiếp xúc tùy thuộc vào mắt và hình dạng, tai và âm
thanh và vân vân... Ông không nên hiểu theo cảm nghĩ dù thích thú hay
không thích thú, cảm nghĩ nảy sinh tùy thuộc vào sự tiếp xúc. Ông phải xem
xét tất cả chúng bằng trầm tĩnh, hiểu biết thực chất của vô thường, bất
toại nguyện và vô ngã. Thân được tạo thành
bởi bốn yếu tố giãn nở, dao động, cố kết, và
nhiệt độ. Tâm được tạo thành bởi cảm
nghĩ, nhận thức, hoạt động tinh thần và
thức. Tất cả chúng đều vô thường và
lúc nào cũng thay đổi. Xá Lợi Phất khuyến
khích Cấp Cô Ðộc không nên luyến chấp vào một trong những thứ
đó. Không có gì trong thế giới này có
thể gọi là cái ngã thường còn. Trong ý nghĩa tối hậu, không có cái ngã
trong tâm và thân. Và cho nên không có gì để
Cấp Cô Ðộc bám víu vào."
Khi nghe
được Pháp sâu xa này, một niềm an lạc
và sung sướng lớn lao bao trùm Cấp Cô Ðộc. Và ông ta
đã khóc. Thị Giả của Ðức Phật, Ngài A
Nan có mặt lúc ấy tiến lại gần và hỏi Cấp Cô Ðộc tại sao ông khóc. "Có
phải vì ông đã không chịu nổi cơn
đau?" "Không phải", Cấp Cô Ðộc trả
lời. Không phải là như thế. Mà đúng hơn là
vì bài thuyết giảng của Xá Lợi Phất quá đẹp
đến nỗi đã làm cho ông xúc động sâu
xa. "Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ
cảm xúc như thế. Cho nên đó là
lý do tại sao tôi khóc," ông nói với A Nan và Xá Lợi Phất. Những giọt nước
mắt của ông không phải là nước mắt phiền não mà là những giọt nước mắt vui
sướng – vui sướng vì nghe và hiểu được Pháp
sâu xa như thế.
Cấp Cô Ðộc hỏi tại sao Pháp như
thế không được thường thuyết giảng cho các cư
sĩ. Xá Lợi Phất trả lời vì người cư sĩ thường thấy khó lĩnh hội
Pháp sâu xa như thế, họ đều bị luyến ái vào
rất nhiều lạc thú sẵn có trong đời sống. Cấp
Cố Ðộc phản đối là có những
người có thể hiểu và lĩnh hội Pháp sâu xa này, và những ai không
được nghe sẽ bị thiệt thòi. Ông thúc
giục Xá Lợi Phất thường xuyên thuyết giảng về không luyến chấp cho những
người khác như bài giảng mà ông vừa được
thuyết giảng.
Ít lâu sau, Cấp Cô Ðộc chết. Vì
lúc cuối cùng của ông rất an lạc và đã
sống một cuộc đời lương hảo, theo lời
Ðức Phật, ông được tái sinh ở cung trời
Ðâu-xuất. Khi một người đã
đạt được bậc thứ nhất của thánh quả (Tu-đà-hoàn)
người ta tin rằng Cấp Cô Ðộc có thể, trong bảy kiếp, sẽ
đạt giác ngộ hoàn toàn và do
đó sẽ giải thoát khỏi tái sinh.
Cũng có những câu chuyện về
những thầy tỳ kheo đắc quả A la hán (giác ngộ
hoàn toàn) trên giường lúc sắp chết. Cho nên những hành giả du già
ngày nay có thể thiền định đến lúc cuối cùng,
họ biết họ có thể thực hiện kiến thức tuệ giác, hiểu thấu về vô thường,
khổ đau và vô ngã, và thậm chí
đạt được thánh quả vào lúc chết.
Một hành giả du già có thể trải
tâm từ, thương yêu-khả ái. Cả đến lúc sắp
chết, người ấy có thể trải những ý nghĩ thương yêu-khả ái
đến tất cả chúng sinh. "Nguyện cho tất
cả chúng sinh đều hạnh phúc. Nguyện cho chúng
sinh thoát khỏi tai họa và nguy hiểm. Nguyện tất cả chúng sinh
thoát khỏi khổ đau tinh thần .... khổ đau thể
chất... Nguyện cho họ quan tâm lẫn nhau trong hạnh phúc". Chết với
những tư tưởng thương yêu cho tất cả chúng sinh là một cách chết cao
thượng. Trong cuốn Visuddhimaga, một cuốn sách thiền kinh của Phật Giáo,
có nói rằng một người có thói quen trải tâm từ, sẽ chết rất an lạc, như
thể là ngủ thiếp đi một cách dễ chịu. Và
nếu người ấy không đạt được thánh quả A la
hán, và phải tái sinh thì cũng tái sinh vào cõi trời.
Vâng, một người du già không sợ
chết. Người ấy có thể từ bỏ một cách thanh nhã thân và tâm vì biết rằng
sống hay chết chỉ là hai mặt của một vấn đề,
vì hiểu rằng trong khi chúng ta còn sống chúng ta
đang chết từng chập một, chết vào mỗi
lúc qua đi, và bị tái sinh vào mỗi lúc
mới đến. Các hiện tượng tinh thần và
thể chất không ngừng sinh và diệt. Không có gì
đứng nguyên dù chỉ một giây. Ðiều này
cũng đã chứng minh
được trong vật lý lượng tử nơi người ta thấy
rằng các hạt hạ nguyên tử triệt tiêu năng
lượng với mức 10 tới 22 lần chỉ trong một giây. Ðức Phật cũng nói
các hiện tượng tinh thần và thể chất không ngừng sinh ra và tan biến.
Chừng nào mà chúng ta chưa loại bỏ được năng
lượng nghiệp-tái sinh bằng cách nhổ tận gốc rễ những ô nhiễm của tham sân
và si, thì chúng ta vẫn tiếp tục phải tái sinh. Chết trong sự sống
này chỉ là sự chấm dứt của tuổi thọ cho thân và tâm trong sự sống này.
Nhưng ngay lúc mãn hạn của tâm vào lúc chết, không có khoảng cách nào, một
tâm mới nảy sinh nhập vào một thân mới theo nghiệp hay những hành vi của
chúng sinh ấy trong đời trước. Cho nên
người du già hiểu tâm lúc chết căn bản không
khác gì tâm ở mọi lúc nên không sợ hãi. Người ấy chấp nhận cái chết
trong chánh niệm và tự tại phù hợp với chỉ dẫn của Ðức Phật.
LÀM CHO BẦU KHÔNG KHÍ THANH
THẢN
Khi tạo bầu không khí thanh
thản cho một người sắp chết, chúng ta phải biết sở thích của người
đó, những gì thích, những gì không
thích của người ấy. Thí dụ, người ấy thích hoa. Chúng ta nên có hoa trong
phòng bệnh cạnh giường. Người ấy có thể thích chết trong căn
phòng ấm cúng của mình, trong môi trường quen thuộc và thanh bình
với mình. Cho nên nếu có thể người ấy thích chết ở nhà hơn là ở bệnh viện.
Nhưng nếu không thể được và cần
để bệnh viện săn sóc, chúng ta nên cố
gắng làm cho cảnh chung quanh trong bệnh viện càng riêng tư, ấm cúng và
thanh bình càng tốt. Một phòng riêng thì tốt nhất, nhưng không phải tất cả
mọi người có thể có đủ khả năng để trả tiền.
Dù bất cứ ở chỗ nào, chúng ta cũng cố gắng làm cho bầu không khí
càng thanh bình càng tốt.
Có thể có một hình ảnh nhỏ của
Ðức Phật mà người ấy thích ngắm. Nếu như vậy, chúng ta có thể
để bức hình bên cạnh hoa ở bên cạnh
giường. Thái độâ nghiêm trang thanh
thản ở hình Ðức Phật có thể làm cho an tâm. Nhìn vào bức hình này, ta nhớ
đến trí tuệ và lời dạy của Ðức Phật.
Việc đó có thể cho nhiều an ủi và an
lạc, nhất là những lúc cần thiết. Căn phòng
phải được sạch sẽ và ấm cúng. Người
sắp chết có thể thích cái giường của mình hướng về của sổ
để có thể nhìn
được cây cối có thể làm cho tâm an
tịnh. (Thí dụ, Ðức Phật đã chọn cái
chết trong thiên nhiên giữa hai cây sala (tha la)
đang nở hoa tại rừng Câu Thi Na)
Nếu chẳng may người sắp chết
mất bình tĩnh và lộ vẻ sợ hãi, lo âu hay đau
đớn, thân nhân nên làm cho người ấy an tâm. Thí dụ như người thân
có thể cầm tay người sắp chết trong tay hay vuốt nhẹ vào trán, nói năng
ngọt ngào để người ấy an tâm. Người vợ
có thể nhắc nhở nhẹ nhàng người sắp chết về Pháp, sự cần thiết phải
giữ tâm bình tĩnh và hành thiền. Bà ấy cũng có thể an tâm người sắp chết
hãy đừng lo lắng gì về bà hay con cái,
rằng đã có giáo lý của Ðức Phật và sẽ
sống nương nhờ vào giáo lý ấy. Bà ấy biết cách săn
sóc cho mình và những đứa con. Bà
cũng có thể nhắc người sắp chết là tài sản, người thân yêu và tâm và thân
rốt cuộc cũng không phải là của chúng ta. Chỉ có những hành vi của chúng
ta mới là tài sản thực sự theo chúng ta. Bà cũng nhắc nhở ông ấy về cuộc
đời lương thiện của ông, sự săn sóc của ông
cho gia đình, và tất cả những hành
động thiện mà ông đã làm. Nhớ
như vậy và hiểu rõ Pháp, người ấy có thể trở thành mạnh mẽ. Người ấy có
thể mỉm cười và thanh thản. Cái chết không còn làm cho người ấy sợ hãi.
Ðương nhiên những gì chúng ta
đã nói chỉ là một thí dụ cho một diễn
tiến có thể xẩy ra. Ðến lúc đó, không thể có
kịch bản nào được sửa soạn cho việc này.
Nhưng nếu ta hiểu Pháp ta có thể phản ứng Pháp theo trực giác và theo hoàn
cảnh lúc ấy, nói và làm điều phải để giúp đỡ
người ra đi một cách an bình.
Vào thời Ðức Phật, Nakulamata,
vợ của Nakulapita chỉ làm như sau: Bà đã
an tâm người chồng khi ông này sắp chết. Bà ta nói với chồng: "Anh thân
yêu, đừng chết với bất cứ nuối tiếc nào
hay luyến chấp bất cứ thứ gì. Giáo chủ của chúng ta, Ðức Phật
đã nói chết theo cách như vậy thật
không khôn ngoan chút nào."
Hiểu tính chồng, bà tiếp tục:
"Anh thân yêu, anh có thể nghĩ rằng khi anh
đi rồi, em không thể nuôi nấng con cái và giữ gia
đình êm ấm. Nhưng
đừng nghĩ như vậy, em rất khéo tay về cuốn
bông và chải len. Em có thể nuôi nấng con cái và giữ gia
đình êm ấm. Cho nên, hãy thanh thản."
Và bà ta
đã an tâm người chồng là bà sẽ giữ
đức hạnh và tu tập Phật Pháp cho
đến khi đạt được giác ngộ. Và nếu ai
nghi ngờ việc này, hãy để cho họ đi hỏi
Ðức Phật là người mà bà ta chắc chắn là sẽ bầy tỏ lòng tin tưởng ở
nơi bà. Nghe thấy những lời bảo đảm như vậy,
thay vì chết, Nakalapita cảm thấy khỏe hơn rất nhiều và
đã khỏi bệnh! Sau này, khi cặp vợ
chồng thắm thiết này đến gặp Ðức Phật,
Ðấng Thế Tôn đã nói với Nakulapita
rằng Nakulapita đã rất may mắn có một
người vợ như Nakulamata: "Ông thật hết sức may mắn có người vợ như
Nakulamata đã hết sức thương yêu và từ
bi với ông, bà đã mong muốn ông
được hạnh phúc và có thể khuyên nhủ
ông trong lúc cấp thiết"
Thân quyến cũng nên ủng hộ
triệt để những gì có thể cho người sắp
chết. Như đã nói trước
đây họ không nên khóc vì khóc sẽ gây
khó khăn cho người chết. Nhưng nếu họ thấy
khó kìm hãm nổi mình thì hãy suy ngẫm về Pháp. Họ có thể suy ngẫm
rằng cái chết không thể tách rời sự sống. Khi có sự sống ắt phải có cái
chết. Ðó là điều chúng ta phải chấp nhận một
cách tế nhị. Ngoài ra khi thân đã
hư hoại và bệnh nặng, thì thật là mừng để
"thoát khỏi" nó. Nhận lấy một cuộc kiếp sống mới, người ấy sẽ khá
hơn. Suy nghĩ một cách khôn ngoan, thân quyến có thể giành lại
được sự tự tại và giúp
đỡ người sắp chết ra đi xứng đáng và
thanh thản.
CHẬP TƯ TƯỞNG CUỐI CÙNG
Chập tư tưởng cuối cùng hay lúc
chết được cho là rất quan trọng. Nếu
ta chết vì sợ hãi, giận dữ, tham lam hay bất cứ với trạng thái tinh thần
bất thiện nào, thì tái sinh xấu sẽ nảy sinh. Nếu ta chết trong thanh thản,
hiểu biết, với chánh niệm và trầm tĩnh, tái sinh tốt sẽ xảy ra. Thường
thường nếu ta có một cuộc sống thiện thì chập tư tưởng cuối cùng
đương nhiên sẽ là chập tư tưởng thiện.
Những hành vi thiện ta đã làm có thể
xuất hiện trước tuệ nhãn. Hay ta có thể có những ảo giác về
định mênh sắp tới, như nhìn thấy quang
cảnh ngoạn mục ở cõi trời và những người rất
đẹp. Trái lại nếu ta sống một cuộc đời tội lỗi thì những hành vi ác
đã làm có thể xuất hiện trước mắt ta
hay có những ảo giác về lửa địa ngục hay có
thể nhìn thấy những điềm xấu khác.
Trong đời sống tuy nhiên chúng ta không hẳn là tốt hay cũng không
hẳn là xấu, có một sự pha trộn xấu và tốt trong chúng ta. Nhưng nếu xếp
toàn bộ chúng ta là tốt thì chúng ta tin là sẽ có một tái sinh tốt.
Nếu chúng ta có một sự hiểu
biết rõ ràng về sống và chết, chúng ta có thể chết với sự vững vàng và
trầm tĩnh. Chúng ta có thể, như đã
nói, hành thiền cho đến lúc cuối cùng,
giữ vững chánh niệm và tự tại. Vì đã
sống một cuộc đời thường là thiện và
hơn nữa có thể giữ chánh niệm trong lúc trực diện với cái chết, chúng ta
chắc chắn được bảo đảm một tái sinh tốt – lại
là người tốt – hay chư thiên, một chúng sinh ở cõi trời. Cũng có hy
vọng là chúng ta có thể nhanh chóng, dù bất cứ tái sinh nào
đã xẩy ra, chấm dứt luân hồi, vòng
sinh tử, cho nên không còn phải tái sinh, chúng ta sẽ giành
được an lạc của Niết Bàn.
Ðôi khi có câu hỏi sau
đây: Cái gì sẽ xảy ra nếu không giữ
được chánh niệm, nhất là khi người ấy
không trải qua sự rèn luyện hành thiền nào? Chẳng hạn nếu người ấy chết
trong trường hợp hôn mê thì sao? Hoặc người ấy
đột nhiên bị chết
đột ngột trong một tai nạn xe cộ thì
sao? Theo sự hiểu biết của tôi về kinh sách
được dạy của Ðức Phật, tôi có thể nói rằng nếu ai
đã sống một cuộc
đời lương thiện, thì những cơ may là
chập tư tưởng tốt sẽ xuất hiện vào lúc chết và một tái sinh tốt sẽ nảy
sinh. Nghiệp của chúng ta là nơi nương tựa
đích thực của chúng ta (nghiệp quả), cho nên theo tổng số sức nặng
về những hành động thiện mà chúng ta
đã làm sẽ dẫn chúng ta
đến một tái sinh tốt. Ðó là lý do tại
sao chúng ta phải sống một cuộc đời thiện
trong lúc còn sống, và không chờ đến
lúc gần chết thì đã quá muộn.
Nhưng vì trong đời sống chúng ta đã
làm cả xấu lẫn tốt, có khả năng là
chúng ta có thể vụng nhớ đến những hành
vi xấu thay vì những hành vi tốt vào lúc chết. Cho nên giữ chánh niệm quan
trọng hơn tất cả; chánh niệm giúp ích nhiều. Với chánh niệm, những tư
tưởng xấu không thể thâm nhập tâm chúng ta và chúng ta có thể chết bình
tĩnh, thanh thản. Chánh niệm là một đức tính
tuyệt vời – có thể giúp chúng ta trong cả sống và chết – tại sao
chúng ta không trau dồi và phát triển nó trong khi chúng ta còn sống?
---*---
Một tỳ kheo chuyên tâm chánh
niệm về cái chết thì lúc nào cũng siêng năng.
Vị tỳ kheo ấy nhận thức được sự tan vỡ ảo tưởng của tất cả các loại đang
trở thành (sự sống). Thắng được sự
luyến ái vào đời sống, vị tỳ khéo ấy lên
án tội lỗi. Vị ấy tránh tích trữ nhiều. Vị ấy không bợn chút tham lam nào
về vật dụng cần thiết. Nhận thức về vô thường phát triển trong mình, theo
sau là xuất hiện sự nhận thức về khổ đau và
vô ngã. Nhưng trong khi chúng sinh không phát triển chánh niệm về cái chết
không tránh nổi sợ hãi, khủng khiếp, và bối rối vào lúc chết như thể
đột nhiên bị bắt bởi thú rừng, ma quỷ,
rắn, trộm cướp, hay kẻ giết người thì vị tỳ kheo ấy không một chút sợ hãi,
và không bi rơi vào bất kỳ tình trạng nào như vậy. Và nếu vị ấy không
đạt được cái bất tử, thì ít nhất vị ấy
cũng đi về một định mệnh hạnh phúc khi thân
tan rã.
Thanh Tịnh Ðạo (Visuddhimaga)
SUY NGẪM VỀ CÁI CHẾT
Khi sống, thỉnh thoảng suy ngẫm
về cái chết là tốt. Thực ra suy ngẫm hàng ngày càng tốt. Ðức Phật dặn
chúng ta thường xuyên suy ngẫm về cái chết vì có rất nhiều lợi lạc
đạt được từ sự suy ngẫm này.
Trước nhất chúng ta phải hiểu
rõ rằng suy gẫm về cái chết không phải là chúng ta phải trở nên rầu rĩ, sợ
hãi, không lành mạnh hay ngã lòng, hay cảm thấy như tự giết mình. Không,
chắc chắn là không, chúng tôi muốn nói rằng chúng ta nên suy ngẫm về cái
chết một cách khôn ngoan, có thể sống một cách khôn ngoan và từ bi hơn.
Thí dụ, bất cứ lúc nào tôi bị
khó chịu hay nản lòng, tôi phải (nếu tôi không quá vô tâm) suy ngẫm theo
những hàng chữ sau đây: Ðời sống
ngắn ngủi, chảng bao lâu chúng ta đều sẽ chết.
Cho nên cãi nhau hay tranh giành có ích gì? Giận dữ có ích gì? Không có ý
nghĩa chút nào cả. Tốt hơn là tôi giữ sự an lạc của tôi. Tranh cãi hay
giận dữ không giải quyết được vấn đề. Nó chỉ
gây ra thêm thù oán và bực mình. Nghĩ như vậy tôi có thể bình tĩnh
lại, kiềm chế mình để khỏi bị kích động bởi
những cảm nghĩ mạnh mẽ, và liên hệ với người khác một cách lịch sự
và khéo léo hơn. Ðương nhiên, không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng
đôi khi (có lẽ là nhiều lần) tôi
đã quên và bị kích thích của tài hùng
biện và xúc cảm, nhưng khi tôi tự nhớ lại về sự ngắn ngủi của
đời sống và cái vô nghĩa của nóng giận
đùng đùng,
tôi có thể bình tĩnh lại một chút và nói năng
một cách lịch sự và thận trọng hơn.
Tương tự như thế, khi tôi bị
dao động hay lo lắng về một việc gì
đó, tôi sẽ nghĩ rằng tất cả những lo lắng và
băn khoăn có ích gì. Cuộc
đời cứ tuần tự vi tiến, cái chết chờ đợi mỗi
người chúng ta. Không ai trong thế giới này có thể thoát chết. Tử
thần là người thực thi bình đẳng vĩ đại, và
là người san bằng chênh lệch trong xã hội. Cho nên, trong khi tôi còn
sống, tốt hơn là phải sống tốt hết sức mình, và
điều đó có nghĩa là sống theo Pháp,
sống trong chánh niệm, từ lúc này đến lúc
khác, từ ngày này đến ngày
khác, chỉ làm những điều tốt nhất mà
tôi có thể, cứ thế mỗi ngày. Suy nghĩ khôn ngoan như vậy, tôi có thể kiểm
soát những lo lắng, sống nhẹ nhàng và sung sướng hơn.
Hơn nữa, chúng ta có thể suy
xét rằng có hay không lo lắng tất cả chúng ta
đều phải già và chết. Cho nên chúng ta có thể già mà không lo lắng!
Làm điều đó sẽ là khôn khéo hơn. Không
ai là người không đồng ý là chúng ta
chắc chắn sung sướng hơn nếu không lo lắng. Mặt khác, tất cả những lo lắng
làm tổn thọ, khiến cho chúng ta phát bệnh sớm và chết. Cũng bằng cách nghĩ
này, chúng ta có thể kiểm soát lo lắng và sống một cuộc
đời hạnh phúc hơn. Bởi vậy, suy nghĩ về cái
chết một cách khéo léo khiến cho chúng ta rộng lượng và nhẫn nại
hơn, tử tế và lịch sự hơn, cho cả chính chúng ta và người khác.
Rồi chúng ta có thể trở nên ít
bị ràng buộc vào của cải vật chất, ít tham lam. Vâng, khi chúng ta nhận
thức sâu xa cái ngắn ngủi của cuộc đời, và
không thành vấn đề chúng ta có thể có bao nhiêu
nhưng chúng ta không thể mang theo chỉ một xu khi chết chúng ta sẽ trở nên
ít keo kiệt hơn. Khi chúng ta rộng rãi một chút thì bắt
đầu vui trong việc chia sẻ và cho
đi, thương yêu và quan tâm. Lúc
đó chúng ta sẽ nhận thức ra rằng đời sống
không chỉ là chỉ gom góp và tích trữ của cải. Chúng ta sẽ thích
rộng lượng hơn, chia sẻ và mang niềm vui và hạnh phúc vào cuộc
đời của những người khác. Mang niềm vui và
hạnh phúc cho người khác là làm cái cho đời
sống có ý nghĩa và đẹp đẽ. Ðiều
đó mới đáng kể. Tình thương yêu và từ
bi nảy nở và thăng hoa trong chúng ta giống
như hoa nở đẹp của cây. Chúng ta trở nên thành những người thực sự
đẹp, đắm mình trong từ bi,
đáp lại bằng tấm lòng không có bất cứ
sự kỳ thị giống nòi, giáo phái, tôn giáo, địa
vị xã hội vân vân... Ðời sống của chúng ta sẽ có một luồng sáng mới
và chúng ta có thể nói chúng ta thực sự hạnh phúc và
đầy tình người. Và khi cái chết
đến, chúng ta không có gì nuối tiếc.
Chúng ta có thể mỉm cười với cái chết một cách hạnh phúc và an bình.
KHI BỐN TRÁI NÚI ÐỔ XUỐNG
Ðức Phật có lần nói dùng lối so
sánh để gây ấn tượng cho chúng ta sự cần
thiết sống một cuộc đời có ý nghĩa. Ngài
đặt câu hỏi này với Hoàng Ðế Pasenadi:
"Này Hoàng Ðế, Ngài làm gì khi Ngài được biết
bốn trái núi lớn, một từ hướng Bắc, một từ hướng Nam, một từ hướng
Ðông và một từ hướng Tây, đang tiến về hướng
vương quốc của Ngài, nghiền nát mọi vật sống và không có gì thoát
khỏi?"
Hoàng Ðế Pasenadi trả lời:
"Bạch Ðức Thế Tôn, trong một thảm họa lớn lao như vậy, sự hủy diệt
đời sống con người quá lớn, và tái
sinh làm người rất khó đạt được, tôi có thể làm
gì để cứu vãn mà sống một cuộc
đời ngay thẳng và làm những hành vi
thiện?" Ðức Phật đã làm cho vua hiểu
vấn đề: "Thưa Hoàng Ðế, tôi nói
để Ngài biết – tuổi già và cái chết
đang lăn vào Ngài. Vì tuổi già và cái
chết đang lăn vào Ngài, Ngài phải làm
gì?" Hoàng Ðế trả lời rằng trong hoàn cảnh như thế tất cả việc cấp thiết
là phải sống một cuộc đời lương thiện và
thực hiện hành vi tốt. Nhà vua thừa nhận tất cả uy quyền, uy thế, của cải
và lạc thú mà nhà vua hưởng như một hoàng đế,
có thể khi đứng trước cái chết chỉ là con số không.
Ví thế khi chúng ta suy nghĩ
một cách khôn ngoan về cái chết, chúng ta sẽ nhận ra rằng của cải, uy
quyền, uy tín và những lạc thú nhục dục không phải là mọi thứ. Chúng không
thể bảo đảm hạnh phúc cho chúng ta. Nhiều
người có chúng nhưng vẫn sống một cuộc đời sóng gió và bất hạnh.
Một số người hối tiếc đã hành hạ, áp
bức và làm hại người khác trong khi theo đuổi
điên cuồng những tham vọng trần tục của họ. Sau khi
đã tiến
được tới đỉnh, họ thấy là thành quả rốt cuộc không phải là thỏa mãn
mà thậm chí trống rỗng và vô nghĩa. Ðôi khi họ ước ao phải chi họ
đã có nhiều thì giờ hơn
để sống với thân quyến và bạn bè và
bộc lộ sự quan tâm và trìu mến hơn. Họ nuối tiếc
đã lơ là với người thân yêu. Một số
người đã
đạt được mức đô khá thành công, đã
thay đổi thái độ giữa chừng. Họ đã
dành nhiều thì giờ hơn cho người thân, bạn bè và xã hội và sửa soạn vì
điều thiện cao cả hơn, bỏ những tham vọng cao
nhất để bằng lòng với cái ít hơn.
Nếu chúng ta biết
được một số người giàu có và thành
công đã xáo trộn
đời họ ra sao, chúng ta sẽ học được một bài
học từ sự lầm lẫn của họ. Một hôm tôi đọc
cuốn sách với tựa đề "Những Người Giầu Có Nhất Trên Thế Giới Thua
Cuộc" .Tôi thấy đây là một cuốn sách
giáo dục. Tựa đềù hoàn toàn thích
đáng. Họ là những người thua cuộc
trong đời sống bất chấp của cải của họ. Vâng,
tôi đã học được khá nhiều Phật Pháp
trong cuốn sách đó, làm sao mà tiền bạc và thành công không bảo
đảm hạnh phúc riêng cho họ. Thay vì họ
đã không hạnh phúc bất chấp của cải và
thành công của họ. Ðọc biết về những người giàu có và nổi tiếng như Howard
Huges, Mario Lanza, Elvis Presley, Marylyn Monroe và Aristotle Onassis,
đã sống và chết ra sao, tôi không thèm
muốn như họ.
Những nhân vật
đầy quyến rũ như Elvis và Monroe chết
vì ma túy quá độ, sống qua câu châm ngôn:
"Từ nghèo khổ đến giàu có, và
từ giàu có đến rỗng không". Tất cả của
cải và thành công của họ không mang lại hạnh phúc mà họ tìm kiếm. Hạnh
phúc vẫn tránh né họ. Họ có vẻ khá tệ héo hon vì nóng giận cao
độ, phiền muộn, sợ hãi và trống rỗng.
Lấy trường hợp của một người phụ nữ thừa kế một gia tài vô cùng to lớn,
lấy chồng bẩy lần mà không tìm thấy hạnh phúc. Bà nói với người viết tiểu
sử của bà: "Tôi thừa hưởng mọi thứ trừ tình yêu. Tôi lúc nào cũng tìm kiếm
nó vì không biết nó là cái gì". Sáu cuộc hôn nhân
đầu kết thúc bằng ly dị và cuộc hôn
nhân cuối kết liễu bằng ly thân. Chung cuộc, mặc dù của cải lớn lao, người
ta nói bà chỉ là một người đàn bà
đau khổ dễ bị thương tổn bị ảnh hưởng bởi cô
đơn. Bà chết vào năm 66 tuổi với một vài
người bạn bên giường mà không có người chồng nào
đến. Những chuyện bi thảm như vậy, tôi chắc
chắn, có thể cũng tìm thấy ở phương Ðông.
Ðương nhiên,
đề cập đến những người khác, chúng tôi không
có ý xem thường một cách tự cho là
đúng. Nhưng chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh tầm quan trọng về việc có những
giá trị thích đáng trong đời sống, hiểu bản chất của tình thương và
từ bi thực sự. Chúng tôi cũng không có ý lên án sự giàu có và thành công
hay nói rằng bạn không nên phấn đấu vì
chúng. Không, chúng tôi không nói như vậy. Chúng tôi hiểu rõ là chúng ta
phải thực tế và hiện thực. Chúng tôi hiểu rằng nếu các bạn
đang làm việc trên thế giới này thì lý
đương nhiên bạn cố gắng hết mình
để kiếm được càng nhiều của cải càng
tốt. Sau hết, nếu bạn muốn làm điều thiện và
giúp đỡ người khác, như xây dựng cơ sở từ
thiện, bệnh viện và trung tâm hành thiền, và cúng dường thực phẩm
cho các nhà sư và người nghèo túng, bạn cần phải có tiền. Cho nên chúng
tôi không nói là bạn không nên cố gắng làm một cư sĩ
để làm giàu cho chính bạn. Nhưng
đương nhiên, trong việc kiếm của cải,
bạn nên làm bằng phương tiện lương thiện, không làm hại người khác.
Nói một cách khác,
điều chúng tôi nhấn mạnh là sự
đúng mức về luân lý. Chúng ta cần có những
giá trị tinh thần, nhận thức sâu sắc là hạnh phúc không phải là sự
ham mê lạc thú mà là chia sẻ và quan tâm. Khi chúng ta có những giá trị
đúng, chúng ta có thể sống có ý nghĩa và
mang niềm vui và hạnh phúc đến tất cả những
người ở trong môi trường đời sống của chúng ta. Khi chúng ta hiểu Pháp
nhất là chân lý về vô thường, khổ đau
và vô ngã, chúng ta không bám víu vào danh vọng hay lợi lạc. Chúng
ta có thể sống khiêm nhường và từ bi, chia sẻ của cải và thành công, và
tìm thấy niềm vui trong việc làm cho người khác hạnh phúc. Nhưng khi chúng
ta không hiểu thấu sâu xa về những gì cấu thành hạnh phúc – mà hạnh phúc
thực sự đến từ cái tâm đã thoát khỏi
tham, sân và si – rồi thì chúng ta không hiểu chúng ta có thể làm
điều sai lầm, chúng ta nhất định bị chìm
vào vũng bùn nhục dục đi đến sự kết liễu
thống khổ. Cho nên điều quan trọng là
chúng ta hãy suy ngẫm cẩn thận về sự sống và cái chết, và lái vào
đúng hướng, con đường thích hợp.
Ý THỨC CẤP BÁCH
Suy ngẫm về cái chết cũng có
thể mang lại cái được gọi là
Samvega bằng tiếng Pali – một ý thức cấp bách có thể tiếp sức cho
chúng ta làm tất cả các điều thiện mà
chúng ta có thể làm được trước khi chết và
đặc biệt là hành thiền
để trải nghiệm được chân lý sâu xa hơn và
sự hiểu biết. Ðức Phật nói hầu hết mọi người tất tưởi vội vã ở bờ bên này;
họ không tìm cách vượt sang bờ bên kia. Ý Ðức Phật muốn nói chúng ta tất
cả đều bị vướng mắc vào những mưu cầu
khoái cảm trong những lạc thú trần tục của
đời sống. Chúng ta không tìm cách vượt khỏi phàm trần – vượt qua
sinh tử, để nếm rượu thần tiên của
hạnh phúc bất tử, Niết Bàn bất tử.
Niết Bàn là gì? Niết Bàn không
thể mô tả được mà mỗi người phải trải
nghiệm nó cho chính mình. Nhưng Ðức Phật đã
cố gắng đưa ra một số ý niệm về Niết Bàn
là thế nào. Thí dụ, Ngài mô tả Niết Bàn là cái bất sinh, không nguồn gốc,
không hình dáng, không điều kiện, bất tử,
hạnh phúc cao nhất, an lạc to lớn nhất. Niết Bàn tượng trưng một
trạng thái bất sinh bất diệt, không sinh hay tử. Nó
được mô tả như ngọn gió thổi tắt những ngọn
lửa của tham, sân và si, sự chấm dứt của tâm và vật, sự dập tắt khổ
đau. (Ðể
đọc thêm về Niết Bàn, hãy
đọc cuốn "Bản Chất Của Niết Bàn",
tác giả Mahasi Sayadaw, phát hành bởi Tổ Chức Buddha Sasana Nuggaha,
Rangoon, Miến Ðiện)
Một người
đạt được trạng thái Niết Bàn, trạng
thái này có thể thực hiện được trong quá trình
thiền định, được gọi là giác ngộ. Một
người giác ngộ có thể là bậc A La Hán hay Ðức Phật. Sự khác biệt giữa A La
Hán và Ðức Phật là A La Hán đạt giác ngộ,
bằng cách lắng nghe một người giác ngộ khác trong khi Ðức Phật
đạt giác ngộ bởi chính mình.
Người giác ngộ là người có thể
trực diện với những nỗi thăng trầm của cuộc
đời bằng cái tâm điềm đạm. Qua những thăng trầm, như thua và
được, thành công và thất bại, khen và
chê, đau đớn hay thích thú, nổi tiếng hay
mang tiếng, người giác ngộ vẫn thanh thản và không lay chuyển. Họ
tiếp tục lối sống ấy không phải là bị lừa dối hay không cảm thấy mà vì
đã được
giác ngộ và khôn ngoan; hiểu rõ bản chất thực sự của cuộc sống, bản
chất của hiện tượng vật chất và tinh thần, bản chất vô thường, bất an cửa
chúng và không có một hạt nhân hay cốt lõi nào có thể gọi là cái ngã trong
ý nghĩa tối hậu. Nếu họ không tham đắm vào
lạc thú, và thích đau đớn, không phải là
họ không cảm thấy chúng. Họ cảm thấy chúng nhưng hiểu rõ bản chất thực sự
của chúng nên họ không bị áp đảo bởi chúng.
Họ có thể chấp nhận cả đau đớn lẫn lạc thú khi chúng tới bằng trí tuệ và
trầm tĩnh.
Cũng vậy
đối với những hoàn cảnh trần thế khác
như khen chê, thua được. Nếu họ được khen họ
không kiêu căng hay tự cao tự đai. Họ
không hãnh diện. Nếu họ bị chê, họ không buồn phiền hay ngã lòng.
Ðiều ấy không thành vấn đề với họ. Họ vững vàng
và không xao xuyến vì biết mình đã
hành động đúng – không một vết nhơ của tham
sân và si, động cơ thúc đẩy họ là
thương yêu-khả ái và từ bi. Họ cũng không có ý thích làm hại
đến con kiến hay con muỗi. Lương tâm của họ
trong sáng, tâm trí họ nhẹ nhàng và tự do. A La Hán sống kiếp sống
cuối cùng trên trái đất và khi chết
không bị tái sinh nữa. A La Hán chấm dứt như một ngọn
đèn, đạt
nirodha – sự chấm dứt. Người ây đạt Parinibbana (vô dư Niết
Bàn) – có nghĩa là người ấy đạt Niết Bàn
tối hậu, sự chấm dứt tất cả cuộc sống, đạt
được yếu tố an lạc tối thượng của Niết Bàn. Bởi vậy, A La Hán trong
thời Ðức Phật có câu sau:
Tôi thích thú không phải trong sự sống
Tôi thích thú không phải trong cái chết
Mà tôi chờ lúc ra đi của tôi trong chánh niệm và tự tại.
Một bài kệ khác như sau:
Vô thường là những thứ duyên hợp
Có bản chất sinh ra và mất đi
Ðã nẩy sinh rồi phải chết đi
Bình lặïng và chấm dứt là hạnh phúc thực sự.
Suy ngẫm về cái chết có thể
giải thoát chúng ta khỏi sự kìm kẹp của cám dỗ nhục dục. Chúng ta sẽ không
bị lừa dối bởi của cải vật chất mà hướng nguồn vui của chúng ta vào một
cuộc đời đáng hài lòng và bổ ích vì sự
phát triển trí tuệ và từ bi. Chúng ta được
khuyến khích hành thiền hoặc, nếu chúng ta
đã thực hành rồi, hãy tăng
gấp đôi nỗ lực đạt mục tiêu tối hậu giải thoát khỏi tất cả khổ
đau.
SUY NGẪM DẪN ÐẾN HIỂU BIẾT VÀ
CHẤP NHẬN
Suy ngẫm thường xuyên về cái
chết – về làm sao không thể tránh được và
tài sản đích thực của ta là những hành
vi – có thể khuyến khích chúng ta sống một cuộc
đời lương thiện đến mức khi chết chúng ta sẽ
không sợ hãi cái chết.
Hơn nữa khi một người thân của
chúng ta chết, không thể tránh khỏi là tất cả chúng ta
đều phải chết, phiền muộn không làm
đau đớn chúng ta khi chúng ta hiểu biết và
chấp nhận. Ðó không phải là vì chúng ta không
động lòng hay vô tâm. Không, chúng ta có một con tim, một con tim
dễ xúc cảm. Chúng ta có thể cảm động sâu xa
nhưng chúng ta cũng biết bản chất của sự sống, và có thể chấp nhận
cái chết đan dệt thành sự sống.
Giải thích người trí chấp nhận
cái chết ra sao, Ðức Phật nói: "Thấy bản chất của thế giới, người trí
không than van. Khóc lóc, rên rỉ sẽ chỉ dẫn
đến khổ đau và đau đớn hơn. Nó không
thể làm người chết trở lại. Người than khóc trở nên xanh xao và ốm
yếu. Người ấy đã làm ngược với chính
mình và sự than khóc của mình không đem lại gì
cả." Ðức Phật nói người khôn ngoan đã
thực sự nắm vững bản chất của cuộc sống, đã
"rút ra mũi lao phiền muộn và thất vọng". "Người ấy không có sự bám víu.
Vì đã đạt
được an lạc trong tâm, người ấy đã vượt qua tất cả phiền não. Người
ấy tự do."
Cho nên chúng ta nên suy ngẫm
về những khía cạnh sâu xa hơn trong những lời dạy của Ðức Phật
để chúng ta có thể trực diện với cái chết
không bị phiền não mà hiểu biết. Người ra
đi cũng không muốn chúng ta mất tự chủ. Họ
cũng không muốn chúng ta bị đau lòng mà hãy chấp nhận sự ra
đi của họ một cách thoải mái. Vì
đã tái sinh, họ
đâu còn hiện diện
để nhìn chúng ta khóc than. Khóc than
và phiền muộn của chúng ta không giúp gì cho họ cả. Cho nên cái
đó thật phù phiếm. Nếu chúng ta suy
xét sâu xa hơn, chúng ta có thể thấy phiền não của chúng ta là do luyến
chấp. Chúng ta không chịu nổi sự chia ly. Nhưng nếu chúng ta suy ngẫm sâu
xa hơn, và trở nên khôn ngoan hơn, chúng ta có thể chấp nhận cái không thể
tránh được. Thay vì phiền não, chúng
ta can đảm. Chúng ta có thể phản ứng một cách
có nghĩa lý, giả thử quyết định sống một cuộc đời cao thượng và
gương mẫu để tưởng niệm hay tưởng nhớ người
thân. Một người khôn ngoan chắc chắn không muốn chúng ta than khóc cho
người ấy. Trái lại người ấy muốn nói: "Nếu bạn thực sự muốn tưởng
niệm hay tưởng nhớ đến tôi, xin hãy
sống cuộc đời thiên, làm những hành vi
thiện, hãy tử tế với đồng loại... Ðó
là tất cả những gì tôi đòi hỏi".
Khi Ðức Phật sắp nhập diệt,
người ta nói hoa trời và phấn hương gỗ đàn
hương từ trên trời rải xuống khắp thân Ngài
để vinh danh Ngài. Và nhạc trời cũng trỗi dậy. Nhưng Ðức Phật cho
thấy tất cả những thứ vinh danh Ngài như vậy không phải là
điều Ðức Phật muốn. "Không phải như
vậy mà Như Lai được vinh danh đến tột độ,"
Ngài nói. "Nhưng này A Nan, ai tôn trọng Pháp, sống
đúng Pháp, bước đúng con đường của Pháp, đó
chính là cách để vinh danh Như Lai đến
mức cao nhất. Cho nên này A Nan, các ngươi phải tự rèn luyện: Chúng
ta phải tôn trọng Pháp, sống đúng Pháp, bước
theo con đường của Pháp." Và tuy chúng tôi
đã nói trước
đây, chúng tôi muốn nói lại lần nữa: - Lời
dặn dò cuối cùng của Ðức Phật là: "Vayadhama sankhara.
Appammadena sampadetha.- Tất cả những gì duyên hợp
đều phải tan rả. Hãy gắng lên chuyên
cần (để giải thoát)."
THAN VAN KHÔNG THỂ TÁC ÐỘNG ÐẾN
TRO CỐT CỦA NGƯỜI CHẾT
Trong những kiếp trước, Ðức
Phật là một vị Bồ Tát (một vị Phật sẽ thành), cũng không biểu lộ phiền não
trước cái chết của những người thân. Ðức Phật có thể bằng tâm linh nhớ lại
những tiền kiếp của Ngài, và được biết rằng
có một kiếp Ngài là một nông dân, ngài không phiền não khi mất một
đứa con trai duy nhất. Trái lại, Ngài
suy ngẫm: "Cái gì phải tan rã sẽ tan rã và cái gì phải chết sẽ chết. Tất
cả đời sống chỉ là tạm bợ và phải
chết." Khi một người Bà La Môn hỏi tại sao Ngài không khóc – phải chăng
Ngài có trái tim sắt đá, Ngài
không cảm động vì
đứa con của Ngài – vị Bồ Tát trả lời
rằng Ngài rất quí đứa con của Ngài,
nhưng phiền não không thể mang đứa con trở
lại được. "Không có than van nào có thể tác
động đến tro cốt của người chết. Làm
sao tôi phải phiền não? Nó đi theo con đường
mà nó phải đi".
Trong một kiếp khác Ngài không
khóc trước cái chết của người anh và đã
bị buộc tội là vô tâm, Ngài trả lời những nguời
đó không hiểu tám hoàn cảnh trần thế
mà tất cả chúng sinh phải đối diện, tức là,
được và thua, hạnh phúc và bất hạnh,
khen và chê, nổi tiếng và bị mang tiếng. "Vì ông không hiểu tám hoàn cảnh
trần thế, nên rên rỉ, khóc than. Tất cả mọi thứ hiện hữu chỉ là tạm bợ và
cuối cùng phải chấm dứt. Nếu ông không hiểu
điều này và vì cái vô minh của ông cho nên ông khóc và than van,
tại sao tôi phải theo ông than khóc?"
Trong một kiếp khác nữa, Vị Bồ
Tát không khóc trước cái chết của người vợ trẻ và
đẹp. Trái lại, Ngài suy ngẫm: "Cái gì
có bản chất tan rã thì phải tan rã. Tất cả những gì hiện hữu
đều vô thường", và ngồi xuống một cái
ghế gần đấy, Ngài dùng cơm như thường
lệ, cho thấy khả năng tuyệt vời lúc nào
cũng sống trong chánh niệm. Những người tụ tập chung quanh Ngài hết sức
ngạc nhiên và hỏi làm sao Ngài có thể giữ bình tĩnh vào lúc như thế này.
Phải chăng Ngài không yêu vợ Ngài, một
người rất đẹp đến nỗi kể cả những người không
biết bà cũng không cầm được nước mắt?
Vị Bồ Tát trả lời bằng bài kệ:
Vì sao tôi phải nhỏ lệ với em
Sammilllabhasini xinh đẹp kia ơi?
Em đi về cõi chết
Từ nay ta mất em .
Vì sao chàng trai yếu đuối than van
Những gì đối với hắn chỉ là vay mượn?
Hắn cũng hít vào hơi thở tử vong
Bị tước đi từng giờ bởi cái chết.
Lúc hắn đứng, hắn ngồi, đi lại hay nghỉ ngơi
Trong cái nháy mắt,
Cái chết xẩy tới ngay.
Ðời sống tôi cho là thứ không vững chắc
Mất bạn bè là chuyện không tránh được
Hãy trân quý tất cả những gì còn sống
Buồn phiền em cũng chẳng sống lại đâu.
(Lược dịch ý)
Những chuyện rất ngạc nhiên như
vậy về sự tự chủ của Bồ Tát rất đáng kính sợ.
Nó cũng dạy chúng ta phải suy ngẫm kỹ và sâu xa về giáo lý
để hiểu rõ chân lý của vô thường và
chấp nhận sự thật về cái chết. Có lẽ khi chúng ta
đau khổ vì mất người thân, chúng ta sẽ
suy ngẫm như vị Bồ Tát này và giữ được sự
điềm tĩnh.
CÁI CHẾT KHÔNG CÓ GÌ XA LẠ VỚI
CHÚNG TA
Một cách suy ngẫm khác về cái
chết để khắc phục được sợ hãi cái
chết, là coi cái chết không có gì xa lạ với chúng ta. Nổi trôi
đằng đẵng trong luân hồi, vòng sinh tử
bất tận, Ðức Phật nói chúng ta đã chết
đi và tái sinh nhiều lần không kể xiết
– quá nhiều đến nỗi nếu chúng ta gom tất cả
xương khô lại cùng nhau, thì mỗi đống
xương đó có thể cao hơn quả núi cao nhất! Cũng vậy, Ðức Phật nói
nước mắt chảy trong luân hồi vì mất người thân nhiều hơn nước của bốn
đại dương.
Ðúng, Ðức Phật nói, chúng ta
đã đủ đau
khổ nhiều, để hoàn toàn mỏi mệt về đời
sống, hãy tìm kiếm con đường để ra
khỏi cái mê cung khổ đau, con đường để
đi đến Niết Bàn bất diệt. Nhưng không may, chúng ta ít trí nhớ nên
không nhớ được kiếp nào trong quá khứ.
Làm sao mà đôi khi chúng ta không thể nhớ nổi
những gì chúng ta đã làm ngày
hôm qua! Cho nên chúng ta cứ tiếp tục sống một cách tự mãn, không có ý
thức khẩn cấp gì để trau dồi trí tuệ để giải
thoát chúng ta khỏi khổ đau. Tuy nhiên trong thời Ðức Phật, có
nhiều thầy tỳ kheo, kể cả Ðức Phật dã có thể nhớ lại
được tiền kiếp của mình. Ở thời nay
cũng có những chuyện của những người có khả năng
kỳ lạ nhớ lại tiền kiếp của họ. Francis Story và Bác Sĩ Ian
Stevenson đã viết những cuốn sách,
đưa ra tài liệu về một số những trường
hợp này.
Khi chúng ta suy ngẫm về tái
sinh chúng ta lợi trên hai phương diện:
Tóm lại chúng ta có thể coi cái
chết không có gì xa lạ với chúng ta. Chúng ta
đã gặp nó nhiều lần trước đây. Cho nên
chúng ta không cần đối đầu nó bằng sợ hãi.
Chúng ta có thể coi nó chỉ là một chuyển tiếp, sự thay
đổi từ cuộc sống này
đến một cuộc sống khác.
Chúng ta sẽ có
động cơ tìm cách ra khỏi luân hồi,
vòng sinh tử. Chúng ta có thể nghiên cứu giáo lý của Ðức Phật sâu xa hơn.
Chúng ta có thể phấn đấu mạnh hơn nữa và
thực hành những lời dạy của Ðức Phật, để phát
triển lòng vị tha, đạo đức và
thiền định.
CÁI CHẾT NHẤT THỜI
Trong một
đường lối khác nhìn cái chết là cái mà
ta trải nghiệm hết lần này đến lần khác. Vì
trong ý nghĩa tuyệt đối, sinh và diệt
liên tiếp xảy ra. Theo Ðức Phật, thức lúc nào cũng sinh ra và chết
đi. Khi thức này tan rã thì lập tức
thức khác nảy sinh và cứ thế tiếp diễn, vô tận, cho
đến khi và trừ phi chúng ta thực hiện
được Niết Bàn tối hậu. Những hiện
tượng về thân thể cũng sinh diệt không ngừng. Cho nên cái mà chúng ta có
chỉ là sự sinh diệt không ngừng của các hiện tượng thể chất và tinh thần.
Ở một mức độ nào
đó hồ như sinh và tái sinh luôn luôn
xảy ra. Trong tiếng Pali, nó được gọi là
khanika-maranam - cái chết nhất thời. Trong cuốn Thanh Tịnh Ðạo, nó
được nói đến như sau:
"Theo tuyệt
đối, chúng sinh chỉ có một thời gian sống
rất ngắn ngủi, đời sống chỉ tiếp tục chừng nào mà thức còn. Giống
như cái bánh xe, dù chạy hay ngừng luôn luôn dựa vào một
điểm trên chu vi của nó, dù vậy
đời sống của chúng sinh chỉ kéo dài
trong lúc thức còn. Chừng nào mà lúc này chấm dứt, thì chúng sinh cũng
chấm dứt. Vì người ta nói rằng: ‘Chúng sinh thuộc về chập quá khứ của
thức đã tồn tại, nhưng không tồn tại
trong hiện tại, và cũng chẳng tồn tại trong tương lai. Chúng sinh thuộc
về chập tương lai không tồn tại, cũng chẳng tồn tại trong hiện tại,
nhưng nó sẽ tồn tại trong tương lai. Chúng sinh thuộc về chập hiện tại
đã không tồn tại, nó chỉ tồn tại
trong hiện tại, nhưng nó sẽ không tồn tại trong tương lai.’"
(chuyển ngữ bởi ngài Nyanatikola theo cuốn Tự Ðiển Phật Giáo)
Trong phạm vi này, chúng sinh
chỉ là thuật ngữ qui ước. Phân tích đến cùng,
nó chỉ là một chuỗi thức sinh ra và chết đi.
Thức này chết đi thì thức kia
nảy sinh - tất cả là như thế. Và chúng ta gọi tiến trìnhï tiếp tục này là
một chúng sinh. Nhưng trong ý nghĩa tuyệt
đối, không có chúng sinh – không có sự thay đổi của linh hồn hay tâm, mà
chỉ có một chuỗi thức sinh ra và chết đi,
thức này tạo điều kiện cho sự sinh ra
của thức kia.
Hơn nữa cái chết thông thường
mà chúng ta trải qua vào lúc chấm dứt của tuổi thọ không chỉ là cái chết
tối hậu. Một thức khác tức khắc sinh ra nhưng trong một thân mới hay cảnh
giới mới theo tái sinh mà ta đi vào.
Chỉ khi ta đã loại bỏ
được những dấu vết tinh thần của tham, sân và
si, thì mới không có tái sinh. Suy ngẫm như vậy, chúng ta cũng có thể
đánh giá đúng bản chất của vô thường, khổ đau
và vô ngã. Và chúng ta có thể vượt qua cái sống và chết dễ dàng.
VẤN ÐỀ ÐÁNG SUY NGHĨ
Mỗi lần bạn nhìn vào tờ báo và
gặp mục lời cáo phó hay những thông báo về cái chết, bạn có suy nghĩ về
cái chết không? Bạn có dừng lại và suy ngẫm sự thật về cái chết của chính
bạn không? Bất cứ lúc nào cái chết đến với
những người khác, chúng ta không cảm thấy nhiều về việc đó. Người chết có
thể là người xa lạ với chúng ta. Khổ
đau không phải là của chúng ta, ngoài ra chúng ta
đã trở nên hoàn toàn tê liệt trước
những chuyện về cái chết – Chúng được đăng trên
báo hàng ngày. Ðọc tin người ta bị giết ra sao, nhất là trong chiến
tranh,sự sống dường như rẻ mạt. Dường như không có sự tôn trọng gì
đối với sự sống. Nhưng khi cái chết đánh vào
người thân của chúng ta, chúng ta chịu đựng
ra sao? Và khi chúng ta trực diện cái chết của chính chúng ta,
chúng ta có sợ chết điếng không? Vâng, mặc
dầu chúng ta biết chết và các thảm kịch xẩy ra chung quanh chúng
ta, nhưng chúng ta sững sờ kinh ngạc và không thể chấp nhận nó khi nó thực
sự xẩy ra cho chúng ta.
Khi chúng ta
đọc "mục tưởng nhớ" trong báo chí,
chúng ta có thể thấy tuy một người đã
chết mấy năm qua rồi, nhưng người thân vẫn còn
khổ vì đau đớn bởi chia ly như thể nó mới
giáng xuống ngày hôm qua. Ðôi khi trong những thông diệp, người hôn
phối hay thân nhân công khai bầy tỏ buồn phiền mà họ vẫn còn cảm thấy và
nước mắt vẫn nhỏ xuống bởi người thân. Chúng ta hiểu
đó là tình người cảm thấy như vậy.
Nhưng Ðức Phật dạy chúng ta rằng con người chúng ta có thể tự tiếp thu
bằng trí tuệ và sức mạnh để chấp nhận sự mất
mát và chịu đựng một cách kiên
cường. Không phải là Ðức Phật muốn chúng ta vô tâm mà Ngài muốn chúng ta
có trí tuệ để chấp nhận sự mất mát và
hiểu biết sự phù phiếm của phiền não. Nhất
định Ngài không muốn chúng ta héo hon vì phiền não, trở nên gầy gò
và yếu đuối, mất tất cả lợi ích trong đời.
Ðặc biệt những người Phật Tử nên hiểu
điều này và do đó chấp nhận sự mất mát
một cách kiên cường.
Nếu người Phật tử cần thiết
đưa ra thông điệp với lời cáo phó hay để
tưởng nhớ trên báo, tại sao không để
những lời Pháp như: Vô thường là tất cả mọi thứ duyên hợp. Hãy
phấn đấu không mệt mỏi cho Niết Bàn
vôvi; hay suy ngẫm một caùch có ý nghĩa về cái chết: Giống như hạt
sương trên ngọn cỏ chẳng mấy chốc vào lúc mặt trời mọc sẽ biến mất và
không tiếp tục tồn tại được lâu; giống như
vậy đời sống của con người giống như hạt sương rơi rất ngắn ngủi và
phù du. Ta nên hiểu điều này một cách
khôn ngoan, hãy làm những hành vi thiện và sống một cuộc
đời đạo đức, không ai có thể thoát chết.
Hay nếu ta muốn có tính cách
riêng tư, sao không để một thông điệp như
sau: "Anh thân yêu, nếu anh có thể biết
được, anh sẽ hài lòng biết rằng con
cái lớn lên rất tốt đẹp. Em đã dạy kỹ
chúng về Pháp, quý trọng những giá trị quý báu của tình thương yêu và lòng
tốt, trí tuệ và hiểu biết. Em cũng dạy kỹ chúng
đừng bắt chước bạo lực và tham lam
thường thấy qua truyền thông như truyền hình và phim ảnh. Kết quả, chúng
rất hòa nhã và thân thương với mọi người. Về phần em, em vẫn giữ giới và
hành thiền. Em đang thực hành chánh
niệm hàng ngày và ẩn tu một hay hai lần một năm.
Em rất an lạc và phát triển trong Pháp. Em cố gắng không phiền não,
vì anh và em đã hiểu một chút
điều Phật dạy – đó là phiền não thật
phù phiếm: Nó không có ích gì. Và em biết anh cũng chẳng muốn em phiền
não, mà là sống một cuộc đời thiên và
gương mẫu.
"Tuy nhiên có những lúc, em
phải công nhận, khi em cảm thấy đau đớn, khi
em thấy nhớ anh kinh khủng, nhất là khi nghĩ
đến những lúc vui cùng nhau, hạnh phúc
mà chúng ta cùng chia sẻ, nụ cười ngọt ngào và ánh mắt sáng ngời của anh,
cách anh cười và chòng ghẹo. Vâng, khi em lạc vào trong cái nhớ nhung quá
khứ ấy, em phải công nhận em cảm thấy nước mắt muốn trào ra. Nhưng anh
thân thương, em có thể tự kiềm chế được. Em
có thể có chánh niệm. Em có thể quan sát cái đau đớn và chấp nhận
nó. Em có thể quan sát tư tưởng và tâm trạng em. Em có thể suy ngẫm giáo
lý của Ðức Phật và hiểu sự phù phiếm của phiền não. Em có thể hạnh phúc và
trông vào các phước báu – ít nhất chúng ta đã
có những giờ phút hạnh phúc bên nhau và bây giờ chúng ta có con cái
để sống vì chúng. Em hiểu sự
đau đớn đến từ sự luyến chấp và thiếu
sự hiểu biết sâu xa về bản chất của tất cả cuộc sống. Cảm ơn Ðức Phật
đã dạy chúng ta về chánh niệm, dạy
chúng ta sống trong hiện tại, phải luôn luôn hạnh phúc, trông mong vào
phước báu, tắm mình trong hạnh phúc của một cuộc
đời đã sống lương thiện.
"Vậy thì, em biết lời nhắn nhủ
này đã dài rồi. Em cũng biết rằng anh
không ở đâu đây để nghe. Nhưng nó làm
cho em cảm thấy dễ chịu được bầy tỏ theo cách
này. Em cảm ơn anh về hạnh phúc mà anh
đã cho em, và em dành tất cả những hành vi thiện mà em
đã làm, và
đời sống thiện mà nay em
đã cố gắng sống, tất cả em dành cho kỷ
niệm ngọt ngào và thân thương của anh. Em cũng chúc anh, dù tái sinh tốt
thế nào, cầu nguyện anh hãy tiếp tục tu tập Pháp cho
đến khi anh đạt được Niết Bàn, sự chấm
dứt tất cả khổ đau, vân vân... và vân
vân..."
Thừa nhận
đây là một một thông
điệp khá dài mà tôi
đã hơi say mê một chút. Nhưng
điều tôi muốn nhấn mạnh nơi đây là chủ
đề của thông điệp, một chủ đề về hiểu biết và
chấp nhận. Ðó chỉ là đưa ra ý niệm về lời
nhắn nhủ cách diễn đạt Phật Giáo. Nó có thể được rút ngắn lại và
viết đơn giản hơn. Hay ngoại trừ mục đích
giáo dục của nó (có nghĩa dạy dỗ), lời nhắn nhủ có thể là không cần
thiết. Những cảm nghĩ như vậy có tính cách cá nhân và có thể
được giữ riêng tư. Khi ta hiểu thấu
Pháp, ta có thể tiếp tục sống một cuộc đời
thiện và mãn nguyện.
MỘT THẾ GIỚI KHÁC
THƯỜNG
Ðọc báo và tạp chí có thể cho
chúng ta nhiều cái đáng suy ngẫm. Bên
cạnh những cáo phó, có những chuyện ác liệt nhắc tới khổ
đau trên khắp thế giới, dẫu cho chúng
ta có thể chết lặng đi vì nó. Có những
vụ giết người, trộm cướp, hiếp dâm và chiến tranh, những vụ xung
đột tôn giáo, sắc tộc, xã hội và chính
trị, ô nhiễm, bệnh tật, chết đói, nghèo
túng, tra tấn, áp bức, khủng bố, tai nạn, tự tử và những thiên tai như
động đất, hỏa hoạn, lụt lội và bão tố.
Quả là một bản liệt kê dài và đáng buồn cứ
tiếp tục.
Ðồng thời bên cạnh những tin
tức có những bức tranh và quảng cáo trình bày những người hạnh phúc
đang hưởng thụ cuộc sống như thể không quan
tâm gì đến thế giới. Họ cười và
chụp hình đằng sau các xe sang trọng, những
lâu đài đồ xộ, những căn phòng
khách sạn lộng lẫy, những chai rượu, thuốc lá, nước hoa, mỹ phẩm,
đồ trang phục trình bày quyến rũ, và
đồ trang sức lộng lẫy. Họ đắm mình
trong những tiệc tùng, cuộc thi sắc đẹp và
biểu diễn thời trang với những người kiểu mẫu
đẹp và sành điệu diễu hành trên
lối đi của bục trình diễn. Sự tương
phản đặc biệt thật mỉa mai, khi bạn nhìn
thấy một cuộc biểu diễn thời trang lớn bên cạnh một bức tranh não lòng của
những trẻ em Phi Châu đáng thương chỉ còn
da bọc xương gần chết đói.
Người ta nói chúng ta là người
văn minh ghê tởm bạo lực và sự gây
đau đớn điên rồ cho người khác. Tuy
nhiên chúng ta có những trận đấu tranh tài
vô địch quyền Anh của hai võ sĩ khỏe
mạnh, vì món tiền lớn, cố hết sức giã vào đầu
nhau giữa những tiếng la hét tán thưởng rầm rộ của người xem, không phải là
không giống thời dã mãn của người La Mã khi những
đấu sĩ đánh nhau với sư tử hay với nhau để
giải trí cho những khán giả khát máu. Chúng ta có những người đấu bò,
điên lên, hành hạ và giết con bò chỉ
để mua vui. Và mọi người, hay ít nhất
những khán giả đông nghẹt tại đấu trường,
dường như nghĩ rằng đó cũng là trò vui.
Hút thuốc và uống rượu
đã gây thiệt hại rất lớn cho sức khỏe
của con người, tuy nhiên các hãng thuốc lá và làm rượu vẫn cứ cung cấp
bằng mọi cách, thậm chí thông qua các võ đài
thể thao, những sản phẩm chết người của họ. Hút thuốc
được mô tả một cách lố bịch là "gặp gỡ
sự dịu hiền" và uống rượu ngang bằng với thành công và uy tín giữa nhiều
việc khác! Cái gọi là các nước phát triển bán hạ giá thuốc lá và những sản
phẩm có hại khác cho các nước Thế Giới thứ ba, trong khi kiềm chế sự tiêu
thụ các sản phẩm ấy trong dân chúng của họ. Trong sự tham lam quá quắt của
cải của họ, các hãng xưởng sẵn sàng làm bất cứ cái gì, dường như không có
một chút băn khoăn nào về tất cả những
gì họ nói hay làm trong việc cung cấp các sản phẩm như vậy. Các phương
tiện truyền thông đại chúng như báo chí và
tạp chí, chấp nhận và phát hành quảng cáo vì tham lam số tiền lớn mà họ
mang đến, không thể tự tha trách nhiệm của mình.
Họ có nhân quyền cơ bản để thi hành
lương tâm xã hội bằng cách từ chối những quảng cáo có hại nhưng họ chọn
cách không làm thế.
Nhìn vào một tạp chí hàng không
bóng loáng, bức ảnh ông chủ tịch già một hãng bia ở Thái Lan
đã khiến tôi lưu ý. Mặc com lê và với
mớ tóc hoa râm, ông ta hãnh diện trình bày, trong phòng họp sang trọng của
ông, một dẫy chai bia sản xuất bởi hãng của ông. Ngay
đàng sau ông là một cái bàn thờ với
hình ảnh Ðức Phật chiếu sáng lấp lánh. Ta có thể nhìn thấy bàn thờ
đã được
bầy ở giữa phòng một cách rất ấn tượng. Vì chúng ta
đều biết Ðức Phật dạy về sự cấm rượu,
giới thứ năm mà tất cả người Phật tử
tán thành nói rằng: "Tôi nguyện giữ giới không uống rượu hay dùng ma túy,
vì nó là nguyên nhân làm mất sự lưu tâm". Cho nên người giữ giới khó có
thể thỏa hiệp với sự sản xuất và phân phối rượu hàng loạt,
được coi như một cách sống sai lầm trong
Ðạo Phật, với hình ảnh của Ðức Phật,
được trình bày một cách trang trọng trong phòng.
Sulak Sivaraksa, một nhà hoạt
động và phê bình xã hội Thái, viết
trong cuốn sách của ông, "Những hạt giống của Hòa Bình": "Sự thật
đáng buồn là Thái Lan có khoảng
250,000 nhà sư nhưng gái mãi dâm nhiều gấp
đôi. Ðiều này phát ngôn cho một hệ thống không hữu hiệu và phải
thẩm xét lại từ cội nguồn. Nếu chúng ta có thể quay về nguồn gốc tốt
đẹp của truyền thống Á Châu, chúng ta có thể
tạo ra một kiểu sống lành mạnh và hữu hiệu". Kể ra hai thí dụ sau
cùng, chúng tôi không có ý chỉ trích Thái Lan, mà chỉ là nhấn mạnh vào cái
dị thường. Thật ra, dị thường hiện hữu ở khắp nơi. Giống như ở Thai Lan,
những việc đó cũng thấy ở Phật Giáo
Miến Ðiện, Phật Giáo Sri Lankha, xứ sở của chúng tôi và ở bất kỳ một xứ
nào khác. Không ai có độc quyền.
Vâng, chúng ta có thể tiếp tục
dài dài với bản liệt kê những mâu thuẫn trên thế giới mà chúng ta sống,
chúng ta tin chỉ điều này cũng
đủ để thấy vấn đề. Vâng, phải chăng hồ như
chúng ta không phải là một xã hội có một trạng thái tâm lý bị chia
rẽ hay loạn tinh thần? giống như một Bác Sĩ Jekyll và ông Hyde. Chúng ta
biết cái gì là bất thiện, tuy nhiên chúng ta tha thứ và thậm chí còn
khuyến khích sự tăng trưởng của nó. Rõ
ràng, dù muốn dù không chúng ta bị vương mắc vào
đấy, và chúng ta lao vào theo ngọn
thủy triều. Ðược lập trình và bị tác động bởi
những người có thế lực trong phương diện truyền thông quảng cáo đại chúng,
chúng ta đáp ứng điều khiển và thông
điệp của họ. Mua cái này, mua cái kia.
Ăn cái này, ăn cái nọ. Mặc cái này,
mặc cái kia. Làm cái này, đừng làm cái
đó. Cái này thô kệch và cái
đó có tính chất đàn bà. Cái này
đúng mốt và cái kia không. Ðây là lối
sống tuyệt vời; đó là xã hội giàu sang
đi đây đi đó bằng máy bay phản lực, một thế
giới vui nhộn và tiêu khiển tuyệt vời.
Xin thứ lỗi cho tôi nếu tôi có
vẻ giống một người chỉ trích, một trò thể thao xấu, một nhà sư giận dữ
đứng trên bục diễn giả ngoài trời cao
giọng tuyên bố rằng ngày tận thế gần kề và đe
dọa một xã hội suy đồi bằng lửa địa
ngục. Nhưng bạn có thể đồng ý với tôi rằng có lẽ đó không phải là
một ý kiến xấu, nếu thỉnh thoảng, chúng ta lùi lại một phút và nhìn vào
tình hình thế giới, trạng thái tâm chúng ta và tình trạng cuộc
đời chúng ta. Một số trí tuệ có thể nẩy sinh
từ sự suy ngẫm đó. Chúng ta có thể đánh giá lại lập trường của chúng ta và
hướng đi mà chúng ta muốn theo. Chúng
ta theo đám đông hay chúng ta bỏ hàng
ngũ? Và giả dụ tôi xin mượn một vần thơ của Robert Frost: Hai con
đường rẽ ra hai ngả trong rừng rậm và
tôi – tôi đi con đường ít người qua lại.
Và việc đó đã làm cho sự thể thay
đổi hoàn toàn. Vâng, khi hai con
đường rẽ hai ngả trong đường đời, bạn đi con
đường nào? Con đường ít người đi – con
đường của chánh niệm và trí tuệ, con
đường của tình thương và từ bi? Xin hãy nghĩ về việc này, vì nó có
thể làm sự thể hoàn toàn thay đổi.
Nơi đất và nước
Lửa và gió không tìm được duyên hợp,
Dòng thủy triều đang tắt dần
Vòng luân hồi không còn xoáy tít nữa
Tâm và vật sẽ ngừng không còn gì lại nữa
Ðức Phật
MỘT NỤ CƯỜI NGỌT
NGÀO NHẤT
Khi chúng ta
đã đi đến
phần cuối cùng trong việc bàn luận về Thương Yêu và Cái Chết, tôi
phải nói rõ ràng tôi không chút nào tự nhận là chuyên gia về sự sống, tình
thương yêu hay cái chết. Nhưng tôi cố gắng chia sẻ một số suy nghĩ về vấn
đề này với quý vị, những suy nghĩ về
cách sống và chết bằng tình thương yêu và hiểu biết trên
đường đời. Chính là
đề tài tôi
đã đưa
ra, và tôi còn tiếp tục đưa ra, nhiều
suy nghĩ về nó. Chính đề tài mà tôi tin rằng sẽ
đem lợi ích cho tất cả chúng ta – vấn đề sự
sống, tình thương yêu và cái chết. Ðương nhiên tôi không tự nhận là
khôn ngoan và tôi biết tôi cũng có nhiều nhược
điểm. Ðúng là giống như người có ý
định tốt đấy nhưng vẫn còn vụng về
trên đường đời. Tôi cũng vụng về và
vấp ngã trên đường đời. Nhưng mỗi lần tôi tự
đứng lên, phủi bụi đi, cố gắng không
than van hay khóc lóc, một lần nữa hướng mắt về đỉnh núi cao tít trên
bầu trời, và tiếp tục với cuộc hành trình của sự sống.
Tôi hy vọng rằng một số suy
nghĩ tôi chia sẻ nơi đây có thể giúp ích một
phần nào cho quý vị, chúng có thể soi sáng chút ít cho con
đường của quý vị. Nếu chúng có thể cho quý vị
một chút gợi ý và quyết tâm sống và chết bằng tình thương yêu và
hiểu biết nhiều hơn, thì tôi sẽ rất sung sướng. Nếu chẳng may, những phần
trong bài có thể làm mếch lòng quý vị trên bất cứ mặt nào, tôi cũng xin
quý vị lượng thứ cho. Là con người, chúng ta có thể chỉ cố gắng –
để phục vụ và chia sẻ. Chúng ta có ý
định tốt, và cái nhỏ nhoi mà chúng ta
có thể, bất chấp những hạn chế, tìm cách đóng
góp cho một xã hội tốt đẹp hơn, đó là
một điều hạnh phúc. Bất cứ lúc nào tôi
nhìn lại, nó cũng cho tôi một niềm vui và an ủi khi biết rằng ít nhất tôi
đã cố gắng làm nhiều mặc dầu nó chỉ có
thể là một chút thôi.
Và khi tôi chết, có lẽ tôi có
thể nói với Thần Chết: Này Thần Chết, bây giờ ngươi cứ thử làm
đi, vì ta
đã sống và thương yêu, và ta đã
làm được chút gì cho
đồng loại của ta". Và trước khi tôi
lẳng lặng lẻn vào đêm tối, bạn có thể
nhìn thấy vết tích mờ nhạt của một nụ cười trên môi tôi.
Tôi sẽ mỉm cười.
Một nụ cười ngọt ngào nhất lúc này
Bạn sẽ thấy
Tôi ra đi rất an bình
vào đêm tối.
Bạn có thể mỉm cười
Với tôi không?
Và nói --
Chào Thần Chết
Tạm biệt cuộc đời.
CHÀO THẦN CHẾT,
VĨNH BIỆT CUỘC ÐỜI
Khi cái chết
đến, vì nó phải
đến, bạn làm thế nào
để đối đầu với nó? Bạn có thể cười, nụ cười
ngọt ngào nhất lúc đó: "Chào mi
- Thần Chết, Tạm biệt cuộc đời"?
Vâng, bạn có thể gặp thần chết
không chút sợ hãi mà còn can đảm và
hiểu biết không? Bạn có thể chào nó như bạn gặp lại một người bạn xa nhau
từ lâu, như thể một người nào đó gọi bạn đã
lâu rồi và bây giờ bạn nhìn thấy, từ nơi xa
đến? Rốt cuộc, chết không xa lạ gì với chúng ta; chúng ta
đã sống và chết nhiều lần không kể
siết, gặp hết tái sinh này đến tái sinh khác,
sống đi sống lại trong luân hồi, cái vòng bất tận của tử và sinh.
Vâng, cái chết, chúng ta có thể nói, chỉ là sự thay
đổi của sự tốn tại, chỉ là tiếp tục
chuyển động một lần nữa.
Cuốn sách này nhìn vào sống và
chết từ khung cảnh Phật giáo - làm sao chúng ta có thể sống
đẹp và chết
đẹp, làm sao chúng ta có thể làm
đẹp đời sống bằng những giá trị đẹp của tình
yêu thương, trí tuệ và từ bi, những thứ đó
dẫn ta đến một chung cuộc đẹp, một cái chết đẹp.
Tác giả, một nhà sư Phật giáo
Mã Lai, đưa ra cách giải quyết và thái
độ Phật Giáo với giá trị chung và phổ
quát trước những câu hỏi muôn thuở về đời
sống. Ông hy vọng những lời của ông có thể cho quý vị một số gợi ý về sự
sống, tình thương yêu và cái chết.
"Nơi nào Phật Pháp đã
thăng hoa
dù ở thành thị hay thôn quê,
người ta sẽ có những lợi ích phi thường,
Ðất đai và con người
được bao trùm trong hòa bình.
Mặt trời và mặt trăng trong sáng và
rực rỡ.
Gió và mưa sẽ đến thuận hòa,
và không có thiên tai
Các quốc gia sẽ phồn thịnh và
không cần dùng đến binh sĩ và khí
giới.
Con người sẽ tuân theo đạo đức và
hòa hợp với qui luật.
Họ sẽ lịch sự và khiêm nhường,
Và mọi người đều thỏa mãn vì không
có bất công.
Không có kẻ trộm cướp hay bạo lực.
Người mạnh không bắt nạt người yếu
và ai ai cũng có được phần của mình"
Ðức Phật nói trong kinh Vô Lượng Thọ về
sự trang nghiêm, thanh tịnh, bình đẳng và
sự giác ngộ,
theo tông phái Ðại Thừa.