Những Chuyện Luân Hồi Hiện Đại
Tỳ kheo Thích Tâm Quang
trích dịch
LỜI
GIỚI THIỆU
Nói đến
luân hồi, nhiều người quan niệm đó như là chuyện xưa tích có, nhưng thật
ra vô cùng mật thiết với đời sống thăng trầm của kiếp người mà chẳng mấy
ai lưu tâm. Cũng như không khí hít thở hằng ngày rất thiết yếu cho đời
sống, nhưng phần đông không mấy người để ý đến. Từ đó cho ta thấy rằng,
không khí trong không gian quan trọng đối với sức khoẻ sanh tử đời sống
nhân sanh như thế nào, thì luân hồi cũng tương quan mật thiết trọng yếu
đối với kiếp sống thăng hoa hay đọa lạc của con người cũng như thế ấy. Chỉ
khác ở chỗ là, không khí thuộc về thể khí mắt phàm và dụng cụ khoa học có
thể thực nghiệm. Còn tâm linh con người thuộc về tinh thần, quanh quẩn
trong luân hồi nổi chìm trong sáu nẻo, mắt phàm khó mà thấy biết.
Tuy nhiên
những hiện tượng nhất là về tâm linh tinh thần mắt phàm không thể thấy
biết và khoa học không thể chứng nghiệm mà bảo rằng không có luân hồi là
nông nổi thiếu suy tư. Ðối tượng của trí thức khoa học là chứng minh sự
hình thành của vật thể. Ðối tượng của tuệ giác Phật học là thuyết minh tận
cùng chân lý của vạn pháp. Khoa học đang khởi đầu bước lên trên con đường
tận cùng chân lý của Phật học. Trước đây hơn 2500 năm, Ðức Phật Thích Ca
đã thuyết minh về đạo lý luân hồi nhân quả, ngày nay các nhà trí thức nhân
loại mới bắt đầu vén màn huyền bí luân hồi.
Ðối với
vấn đề luân hồi, vào hạ bán thế kỷ 20, những nhà khoa học, triết học, tâm
lý học v.v... đã nhiều năm để tâm cố gắng nghiên tầm thực nghiệm qua những
hiện tượng và đã gặt hái được những thành quả đáng kể, điều đó được ghi
nhận trình bầy qua các bản báo cáo, sách báo bằng phương pháp khoa học
thực nghiệm, làm cho vấn đề luân hồi trở nên sáng tỏ.
Ðể cống
hiến cho những ai yêu thích tìm hiểu đời sống tâm linh sinh động thăng
trầm chuyển hóa qua các dạng thức, Tỳ Kheo Thích Tâm Quang đã dầy công
nghiên đọc các tác phẩm Âu Mỹ nổi tiếng thực nghiệm về luân hồi và dịch
thành tập "Những Chuyện Luân Hồi Hiện Ðại".
Nay xin
giới thiệu đến độc giả bốn phương cùng thưởng thức.
Hoa Kỳ,
Xuân Giáp Tuất 1994
Tỳ Kheo Thích Ðức Niệm
LỜI
NGƯỜI DỊCH
Luân Hồi,
Ðạo Lý căn bản của Phật Giáo là một sự thực có thể chứng nghiệm được. Luân
Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo mang lại an lạc hạnh phúc cho con người nói
riêng và công bằng xã hội cho nhân loại nói chung. Tin tưởng Luân Hồi,
Nhân Quả, Nghiệp Báo là hướng thiện đi đến Chân, Thiện, Mỹ; ngược lại
không tin tưởng Luân Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo thì tự mình sẽ rơi vào hố
sâu, vực thẳm, đau khổ triền miên.
Khi còn
tại thế, Ðức Phật đã nói: "Ngu Si là tối tăm nhất, không tin tưởng Luân
Hồi, Nhân Quả, Nghiệp Báo là nguồn gốc sinh ra tội lỗi nhất."
Ngày nay
có các quốc gia bất hạnh cầm đầu bởi những người không tin tưởng Luân Hồi,
Nhân Quả, Nghiệp Báo đã gây ra bao tội lỗi và đưa dân tộc đến chỗ tối tăm,
thoái hóa, đau khổ, tan rã.
Bắt đầu từ
thế kỷ thứ 20, các nước trên thế giới nhất là các nước Âu Mỹ văn minh tiền
tiến, các Học Giả, các Khoa Học Gia, đã tiến sâu vào lãnh vực nghiên cứu,
điều tra, thực nghiệm vấn đề Luân Hồi.
Nhận thấy
các Học Giả, Bác Học, các Giáo Sư như các Tiến Sĩ Y Khoa Ian Stevenson,
Raymond A. Moody, các Tiến Sĩ Giáo Sư Robert Almeder, Hans Holzer, Sylvia
Cranston, Carey Williams, H.N. Banerjee, John Van Auken, đã xuất bản các
cuốn sách nổi tiếng về các chuyện luân hồi điển hình, trung thực đã được
kiểm chứng nên chúng tôi mạo muội trích dịch một số các bài trong các cuốn
sách để cống hiến cho độc giả bốn phương.
Dù đã hết
sức cố gắng nhưng không khỏi có nhiều khiếm khuyết, vậy nên chúng tôi rất
hoan hỷ đón nhận các ý kiến quý báu của các vị cao minh, độc giả bốn
phương để lần tái bản sau được hoàn chỉnh hơn.
Cũng trong
dịp nầy chúng tôi xin thành kính tri ân Chư Tôn Ðức, Hòa Thượng, Thượng
Tọa, Ðại Ðức, Tăng, Ni, đã khích lệ tinh thần và các Quý Ðạo Hữu Viên Minh
Phạm Ðình Khoát, Quảng Lâm Châu Ngọc Tòng, Minh Hỷ Phan Duyệt, Quảng Hải
Ngô Thanh Hùng, Diệu Chân Lương Thị Mai và Diệu Hỷ Nguyễn Cung Thị Hỷ đã
góp phần công đức trong việc ấn hành dịch phẩm này.
Chúng tôi
xin hồi hướng công đức hoằng pháp này lên ngôi Tam Bảo và nguyện cầu Hồng
Ân Chư Phật thùy từ gia hộ Quý Vị cùng Bửu Quyến thân tâm thường an lạc và
hạnh phúc.
Xuân Giáp
Tuất 1994, Phật Lịch 2537
Tỳ Kheo Thích Tâm Quang
GIÁO SƯ
SYLVIA CRANSTON VÀ CAREY WILLIAMS
Giáo Sư
Sylvia Cranston là một chuyên gia khảo cứu về luân hồi từ 30 năm nay. Bà
là tác giả của các cuốn sách nổi tiếng về luân hồi như An East-West
Anthology, Reincarnation in World Thought, Phoenix Fire Mystery...
Bà đã từng
đi diễn giảng tại Hoa Kỳ, Gia Nã Ðại, Anh, Ái Nhĩ Lan và đã xuất hiện
nhiều lần trên các đài vô tuyến truyền thanh truyền hình.
Giáo Sư
Carey Williams, người Hoa Kỳ, chuyên dạy Y Tế, phụ trách nhiều lớp giảng
dạy về sự sống chết của con người.
Chúng tôi
xin trích dịch một vài chuyện trong cuốn Reincarnation, A New Horizon In
Science, Religion and Society của hai tác giả do nhà Xuất Bản Julian
Press, New York, phát hành năm 1984.
-
TRƯỜNG HỢP LY KỲ CỦA GEORGE RITCHIE ÐÃ CHẾT RỒI SỐNG LẠI, HIỆN NAY LÀ
BÁC SĨ, ÐÃ THẤY NHỮNG GÌ KHI HỒN LÌA KHỎI XÁC.
-
MỘT NGƯỜI NÔ LỆ DA ÐEN MÙ LÒA TRỞ THÀNH NHẠC SĨ LỪNG DANH
-
BÀ SHAKUNTALA
DEVI, MỘT NHÀ TOÁN HỌC ĐẠI TÀI
-
CÔ BÉ
BLANCHE BATTISTA
-
"LÀ MỘT QUÂN NHÂN, TÔI
CHIẾM CỬA THÀNH"
-
CÓ PHẢI VỊ BÁC SĨ TÂM LÝ NGƯỜI HOA KỲ ÐÃ SỐNG Ở THẾ KỶ THỨ 17
TẠI ÂU CHÂU KHÔNG?
-
MỘT TRƯỜNG HỢP KỲ LẠ TẠI
LEBANON
ggg
TRƯỜNG HỢP LY KỲ CỦA GEORGE RITCHIE ÐÃ CHẾT RỒI SỐNG LẠI, HIỆN NAY LÀ BÁC
SĨ, ÐÃ THẤY NHỮNG GÌ KHI HỒN LÌA KHỎI XÁC.
Tác Giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Trường hợp
lạ lùng của bệnh nhân George Ritchie đã chết rồi sống lại (hiện đang là
Bác Sĩ Tâm Trí) đã khiến cho các Khoa Học Gia cũng như các nhà Tâm Lý Học
đặc biệt chú ý. Bác Sĩ Raymond Moody đã bỏ ra 5 năm để nghiên cứu trường
hợp đặc biệt này. Bác Sĩ Raymond Moody vừa là Bác Sĩ vừa là nhà Phân Tâm
Học, là tác giả cuốn sách nổi tiéng "Life After Life"với số độc giả cả
triệu người đã phổ biến trường hợp của George Ritchie đến thế giới Tây
Phương. Cuốn sách do Bác Sĩ Raymond Moody viết để tặng Bác Sĩ George
Ritchie, trước đây là một bệnh nhân trong Quân Ðội. Câu chuyện có thật này
đã được đưa lên màn ảnh với tựa đề Beyond And Back. Cuốn phim này đã làm
chấn động dư luận.
Lúc 20
tuổi, George Ritchie, một sinh viên y khoa với hoài bão trở thành bác sĩ,
đã phải gia nhập Quân Ðội. (Sau này George Ritchie đã trở thành vị bác sĩ
trẻ tuổi nhất tốt nghiệp tại Ðại Học Ðường Virginia). Khi chiến tranh chấm
dứt cũng là lúc George Ritchie tốt nghiệp y khoa. Bác Sĩ George Ritchie là
Chủ Tịch Hàn Lâm Viện Nội Khoa và Ngoại Khoa Richmond, chuyên về tâm trí
và đã trở thành Viện Trưởng Viện Tâm Trí của Bệnh Viện Towers ở
Charlotsville. Bệnh Viện này đã sát nhập với Ðại Học Ðường Virginia. Hiện
nay Bác Sĩ George Ritchie có một phòng mạch riêng tại Richmond và là Chủ
Tịch Sáng Lập Viên Ðoàn Thanh Niên Quốc Tế.
Tài liệu
này được viết theo trong cuốn "Return From Tomorrow" của Bác Sĩ George
Ritchie và trong băng ghi âm của Bác Sĩ có nhiều chi tiết chưa được tiết
lộ.
Là một
người lính được huấn luyện tại trại Barkeley, Texas, George Ritchie nhận
định rõ giá trị của một người lính bộ binh trong Quân Ðội Hiện Ðại với cơ
khí hóa tối tân. Vì nhu cầu cần Bác Sĩ để phục vụ cho Quân Ðội nên George
Ritchie được tuyển chọn gửi đi huấn luyện tại Ðại Học Ðường Y Khoa
Virginia. Nhưng chẳng may trước hôm đi, George Ritchie bị bệnh nặng, hai
lá phổi bị sưng, phải vào nhà thương điều trị. Thời đó thuốc Penicilline
được coi là phát minh kỳ diệu nhưng cũng không chữa nổi căn bệnh xưng
phổi, bệnh tình của George Ritchie rất trầm trọng.
Người phụ
trách trông nom khu George Ritchie điều trị đã thấy George Ritchie tắt
thở. Ðược báo cáo Bác Sĩ trực đến khám nghiệm, xác nhận George Ritchie đã
chết và ra lệnh làm thủ tục đem George Ritchie vào nhà xác. Chính trong
khoảng thời gian 9 phút này việc lạ lùng đã xảy ra.
Bác Sĩ
Donald G. Francy, Y Sĩ Trưởng của Trại Barkeley gọi trường hợp của George
Ritchie sống lại là một trong những sự lạ lùng và ly kỳ nhất chưa từng bao
giờ có. Trong một bài đã được kiểm chứng, Bác Sĩ Francy viết như sau:
"Bệnh nhân
George Ritchie đã chết hẳn rồi lại sống lại rất mạnh khoẻ là một trường
hợp chưa từng có. Ðiều đáng lưu ý là một người bị bệnh tim, khi tim ngưng
đập có thể dùng cách này hay cách khác để làm tim đập lại. Nhưng trường
hợp của George Ritchie với bệnh sưng phổi, cơ thể đã bị nhiễm độc, các cơ
quan trong người đều bị phá hủy thì việc làm cho trái tim đập lại không
thể thực hiện được. Hơn nữa, George Ritchie đã chết ít nhất là 9 phút, thì
bộ não hư hỏng không thể toàn vẹn được."
Bây giờ là
khoảng thời gian sau khi George Ritchie đã được xác nhận là thực sự chết
nhưng anh cảm thấy tinh thần tỉnh táo thấy mình như trong một thân xác vật
vì khác lạ được chuyển đến một căn phòng nhỏ trong lúc tình trạng trở nên
nguy kịch. Lúc này khoảng nửa đêm. Ý nghĩ đầu tiên của anh là phải đi
chuyến xe buýt sáng sớm để tới Trường Y Khoa tại Richmond để kịp dự lễ
khai giảng khóa mới. Nhưng lạ lùng thay! Quần áo của anh đâu rồi? Anh tìm
khắp nơi trong phòng. À! có lẽ ở dưới giường chăng?
"Tôi đi
vòng quanh, rồi lạnh cứng. Có người nào đó đang nằm trên giường tôi kìa!
Tôi lại gần, đó là một người đàn ông còn trẻ, tóc mầu nâu cắt ngắn, nằm
ngay đơ. Nhưng... không thể như thế được! Chính tôi vừa ra khỏi cái giường
này mà. Tôi thắc mắc, khó hiểu sự kỳ lạ này. Thật là quá lạ lùng nghĩ đến
việc này - nhưng không còn thì giờ nữa!"
Anh phải
đi tìm người phụ trách nơi đây để lấy lại quần áo. Ritchie trông thấy một
trung sĩ đang đi ngoài hành lang, anh chận lại và yêu cầu ông ta giúp đỡ.
Nhưng người này không thấy anh và cũng không nghe thấy anh nói cứ tiếp tục
đi thẳng khiến anh phải tránh ra nhường lối cho ông ta đi.
Nóng lòng
tới Trường Ðại Học, Ritchie ra khỏi bệnh viện rồi bay theo hướng bắc về
Richmond với một tốc độ nhanh chóng. Anh phân vân không biết đi có đúng
đường không.
"Một con
sông rộng ở dưới tôi. Tôi thấy có một cái cầu dài, cao và tít đằng xa bên
kia sông có một hành phố lớn mà tôi chưa bao giờ đến cả. Tôi muốn đáp
xuống kiếm người hỏi thăm. Tôi từ từ ngưng lại, ngay dưới tôi có hai con
đường chập lại làm một và tôi bị cuốn hút bởi một luồng ánh sáng xanh
chiếu ra từ một bảng hiệu gắn đèn nê-ông của một tòa nhà có mái ngói đỏ.
Tấm bảng hiệu "Past Blue Ribbon Beer" treo ngay trên cửa sổ và trước nhà
bảng hiệu "Cafe" lơ lửng trên cửa ra vào...
Trên con
đường nhỏ dẫn vào quán Cafe bán đêm này, có một người đang rảo bước. Tôi
bèn xuống đi bên cạnh và hỏi:
"Làm ơn
cho tôi biết đây là thành phố nào?"
Ông ta vẫn
tiếp tục đi thẳng... Chúng tôi tới quán Cafe.Ông ta xay tay nắm cửa bước
vào. Có lẽ Ông ta bị điếc hẳn? Tôi lấy tay trái đập lên vai của Ông ta.
Không có gì cả mà hình như tay tôi vừa để vào khoảng không. Rõ ràng tôi
thấy ông ta mà, tôi còn nhận ra ông ta có một chòm râu đen ở cầm cần phải
cạo đi nữa."
Mọi suy
nghĩ Ritchie tựa hẳn vào một người đàn ông đang mắc dây điện thoại ở kế
bên và đi xuyên qua.
Trước khi
đi đến phần kế tiếp, chúng tôi thấy cần phải báo cáo là, một năm sau đó,
bất ngờ Ritchie đã khám phá ra tên của thành phố này. Trên đường trở về
trại Barkeley trước khi đi công tác tại Âu Châu, Ritchie cùng những người
bạn sinh viên y khoa đi xe hơi về trại. Ðến ngày thứ ba họ tới Tiểu Bang
Missisipi, một Tiểu Bang mà chưa bao giờ Ritchie đặt chân tới cả. Khi đến
vùng ngoại ô của Vicksburg, Ritchie đã tả lại như sau:
"Thành phố
này tuy xa lạ nhưng hình như rất quen thuộc. Tôi đã biết rõ từng nét cong
của bờ biển, từng khúc rẽ đường. Nơi đó, tôi biết rõ đường phố như thế
nào! Tôi biết chắc chỉ còn một con đường ngắn là tôi có thể đến ngôi nhà
trắng có mái ngói đỏ, có chữ Cafe bằng nê-ông gắn trên cửa ra vào. Khi xe
tới gần tôi nhận được ra con đường nhỏ mà tôi đã cùng một người không nhận
ra tôi đi tới quán này. Cũng còn cả cột điện thoại mà tôi đã đứng ở đó rất
lâu... bao lâu? Giờ nào, ngày nào với loại thân hình nào?"
Trong cơn
thoát xác, Ritchie cảm thấy đi Richmond thật phù phiếm không ai thấy và
nghe được anh cả.
"Nếu tôi
có trở về gia đình thì cũng chẳng ai thấy tôi? Ý tưởng cô đơn xâm chiếm
tôi, dù sao tôi cũng phải về ngay nơi mà mọi người thấy tôi và nghe được
tôi chứ.'
Rồi George
Ritchie nghĩ đến cái xác hãy còn đang nằm tại bệnh viện. Ritchie đã vội
vàng quay trở về bệnh viện tại Trại Barkeley. Tới nơi Ritchie đã phải xục
xạo tìm lại cái xác nằm tại một trong hai trăm căn phòng của 5 ngàn binh
sĩ đang ngủ. (Lúc đó Trại Barkeley có 250 ngàn khóa sinh)
Ðèn không
được sáng, thật khó khăn mới nhìn được mặt họ.Cả giờ rồi, đã toát cả mồ
hôi, qua hết phòng này đến phòng khác mà vẫn không kết quả. Ðột nhiên anh
nhớ ra! Tay trái anh có đeo một cái nhẫn hội viên Phi Gamma Delta. Và tiếp
tục tìm kiếm, anh đã tìm được cái xác một người đàn ông trong một căn
phòng nhỏ, phủ một tấm chăn và tay trái có đeo chiếc nhẫn.
"Tôi tiến
lại từ từ, mắt dán chật vào cái bàn tay đeo nhẫn. Tôi khiếp hãi. Dưới ánh
đèn mờ ảo, tôi thấy bàn tay đó thật trắng và thật mềm. Trước đây, tôi đã
nhìn thấy bàn tay này ở đâu rồi nhỉ? Tôi đã nhớ ra: Cha Dabney nằm trong
phòng khách Moss Side. Tôi lùi lại gần cửa ra vào. Người nằm trên giường
đã chết. Tôi cảm thấy khó chịu như trước đây tôi đã phải ở chung với người
chết trong một phòng... Nhưng... cái nhẫn là của tôi mà, vậy chính là tôi
mà - vậy thì một phần của tôi nằm trên cái giường này, phủ bởi tấm chăn.
Vậy có nghĩa là tôi đã... Ðó là lần đầu tiên tôi đã trúc nhận đến chữ
'chết" liên quan đến những gì đang xảy ra cho tôi. Nhưng tôi chưa chết mà
- sao tôi có thể chết trong khi tôi vẫn còn thức đây? Tôi bấu vào tấm
chăn, cố gắng kéo xuống để mắt tôi nhìn được phía ngoài. Nhưng vô ích, tất
cả các cố gắng của tôi cũng không đủ để tạo một cơn gió nhẹ thoáng qua căn
phòng im lặng nhỏ bộ này. Sau cùng thất vọng tôi ngồi xuống giường. Tôi
nghĩ: Tôi đã thoát ra khỏi xác nên không tiếp xúc lại được. Ðây là chính
là lúc tôi cảm thấy da thịt tôi và tôi (hình hài và linh hồn) ở hai hành
tinh riêng biệt."
Chợt
George Ritchie thấy trong phòng tự nhiên sáng hẳn lên. Anh nhìn vào cái
bóng đèn 15 watts và chắc chắn cái bóng đèn này không thể sáng đến thế
được!
"Tôi ngạc
nhiên thấy ánh sáng càng ngày càng rúc lên ở trong phòng, tất cả các bóng
điện trong bệnh viện thắp lên cũng không thể sáng như thế, tất cả những
ngọn đèn trên thế giới cũng không thể sáng như thế, sáng như cả triệu ngọn
đèn dùng để bàn cùng cháy lên một lúc."
Bây giờ
George Ritchie nhận thấy không phải là ánh sáng mà là một người đang bước
vào phòng, nói đúng hơn là một Người được làm bằng ánh sáng.
"Con Người
này đã tỏa ra sức thần thông của chính mình xưa hơn cả thời gian và hiện
đại, hơn bất cứ ai mà tôi đã được gặp."
Người này
đã nhìn thấy suốt cuộc đời của anh." Người này đã biết đến cả những gì khó
ưa trong tôi, Người đã chấp nhận và thương yêu tôi".
Người này
đã hỏi anh: "Anh đã làm được những gì trong đời?" Câu hỏi được nhắc đi
nhắc lại nhưng anh lẩn tránh. Cuối cùng là anh cũng phải trả lời là chẳng
làm được gì trong suốt cuộc đời.
Không thể
nào trong một vài chương mà có thể kể hết được. Con Người Thiên Thể này đã
dẫn dắt Ritchie đi; sau này Ritchie gọi là "Một Cuộc Kinh Lý Giáo Dục".
Ritchie đã được dẫn đến thế giới thiên thể ở tầng trời cao nhất. Ỏ thế
giới thiên thể này Ritchie đã nhìn thấy cảnh các linh hồn đam mê nhục dục
Những người nghiện rượu được kéo ra khỏi các quán rượu, các quán cà phê và
đây là địa ngục của họ: Những người nghiện rượu trông thấy người khác đang
uống mà không được động đến cái ly. Ritchie nhìn thấy những người khác vì
say mê ái dục mà trở thành bất lực. Ðây là địa ngục của họ, Ritchie đã
nhìn thấy những người tự tử vì thất vọng. Ritchie cũng được dẫn đến thăm
một văn phòng mà người thoát xác đang la hét và bắt người làm phải thi
hành công việc như thế nào nhưng các người làm này đâu còn tuân lệnh nữa.
Ðây là ông chủ đã quá cố của Ritchie.
Tuy đã
được Southern Baptist (một tông phái Tin Lành) dậy dỗ nghiêm khắc Ritchie
cũng vẫn thấy giật mình. Anh thấy Anh đang ở trong một Thư Viện Vĩ Ðại có
nhiều cuốn sách nói về vũ trụ mà chưa ai viết - và cuốn Thánh Kinh chỉ là
một mà thôi.
Khi được
đưa tới tầng trời thứ ba thì Ritchie bị ngất ngây bởi vô lượng ánh sáng
của người Ðồng Hành Thiên Thể mà sau này Ritchie nghĩ là Ðấng Tối Thượng,
Tối Cao hơn cả. Ðó là Ðức Chúa Christ với người Thiên Chúa Giáo - Ðức Phật
với người Phật Giáo - Khrisna (Phạm Thiên) với người Ấn Ðộ Giáo - Messiah
Giáo Chủ với người Do Thái Giáo - Có lẽ tất cả đều đúng.
Ðã đến lúc
phải trở về với nhiều nuối tiếc. "Những bức tường đã ngăn chận chúng tôi.
Những bức tường rất hẹp như những cái hộp; rồi trong khoảnh khắc tôi nhận
ra được cái phòng của bệnh viện mà tôi đã bỏ đi trong một thời gian". Anh
cố gắng nhập vào cái xác đang nằm trên giường, Anh cố gắng mở mắt nhưng
không sao mở mắt được vì bị tấm chăn phủ mất. Anh muốn dở hai tay nhưng
không thể được và cảm thấy như đang nâng hai thanh sắt nặng. Anh chậm chạp
xích hai bàn tay lại gần nhau và xoay cái nhẫn vài lần.
Rồi đầu óc
Ritchie lại mờ đi. Ritchie lại rơi vào tình trạng hôn mê và hình như lại
chết một lần nữa. Chính sau này thân xác anh cử động được nhưng đầu óc anh
vẫn mê man mất 3 ngày. Lần này khi mở mắt ra anh nhìn thấy cô y tá đang
nhìn anh mỉm cười và nói: "Thật vui mừng ông đã trở lại với chúng tôi, đã
có lúc chúng tôi tưởng không thành công".
Sau này
Ritchie được biết khi người trông nom bệnh viện trở lại để sửa soạn đưa
Ritchie vào nhà xác thì đôi tay anh đã được đổi vị trí. Nguyên lúc Bác Sĩ
khám nghiệm phủ mặt Ritchie, đặt hai cánh tay thẳng và để đôi bàn tay úp
xuống. Nhờ vậy Ritchie đã nhìn thấy cái nhẫn của mình. Nhận thấy có sự
thay đổi (đôi tay không ở vị trí có) người trông nom (binh nhì) vội cấp
báo Bác Sĩ. Sau khi khám nghiệm lại cẩn thận, vị Bác Sĩ đã một lần nữa
tuyên bố Ritchie đã chết hẳn.
Tuy nhiên
người trông nom bệnh viện này không thừa nhận lời tuyên bố của Bác Sĩ đề
nghị: "Có thể chích một mủi Adrenalin vào thẳng tim cho Ritchie sống lại".
Về việc này, George Ritchie đã nhận xét như sau: "Việc này không thể có
được, thứ nhất là vì một người binh nhì đâu có thể tranh cãi với cấp sĩ
quan chỉ huy của mình, hơn nữa lại là một bác sĩ chuyên môn có bằng cấp,
thứ hai lời đề nghị của người trông nom trên phương diện y khoa chuyên môn
thật là lố bịch và buồn cười. Bệnh sưng phổi đã làm tê liệt tất cả các bộ
phận trong cơ thể việc tiêm thuốc kích thích tim không thể chấp nhận được.
Về trường hợp của tôi, bất cứ một nhà y khoa nào cũng không thể làm gì hơn
được. Ấy thế mà đề nghị cho một người đến canh chừng của người trông nom
bệnh viện với Bác Sĩ cho rằng việc này không hữu lý đã được chấp thuận và
đề nghị này lại thành công!
Thời gian
bình phục thật là khó khăn. Khi trở về Richmond, Ritchie chỉ như một bộ
xương, không ai có thể tin được Ritchie có thể theo học lớp y khoa. Phải
mất đúng một năm Ritchie mới hoàn toàn bình phục. Sau đó Ritchie được
chuyển trở lại Trại Barkeley và được gửi sang phục vụ một đơn vị ở Âu
Châu. Khi chiến tranh kết liễu, Ritchie đã tiếp tục học lại, đậu Bác Sĩ và
đã trở thành một Bác Sì chuyên khoa về tâm trí.
Bác Sĩ
George Ritchie đã viết như sau:
"Khi tôi
xin vào nội trú tại Ðại Học Ðường Virginia, một người bạn đã khuyên tôi
đừng nên cho Ban Tuyển Chọn biết chuyện tôi đã xuất hồn vì những người
chấm điểm có thể nghi ngờ tôi. Người đầu tiên phỏng vấn tôi là Bác Sĩ
Wilfred Abse, Giáo Sư Ngành Phân Tâm Học, Tâm Lý Học thuộc Viện Tâm Trí và
là một trong những người đứng đầu trong Ngành Phân Tâm Học tại Virginia.
Ngay khi bước vào phòng Bác Sĩ Abse đã nói với tôi:
"Tốt, này
Bác Sĩ Ritchie hình như Ông đã được gặp Chúa Christ. Tôi tưởng rằng cơ may
của tôi đã bị ném qua cửa sổ. Bác Sĩ Abse là người Do Thái, một người
nghiên cứu về triết học Freud. Ông ta đã trực tiếp phỏng vấn tôi. Tôi đã
nói hết sự thực và không dấu diếm chút nào về việc xảy ra tại Trại
Barkeley, Texas.
Không thể
ngờ được hai tuần lễ sau cuộc phỏng vấn tôi nhận được thư thông báo Ban
Tuyển Chọn đã chấp nhận tôi vào nội trú và tôi đã trở thành một Bác Sĩ về
tâm trí.
Những năm
sau này, Bác Sĩ Abse trở thành người bạn thân của tôi. Trong một câu
chuyện giữa chúng tôi, Bác Sĩ Abse đã cho biết: "Mọi người nơi đây đều
biết rõ câu chuyện xuất hồn của Anh; nếu trong cuộc phỏng vấn Anh dấu diếm
thì tôi đã không chọn Anh vì cho Anh là một người không có tinh thần vững
vàng, một người như vậy ắt hẳn không thể phân biệt đâu là sự thật, đâu là
ảo tưởng."
Cũng tại
Bệnh Viện này, Bác Sĩ George Ritchie đã tiến tới chức vụ Viện Trưởng Viện
Tâm Trí.
ggg
MỘT
NGƯỜI NÔ LỆ DA ÐEN MÙ LÒA TRỞ THÀNH NHẠC SĨ LỪNG DANH
Tác Giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Chú mù Tom
sanh năm 1849 tại Georgia, Hoa Kỳ trong thời kỳ chế độ nô lệ còn đang mạnh
mẽ. Là một người da đen, chào đời vào thời này, lại bị tàn tật ngay từ lúc
mới sanh, thật là một bất hạnh!
Trong một
tạp chí, Webb Garrison đã viết một bài với tựa đề "CHÚ MÙ TOM VÀ SỰ HUYỀN
BÍ CỦA ÂM NHẠC". Ông đã ghi như sau:
"Hầu hết
mọi nông dân tại Georgia trong một trăm năm qua đã đặc biệt chú ý đến việc
thương mại nô lệ. Trong đó có Perry H. Oliveer ở Quận Moscogee. Bởi thế
khi người nô lệ da đen của ông sanh ra một đứa con trai mù thì tự nhiên
ông phải thất vọng vô cùng. Ít lâu sau trong một cuộc đấu giá nô lệ, ông
đem bán người mẹ cho Tướng James Bethune ở Columbus, Georgia. Sau đó ông
mới đem thằng nhỏ da đen bị mù ra khỏi nơi dấu và nói rằng: "Tôi quên
không cho Ngài biết người đàn bà nô lệ này còn đứa con trai. Tôi đồng ý
cho không đứa nhỏ này" (Theo Coronet, tháng 7 năm 1952 ). Người mẹ đáng
thương cùng đứa con trai mù 1 tuổi đau lòng từ bỏ căn nhà và bạn bè để về
làm nô lệ cho người chủ mới xa lạ. Tướng James Bethune đặt tên cho đứa trẻ
là Thomas Green Bethune, nhưng cả thế giới này chỉ biết Chú là "Chú Mù
Tom". Trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "My Antonia" bà Willa Cather đã
thuật lại cuộc đời của Chú mà bà gọi là Người Mù Arnault.
Trong
nhiều bài tường thuật về sự kỳ diệu này, bài có giá trị nhất là bài của Bà
Ella May Thornton, Quản Thủ Thư Viện Georgia, 1 Quản Thủ được xếp vào hàng
danh dự của các Tiểu Bang. Ðó là Bài "Sự Huyền Bí Của Chú Mù Tom" của Bà
đăng trong tập "The Georgia Review" xuất bản mùa đông năm 1961. Sau đây là
một đoạn:
"Lúc Tom
còn nhỏ đang phải bồng trên tay thì Tom đã tỏ ra rất nhậy cảm trong bất cứ
một tiếng động nào và đặc biệt về âm nhạc. Tất cả những người trong giòng
họ Tướng James Bethune lúc bấy giờ phần đông đều thông minh, học thức và
giàu lòng từ thiện đều công nhận tài năng khác thường của đứa bộ da đen
này.
Khả năng
kỳ diệu về âm nhạc được khám phá khi chú Tom mới lên 3 tuổi. Vào một buổi
chiều trên thềm ngôi biệt thú, thình lình giọng của Chú vang lên hòa ca
với giọng hát của các ái nữ Tướng Bethune. Không những Chú đã ca phần êm
dịu ở phần đầu bản nhạc nhưng phần thứ hai mới là khó hát nhất... Thế mà
Chú đã trọn vẹn hát hết bản nhạc một cách tài tình không gượng gạo.
Cuộc trình
diễn bất ngờ lần sau vào năm Chú lên 4 tuổi, cũng vào một buổi chiều các
thiếu phụ trẻ tuổi sau khi đã chơi dương cầm mấy tiếng đồng hồ tản mác
quanh biệt thự. Bỗng nhiên họ được nghe lại những bản nhạc mà họ đã chơi
từ lúc đầu. Mọi người vội vã trở về phòng khách, họ sửng sốt thấy một chú
Mọi đen nhỏ xíu đang say sưa dạo nhạc trên đàn dương cầm với những bản mà
chú vừa được nghe.
Trước đây
không một ai trong gia đình Tướng Bethune cho phép Chú Tom được chạm vào
cây đàn. Ella May Thornton còn nhấn mạnh thêm: "Một đứa trẻ nô lệ mà đánh
đàn dương cầm thì làm sao có thể dấu nổi một gia đình đông đúc như gia
đình Tướng Bethune!".
Tạp chí
Nghiên Cứu về âm nhạc xuất bản Tháng 8 năm 1940 đã ghi nhận như sau: Ngay
khi bắt đầu chơi dương cầm, Chú đã biết sử dụng các phím đàn trắng và đen,
Như vậy chứng tỏ Chú đã từng hiểu biết về dương cầm của âm nhạc Tây
Phương. Các phím đàn dương cầm sắp xếp không như nốt thường mà do óc sáng
chế kỳ diệu cuả một người có biệt tài về âm thanh. Thật khó sử dụng đối
với một đứa bộ bị mù và chưa từng được ai chỉ dẫn huấn luyện. Bà Thornton
nhấn mạnh: "Chú có thể chơi các bản nhạc cổ điển nổi tiếng một cách thành
thạo, khác hẳn những người chơi đàn 'bằng tai' thường thấy. Chú Tom đã
dùng các ngón tay mình một cách rất chính xác nhà nghề. Cho nên năm 1862,
một chuyên viên điêu luyện về âm nhạc nói là Chú Tom chơi đàn giỏi được
như vậy, chắc chắn phải được học ở 'Nhà Trường'". Mặc dù thần kinh Chú Tom
hoàn toàn bị giới hạn nhưng nếu cho Chú vào học tại các Trung Tâm dành cho
các trẻ em chậm phát triển thì thật sai lầm. Chú Tom có một bộ óc điện tử
có thể ghi và trình tấu lại các bản nhạc dù mới chỉ nghe có một lần. Với
khả năng siêu việt Chú có thể lập lại chính xác một bản nhạc mới dài 20
trang. Ngoài ra Chú Tom còn có khả năng sáng tạo nữa. Bà Thornton nhớ lại
"Thời bấy giờ ở Columbus, Georgia có rất nhiều giáo sư âm nhạc; trong đó
có giáo sư Carlo Patti, anh của Bà Adelina. Tướng Bethune đã nhờ Giáo Sư
Patti chỉ dạy thêm nhạc cho Chú Tom. Chính Giáo Sư là người đã từng dậy
nhạc cho các ái nữ của Tướng Bethune, nhưng ông từ chối và nói như sau:
"Tôi không thể chấp nhận lời yêu cầu, Thế giới chưa bao giờ thấy được một
sự lạ như thế ở một người da đen, và từ xưa tới nay chưa từng thấy một
hiện tượng nào như thế. Tôi không thể dạy cho Chú thêm một chút gì nữa,
tầm hiểu biết của Chú về âm nhạc còn hơn cả chính tôi đã biết và đã học -
trường hợp thần đồng này quả là một ngoại lệ và sự việc này đã biến thành
một hiện tượng hữu hình. Tôi không thể hiểu nổi. Tất cả những gì tôi có
thể giúp Chú ấy là cho Chú ấy nghe những bản nhạc hay và chính Chú ấy sẽ
tự ghi lại và tự tấu được không cần sự hướng dẫn hay chỉ bảo của tôi."
Vào lúc 8
tuổi Chú bắt đầu trình diễn các bản hòa tấu trước công chúng. Lúc 12 tuổi,
trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc, Chú Tom trình diễn tại Nữu Ước trong một
cuộc hòa tấu ngày 19 Tháng Giêng năm 1861. Trong cuộc Chiến Tranh Nam Bắc
này, Chú đã trình diễn rất nhiều lần tại các thành phố sau chiến tuyến của
cả hai phe bảo thủ và thống nhất. Hòng ngàn binh sĩ cả hai phe lâm chiến
đã được dự thính nghe Chú trình diễn. Một số khán giả này đã tường thuật
lại một cách thích thú và trung thực về tài năng của Chú trong các Nhật
Ký, Tùy Bút, Phỏng Vấn xuất bản trên các báo chí sau đó. Năm 1866 và năm
1867, Chú đã đi trình diễn tại các Quần Ðảo thuộc Anh Cát Lợi, tại Lục Ðịa
và trên khắp nước Mỹ. Chú đã trình diễn tại Tòa Bạch Ốc và chính Chú điều
khiển buổi trình diễn này.
Chú Tom
không bị giới hạn về một loại nhạc nào cả, Chú có thể trình diễn Nhạc Khúc
của Beethoven, Mendelsohn, Bach và Chopin và cũng có thể chơi các bản nhạc
bất luận về loại gì.
Nguồn cảm
hứng đến với Chú trong lúc Chú ngồi dạo dương cầm khiến cho Chú sáng tác
được những bài ngẫu hứng cùng những bản trường ca bất hũ có tới cả nghìn
bản. Các sáng tạc với âm điệu tuyệt vời cùng những lời nhạc rất hay có thể
nói lên Chú Tom đã nắm được trọn vẹn khoa học và kỹ thuật về âm điệu nhạc
lý. Chỉ có thể cho rằng tất cả các yếu tố tạo thành sức mạnh âm nhạc đó đã
có sẵn trong con người Chú Tom.
Ella May
Thornton đã kết thực bài tham cứu bằng một câu hỏi: "Một câu được đặt ra
để hỏi các Nhà Tâm Lý Học, các Nhà Vật Lý Học, các Nhà Khoa Học cùng các
Chuyên Gia về Âm Nhạc có thẩm quyền có thể giải thích về trường hợp này
của Chú Tom không? Sau một thời gian nghiên cứu tôi đã không tìm được câu
trả lời. Chỉ có thể giải thích được đó là Luân Hồi và người ta đã kết luận
rằng ở một thời điểm nào đó, ở một nơi nào đó, ở một kiếp nào đó Chú Tom
đã là một nhà nhạc sĩ siêu đẳng."
Sự hiện
diện của Chú Mù Tom ở Âu Mỹ đã có một ý nghĩa đặc biệt. Trong giai đoạn
cuối cùng của chế độ mọi nô người da đen tại Hoa Kỳ, Chú Mù Tom đã chứng
tỏ cho hàng triệu khán thính giả trên thế giới biết rằng một người nghèo,
bị khinh rẻ, bị coi là chậm tiến, một người da đen thất học đã làm nên sự
nghiệp vĩ đại mà không một người da trắng nào dù tài giỏi đến mấy nữa cũng
không làm được. Phải chăng tài năng này Chú đã có từ kiếp trước? Cho nên
các giáo sư đã tìm được sự giải thích, đó là Luân Hồi. Tương tự như thế
trường hợp của Bà Sơ Teresa, một Tu Sĩ Ky-Tô-Giáo, Giáo Sư Mỹ Thuật tại
Chủng Viện Brooklyn, có mặt trong một buổi thuyết trình về luân hồi của
Hội Thanalogy Foundation tại Ðại Học Ðường Columbia, được hỏi bởi một học
sinh rằng có phải những nét vẽ điêu luyện của Sơ là do sự huấn luyện và
thực hành sau nhiều năm kinh nghiệm mà có phải không? Sơ Teresa đã xác
nhận là do tiền kiếp của Sơ mà có.
Trong
những chuyện luân hồi do Tiến Sĩ Ian Stevenson điều tra đã chứng minh được
có luân hồi nên con người đã có những khả năng đặc biệt, điều mà những khả
năng đến với con người từ lúc nào và phát triển từ bao giờ chúng ta không
phát hiện được. Ian Stevenson đã nêu lên thí dụ: "Trong hiện kiếp chúng ta
biết đi đứng nhưng không ai có thể nhớ lại chúng ta đả biết tự lúc nào.
Con người tuy không nhớ được những gì ở tiền kiếp song những tài năng và
những cá tính đặc biệt ở kiếp trước đã là các chất liệu cho chúng ta trong
kiếp này."
ggg
BÀ SHAKUNTALA
DEVI, MỘT NHÀ TOÁN HỌC ĐẠI TÀI
Tác Giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Bà
Shakuntala Devi, Nhà Toán Học Thần Ðồng này đã được cả Quốc Tế công nhận
và biết đến. Bà là người sanh trưởng tại Ấn Ðộ. Bà đã du hành qua nhiều
nước trên thế giới và đã làm cho các nhà toán học sửng sốt ngỡ ngủng với
tài năng xuất chúng của Bà.
Bà đã tìm
được đáp số của các bài toán còn nhanh hơn cái máy điện tử tối tân nhất.
Trong chuyến du hành sang nước Mỹ năm 1977, tài nghệ siêu việt của Bà đã
được các báo chí ca ngợi. Bà đã được US National Standard trao giải thưởng
Univac 1108 vì tính được 23 căn số của 201 con số trong 50 giây. Tên Bà đã
được ghi trong cuốn Guiness Book of World Records (Cuốn Sách Ghi các Thành
Tích Kỷ Lục Trên Thế Giới). Bà có thể tính nhanh hơn máy điện tử mà không
phải chuẩn bị trước. Muốn được như Bà, máy điện tử cần phải có 13,466 chỉ
dẫn và 4,883 dữ kiện. Nếu nói là may mắn, theo máy điện tử thì kết quả sự
may mắn đó là 1 trong 598 triệu lần.
Tài năng
của Bà đã được khám phá khi Bà mới lên 3 tuổi. Lúc ấy cha mẹ Bà thấy Bà có
tài năng kỳ lạ về những con số nên đã đem Bà đến Học Viện Ðịa Phương để
tìm hiểu. Trước mặt các vị Giáo Sư của Ðại Học Ðường Bengalore, Bà đã
chứng tỏ tài năng phi thường qua những đáp số về Logarithms (Ðối Số) về
căn số của con số phức tạp và về tổng số chỉ trong ít phút. Tên tuổi của
Bà đả trở nên lừng lẫy. Học vấn của Bà chỉ ở mức trung bình nhưng Bà cho
biết: "Tôi rất thích các con số và say mê các con số, mọi sự trên đời dù
là nghệ thuật, khoa học hay triết lý, tất cả đều căn cứ trên những con
số". Khi còn nhỏ tuổi, tài năng phi thường của Bà được coi như thiên phú
và Bà cứ tưởng rằng tất cả mọi người đều giống như Bà nghĩa là cũng có tài
như Bà về toán học và Bà đã ngạc nhiên vô cùng khi thấy sự thực không phải
như vậy.
Người ta
đặt câu hỏi: Bà du lịch vòng quanh thế giới để phô trương tài năng của Bà
mục đích để kiếm tiền phải không? Không phải như vậy.
Ngày 3
Tháng 1 Năm 1974, tờ báo Ottawa Citizen phỏng vấn Bà với tựa đề: "NGƯỜI
ÐÀN BÀ TÍNH TOÁN GIỎI BẬC NHẤT TRÊN THẾ GIỚI". Bà nói: "Tôi tin rằng những
thành tích của loài người là quan trọng nhất, điều đó chứng tỏ con người
vẫn còn siêu việt hơn máy móc. Thế giới còn chưa hiểu hết được khả năng
của trí tuệ con người, nó vô cùng tận, tôi đã chứng tỏ cái khả năng ấy".
Trong một
cuộc phỏng vấn khác trên Ðài Vô Tuyến Truyền Hình tại Ottawa của chương
trình "This Day" (Ngày Nay) để trả lời câu hỏi tại sao Bà lại có tài năng
đặc biệt đó, Bà cho biết người Ấn Ðộ giải thích là bởi sự "LUÂN HỒI", kiếp
trước Bà ở Ai Cập. Ðiều không thể chối cãi là đã có rất nhiều các nhà toán
học kỳ tài trên đất nước của các vị Pharaohs (Những nhà Vua nổi tiếng Ai
Cập). Kim Tự Tháp Cheops (Một kỳ quan trên thế giới) với lối kiến trúc
hoàn toàn dựa trên căn bản toán học phức tạp đến nỗi các điều tra viên, 1
thế kỷ qua đã cố nặn óc mà vẫn chưa tìm được hết mọi bí ẩn.
ggg
CÔ BÉ BLANCHE BATTISTA
Tác Giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Câu chuyện
Luân Hồi này do Bác Sĩ người Anh Raynor Johnson điều tra và chính Bác Sĩ
Johnson đã giới thiệu gia đình Battista với Mục Sư Tiến Sĩ Leslie
Weatherhead, Cựu Chủ Tịch Hội Methodist Conference Anh tại Melbourne, Úc
Ðại Lợi. Tiến Sĩ Weatherhead đã kể lại trong một bài thuyết giảng về đề
tài: "Một Trường Hợp Luân Hồi".
Ðại Úy
Battista và vợ, đều là người Ý có sanh một người con gái tại La Mã và đặt
tên là Blanche. Ðại Úy Battista có mướn một người vú em Thụy Sĩ nói tiếng
Pháp tên Marie để trông nom Bé Blanche. Marie thỉnh thoảng dạy bộ Blanche
bài hát ru con bằng tiếng Pháp. Bé Blanche rất thích bài này thường hát đi
hát lại mỗi ngày nên thuộc lòng. Chẳng may Bé Blanche bị chết nên Marie
phải trở về Thụy Sĩ.
Ðại Úy
Battista viết: "Tiếng hát Ru con từ nay đã im bặt trong gia đình nhưng âm
vang của nó vẫn nhắc nhỡ chúng tôi nỗi đau buồn về cái chết của đứa con
nên chúng tôi cố tránh không nghĩ đến các kỷ niệm."
Bé Blanche
chết được 3 năm, người mẹ, Bà Signora Battista mang thai. Lúc thai được 4
tháng, Bà đã thấy một giấc mơ lạ lùng trong lúc nửa tỉnh nửa mê, Bà cả
quyết thấy rõ ràng Bé Blanche hiện ra và nói với Bà bằng giọng quen thuộc
như hồi nào: "Mẹ ơi con sẽ trở về với mẹ". Rồi Bé Blanche biến mất. Ðại Úy
Battista hoài nghi, nhưng đến tháng 2 năm 1906, vợ ông sanh một bộ gái và
ông cũng đặt tên cho đứa con gái này là Blanche. Ðứa con mới sanh giống
hệt như đứa con gái trước.
Chín năm
sau cái chết của đứa con gái đầu, khi đứa thứ hai được 6 tuổi thì một việc
bất ngờ đã xảy đến. Ðây là lời của ông:
"Trong khi
tôi và vợ tôi đang ở trong phòng đọc sách kế cận phòng ngủ thì cả hai
chúng tôi đều nghe thấy giọng hát ru con bằng tiếng Pháp vẳng ra từ phòng
ngủ của đứa con gái chúng tôi đang ngủ. Lấy làm lạ chúng tôi liền vào xem
thì thấy con gái chúng tôi đang ngồi trên giường và hát bài ru con với một
giọng Pháp rất tự nhiên. Bài hát này chưa được ai trong chúng tôi dạy cho
con gái cả. Vợ tôi hỏi con đang ca bài gì đó thì nó trả lời đang ca bài
hát bằng tiếng Pháp. Tôi liền hỏi: "Ai dạy con bài hát hay vậy?" Nó đã trả
lời: "Không ai dạy con cả, bài hát này đã có sẵn trong đầu óc của con".
Blanche,
người con gái Ý Ðại Lợi, khi luân hồi đã báo cho mẹ biết là sẽ trở lại và
Blanche hãy còn nhớ bài hát bằng tiếng Pháp mà trước Blanche đã được
Marie, người trông nom em dạy em ở tiền kiếp.
ggg
"LÀ MỘT QUÂN NHÂN, TÔI
CHIẾM CỬA THÀNH"
Tác Giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Câu chuyện
sau đây được giải thưởng hạng nhất trong một cuộc thi toàn quốc với chủ
đề: "Một sự trùng hợp lạ lùng mà tôi biết".
Cuộc thi
này do Tạp Chí "The American Magazine" tổ chức và câu chuyện được đăng
trong Tháng Bảy Năm 1915. Dù chỉ là một sự trùng hợp hay một sự gì khác
nữa, độc giả có thể tự mình phán xét lấy. Người kể lại chuyện này là một
thiếu phụ tại Minneapolis.
Nội dung
của câu chuyện ngắn có thực này rất đơn giản nhưng rất giá trị vì được ghi
lại trung thực từ nhiều năm qua, tài liệu lịch sử hiện còn lưu trữ là
những bút tích hiện hữu đã chứng minh cụ thể.
Người đàn
bà đáng tin cậy nhất kể lại câu chuyện ấy như sau:
"Anne, cô
em gái cùng mẹ khác cha của tôi nhỏ hơn tôi 15 tuổi là một đứa bộ kỳ quặc
ngay từ tấm bộ. Nó không giống một ai trong gia đình, da nó ngăm ngăm
trong khi mọi người khác đều trắng trẻo dòng dõi thừa hưởng Tô Cách Lan -
Ái Nhĩ Lan của cha ông.
"Ngay khi
biết nói rành rẽ, nó thường kể những câu chuyện hoang đường về nó. Vì thấy
khá ngộ nghĩnh, tôi đã dùng bút chờ ghi lại những điều nó nói trong nhật
ký của tôi. Tôi có bổn phận phải trông nom nó - mẹ tôi rất bận rộn - và
tôi rất hãnh diện về bà. Ở một đứa trẻ như nó không thể nào có được những
câu chuyện hoang đường, với lại cái trí óc non nớt của nó làm sao có thể
hiểu được những việc đại loại như thế.
Ðiều đáng
nói nữa là tất cả mọi việc nó làm đều như một thói quen; nó chẳng bao giờ
giải thích là tại sao nó lại làm như vậy. Nếu bạn nhìn cách thức nó cầm ly
sửa lên và uống một hơi cạn ly sửa thì bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên và bật
cười vì nó mới có 3 tuổi đầu.
Những việc
như thế làm mẹ tôi khó chịu và bà thường quở trách nó. Là một đứa trẻ
ngoan, cố gắng vâng lời, nhưng rồi sau đó lại đâu vào đó.
"Mẹ à! Con
không thể làm hơn thế được, từ trước đến nay con vẫn làm như vậy mà". Nó
nói với mẹ tôi bằng giọng trẻ thơ pha nước mắt.
Qúa nhiều
việc xảy ra do thói quen về cách ăn nói, cách suy nghĩ và cách hành động
của nó nên cuối cùng chúng tôi không để ý đến nữa và cho nó là một đứa trẻ
hoàn toàn khác hẳn những đứa đồng tuổi.
Năm nó lên
4 tuổi một hôm cha tôi làm nó phẫn uất điều gì đó, nó tức mình ngồi ngay
dưới đất trước mặt chúng tôi và bảo rằng nó có ý định đi xa.
" -Trở về
thiên đường, nơi con từ đó đến đây hả?" Cha tôi châm biếm hỏi. Nó lắc đầu
"-Con
không đến với Cha từ thiên đường". Nó bình thản xác nhận. Thái độ này vẫn
thường thấy ở nó.
" -Trước
tiên con sẽ lên mặt trăng - Cha có biết gì về mặt trăng không? Trên đó
cũng có người nhưng muốn lên rất khó".
Ðó là một
dự định hoang đường, tôi lấy bút ghi vào nhật ký.
Cha tôi
tiếp: "-Vậy ra con từ mặt trăng đến với chúng ta à?
"-Ồ! Không
phải " Nó trả lời cha tôi với một thái độ điềm tĩnh.
- Con đã ở
đấy nhiều lần, có khi là đàn ông, có khi là đàn bà.
Vẻ bình
thản của nó khiến cha tôi bật cười làm nó tức giận. Nó không thích bị diễu
cợt.
"-Ðúng
vậy, đúng vậy." Nó phản đối ngay:
"Một lần
con đã đến Gia Nã Ðại lúc đó con là đàn ông, ngay cả tên con con còn nhớ
nữa mà".
Cha tôi
chế nhạo:
"- Ái Chà!
Ái Chà! Một đứa con gái nhỏ tại Hoa Kỳ lại là một người đàn ông Gia Nã Ðại
Thế con còn nhớ tên là gì?" Nó suy nghĩ một chút rồi trả lời:
- "Lishus
Faber", Nó nhắc lại và cả quyết đúng là tên Lishus Faber. Nó nói rõ rành
rẽ nên tôi đã ghi lại trong nhật ký của tôi cái tên "Lishus Faber".
"-Này
Lishus Faber, thời đó anh làm nghề gì? Cha tôi vẫn hỏi nó với điệu bộ diễu
cợt.
"- Con là
quân nhân và con đã chiếm được cửa thành". Nó trả lời cha tôi một cách cao
ngạo của một người thắng trận.
Tất cả đều
đã được tôi ghi vào nhật ký. Ðã rất nhiều lần, chúng tôi cố gắng hỏi nó
giải nghĩa thêm các câu nói của nó nhưng nó một mực chỉ nhắc lại câu trên
và tỏ vẻ tức giận vì chúng tôi đã không hiểu. Trí tưởng tượng của nó ngừng
lại khi nói đến giải nghĩa. Dù chúng tôi sống trong một cộng đồng có kiến
thức và tìm mọi cách để tìm hiểu câu chuyện như một người tìm hiểu câu
chuyện có liên quan đến những đến những đứa con yêu quý của mình nhưng
không một ai có thể ức đoán được.
Vài người
khuyến khích tôi cố gắng đi xa hơn nữa và tôi đã bỏ một năm để nghiên cứu
lịch sử Gia Nã Ðại với hy vọng tìm thấy một trận chiến nào đó có người
"chiếm được cửa thành". Tất cả đều vô vọng. Cuối cùng tôi được một quản
thủ thư viện giới thiệu với tôi một cuốn tài liệu, một cuốn sách dầy cũ và
rất ngộ nghĩnh với chữ s's viết giống như f's. Ðã một năm qua tôi không
còn hy vọng gì tìm hiểu được. Thế mà một cuốn sách cổ xưa sống động vì có
nhiều hình vẽ với nhiều truyện ngắn đã giúp tôi tìm thấy câu chuyện thật
bất ngờ.
Câu chuyện
nói về thành tích chiến đấu của một đội quân nhỏ, chiếm đánh một thành phố
cũng không có gì quan trọng. Một viên Trung Úy trẻ với toán quân của ông -
với giòng chữ hiện ra trước mắt tôi - "Chiếm Cửa Thành"; Viên Trung Úy này
tên là "Aloysius Le Febre" (Trùng hợp với tên và câu nói của đứa em nhỏ
ngây thơ của tôi đã nói trước đây với cha tôi! ).
Về việc em
gái tôi cho rằng con người đã có lần sống trên mặt trăng thật là kỳ lạ,
tuy nhiên theo quan điểm của các nhà thông thiên học, sự việc rất có thể
vì mặt trăng trước đây là một hành tinh có người sanh sống và là nơi ở xa
xưa của chúng ta. Ðiều đáng quan tâm là giờ đây người ta đã khám phá ra
những viên đá do các phi hành gia mang về từ mặt trăng đều đã có lâu đời
hơn các viên đá hiện tại trên trái đất.
ggg
CÓ PHẢI VỊ BÁC SĨ TÂM LÝ NGƯỜI HOA KỲ ÐÃ SỐNG Ở THẾ KỶ THỨ 17
TẠI ÂU CHÂU KHÔNG?
Tác giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Không phải
chuyện bình thường khi một nhà tâm lý học viết khảo luận, nhất là cuốn
sách đó nói về luân hồi. Và nhất định một câu chuyện như vậy phải được
nghiên cứu kỹ lưỡng - nếu không cũng là chính kinh nghiệm bản thân của tác
giả về tiền kiếp, khiến cho tác giả mạnh dạn viết thành sách. Nhà Tâm Lý
Học này là Bác Sĩ Tâm Lý Frederic F. Flach; ông là giáo sư chuyên khoa tâm
lý của Ðại Học Y Khoa Nữu Ước và cũng là Bác Sĩ Tâm Lý của Dưỡng Ðường
Payne Whitney ở Bệnh Viện Nữu Uớc. Ông có phòng mạch riêng rất đông khách.
Cuốn sách của Bác Sĩ Flach có tựa đề "Fridericus" được xuất bản vào năm
1980.
Ðầu tiên
Bác Sĩ Flach chú ý đến luân hồi trong lúc khảo cứu đề tài "Sức Mạnh Kỳ Bí
Của Phiền Muộn". Thật là hy hữu - một đồng sự của ông đã khám phá ra bản
luận án số 1620 bằng tiếng La Tinh của một Bác Sĩ người Thụy Sĩ cùng tên
Frederich F. Flacht nghiên cứu một đề tài như ông. Lúc đó ông cho chỉ là
một sự trùng hợp lạ lùng nhưng ông không khỏi không nghĩ phải chăng vị Bác
Sĩ Thụy Sĩ kia chính là ông thời nay.
Sau khi
phát hành cuốn sách Fridericus, Bác Sĩ Flach đã kể với phóng viên ông tin
tưởng mãnh liệt chính ông là Bác Sĩ Fridericus.
Vị Bác Sĩ
Thụy Sĩ ở tại Basel " là một Bác Sĩ chuyên về tâm lý giống như tôi hành
nghề này rất hiếm ở thời ấy. Có một sự trùng hợp lạ lùng giữa những điều
vị Bác Sĩ Thụy Sĩ viết và điều tôi nghiên cứu". Ông nói: "Còn một sự trùng
hợp khác nữa là miền Âu Châu mà Fridericus tới,những thành phố mà
Fridericus đi qua trong đời cũng chính là những nơi mà gia đình tôi đã
sống. Gia đình tôi một phần gốc ở gần Zurich. Có một thị xã mang tên
Flach. Một phần khác ở ngay phía Bắc biên giới, tức là phía nam của Ðức
Quốc bây giờ. Một phần khác nữa thì từ Strasbourg đến. Nếu bạn khoanh tràn
khu vực đó thì thấy đúng là Bác Sĩ Thụy Sĩ đã đến từ vùng đó.Ông là một
Bác Sĩ hành nghề tại Thị Xã Worms ngay phía bắc Strasbourg, và ở tại
Basel, Heidelberg và Mulhouse. Lại nữa ông lấy vợ hai lần. Tôi cũng lấy
hai lần vợ. Ông ta có ba người con, tôi cũng có ba con.
Năm 1977,
Bác Sĩ Flach đi Âu Châu để tìm hiểu thêm về Fridericus (Bác Sĩ Thụy Sĩ).
Bác Sĩ Flach nói:
"Mục đích
chính của tôi là tìm mọi dấu vết của Fridericus. Tôi đã đến Basel, Worms,
Heidelberg,Strasbourg và Mulhouse.Tôi muốn biết cảm nghĩ của tôi khi đến
các vùng này. Tại Basel tôi cảm thấy rất quen thuộc - một cảm giác ấm cúng
như được về nhà."
Cuốn sách
"Fridericus" được viết theo quan điểm của một Bác Sĩ Tâm Lý được huấn
luyện kỹ càng, có nhiều kinh nghiệm. Và thật là thích thú khi theo dõi các
lập luận để giải quyết vấn đề chính được nêu lên bởi bốn chuyên gia khác
nhau. Trong đó đa số cuộc đối thoại xoay quanh vấn đề có hay không có luân
hồi.
Trường hợp
của Bác Sĩ Flach không có nhiều chi tiết không là một trường hợp đặc biệt
nhưng cũng là dấu hiệu đáng quan tâm trong hiện đại. Ðiều chắc chắn là 50
năm về trước đây không một nhà tâm lý nào lại dám đề cập đến vấn đề (Luân
Hồi) như vậy.
ggg
MỘT TRƯỜNG HỢP KỲ LẠ TẠI
LEBANON
Tác Giả:
Sylvia Cranston và Carey Williams
Vào năm
1962 khi Tiến Sĩ Stevenson đến Ba Tây để điều tra một vụ luân hồi gặp một
người di cư gốc Lebanon cho Tiến Sĩ biết rằng ở làng anh ta, làng Kormayel
có rất nhiều trường hợp tái sanh. Anh ta có viết thư giới thiệu Tiến Sĩ
với người anh họ của anh ta hiện còn đang sống ở đó, nhưng mọi đến 2 năm
sau Tiến Sĩ mới đến thăm được. Vào thượng tuần tháng 3 năm 1964, Tiến Sĩ
Stevenson, không báo truớc đã tự đến nơi đó và được biết người mà Tiến Sĩ
Stevenson muốn gặp đã đi Beirut để tránh mùa đông lạnh lẽo của miền quê
hương rừng núi này.
Dân làng
Kormayel biết được nhiệm vụ của Tiến Sĩ Stevenson đã báo cho Tiến Sĩ biết
có một em bộ 5 tuổi tên Imad Elawar đã luôn luôn nhắc về tiền kiếp của em
từ khi một tuổi. Ðối với dân bản xứ, việc này không xa lạ vì có nhiều
trường hợp tương tự. Trên thực tế Tiến Sĩ Stevenson thấy dân nơi đây không
theo Hồi Giáo mà theo đạo Druse và tỷ lệ luân hồi tại đây được coi như cao
nhất thế giới. Hai trăm ngàn người Druse phần lớn sống tại Lebanon, Syria,
miền Bắc Do Thái và Jordan. Còn một thiểu số di cư sang Hoa Kỳ và Ba Tây.
Tiến Sĩ
Stevenson đã tìm được người cha em Imad và ông này lại chính là người anh
họ với người bạn của ông tại Ba Tây. Câu chuyện trở nên hấp dẫn và có giá
trị đặc biệt vì ông có thể điều tra trước hai gia đình liên hệ về cả quá
khứ lẫn hiện tại để biết rõ sự tồn tại của mỗi gia đình. Vén đươc màn bí
mật ông có thể quan sát em nhỏ ngay tại nhà về tính tình của em và cũng về
việc lần đầu em gặp lại những người thân tiền kiếp của em. Sau hết trước
khi đi kiếm những người này, Tiến Sĩ Stevenson đã ghi 50 dữ kiện mà em
Imad đã nhớ được.
Bây giờ
bắt đầu vào chuyện.
Imad sanh
ngày 21 tháng 12 năm 1958, khi bắt đầu biết nói thì lời nói đầu tiên của
em là những tên Jamileh và Mahmoud. Khi biết nói trôi chảy rồi thì em tiết
lộ nhiều chuyện ở kiếp trước, tên những người mà em biết, tài sản mà em có
và vài biến chuyển có xảy ra trong đời em. Em kể lại em là người của gia
đình Bouhamzy sống ở làng Khriby cách làng Kormayel một con đường núi khúc
khuỷu dài 25 dậm. Trong gia đình hiện thời của em chỉ có cha em là người
đã đến Khriby để dự tang lễ của một người Druse nổi tiếng.
Imad đã
nói về những người mà em nêu tên và lớn tiếng hỏi họ sống với nhau ra sao.
Trong giấc ngủ em cũng nói như vậy. Cả thảy có 14 tên em nhắc đến. Người
được nhắc nhiều nhất là Jamileh, một phụ nữ đẹp mà em say sưa so sánh với
người mẹ kém hấp dẫn hiện tại. Em nói Jamileh mặc bộ quần áo mầu đỏ do em
mua tặng và mang giầy cao gót - loại giầy mà ngày nay các phụ nữ trong
làng cũng ít dùng. Mẹ của Imad cho biết khi lên 3 tuổi em có nói em muốn
cao bằng Jamileh và một hôm nằm trên giường với mẹ em đã yêu cầu mẹ hãy cư
xử như Jamileh.
Em còn nhớ
thời tiền kiếp em thích đi săn em có một cây súng hai nàng. Ðể mô tả cây
súng có hai nàng em dùng hai ngón tay chập lại với nhau. Về tài sản em có
một căn nhà, một xe hơi nhỏ mầu vàng, một chiếc xe buýt và một chiếc xe
vận tải chở đá.
Về những
chuyện ở kiếp trước em nhớ một lần em có đánh một con chó. Nhưng chuyện
làm em khổ tâm nhất là một tai nạn xe cộ nghiêm trọng đã xảy ra. Một chiếc
xe vận tải đã đụng phải một người đàn ông (tức là em) làm gãy hai chân và
cán nát bụng. Người đàn ông được chở đi Bác Sĩ và đã phải giải phẫu. Bà mẹ
và Bà Nội của em cho rằng việc này rất đáng quan tâm vì ngay khi mới biết
đi em vẫn hay nói rằng em sung sướng biết mấy khi có thể đi lại được!
Người cha em cho tất cả những chuyện trên là nhảm nhí và gọi em là đứa
điêu ngoa, vì vậy em chỉ dám kể cho những người đàn bà trong nhà mà thôi.
Tuy nhiên
mọi người trong nhà đều thấy một hôm lúc Imad lên 2 tuổi đã chận một người
lạ mặt ngoài đường ôm chầm lấy ông ta mừng rỡ. Người lạ mặt liền hỏi "Em
biết tôi sao?" - "Vâng, ông là người hàng xóm của tôi " em trả lời. Người
này là Salim Aschar, người làng Khriby ngày xưa ở cạnh nhà Imad sự thực
này mãi sau mới khám phá ra được chứ vào lúc này cũng chưa ai biết em là
người của gia đình Bouhamzy. Tuy nhiên điều này không ngăn cản gia đình
hiện tại của em đi đến kết luận - hòan toàn không chính xác như chúng ta
sẽ biết sau này. Nghĩa là lúc đầu Tiến Sĩ Stevenson đã được người ta cung
cấp những tin tức sai lạc.
Ðây là câu
chuyện mà cha mẹ em đã cung cấp:
Những lời
nói đầu tiên khi em mới biết nói là Mahmoud và Jamileh, chính là tiền thân
của em và người vợ. Mahmoud đã bị xe vận tải đụng chết. Chuyện này không
những đã do Imad kể lại mà chính em là một đứa trẻ rất sợ hãi mỗi khi nhìn
thấy xe vận tải lớn và các xe buýt. Ngay cả lúc còn chập chững biết đi em
vẫn thường chạy trốn khi nhìn thấy 2 loại xe trên.
Một chuyện
nhỏ nữa là ngày hôm sau Tiến Sĩ Stevenson cùng Imad và cha em đến Khriby.
Em đã tỏ ra xúc động như là em đã xa cha mẹ lâu năm nay mới được về thăm
lại. Trên đường đi em đã cho Tiến Sĩ Stevenson biết thêm về ký ức của em.
Nhưng cuộc viếng thăm này không mang lại một kết quả cụ thể nào để chứng
minh câu chuyện bí mật về tiền kiếp của Imad vì đúng là có Mahmoud
Bouhamzy, nhưng hiện nay người này còn đang sống. Vợ anh ta không mang tên
Jamileh và căn nhà cũng không như Imad đã mô tả.
Ngày hôm
sau đó, Tiến Sĩ Stevenson quyết định một mình đến Khriby để điều tra lấy.
Tiến Sĩ đã thấy một người Bouhamzy tên Haffez có người cha bị xe cán gẫy
hai chân và đè nát bụng. Và mặc dầu đã phải giải phẫu hai lần song ông ta
vẫn chết. Vợ ông ta cũng không phải là Jamileh và căn nhà cũng không giống
như Imad mô tả. Sự điều tra của Tiến Sĩ Stevenson cho đến ngày ấy cũng
chưa đi đến kết quả cụ thể.
Bất ngờ
một tia sáng tự nhiên lóe lên! Haffez cho biết ông ta có một người anh họ
rất quyến luyến với cha của Haffez và vô cùng đau xót trước tấm thảm kịch
tai nạn ấy. Người này tên Ibrahim Bouhamzy có một người chú tên Mahmoud có
một người tình nhân tên Jamileh. Mối quan hệ giữa hai người Mahmoud và
Jamileh đã làm cho dư luận xôn xao. Vẻ đẹp của Jamileh rất thanh tú, nàng
ăn diện theo thời trang đúng như Imad đã mô tả. Hơn thế nữa căn nhà mà
Imad nói đến đúng là căn nhà của Ibrahim Bouhamzy. Ibrahim đã chết vì bệnh
lao vào khoảng trên 20 tuổi và đã bị bán thân bất toại lối một năm trước
khi chết. Imad sung sướng biết bao khi được đi vòng quanh nơi này! Sau khi
Ibrahim chết, Jamileh đã lấy chồng và chuyển đến một làng khác.
Bình luận
về sự thất bại lúc đầu Tiến Sĩ Stevenson nói: "Vì sự suy luận sai lầm của
gia đình Imad cộng thêm vào sự quá tin tưởng vào lòng thành thật của họ
khi họ cung cấp các tin tức, hơn nữa giữa đám người Hồi và người Cơ Ðốc
Giáo xung quanh thì người Druse vẫn được tiếng là thành thực".
Khi Tiến
Sĩ Stevenson quay trở lại gia đình Imad và báo cho họ kết quả điều tra của
mình, cha mẹ Imad không được vui vì quan hệ của Imad với Jamileh ở tiền
kiếp làm gương mặt của Bà mẹ Imad sa sầm đau khổ.
Hôm sau
Tiến Sĩ Stevenson dẫn Imad và người cha đến nhà Ibrahim để xem Imad có thể
nhận ra được điều gì kể từ khi Ibrahim chết vào năm 1949.
Theo lời
Imad trước khi đi nhà này có hai cái giếng, một cái đầy nước còn một cái
thì cạn. Tiến Sĩ Stevenson đã đích thân đi xem những cái giếng này. Cả hai
đều đã bị lấp từ khi Ibrahim chết. Thực ra đây không phải là giếng nước mà
là 2 cái hầm xây bằng bê tông để chứa nước cốt nho. Theo như Tiến Sĩ
Stevenson miêu tả, có một bộ phận đặc biệt được chế ra để hầm được luân
phiên điều chỉnh nghĩa là hầm này đầy thì hầm kia cạn.
Ðến lúc
này thì xuất hiện 3 người đàn bà cùng dẫn Imad đi vòng quanh nhà. Ba người
này là mẹ, chị của Ibrahim và người hàng xóm. Imad đã trả lời đúng 13 câu
hỏi liên quan đến những người thân ở tiền kiếp. Tuy nhiên, Imad không nhận
ra người mẹ mặc dù Imad vẫn thường nói rất thương yêu mẹ. Giờ đây người mẹ
đã già và thay đổi hẳn. Người chị liền hỏi: "Thế em có biết ta là ai
không?" Imad trả lời ngay: "Chị Huda". Rồi chỉ một bức tranh sơn dầu trên
tường và bảo đó là em Fuad. Một bức ảnh lớn được đưa ra và chỉ vào Imad họ
hỏi: "Ai đây? Em của em hay là người chú của em? " Imad trả lời: "Tôi đấy
"
Người chị
tiền kiếp lại hỏi Imad: "Trước khi chết em có nói một câu gì em còn nhớ
không?"
Imad trả
lời: "Chị Huda! Gọi Fuad cho em". Ðúng như vậy, Người em Fuad vừa ra khỏi
nhà một lúc Ibrahim muốn gặp em lần cuối nhưng không kịp, Ibrahim đã chết
liền sau đó. Ibrahim rất thương em, một tấm hình nhỏ của Fuad được trao
cho Imad để làm kỷ niệm. Imad nâng niu và hôn tấm hình này rất là âu yếm.
Trong khi
đi xem nhà, Huda đã được Imad cho biết bà mẹ có lần bị cái cửa dẫn ra sân
kẹp ngón tay. Tiến Sĩ Stevenson nhận thấy ngón tay của Bà mẹ hiện nay hãy
còn bị dẹp vì tai nạn này.
Một người
hỏi Imad: "Khi em ngủ thì chiếc giường được đặt như thế nào?" Imad cho
biết cái giường để theo hình chữ thập. Rồi một câu hỏi thích hợp khác được
nêu lên: "Khi em đau ốm, những người bạn đến nói chuyện với em bằng cách
nào?" Imad trả lời:
"Qua cửa
sổ".
-"Tại
sao?"
-"Vì họ
không dám vào phòng sợ lây bệnh Và cũng vì thế mà cái giường được kê như
trên." Imad trả lời.
Một câu
hỏi thử thách khác:
"Thế cây
súng được dấu ở đâu?" Imad chỉ đằng sau cái tủ quần áo trong một cái hộc
trên tường. Mẹ của Ibrahim xác nhận là đúng và thêm vào chỉ có Bà Cô và
Ibrahim là biết chỗ dấu súng mà thôi.(Việc này được giữ bí mật; ở thời đó
có súng là bất hợp pháp).
Trường hợp
này có hai diễn biến rất hay. Những diễn biến này được khám phá bởi
Mahmoud, người chú của Imad trong một vài lần tiếp xúc với Tiến Sĩ
Stevenson khi Tiến Sĩ Stevenson trở lại Lebanon để phỏng vấn các nhân
chứng.
Mahmoud là
tên một trong hai người mà Imad thường nhắc đến lần đầu tiên khi còn nhỏ.
Khi Imad đến Khriby, Imad đã không gặp được Mahmoud, nhưng đến mùa hè năm
1970, Imad 12 tuổi, Mahmoud, người chú bất thần đến thăm nhà Imad. Imad
không nhận được ra là Mahmoud. Khi Mahmoud đưa một tấm hình cho Imad coi,
tấm hình này Mahmoud có bộ ria mép, hỏi Imad hình này là ai thì Imad đã
trả lời: "Ðó là hình Chú Mahmoud". Sau đó người chú có mời Imad về Khriby
ở với ông ta vài ngày. (Imad đã không đến Khriby từ khi Tiến Sĩ Stevenson
và Imad đến đó vào năm 1964).
Diễn biến
thứ hai khiến người chú xúc động vô cùng xảy ra khi Imad và ông ta đang đi
bộ tại Khriby. Thấy một người đàn ông trên đường, Imad đã chặn lại và xin
phép nói chuyện. Người chú hỏi Imad: "Con muốn nói gì với người đó? Ông ta
là một cựu quân nhân đấy" Imad trả lời chính là lý do mà Imad muốn trò
chuyện. Imad đã nói chuyện rất lâu với người này và người này cho biết
Imad chính là Ibrahim tái sanh và nhắc lại với người này về những thời
trước đã cùng sống với nhau như thế nào. Người cựu quân nhân này đã xác
nhận với người chú Mahmoud là chính ông ta và Ibrahim đã gia nhập Quân Ðội
Pháp một ngày và đã cùng sống với nhau trong quân ngũ.
Trong phần
kết luận, Tiến Sĩ Stevenson đã báo cáo trong số 57 điều Imad nói về tiền
kiếp trước khi gặp những người thân có thì Imad đã nói trúng 51 điều.
Những điều đúng này gồm có cả cái xe hơi mầu vàng, xe buýt, xe vận tải mà
Imad thường nhắc tới và nói những thứ trên là thuộc của Imad ở tiền kiếp.
TIẾN SĨ
IAN STEVENSON
Tiến Sĩ
Ian Stevenson sanh ngày 31 Tháng 10 Năm 1918 tại Montreal, Gia Nã Ðại. Cha
ông là phóng viên của Tạp Chí Time, Luân Ðôn. Ian Stevenson học về y khoa
và tâm lý tại Ðại Học Y Khoa Mac Gill, Montreal, Gia Nã Ðại và đậu Y Khoa
Bác Sĩ năm 1943. Tiến Sĩ Ian Stevenson đã phục vụ tại Bệnh Viện Saint
Joseph, Tiểu Bang Arizona, Hoa Kỳ, Viện Ðại Học Louisana, New Orleans từ
Năm 1947 đến Năm 1957. Bắt đầu năm 1957 Tiến Sĩ điều khiển Ngành Tâm Trí
và là Viện Trưởng Viện Tâm Trí tại Ðại Học Virginia, Charlotsville.
Tiến Sĩ là
tác giả của nhiều bài khảo luận về Bệnh Tâm Trí đăng trên các Tập San Y
Học. Ngoài việc trị bệnh cho các bệnh nhân Tiến Sĩ còn phụ trách giảng dạy
tại các Trường Ðại Học Hoa Kỳ.
Tiến Sĩ là
một nhà phân tích về tâm trí có biệt tài và đến năm 48 tuổi Tiến Sĩ đã đạt
đến nấc thang danh vọng cuối cùng; thế mà Tiến Sỉ bỏ nghề y khoa chuyên
môn để bước sang một lĩnh vực khác, đó là công cuộc điều tra và nghiên cứu
về Luân Hồi.
Trong một
cuộc phỏng vấn, Ký Giả Eugene Kinkaid của tờ New Yorker đã hỏi Tiến Sĩ lý
do gÌ đã khiến Tiến Sĩ bỏ nghề y khoa chuyên môn để đi theo một nghề không
chính thống. Tiến Sĩ đã trả lời:
"Tôi không
đồng ý các phương pháp áp dụng để chữa trị các bệnh nhân tinh thần. Lý
thuyết của ngành tâm trí hiện nay cho rằng cá tính của một con người là do
ảnh hưởng của tính chất di truyền hoặc là ảnh hưởng thời gian của người
cha hay người mẹ trước và sau khi sanh, Song rất nhiều trường hợp tôi đã
khám phá ra chúng ta không thể đồng ý với lý thuyết trên cả về tính cách
di truyền lẫn ảnh hưởng thời gian."
Tiến Sĩ
Ian Stevenson đã giải thích trong việc nghiên cứu về luân hồi Ông đã phải
dùng đến nhiều phương pháp chuyên môn của một nhà sử học, một nhà luật
học, một nhà tâm trí học và tìm các dữ kiện qua những chứng nhân, tài liệu
như nhật ký, giấy khai sanh, báo cáo giảo nghiệm, hồ sơ bệnh lý, tin tức
của các báo chí vân vân...
Tập San về
Bệnh Thần Kinh và Trí Não (The Journal of Nervous and Mental Desease) số
165 Tháng 9 Năm 1977 đã dành riêng nói về công cuộc nghiên cứu luân hồi,
về có sự sống sau khi chết của Tiến Sĩ đã khiến cho các độc giả cùng các
nhà khoa học gia rất chú ý đến những chứng minh của Tiến Sĩ. Cũng trong
Tháng 5 Năm 1977 Tiến Sĩ đã đăng một bài khảo luận "The Explanatory Value
of The Idea of Reincarnation" nêu vấn đề luân hồi trên tập san này.
Phản ứng
của các độc giả ra sao? Tiến Sĩ Eugene Brody, nhà xuất bản tờ báo cũng là
một nhà tâm trí học của Viện Ðại Học Y Khoa Maryland trong một cuộc phỏng
vấn đã cho biết như sau: "Tôi đã nhận được lối 300 đến 400 lá thư của các
Khoa Học Gia yêu cầu cho in lại số báo trên. Quả là đã có nhiều người chú
trọng đến vấn đề này."
Tiến Sĩ
Ian Stevenson đặc biệt khảo cứu các trẻ em trên thế giới cả Ðông lẫn Tây
có ký ức về tiền kiếp. Ông đã xuất bản 5 cuốn sách về luân hồi, trong đó
có cuốn "Children Who Remember Previous Life" (Những Thiếu Nhi Còn Nhớ
Tiền Kiếp) do nhà Xuất Bản University Press of Virginia, Charlotsville
phát hành năm 1987 mà chúng tôi xin trích dịch vài truyện trong tác phẩm
này.
-
GOPAL GUPTA
-
CORLISS CHOTKIN JR.
-
MA TIN AUNG MYO
-
MỐI TÌNH TUYỆT VỌNG
-
SHAMLINIE PREMA
-
SULEYMAN ANDARY
-
TIỀN THÂN BONGKUCH PROMSIN
-
TIỀN THÂN CỦA
GILLIAN VÀ JENNIFER POLLOCK
-
SAMUEL HELANDER
-
ROBERTA MORGAN
-
TIỀN THÂN CỦA SUSAN EASLAND
-
TIỀN THÂN CỦA MICHAEL WRIGHT
ggg
GOPAL GUPTA
Tác giả:
Tiến Sĩ Ian Stevenson
Gopal
Gupta sanh ngày 26 Tháng 8 Năm 1956 tại Dehli Ấn Ðộ. Cha mẹ của Gopal
thuộc giai cấp trung lưu, học vấn không đáng kể. Từ lúc lọt lòng đến lúc 2
tuổi không có gì đặc biệt.
Khi Gopal
bắt đầu biết nói từ khoảng 2 đến 2 tuổi rưỡi, có một người khách đến thăm
gia đình Gopal. Cha của Gopal sai Gopal đem cất cái ly người khách vừa
uống xong. Gopal đã làm cho mọi người ngạc nhiên. Em nói rằng: "Con không
thể làm việc đó vì con là một Sharma (thuộc Bà La Môn, một giai cấp thượng
lưu của Ấn Ðộ). Trong cơn giận giữ, Gopal đã làm vỡ cái ly. Cha của Gopal
bắt Gopal giải thích lý do. Gopal liền kể lại vài chi tiết về tiền kiếp
của em. Em cho biết trước kia em ở thành phố Mathura, cách xa Dehli 160
dậm về phía nam. Em là chủ nhân một hãng thuốc Sukh Shancharak, có một căn
nhà rất lớn, có nhiều đầy tớ, có hai người anh và một người vợ. Em đã cãi
nhau với một trong hai người anh và đã bị bắn chết.
Gopal cho
biết ở tiền kiếp em thuộc dòng dõi Bà La Môn nên từ chối không chịu cất ly
vì người Bà La Môn thường không bao giờ cầm những vật dụng gì mà người
giai cấp thấp hơn đã đụng tới. Gia đình của Gopal hiện tại thuộc dòng
Bania, giai cấp thương mại.
Cha mẹ của
Gopal không có liên hệ gì với Mathura, nên sự phát hiện của Gopal về tiền
kiếp không gợi cho cha mẹ Gopal một ký ức nào cả. Mẹ của Gopal không thích
và cũng chẳng bao giờ khuyến khích Gopal nói về tiền kiếp cả. Cha của
Gopal thì lại càng lạnh nhạt với những câu chuyện về tiền kiếp khi Gopal
kể. Tuy nhiên thỉnh thoảng cha của Gopal có kể lại cho vài người bạn nghe
về chuyện tiền kiếp của Gopal. Một trong những người này cho biết hình như
ông ta có nghe thấy một vụ giết người trùng hợp với câu chuyện trên ở
Mathura, nhưng cha của Gopal chưa tin nên cũng chẳng mấy quan tâm để đi
Mathura tìm hiểu sự việc có thật hay không.
Cho đến
năm 1964, nhân cơ hội có một buổi đại hội về tôn giáo tổ chức tại Mathura,
cha của Gopal trong lúc đi dự hội đã khám phá ra là tại Mathura có hãng
thuốc Sukh Shancharak. Ông tìm đến Hãng thuốc và được gặp viên Quản Lý.
Ông kể lại cho Viên Quản Lý nghe chuyện Gopal nói về tiền kiếp. Viên Quản
Lý rất ngạc nhiên vì có một chủ nhân của hãng này đã bị người anh ruột bắn
chết cách đây mấy năm. Người chủ này là Shaktipal Sharma chết ngày 27
Tháng 5 năm 1948, vài ngày sau khi bị bắn.
Viên Quản
Lý báo cho gia đình Sharma biết việc viếng thăm của cha Gopal. Vài người
trong gia đình Sharma đã tới Dehli thăm gia đình Gopal và đã mời Gopal tới
Mathura. Trong những cuộc gặp gỡ tại Mathura cũng như Dehli, Gopal đã nhận
ra một số người và một số nơi mà trước kia Shaktipal đã quen biết và thêm
vài tin tức đặc biệt về đời tư của Shaktipal Sharma. Gia đình của Sharma
rất ngạc nhiên vì Gopal đã cho biết trước đây Shaktipal Sharma dự định
muốn mượn một số tiền của vợ và muốn lấy số tiền để cho anh mình vay hùn
vốn vào công ty. Cuộc cãi vã đã xảy ra giữa hai anh em, Shaktipal muốn cho
người anh nguôi giận đã tăng số tiền cho vay lên nhưng người vợ lại từ
chối không cho. Do đó người anh đã cáu kỉnh và trong lúc nóng giận đã bắn
Shaktipal Sharma. Chi tiết của tấn thảm kịch này đã được dấu kín không ai
được biết ngoại trừ những người trong gia đình. Vụ người anh giết em này
đã được đăng tải trên báo chí. Sự hiểu biết tường tận về nội vụ cùng với
sự nhận dạng được một số người trước đây đã quen với Shaktipal khiến cho
gia đình của Shaktipal Sharma phải công nhận Gopal chính là hiện thân của
Shaktipal. Song song với những lời tuyên bố về tiền kiếp, Gopal đã tỏ ra
phong thái của một người Bà La Môn giàu có cho nên cá tính của em đã làm
trở ngại không ít đến gia đình hiện tại của em. Em đã không ngần ngại nói
rằng em thuộc giòng dõi cao quý hơn những người hiện tại của gia đình em.
Em đã từ khước những công việc nội trợ cho rằng những công việc này chỉ
đáng để cho những người đầy tớ làm mà thôi. Em không bao giờ uống sửa nếu
sửa nếu được rót vào một cái ly đã có người khác sử dụng.
Tiến Sĩ
Jamua Prasad đã từng cộng tác với tôi (Ian Stevenson) nhiều năm trong
nhiều trường hợp tại Ấn Ðộ, đã bắt tay điều tra vụ này năm 1965. Riêng tôi
bắt đầu vào năm 1969 khi tôi đích thân phỏng vấn hai gia đình tại Dehli
cũng như Mathura. Tôi vẫn còn liên lạc với họ cho đến năm 1974. Sau khi đi
thăm Mathura vào năm 1965 thì Gopal không có ý định đến thăm nơi này nữa.
Vài năm sau 1965 thỉnh thoảng Gopal có đến Dehli thăm hai người chị của
Shaktipal. Nhưng sau đó thì sự liên lạc giữa hai gia đình đã không được
duy trì nữa. Gopal càng lớn lên thì cái phong thái Bà La Môn của tiền kiếp
thể nhập nơi anh ngày dần biến mất và anh từ từ hòa mình với đời sống
khiêm tốn của gia đình hiện tại. Anh cũng ít nói đến đời sống của
Shaktipal Sharma, nhưng đến cuối năm 1974 cha của Gopal vẫn nghĩ rằng con
của ông còn nhớ đến những ký ức của chuyện này.
Ðối với
tôi (Ian Stevenson) trường hợp luân hồi này rất đáng được kể đến vì sự
trung thực, làm sao Gopal có thể biết rõ về lúc sống cũng như lúc chết của
Shaktipal Sharma. Tuy Shaktipal Sharma thuộc một gia đình khá giả tại
Mathura và việc anh bị thảm sát đã làm xôn xao dư luận nhưng hai gia đình
Sharma và Gopal đã sống ở hai thành phố cách xa nhau và thuộc hai giai cấp
khác hẳn nhau. Ðời sống xã hội của hai gia đình ở trong hai qóy đạo riêng
biệt và chính tôi tin tưởng mãnh liệt là hai gia đình theo như lời họ
thuật lại đã không bao giờ được biết nhau cho đến khi xảy ra sự việc trên.
ggg
CORLISS CHOTKIN JR.
Tác Giả:
Ian Stevenson
Trường hợp
này là lời nói trước của một người đánh cá lớn tuổi ở Tlingit, Alaska tên
Victor Vincent. Ông cô cho người cháu gái Corliss Chotkin Sr biết là sau
khi ông cô chết, ông cô sẽ đầu thai làm đứa con trai của cô ta. Ông cô chỉ
cho cô ta thấy hai vết thẹo sau hai lần giảì phẫu, một trên sống mủi và
một đằng sau lưng. Ông cô nói là đứa con cô ta (tức là ông cô tái sanh) sẽ
mang 2 vết thẹo như trên.
Victor
Vincent chết vào mùa xuân năm 1946. Khoảng mười tám tháng sau, ngày 15
tháng 12 năm 1947, cháu gái của ông cô sanh một đứa con trai và được đặt
tên là Corliss Chotkin Jr. Ðứa nhỏ mang hai vết thẹo y như hai vết thẹo
của Victor Vincent trước kia. Vào năm 1962, lần đầu tiên khi tôi (Ian
Stevenson) xem xét hai vết thẹo tôi được Bà Chotkin cho biết hai vết thẹo
có thay đổi theo thời gian nhưng hãy còn rất rõ ràng. Nhất là vết thẹo
đằng sau lưng đã làm tôi kinh ngạc, nó rộng chừng 5 ly, dài chừng 3 phân,
so với chỗ da khác thì vết thẹo này có mầu sậm hơn và hơi lồi, có nhiều
chấm đen chung quanh tựa như vết thương được khâu nhiều mủi.
Khi
Corliss vừa được 13 tháng Bà Chotkin thường tập cho Corliss gọi tên của
nó, thì Corliss thường nóng nảy nói rằng: "Mẹ không biết con là ai à? Con
là Kahkody mà". Kahkody là cái tên do Bà lúc đặt cho Victor Vincent khi
còn sống. Bà Chotkin có kể lại cho một người cô thì bà này cho biết là sau
khi Victor Vincent qua đời được ít lâu bà có nằm mơ thấy Victor Vincent
trở về sống với gia đình Chotkin. Bà Chotkin chưa bao giờ cho bà cô ấy
biết là chính Victor Vincent đã nói trước với bà là sẽ tái sanh làm con
trai bà.
Khi được
chừng 2, 3 tuổi Corliss đã nhận ra nhiều người mà trước đây Victor Vincent
đã từng quen biết trong đó có người vợ của Victor Vincent. Corliss còn kể
2 biến cố xảy ra trong cuộc đời của Vincent mà chỉ có mình Vincent biết
được mà thôi. Thêm nữa còn có nhiều nét đặc biệt giống như Victor Vincent,
chẳng hạn như cách chải đầu. Corliss đã chải kiểu tóc giống như Vincent
trước đây. Cả hai cùng nói lắp (cà lăm), cùng thích bơi lội và tầu bè,
cùng thuận tay trái, cùng có chung khuynh hướng về tôn giáo. Cũng như
Vincent, Corliss có khiếu về máy móc, có khả năng về sử dụng và sửa chữa.
Mẹ của Corliss cho biết đã tự học một mình cách làm sao cho chiếc thuyền
máy chạy được. Khác hẳn với cha là ông Chotkins, một người không mấy thích
máy móc và càng không có năng khiếu về máy móc.
Khi lên 9
tuổi, Corliss ít nói đến tiền kiếp của mình, cho đến năm 1962 thì hầu như
Corliss không còn nhớ gì nữa.
Tôi (Ian
Stevenson) đã gặp Corliss và gia đình cả thảy 3 lần và đầu năm