Lời nói đầu
Việc đau buồn và thống khổ nhất trong cuộc đời này không gì hơn cái
chết. Đối với cái chết không một người nào mà không biết cũng không có
bất kỳ một người nào tránh khỏi. Nhưng nếu chỉ biết được cái chết là bi
ai thống khổ mà không biết đi tìm cầu tu học Phật pháp vĩnh viễn thoát
khỏi cái chết, đây không phải uổng công buồn khổ hoàn toàn không có chút
ích lợi sao?
Tuy nhiên, dù có thể tìm được pháp môn nhưng không khế cơ có tu nhưng
không chứng mà vẫn ở trong sáu nẽo luân hồi, đây há cũng không phải là
uổng công bi ai thống khổ không có chút lợi ích hay sao? Cho nên đức
Thích Ca Thế Tôn của chúng ta hơn ba ngàn năm về trước ở trong kinh Đại
tập đã từng nói: “Thời kỳ Mạt pháp vạn vạn người nếu nương vào sức tự
lực tu hành Giới định tuệ, thì hiếm có được một người có thể diệt trừ
hết phiền não hoặc nghiệp chứng đắc đạo quả Thánh vị, chỉ có nương vào
pháp môn tín, nguyện, niệm Phật và sức thệ nguyện của Phật A Di Đà cầu
sanh Tây phương thì mới có thể thoát khỏi sanh tử”.
Lại vị tổ thứ mười ba của Liên tông là Ấn Quang đại sư ở chùa Linh nham
( Tô châu) dạy: “Chín cõi chúng sanh nếu lìa pháp môn niệm Phật thì
trên không thể lấy gì để thành Phật đạo, mười phương chư Phật nếu bỏ
pháp môn niệm Phật thì dưới không thể lấy gì hóa độ chúng sanh”. Nên
biết, Phật tổ vô cùng bi tâm thương xót chúng sanh trong thời Mạt pháp
căn lành mỏng manh trí tuệ kém cỏi không biết thời cơ, dùng sai pháp môn
có tu không đắc uổng phí tâm lực luống mất một đời cho nên vì đây mà
nói!
Nên biết pháp môn Tịnh độ tín, nguyện, niệm Phật nhiếp khắp mọi căn cơ,
không luận là hàng Tăng tục, nam nữ, già trẻ, thông minh, ngu dốt cho
đến kẻ mới phát tâm tội nặng hay nhẹ... Các loại người này nếu đầy đủ
lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, thành khẩn niệm Phật cầu nguyện
vãng sanh Tây phương suốt đời không thối chuyển, thì đến lúc lâm chung
nhất định được Phật hộ niệm tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực lạc.
Ngay cả những hạng người xưa nay chưa biết tín, nguyện, niệm Phật cầu
sanh Tây phương nhưng đến lúc lâm chung gặp được thiện hữu khai thị,
khiến cho người đó phát lòng tin, phát nguyện niệm Phật cầu sanh Tịnh
độ, những người thân quyến lại không ưu sầu khóc lóc gây ra trở ngại
thay vào đó như pháp niệm Phật trợ niệm, người này nhất định sẽ được
vãng sanh Tịnh độ. Nên biết, muốn được vãng sanh Tịnh độ tuy rằng phải
tự thân làm chủ một niệm sau cùng nhưng cũng cần sự trợ niệm như pháp.
Than ôi! khổ nỗi phương pháp trợ niệm lúc lâm chung này đối với người cư
sĩ tại gia chưa được phổ biến rõ ràng.
Lúc gặp người lâm chung những người trong gia quyến thường thường không
biết niệm Phật trợ niệm, để tiễn đưa thần thức người chết đi trên con
đường Thánh vãng sanh thế giới Tây phương Cực lạc, vĩnh viễn được hưởng
sự an vui mà ngược lại bi ai khóc lóc làm cho thần thức người chết đọa
lạc vào Địa ngục, hoặc đọa vào các đường ác Ngạ quỷ, Súc sanh ở mãi
trong chốn đau khổ.
Nhân đây pháp sư Tây chấn vì lòng từ bi tha thiết thương xót người cư sĩ
tại gia thế tục phần nhiều chưa nghiên cứu Phật học, không biết phương
pháp trợ niệm khi có người lâm chung. Ngài có diệu dụng điểm sắt hóa
thành vàng, cho nên ở trong các nơi tuyên truyền xiển dương những việc
lợi hại lúc lâm chung cùng tổ chức các đoàn trợ niệm lâm chung, học tập
phương pháp trợ niệm để gây nhân tịnh nghiệp cho người lúc lâm chung,
trở thành đại sự nhân duyên vãng sanh Tịnh độ.
Lại nhân vì hai quyển “Lâm chung bờ bến” và “Rốt cùng của nhân sanh” văn
nghĩa quá sâu xa không dễ học tập, vì thế cho nên pháp sư Tây chấn... đã
ba lần khuyên tôi chọn lấy những lời căn bản dạy về lúc lâm chung của cổ
đức, dùng văn tự bạch thoại để soạn thuật lại ngõ hầu làm tư liệu cho
người thời nay dễ dàng học tập.
Tôi khổ não vì ít học tuy nghiên cứu nhiều bản để soạn thuật cũng chỉ là
miễn cưỡng, rất sợ văn nghĩa sai lệch làm thác loạn Phật pháp làm chúng
sanh hiểu lầm, tuy có tâm lành ngược lại tạo thêm tội lỗi. Nhân đây,
trước đem bản thảo trình lên các vị đại đức cao tăng nổi danh trong nước
giám định rồi sau đó mới dám ấn hành. Nguyện xin khắp nơi đều là bạn hữu
liên trì! Nếu có người nào đọc quyển sách này ngưỡng mong đừng chê văn
từ nông cạn.
Ví như có thể nương theo thật nghĩa trong đây mà thực hành thì mọi người
đều được vãng sanh, tức đều ra được khỏi Ta bà mãi mãi tạ từ khổ não
sanh tử thảy đều tiến lên cảnh giới an dưỡng vĩnh viễn hưởng thụ niềm
vui kỳ diệu của Niết bàn.
Phật lịch 2495 mùa thu ngày Phật hoan hỷ.
Tịnh xá Hương lâm nhất hạnh
Hậu học Thế liễu kính ghi.
Pháp sư Diệu chân giám định
Thích Thế liễu biên soạn
I. LUẬN VỀ NGƯỜI NIỆM PHẬT, LÂM CHUNG ĐƯỢC VÃNG SANH HAY KHÔNG ĐƯỢC VÃNG
SANH?
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại vườn Kỳ thọ cấp cô độc nước Xá vệ tuyên
thuyết kinh A Di Đà. Ngài tán thán y báo và chánh báo trang nghiêm của
thế giới Cực lạc đồng thời khuyến khích chúng sanh phát nguyện cầu sanh
về thế giới đó. Trong kinh dạy:
“Như Ta ngày nay tán thán sự lợi ích bất khả tư nghì công đức của Phật A
Di Đà. Thế giới đông phương có đức Phật A Súc... thế giới nam phương có
đức Phật Nhật Nguyệt Đăng... thế giới tây phương có đức Phật Vô Lượng
Thọ... thế giới bắc phương có đức Phật Diệm Kiêm... thế giới hạ phương
có đức Phật Sư Tử...thế giới thượng phương có đức Phật Phạm Âm... Các
Ngài đồng hiện tướng lưỡi rộng dài, nói ra lời thành thật: Tất cả chúng
sanh hãy nên tin theo kinh Xưng tán bất khả tư nghì công đức nhất thiết
chư Phật sở hộ niệm này”.
Vãng sanh thế giới Tây phương Cực lạc là một nhân duyên lớn hết thảy chư
Phật trong sáu phương đồng thanh khen ngợi, phàm có bất kỳ chúng sanh
nào khởi tín, phát nguyện, chuyên trì danh hiệu Phật cầu sanh thế giới
Tây phương Cực lạc quyết định được vãng sanh, lý sự hiển nhiên chớ nên
sanh tâm nghi ngờ.
Hỏi: Người phát tâm niệm Phật nếu nói hết thảy đều được vãng sanh Tây
phương, thế sao tôi thấy có rất nhiều vị xuất gia cũng như tại gia, hàng
ngày cũng siêng năng niệm Phật nhưng đến lúc lâm chung phần nhiều chết
một cách mờ mịt chẳng được mấy người chắc thật vãng sanh. Vấn đề này như
thế nào?
Đáp: Do vì thời điểm lâm chung của những người này nhân và duyên chưa
được đầy đủ. Nếu lúc lâm chung nhân và duyên của họ đầy đủ quyết định
mười người vãng sanh cả mười, trăm người vãng sanh cả trăm, ngàn người
vãng sanh cả ngàn.
Hỏi: Thế nào là nhân và duyên?
Đáp: Người niệm Phật thường ngày có lòng tín sâu, nguyện thiết, niệm
Phật cầu sanh Tây phương đến lúc lâm chung cũng giữ lòng tín sâu, nguyện
thiết, tinh tấn niệm Phật như lúc bình thường, tâm niệm này chính là
nhân tự lực. Nếu như vị đó thường ngày chưa có lòng tín sâu, nguyện
thiết, tinh tấn niệm Phật cầu sanh Tây phương nhưng đến lúc lâm chung
gặp được thiện tri thức khai thị khiến họ sanh khởi lòng tin sâu, nguyện
thiết, niệm Phật cầu sanh Tây phương. Tâm tín sâu, nguyện thiết, cầu
sanh Tây phương đó cũng là nhân tự lực.
Đức A Di Đà Phật vị giáo chủ của thế giới Tây phương Cực lạc và vạn đức
Hồng danh của Ngài, có năng lực tiếp dẫn chúng sanh vãng sanh Cực lạc
đây là duyên tha lực.
Hỏi: Người niệm Phật đến lúc lâm chung nếu nhân duyên đầy đủ quyết định
được vãng sanh đạo lý này như thế nào?.
Đáp: Người niệm Phật đến lúc lâm chung có lòng tin sâu, nguyện thiết,
niệm Phật cầu sanh Tây phương, Phật sở niệm là duyên tha lực tâm năng
niệm là nhân tự lực. Ngay lúc tín sâu, nguyện thiết, niệm Phật này là
dùng tâm năng niệm để niệm Phật sở niệm, Phật sở niệm là do tâm năng
niệm mà hiển bày, tâm năng niệm nhờ Phật sở niệm mà thanh tịnh.
Thời điểm lâm chung là giai đoạn giữa tự lực và tha lực có sự cảm ứng
lẫn nhau. Giữa nhân và duyên cùng hòa hợp, do vậy người niệm Phật quyết
định được vãng sanh Tây phương đạo lý này là chắc thật.
Hỏi: Thế nào là nhân và duyên không đầy đủ khiến người niệm Phật lúc lâm
chung không thể vãng sanh Cực lạc?
Đáp: Người niệm Phật lúc bình thường công phu tín nguyện niệm Phật chưa
được thuần thục, đến lúc lâm chung tuy có tâm tín nguyện cầu sanh Tây
phương (có nhân), nhưng vì bệnh nặng các sự phiền não khủng bố khiến tâm
niệm Phật không thể phát khởi, lại chẳng có thiện tri thức an ủi khai
thị cùng trợ duyên niệm Phật ( không duyên), lại gặp cảnh bà con không
biết Phật pháp thêm vào sự bi ai khóc lóc gây các món chướng ngại. Trong
tâm của người lâm chung lúc này vốn rất nhiều đau khổ muốn bà con không
nên khóc lóc mà nên trợ duyên niệm Phật sớm được vãng sanh, nhưng họ
không thể mở miệng ra nói được. Tâm người bệnh lúc này đã thống khổ lại
càng thêm thống khổ.
Đến khi mạng chung người này đáng lẽ được vãng sanh Tây phương thế giới
thanh tịnh trang nghiêm của Phật A Di Đà vĩnh viễn thọ hưởng khoái lạc
cho đến ngày viên thành Phật đạo. Nhưng bị chính bà con gây chướng ngại
để rồi không biết phải đọa lạc vào cảnh giới khổ đau nào. Đây là mối
quan hệ có nhân không duyên không thể vãng sanh Tây phương Cực lạc được.
Lại có hạng người niệm Phật lúc bình thường tâm tín nguyện niệm Phật
chưa được kiên cố, đến khi lâm chung gặp được sự trợ duyên rất tốt như
được thiện tri thức trợ lực niệm Phật ( có duyên), lại bà con không khóc
lóc gây các sự chướng ngại. Ngặt nỗi, người niệm Phật này tâm vốn điên
đảo tham luyến tình ái thế gian chí đến đắm trước vợ con, tài sản...
không chịu phát tâm niệm Phật cầu sanh Tây phương (không nhân). Đến khi
lâm chung tâm niệm sau cùng người đó bèn chạy theo tình ái dục niệm đọa
lạc vào cảnh giới sanh tử luân hồi. Đây là mối quan hệ không nhân có
duyên không thể vãng sanh Tây phương.
Lại có hạng người niệm Phật lúc bình thường chỉ chuyên cầu nhà cửa an
vui mạng sống dài lâu, đến khi lâm chung chỉ lo sợ chết. Người đó khi
bệnh chưa nặng tuy cũng có niệm Phật nhưng chỉ mong cầu bệnh mau thuyên
giảm không phát tâm cầu sanh Tây phương. Đến lúc bệnh nặng thống khổ
phát hiện lúc đó không thể niệm Phật chỉ có kêu trời kêu đất gọi vợ gọi
chồng.
Nếu lại gặp bà con không tin Tam bảo hoặc tuy có tin Tam bảo nhưng chưa
hiểu rõ nghĩa lý kinh điển, lúc đó bà con không những không khai thị và
trợ niệm (vô nhân) lại còn khóc lóc bi ai tạo ra các chướng ngại khiến
cho người bệnh vô cùng thống khổ và phiền não. Ví như người té giếng lại
bị đôi thêm đá nên sự thống khổ lại càng nhiều. Người đó tâm niệm mạng
chung sau cùng sẽ tùy theo nghiệp nhân phiền não ác độc ra đi quyết đọa
lạc trong tam đồ ác đạo, đây là mối quan hệ không nhân không duyên không
thể vãng sanh Tây phương.
Trên đây là chúng tôi trình bày sơ lược ba hạng người niệm Phật lúc lâm
chung, hoặc có nhân tự lực nhưng không duyên tha lực hoặc có duyên tha
lực nhưng không nhân tự lực hoặc không đạt được nhân tự lực và duyên tha
lực. Ba trường hợp này đều không có sự cảm ứng nhân duyên không hòa hợp
nên không thể vãng sanh.
Hỏi: Người niệm Phật lúc lâm chung thế nào nhân duyên đầy đủ được vãng
sanh Tây phương?
Đáp: Nếu như hạng người đại căn cơ khi bình thường họ đã có lòng tin
sâu, nguyện thiết, tinh tấn niệm Phật, người này tín nguyện đã chân
thiết công phu niệm Phật đã thuần thục, đến khi lâm chung họ tự nhiên
tín nguyện niệm Phật như lúc bình thường, trong tâm không có tơ hào động
tướng, tịnh tướng, khổ tướng, lạc tướng, thuận tướng, nghịch tướng mỗi
mỗi tâm niệm đều an trú vào câu hồng danh “Nam mô A Di Đà Phật” (đây là
Như lai quả hải thật tướng chánh định). Trong kinh A Di Đà dạy: “Một
lòng không loạn liền được vãng sanh” là cảnh giới này ( tâm niệm Phật là
nhân tự lực năng cảm, Phật hiệu là duyên tha lực sở cảm) đây là mối
quan hệ nhân và duyên đầy đủ.
Lại có hạng người căn tánh thuộc loại tầm thường tuy hàng ngày lòng tín
sâu, nguyện thiết, công phu niệm Phật chưa được thuần thục nhưng đến lúc
lâm chung tâm tín nguyện cầu sanh so với thường ngày lại càng chí thành
tha thiết. Không luận bệnh khổ như thế nào phiền não phát hiện ra sao,
tâm tín nguyện cầu sanh Tây phương của họ trước sau như một. Giai đoạn
này câu Phật hiệu rất khó đề khởi bà con thiện hữu đều là những người có
hiểu biết Phật pháp biết rõ các sự lợi hại lúc lâm chung nên không bi ai
khóc lóc, lại thêm có thiện tri thức khai thị trợ duyên niệm Phật. Tâm
người bệnh lúc này mỗi niệm mỗi niệm đều an trú vào hồng danh A Di Đà
Phật đến lúc mạng chung tâm niệm niệm Phật sau cùng ( nhân tự lực) duyên
theo Phật sở niệm ( duyên tha lực) mà vãng sanh đây là mối quan hệ nhân
duyên đầy đủ.
Lại có hạng người lúc bình thường không có lòng tín nguyện niệm Phật cầu
sanh Tây phương nhưng khi lâm chung gặp được thiện tri thức khai thị,
hoặc nói các việc trang nghiêm của thế giới Cực lạc khiến người bệnh
tâm sanh hoan hỷ ưa thích cầu sanh. Lại nói bốn mươi tám đại nguyện tiếp
dẫn chúng sanh vãng sanh của đức Phật A Di Đà khiến người bệnh tâm sanh
chánh tín phát lòng niệm Phật cầu sanh Tây phương. Lúc đó người bệnh
nghe được lời khai thị của thiện tri thức tâm sanh hoan hỷ tín thọ niệm
Phật quyết tâm cầu nguyện vãng sanh. Các người bà con đều tuân theo sự
chỉ đạo của thiện tri thức không gây chướng ngại bi ai khóc lóc. Người
đó lúc mạng chung niệm niệm đều niệm Phật tâm trạng như trẻ thơ nhớ mẹ
hiền vô cùng khẩn thiết. Người này mạng chung, nương từ lực của Phật
vãng sanh đây là mối quan hệ nhân duyên đầy đủ.
Trên đây, là chúng tôi trình bày sơ lược ba hạng người niệm Phật lúc lâm
chung có đầy đủ nhân tự lực và duyên tha lực đạt được sự cảm ứng nhân
duyên hòa hợp quyết định vãng sanh Tây phương.
Hỏi: Người khi bình thường không biết tín, nguyện, niệm Phật, đến lúc
lâm chung gặp được thiện tri thức khai thị nghe rồi sanh tâm hoan hỷ cầu
sanh Tây phương, thêm nữa bà con không gây chướng ngại mà còn trợ duyên
niệm Phật, người này mạng chung cũng được vãng sanh, sự tình này sao lại
dễ dàng như thế?
Đáp: Trong sáu hạng người tôi đã trình bày để biện luận người niệm Phật
cầu sanh Tây phương, sự tình dễ dàng hay không dễ dàng tôi đã nói rõ
ràng thế mà ông vẫn còn hoài nghi sao?
Ông nên nhớ hạng người khi bình thường chưa có lòng tín, nguyện, niệm
Phật cầu sanh đây là bởi duyên không biết. Đến khi lâm chung nhờ thiện
tri thức khai thị người này nghe rồi sanh tâm hoan hỷ đó chính là biểu
hiện người này đời trước đã gieo trồng căn lành. Người như thế đem so
với hạng người phổ thông bình thường thì cách xa lắm vậy.Lâm chung tâm
tín nguyện niệm Phật cầu sanh là nhân thắng thiện tri thức khai thị cùng
bà con trợ duyên niệm Phật là duyên cường, lại có sức từ bi tiếp dẫn của
Phật A Di Đà, đây là nhân duyên hòa hợp người đó mạng chung nhất định sẽ
được vãng sanh làm sao còn sự nghi ngờ?
Hỏi: Chúng tôi rất muốn trợ duyên niệm Phật cho người bà con lúc lâm
chung khiến họ mau được vãng sanh. Giả sử lúc có người bà con sắp mạng
chung thiện hữu mời chưa kịp đến, chúng tôi là người tại gia đối với đạo
lý Phật pháp hiểu chưa thấu đáo, tuy rất cần khai thị nhưng phương thức
khai thị mình không biết phương pháp trợ niệm mình lại không hiểu. Nay
Ngài có biết kinh sách nào chỉ bày phương pháp trợ niệm văn tự rõ ràng
dễ đọc dễ hiễu để chúng tôi thỉnh về nghiên cứu như thế há không tốt hơn
hay sao?
Đáp: Các vị nếu đã có tâm chân thật muốn thực hành đạo lớn hiếu thuận,
thân ái, từ ái muốn những người bà con của mình vĩnh viễn thoát ly sanh
tử luân hồi, vãng sanh đến Tây phương Phật quốc trang nghiêm thanh tịnh
hưởng thọ đầy đủ mọi khoái lạc cho đến ngày thành Phật rộng độ các loài
chúng sanh. Để đạt ước nguyện như thế các vị chỉ cần y theo ý nghĩa các
tiết trong quyển sách này mà thiết thật chấp hành, thì người bà con của
các vị lúc lâm chung nhất định sẽ được vãng sanh thế giới Cực lạc.
II.NGƯỜI BÀ CON CẦN
CHÚ Ý NHỮNG ĐIỂM SAU
1. Cha mẹ là người có công ân sanh thành dưỡng dục chúng ta phận làm con
cần phải hiếu thuận, đối với anh chị em, vợ chồng chúng ta cần phải thân
ái, đối với con cháu, dâu rễ chúng ta cần nên từ ái. Thế nào là hiếu
thuận, là thân ái, là từ ái? Thế nào là không hiếu thuận, không thân ái,
không từ ái?
Đối với các đạo lý này các vị cần triệt để thấu triệt. Nếu chúng ta làm
qua loa nhất định sẽ khiến cho tâm hiếu thuận, thân ái, từ ái trở thành
sự tình đại ngỗ nghịch, đại tàn hại. Quý vị mỗi người muốn tránh khỏi
sự tình nguy hiểm này thì đối với chỗ tôi sắp giảng dưới đây cần để tâm
nghiên cứu.
2. Con người đến khi lâm chung là giai đoạn tối hậu của một đời người,
chúng ta người bà con nên hết mình trong khoảng thời gian chốc lát này.
Đối với người hấp hối chúng ta nên chân thành biểu hiện tâm hiếu thuận,
thân ái, từ ái, giờ giờ phút phút nên quan tâm thăm hỏi. Bất luận sự
tình như thế nào chúng ta mỗi mỗi đều nên tùy thuận theo ý muốn của
người bệnh không nên làm cho tâm họ phiền não.
3. Thời điểm người bệnh sắp mạng chung nhất định nên thỉnh các vị niệm
Phật đến trợ niệm. Các vị trợ niệm khi đã đến nhà rồi bà con nên nghe
theo lời chỉ dạy của họ một chút cũng không trái ý. Cần hiểu các vị niệm
Phật trợ niệm lúc này là người chịu trách nhiệm cứu độ thần thức của
người bà con chúng ta để được vãng sanh Cực lạc. Vì thế, toàn gia quyến
thuộc mỗi người đều nên nhớ tưởng ân đức hết lòng tiếp đãi các vị đó.
Giả sử các vị trợ niệm do bận nơi khác hoặc chưa đến kịp, lúc này các
người bà con nên như pháp đứng ra trợ duyên niệm Phật cho người bệnh
công đức cũng đều giống nhau.
Có điều chúng ta cần tuân thủ theo phương pháp trợ niệm để tiến hành
không nên đem phương pháp trợ niệm để cải biên, như thế mới có thể làm
cho người bệnh được vãng sanh. Đồng thời cả nhà đều nên phát nguyện ăn
chay tuyệt đối không được sát sanh phải vì người bệnh mà tu phước. Đến
lúc bệnh quá nặng là thời điểm rất cần người trợ niệm. Vào thời điểm này
chúng ta phải một lòng niệm Phật trợ giúp họ vãng sanh Tây phương. Chớ
không nên một mặt khóc lóc bi ai một mặt kêu gọi lương y... điều này chỉ
làm cho người bệnh tăng thêm sự thống khổ trở ngại việc vãng sanh đây là
trên nỗi khổ chồng thêm nỗi khổ. Mong các vị bà con hiểu rõ điều này để
không làm hại người thân của mình.
4. Con người đến lúc lâm chung là thời điểm phân phàm rẽ Thánh là thời
điểm phân chia cảnh giới Tây phương Thánh đạo cùng cảnh giới lành
thiên, nhân, A tu la và cảnh giới ác Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Các vị
bà con lúc này trợ niệm bệnh nhân niệm Phật đó chính là trợ giúp bệnh
nhân vãng sanh Tây phương thánh đạo hưởng thọ vô lượng sự an lạc. Giả sử
đối với bệnh nhân mà bi ai khóc lóc đó chính là đẩy thần thức bệnh nhân
đọa vào trong ba cảnh khổ Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh chịu vô lượng sự
thống khổ. Nên biết, người bà con đối với bệnh nhân lúc này là lúc thể
hiện tình nghĩa rõ ràng là hiếu thuận hay không hiếu thuận là thân ái
hay không thân ái là từ ái hay không từ ái.
5. Chúng ta cần tin tưởng vào những lời Phật dạy trong kinh điển, như
kinh dạy người nào đọa lạc vào ba cảnh Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh thì
phải chịu vô lượng sự thống khổ ngôn ngữ văn tự không thể diễn tả hết
được thời gian thọ khổ cũng vô cùng vô tận. Nói sự thống khổ ở cảnh giới
Địa ngục, chúng sanh ở cõi này một ngày một đêm phải trải qua vạn lần
chết đi sống lại. Nỗi khổ của cảnh giới Ngạ quỷ, chúng sanh ở cõi này
trong trăm ngàn vạn kiếp danh từ cơm nước còn chưa từng nghe huống gì là
được ăn uống. Nỗi thống khổ của cảnh giới Súc sanh, chúng sanh trong cõi
này phải chịu cảnh nước sôi lửa bỏng bị nhai nuốt vào trong bụng người.
Nếu như chúng ta đọa lạc vào một trong ba cảnh khổ này thời gian tối
thiểu cũng năm ngàn đại kiếp. Một đại kiếp thời gian bằng mười ba ức bốn
ngàn ba trăm tám mươi bốn vạn năm ở cõi người. Nếu đã trải qua thời gian
năm đại kiếp sau khi thọ khổ xong mới được xuất ly thời gian như thế là
ngắn hay sao?
Nếu được vãng sanh về thế giới Tây phương Cực lạc hàng ngày được nghe
đức Phật A Di Đà giảng kinh thuyết pháp; cùng Bồ tát Quan âm, Thế chí
làm bạn lành. Mắt thấy các cảnh đều là cảnh diệu sắc trang nghiêm tai
nghe các tiếng đều là tiếng tốt vi diệu... sự hưởng thọ mọi khoái lạc
như thế ngôn ngữ văn tự không thể diễn bày. Mỗi khi đã vãng sanh đầy đủ
thần thông đạo lực rồi nương bi nguyện trở lại Ta bà hóa độ bà con cần
đến là đến cần đi là đi đến đi đều tự tại. Đồng thời chỉ trong một đời
mà có thể thành Phật.
Do vậy chúng ta cần hiểu rõ ý nghĩa này, bởi cảnh giới Tây phương sự
khoái lạc như thế vô cùng vô tận. Ai là người không chịu phát tâm niệm
Phật trợ niệm cho người bà con của mình mau được vãng sanh Tây phương
hưởng thọ vô lượng khoái lạc? Ở cảnh giới Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh,
sự thống khổ như thế vô cùng vô tận. Ai là người đang tâm ác độc đối với
người bà con của mình bi ai khóc lóc chính là đẩy họ vào trong cảnh giới
Địa ngục. Ngạ quỷ, Súc sanh để thọ các khổ báo hay sao? Chúng ta mỗi
người đều phải hiểu rõ: Phàm con người lúc lâm chung hoặc vãng sanh Tây
phương hoặc đọa lạc vào tam đồ ác đạo trách nhiệm này phần lớn là do
người bà con tạo ra.
6. Nếu người bệnh lúc bình thường có tâm tín sâu, nguyện thiết, niệm
Phật cầu sanh Tây phương lúc này chúng ta là người bà con nên đối trước
người bệnh giảng giải: “Chúng ta làm người nhưng không thể làm người dài
lâu. Phật dạy có sáu cảnh giới luân hồi sanh tử trong đó ba cảnh Địa
ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh là ba cảnh khổ lại rất dễ đọa lạc. Nhưng ở cảnh
giới Tây phương do đức Phật A Di Đà làm giáo chủ có vô lượng sự an vui.
Trong cảnh giới Tây phương chẳng có nỗi khổ Tam đồ cũng chẳng có sáu
cảnh luân hồi sanh tử.
Dân chúng cảnh giới Tây phương là do liên hoa hóa sanh ngồi trên tòa sen
rất mềm mại, hương thơm tinh khiết cánh hoa to lớn rất đẹp và rực ánh
sáng. Dân chúng cảnh Tây phương chỗ ở đều là lầu đài bằng trân bảo cung
điện cao lớn lộng lẫy. Dân chúng cảnh Tây phương nghĩ tưởng thức ăn thì
có các món sơn hào hải vị hiện ra, cần áo mặc thì có các y phục thượng
hạng lại hiện đến. Dân chúng cảnh Tây phương chỗ thọ hưởng khoái lạc
ngôn ngữ văn tự không bao giờ diễn bày hết. Nay ông phát tâm trì niệm
danh hiệu Phật A Di Đà tâm nguyện tha thiết cầu sanh Tây phương, đến lúc
lâm chung Phật A Di Đà tay bưng đài sen to lớn hiện thân trước mặt ông
để nghinh đón ông vãng sanh Tây phương. Mỗi khi đã được vãng sanh lúc đó
sự thọ hưởng khoái lạc không cùng tận. Ông nên phát tâm niệm Phật quyết
định được vãng sanh Tây phương”.
Là người bà con chúng ta mỗi ngày nên đối trước bệnh nhân nói ba lần như
thế. Cách thức nói không được quá nhanh nên nói một cách từ tốn rõ ràng.
Cần biết tâm lý người bệnh lúc này họ rất dễ khởi phiền não và cũng rất
sợ cảnh phiền não. Còn như người bệnh đã phát khởi tín tâm dốc lòng niệm
Phật rồi chúng ta không cần tiếp tục khuyến đạo khai thị nữa. Từ đó về
sau chỉ khuyên họ nhất tâm niệm Phật cầu nguyện vãng sanh là đủ.
7. Người bệnh nếu còn các việc nhà hoặc các việc quan trọng mà ngày
thường chưa kịp nói, người bà con nhân lúc người bệnh bệnh tình chưa
nặng còn nói được nên hỏi họ rõ ràng. Nếu như người bệnh tâm thức đã hôn
mê không thể nói được, lúc này người bà con không nên đối trước người
bệnh nói các việc thế sự tránh làm loạn chánh niệm của người bệnh (
chánh niệm chính là niệm Phật) . Nếu khi tâm thức người bệnh còn sáng
suốt người bà con nên đối trước bệnh nhân nói lời sau: “Tất cả mọi công
việc gia đình chúng tôi sẽ thay ông đảm đương tất cả mọi chuyện gia đình
ông không nên để tâm lo lắng. Giờ đây ông chỉ nên một lòng niệm Phật A
Di Đà để cầu nguyện vãng sanh mà thôi”.
Nói lời khai thị đó chỉ nói một lần từ đó về sau chỉ khuyến khích người
bệnh một lòng niệm Phật cầu nguyện vãng sanh. Đồng thời người trợ niệm
dùng ngón tay của mình chỉ rõ hướng tây đối người bệnh lại nói: “Cảnh
giới Tây phương hiện đang ở trước mặt ông, ông nên một lòng niệm Phật
trong tâm ông nên nghĩ tưởng mình đã vãng sanh Tây phương”. Làm người bà
con mỗi ngày đối trước người bệnh khuyên răn vài ba lần như thế. Giả sử
tâm thức người bệnh đã đến lúc hôn muội bây giờ không cần nói lời khuyến
khích nữa mà chỉ nên chuyên tâm niệm Phật lớn tiếng mà thôi.
8. Nếu có các vị thân thích bạn bè đến thăm hỏi người bệnh, chúng ta nên
mời các vị đó sang phòng bên để tiếp đãi đồng thời nói với khách rằng:
“Cuộc đời con người giai đoạn lâm chung là giai đoạn quan trọng nhất. Do
đó các vị đến trợ duyên người bệnh niệm Phật trong giai đoạn này có sự
lợi ích rất lớn. Còn đối trước người bệnh khóc lóc bi ai thì sự chướng
ngại vô cùng”. Chúng ta nói với khách câu này một mặt là tránh được tâm
nghi ngờ của khách, một mặt là tránh được cảnh người khách đứng trước
bệnh nhân bi ai sầu não gây chướng ngại cho người bệnh. Lại khuyến khích
người khách phát tâm trợ giúp người bệnh niệm Phật, nếu khách làm được
như thế mới thật sự là người có tâm từ bi đối với người bệnh.
9. Nếu như người bệnh nghiệp chướng phát hiện hoặc không hoan hỷ với
người vì mình niệm Phật, nghe thấy người bà con niệm Phật tâm lại sanh
mệt mỏi, hoặc thấy các oan hồn hiện ra để đòi mạng sống... Các việc như
thế xảy ra vốn là do nghiệp chướng của người bệnh phát hiện chướng ngại
cho việc vãng sanh. Lúc đó chúng ta nên vì họ đối trước Tam bảo chí
thành khẩn thiết niệm Phật sám hối khiến nghiệp chướng của họ tiêu trừ
sớm được vãng sanh Cực lạc.
Như năm ngoái có một vị cư sĩ, thân mẫu của vị này bệnh nặng sắp chết,
vị cư sĩ bèn mời những người trợ niệm đến nhà vì thân mẫu mà niệm Phật.
Thân mẫu của vị đó nghe mọi người niệm Phật trong tâm càng phiền muộn
bảo các vị trợ niệm đừng niệm Phật nữa. Do vị cư sĩ này là đệ tử của tôi
biết rõ trường hợp mẹ mình là do nghiệp chướng phát hiện bèn thay mẹ đối
trước Tam bảo tụng kinh Địa tạng, vị cư sĩ này cũng rất chí thành khẩn
thiết vì mẹ sám hối. Sau đó, cư sĩ lại cùng các vị trợ niệm vì mẹ mà
niệm Phật thân mẫu của cư sĩ trở lại sanh tâm hoan hỷ kết quả được vãng
sanh Tây phương.
Trên đây là nói việc tụng kinh Địa tạng có thể tiêu trừ được nghiệp
chướng, giả sử không tụng được kinh Địa tạng thì niệm danh hiệu Địa tạng
Bồ tát vẫn có thể được. Lại có một vị cư sĩ nọ thân phụ của vị này bệnh
nặng sắp chết thấy một cô gái dắt một con chó đến đòi mạng. Vị cư sĩ bèn
thay cha niệm Phật sám hối giây lát không thấy cô gái và con chó nữa.
Sau đó thân phụ cuả cư sĩ thấy hai vị Tăng đối trước nói rằng “Đời trước
ông đã từng gây chướng ngại vãng sanh cho chúng tôi nay chúng tôi cũng
sẽ gây chướng ngại vãng sanh của ông”. Vị cư sĩ lại một lần nữa vì cha
niệm Phật sám hối đồng thời khấn vái: “Hãy để cho cha tôi vãng sanh sau
này tôi sẽ đến trợ niệm cho hai vị vãng sanh Tây phương để tạ lỗi gây
chướng ngại vãng sanh của hai vị trong quá khứ”. Nhân đây không thấy hai
vị Tăng này đến nữa.
Sau cùng thân phụ cư sĩ lại thấy một vị lão Tăng đối trước người bệnh
nói: “Oán nghiệp của ông nay đã tiêu trừ qua khỏi tam thất thì có thể
vãng sanh, sen vị của ông là đệ ngũ cấp”. Đồng thời vị lão tăng lại nói:
“Sở dĩ tam thất vãng sanh là do con ông biết đạo”. Các vị đừng hiểu tam
thất là ba tuần trợ niệm nhiều ngày như thế sẽ mệt mỏi, các vị hiểu như
thế là không đúng. Nguyên là chỉ qua khỏi hai mươi mốt giờ vị này sẽ
vãng sanh, đệ ngũ cấp chính là Trung phẩm trung sanh. Nương đây để biết
làm người bà con vì người bệnh niệm Phật sám hối, hoặc tụng kinh Địa
tạng hay niệm danh hiệu Bồ tát Địa tạng đối với người bệnh có sự lợi ích
rất lớn.
10. Người bệnh đến lúc sắp tắt hơi thở người trợ niệm nếu là nhiều thì
nên cùng với người bà con hướng về bàn Phật, hoặc quỳ niệm hoặc lễ niệm
chí thành khẩn thiết mong cầu Phật từ bi tiếp dẫn thần thức người chết
mau được vãng sanh Tây phương. Còn bằng người trợ niệm ít thì cùng với
người bà con đến gần người bệnh trợ lực niệm Phật. Có điều người bà con
không nên đứng đối diện để người bệnh thấy. Chúng ta nên nhớ thời điểm
người sắp tắt hơi thở, nếu thấy bà con tất khó tránh việc sanh tâm bi ai
trìu mến làm chướng ngại chánh niệm. Người bà con có thể ngồi bên trái
bên phải hoặc ngồi sau lưng người bệnh.
Về âm điệu tiếng niệm Phật chớ bi ai tương tự như khóc lóc, nếu âm điệu
niệm Phật bi sầu như thế người bệnh nghe nhất định sẽ sanh tâm sầu khổ
bi luyến. Nếu người bệnh có tâm niệm sầu khổ sẽ mất chánh niệm cảnh giới
Tây phương không do đâu mà hiển bày. Vì thế lúc này chúng ta cần phải
đặc biệt cẩn thận đặc biệt chú ý tuyệt đối cấm bi ai sầu khổ chỉ nên lớn
tiếng niệm Phật, mỗi câu mỗi câu Phật hiệu phân minh mỗi chữ mỗi chữ rõ
ràng. Lúc đang niệm Phật người trợ niệm nên quán tưởng đức Phật A Di Đà
phóng hào quang cứu độ gia hộ người chết thân tâm an lạc chánh niệm phân
minh sớm được vãng sanh về thế giới Tây phương Cực lạc.
11. Người chết sau khi đã chấm dứt hơi thở trước lúc thân thể chưa lạnh
hẳn ở giai đoạn trung gian này, chúng ta là người bà con càng đặc biệt
chú ý không để cho mèo chuột... đụng đến. Nên biết người chết tuy hơi
thở đã chấm dứt nhưng cơ thể vẫn còn hơi nóng, nếu có vật nào xúc chạm
vào cơ thể người chết sẽ rất thống khổ. Có đôi người nghĩ muốn thăm dò
thân thể người chết xem hơi nóng đang còn ở chỗ nào để xác định cảnh
giới tái sanh. Việc này đối với người chết hoàn toàn có hại không một
chút lợi ích gì.
Nếu sau mười giờ đồng hồ như muốn thăm dò thân thể người chết đã lạnh
hẳn hay chưa cũng nên mời một vị có công đức tu hành tương đương dùng
tay nhẹ nhàng thăm dò. Ở thời gian này người bà con nên thảy đều nên
nghe theo lời chỉ giáo của các vị trợ niệm để tránh sự tác hại cho người
chết. Nếu không có các vị trợ niệm chúng ta nên y theo phương thức trợ
niệm để thực hành. Đến như các vị trợ niệm cũng cần nghe theo lời chỉ
giáo của vị lãnh đạo không được tự tiện thăm dò hơi nóng thân thể người
chết.
Chúng ta nhất nhất không nên nghe theo những lời nói mê tín vô căn cứ
của một số người thế tục, bọn họ nói: “Người mới chết nhân lúc thân thể
còn ấm xương thịt mềm mại, thời điểm này mà tắm rửa mặc quần áo là rất
tốt”. Lại nói: “Người chết rồi nên dời sang chỗ khác kẻo không sẽ bị
thần giường quở trách”. Lại nói: “Con cháu cần phải khóc lóc nếu không
hung tin sẽ không đi hết”. Những lời nói mê tín như thế truyền tụng đến
ngày nay khiến chúng ta làm tổn hại cho người chết vô lượng vô biên oan
uổng thọ đại khổ não đọa lạc trong cảnh ba ác đạo Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc
sanh.
Xưa vua A kỳ đạt bình sanh tin tưởng Tam bảo kiến tạo chùa tháp công đức
vô lượng, đến khi mạng chung đang lúc sắp dứt hơi thở, người thị vệ đứng
hầu quạt trong tay rơi vào mặt nhà vua, lúc đó vua vô cùng thống khổ nổi
tâm sân hận đầu thai làm thân rắn. Nhân nhờ vua Kỳ đạt bình sanh có công
đức kính trọng Phật pháp kiến tạo chùa tháp nên sau gặp được vị Tăng đối
trước rắn thuyết pháp. Rắn nhờ duyên nghe lại công đức Phật pháp của
mình ba ngày sau chết thần thức sanh lên cõi trời.
Lại xưa có hai vợ chồng rất đỗi thương yêu lẫn nhau, bình sanh đồng tin
Tam bảo phụng trì trai giới. Ngày nọ người chồng bệnh chết người vợ vô
cùng bi ai khóc lóc. Thân thể người chồng tuy đã chết nhưng thần thức
vẫn chưa rời, nghe âm thanh bi ai của người vợ tâm sanh khởi ý niệm trìu
mến, nhân đây thần thức đi theo ý niệm trìu mến đắm nhiễm này lạc vào
trong cơ thể người vợ làm con sâu bò trong mũi. Vì chồng chết người vợ
khóc lóc bi thảm nước mắt nước mũi giàn dụa, bấy giờ trong mũi rơi ra
một con trùng người vợ xấu hổ định dùng chân đạp nát may có một vị Tăng
khuyên can: “Chớ đạp nát thân chồng chị”. Người vợ hỏi duyên cớ, vị Tăng
đáp: “Chồng chị lúc còn sống giữ gìn trai giới đáng lẽ được sanh thiên
nhưng vì chị khóc lóc bi thảm quá khiến nội tâm khởi dậy lòng thương yêu
thần thức theo tâm niệm thương yêu đó mà nhập vào người chị làm con sâu
trong lỗ mũi”. Người vợ nghe rồi lấy làm hối hận cầu xin vị Tăng thuyết
pháp cho trùng. Con trùng nhờ nghe pháp mà thoát được thân trùng thần
thức tái sanh lên cõi trời.
Hai câu chuyện trên đều từ trong kinh nói ra là có nguồn gốc còn những
sách vở của thế tục hư truyền mê tín là chẳng có căn cứ, chúng ta cần
biết rõ một số loại sách mê tín để tránh gây cho vong nhân sau này gặp
phải cảnh oan uổng thọ đại khổ não, đọa lạc trong cảnh ác đạo Địa ngục,
Ngạ quỷ, Súc sanh. Vì vậy sau khi người chết chấm dứt hơi thở trước khi
toàn thân chưa lạnh hẳn chúng ta là người bà con, nhất định chấm dứt
việc khóc lóc khổ não và xúc chạm thân thể người chết để tránh tai họa
người chết không được vãng sanh.
Tóm lại, người bà con phải nên nghe theo lời chỉ giáo của các vị trợ
niệm, nếu như không có các vị trợ niệm người bà con nên cẩn thận thăm dò
thân thể người chết, đợi khi toàn thân lạnh hẳn mới tiến hành thủ tục
tắm rửa thay quần áo.
III.
HỎI ĐÁP VẤN ĐỀ TRỢ NIỆM
Hỏi: Hai chữ trợ niệm có ý nghĩa gì ?
Đáp: Trợ là trợ giúp niệm là chánh niệm. Trợ niệm có nghĩa là trợ giúp
cho người lâm chung có chánh niệm hiện tiền.
Hỏi: Thế nào là chánh niệm?
Đáp: Chánh niệm còn gọi là tịnh niệm. Chánh niệm hay tịnh niệm đều là
tâm niệm niệm Phật. Nhân vì tâm niệm Phật không cùng sáu trần duyên hợp,
vì tâm này duyên thanh tịnh do đó gọi là tịnh niệm. Tịnh niệm chính là
chánh nhân tịnh nghiệp để vãng sanh Tây phương. Ý nghĩa tịnh niệm và
chánh niệm đại để tương đồng.
Hỏi: Vì sao khi lâm chung phải nhờ sự trợ niệm của người khác?
Đáp: Con người đến lúc lâm chung là thời điểm tứ đại phân ly, các nỗi
khổ chồng chất tay chân quờ quạng; thí như con cua rơi vào nước sôi
thống khổ như thế nào thì người khi lâm chung cũng có sự thống khổ như
thế.
Người bình thường công phu niệm Phật nếu chưa thuần thục đến khi lâm
chung ai mà không cần người khác trợ niệm? Bình thường công phu niệm
Phật có sáu bảy phần nhưng đến khi lâm chung cũng khó có tác dụng được
hai ba phần. Huống gì hạng người hoàn toàn chưa có công phu niệm Phật
đến lúc lâm chung làm sao lại không cần người khác trợ niệm? Nên biết
con người vào thời điểm này tự thân họ một chút cũng đã khó làm chủ được
hoàn toàn là nương theo người khác trợ giúp họ làm chủ trong giai đoạn
hoang mang này.
Hỏi: Người bệnh đã chết rồi mà vẫn trợ duyên họ niệm Phật làm sao có tác
dụng?
Đáp: Người bệnh vừa mới chấm dứt hơi thở tuy đã chết rồi nhưng thần thức
vẫn chưa lìa thể xác, đời sau họ tái sanh vào cảnh giới lành hay dữ vẫn
chưa quyết định, thời điểm này chúng ta trợ giúp họ niệm Phật có tác
dụng rất thù thắng. Nên biết con người lúc lâm chung là thời điểm phân
phàm rẽ Thánh. Chúng ta luân hồi từ vô thỉ đến nay đã tạo nghiệp lành
hay nghiệp dữ là vô lượng vô biên, trong tâm niệm niệm thiện ác phát
hiện nối tiếp không bao giờ gián đoạn. Tâm thức con người phần nhiều đều
niệm ác còn niệm lành thì rất ít.
Con người đến lúc lâm chung một niệm sau cùng nếu là niệm ác thì trong
tâm ác này sẽ hiển hiện ra cảnh giới Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Khi
mạng chung với tâm niệm như thế thần thức sẽ duyên theo cảnh ác đọa vào
ba ác đạo. Nếu niệm sau cùng là niệm thiện thì trong tâm thiện này sẽ
hiển hiện ra cảnh giới trời, người. Khi mạng chung với tâm niệm như thế
thần thức sẽ duyên theo cảnh lành sanh vào cảnh giới lành. Còn bằng niệm
sau cùng là niệm Phật trong tâm niệm niệm Phật cầu nguyện vãng sanh sẽ
hiển hiện cảnh giới Tây phương Cực lạc và đức Phật A Di Đà cùng chúng
Hiền Thánh hiện thân trước mặt đưa tay tiếp dẫn. Khi mạng chung với tâm
niệm như thế thần thức sẽ duyên theo hồng danh Phật A Di Đà mà vãng sanh
thế giới Tây phương Cực lạc.
Nên biết con người lúc mạng chung vấn đề trợ niệm chính là làm cho một
tâm niệm sau cùng của họ là niệm Phật. Một niệm sau cùng của họ nếu niệm
Phật Phật A Di Đà ở trong tâm niệm Phật của người sắp chết sẽ hiện thân
tiếp dẫn. Người chết đó chính là ở trong tâm niệm Phật của họ nương theo
Phật mà vãng sanh. Mỗi khi sanh về Tây phương thì việc sanh tử luân hồi
của thế giới Ta bà này hoàn toàn đoạn trừ, thọ hưởng mọi khoái lạc của
thế giới Tây phương lâu dài vô tận. Vì thế việc trợ giúp người sắp chết
niệm Phật có sự lợi ích to lớn vô cùng thù thắng như thế.!
IV.THUYẾT LÂM CHUNG MỘT
NIỆM VÃNG SANH
Hỏi: Thế giới Cực lạc cách thế giới Ta bà này mười vạn ức cõi Phật,
người niệm Phật lâm chung chỉ có một niệm làm sao có thể vãng sanh được?
Đáp : Sở dĩ người niệm Phật lâm chung chỉ một niệm được vãng sanh, một
mặt là nương nhờ Phật lực đó chính là bốn mươi tám đại nguyện đại từ đại
bi của Phật A Di Đà tiếp độ hết thảy chúng sanh nào tín, nguyện, niệm
Phật. Phật lực trợ duyên chúng sanh vãng sanh là bất khả tư nghì. Một
mặt là nhờ tâm lực đó là tâm niệm hiện tiền của mỗi chúng ta. Tâm niệm
hiện tiền có ba nghĩa.
1. Tâm thể: Là bản thể của một niệm này cùng với chư Phật tương đồng
chẳng có hào ly sai biệt. Chẳng qua tâm chư Phật là thường ngộ không mê
bội trần hiệp giác, tâm thanh tịnh đó có đầy đủ vô lượng vô biên công
đức trí tuệ. Tâm chúng ta thường mê không ngộ bội giác hiệp trần, tâm uế
nhiễm này có vô lượng vô biên hoặc nghiệp phiền não. Giả sử mỗi người
chúng ta đều phát tâm niệm Phật A Di Đà chính lúc đang niệm Phật ngay đó
là phản mê quy ngộ bội trần hiệp giác thì vô lượng hoặc nghiệp phiền não
sẽ hoàn toàn thanh tịnh vô lượng công đức trí tuệ sẽ hiển bày.
Tâm niệm Phật như thế đương thể đồng một dạng như tâm chư Phật. Do đó cổ
đức nói: “Mỗi niệm tương ứng với mỗi niệm Phật, niệm niệm tương ứng với
niệm niệm Phật”. Đây là Thánh nhân cùng phàm phu cùng một tâm thể chư
Phật cùng với chúng sanh đồng một nguồn tâm. Niệm Phật quyết định sẽ
thành Phật ví như nấu gạo quyết sẽ thành cơm vấn đề này là tất yếu.
2. Tâm lượng: Tâm lượng một niệm này là rộng lớn vô biên. Kinh dạy: “Tâm
bao trùm thái hư, lượng đồng với sa giới”. Đây chính là nói tâm lượng
của chúng sanh rộng lớn vô lượng vô biên. Sự rộng lớn của tâm như thế
nào?
Trong kinh nói: “Trong mỗi thái hư có bất khả thuyết Phật sát vi trần số
thế giới chủng. Trung ương có thế giới chủng tên là Phổ chiếu thập
phương xí nhiên bảo quang minh, thế giới chủng này có hai mươi tầng thế
giới, thế giới Ta bà chúng ta hiện nay ở cùng thế giới Cực lạc ngoài
mười vạn ức Phật độ đồng ở tầng thứ mười ba của thế giới chủng Phổ chiếu
thập phương xí nhiên bảo quang minh này”. Chỉ trong một thế giới chủng
mà đã có sự rộng lớn như thế huống gì là Phật sát vi trần số thế giới
chủng ư?
Số thế giới chủng Phật là vô lượng vô biên thì có thể thấy tâm lượng một
niệm của mỗi chúng ta,vốn thật rộng lớn vô lượng. Vì vậy nói tâm bao
trùm thái hư lượng đồng với hằng sa giới. Nếu ông có thể rõ tâm lượng
một niệm của bản thân mình, thì đối với người niệm Phật lâm chung một
niệm vãng sanh thế giới Cực lạc tự nhiên sẽ không còn sanh tâm nghi ngờ
gì nữa.
3. Tâm cụ: Một niệm này vốn đầy đủ mười pháp giới là Phật, Bồ tát, Duyên
giác, Thanh văn, Thiên, Nhân, A tu la, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục. Mười
pháp giới này lại là cảnh do một niệm tạo thành. Một niệm của chúng ta
nếu tạo mười nghiệp ác đó chính là tạo ra ba cảnh ác Địa ngục, Ngạ quỷ,
Súc sanh. Một niệm của chúng ta nếu niệm Phật A Di Đà đó chính là tạo ra
cảnh giới Tịnh độ của chư Phật.
Trong kinh nói: “Tâm này là Phật tâm này làm Phật. Tâm này là chúng sanh
tâm này làm chúng sanh”. Vì vậy, một niệm của mỗi chúng ta nếu là niệm
Phật đó chính là làm Phật. Tâm niệm niệm Phật này đương thể chính là
Phật. Nên biết mỗi người chúng ta đều có tâm thể này xưa nay vốn đầy đủ
công đức trí tuệ, một niệm nếu là niệm Phật đó chính là Phật. Đây là đạo
lý tâm cụ.
Về đạo lý tâm tạo, giả sử mỗi cá nhân chúng ta ai cũng đều hiểu rõ ý
nghĩa này, như thế đối với lý niệm Phật sẽ thành Phật tự nhiên không còn
sanh tâm nghi ngờ. Tâm thể, tâm lượng, tâm cụ trên đây tuy nói ba kỳ
thật chỉ là một không thể phân ly. Một niệm của mỗi chúng ta có diệu
dụng vô cùng như thế vì vậy nói tâm lực là bất khả tư nghì.
Mặt khác nữa là nhờ pháp lực, pháp lực chính là tín, nguyện, hạnh cảm
ứng đạo giao bất khả tư nghì. Người nào tín sâu, nguyện thiết, chí thành
niệm hồng danh A Di Đà Phật thì Phật lực, pháp lực và tâm lực ba lực bất
khả tư nghì này đều dung nhiếp vào trong một câu hồng danh A Di Đà Phật.
Nhân có ba lực dung nhiếp vào trong một niệm vì thế lâm chung một niệm
liền được vãng sanh. Cổ nhân nói : “Nhiếp ba lực vào trong một lực, thâu
thành công vào trong một niệm”, chính là đạo lý này .
V. NGƯỜI TRỢ NIỆM CẦN
NHỚ NHỮNG ĐIỂM SAU
1. Phát tâm trợ niệm người khác niệm Phật vãng sanh Tây phương chính là
thay thế đức Như lai đảm nhận trách nhiệm lớn cứu độ chúng sanh liễu
sanh thoát tử. Chúng ta đã tự nhận trách nhiệm lớn giáo hóa chúng sanh
nhất định cần phải đem tâm chân thật mà làm, không được phô diễn hình
thức bên ngoài làm sai lạc nhân duyên lớn liễu sanh thoát tử của người
khác. Cẩn thận! Cẩn thận!
2. Người trợ niệm khi đến nhà người bệnh để trợ niệm trước nhất mời bà
con thân thuộc lại nói rõ cho họ biết: “Phàm con người đến lúc lâm chung
là giờ phút quyết định cho sự siêu thăng hay đọa lạc, trách nhiệm này
tùy thuộc vào toàn gia người bệnh. Các vị là người bà con muốn làm cho
người bệnh siêu thăng tránh sự đọa lạc, mỗi mỗi nên nghe theo sự chỉ đạo
của những người trợ niệm không được trái lời”. Đây là sự bảo chứng cho
người lâm chung quyết định vãng sanh thế giới Cực lạc.
3. Người trợ niệm vào trong phòng người bệnh thái độ đối với người bệnh
phải hết sức thương yêu thành khẩn, lời nói phải từ tốn nhẹ nhàng sao
cho bệnh nhân nghe hiểu rõ ràng để trong tâm người bệnh không có sự hoài
nghi. Trước hết người trợ niệm nên tán thán những công đức trong đời
người bệnh tạo được khiến bệnh nhân sanh tâm hoan hỷ; kế lại nói những
cảnh thù thắng vi diệu của thế giới Cực lạc khiến người bệnh sanh tâm an
ổn và khởi lòng chánh tín cầu sanh Tây phương. Người trợ niệm nên quán
sát bản thân họ xem họ như người bà con của mình. Bởi vì người bệnh tuy
không phải là thân tộc trong hiện đời nhưng hoặc một đời, hai đời, ba
đời trước cũng là bà con trong quá khứ, không thể cho rằng chúng ta với
họ không liên quan tình huyết thống. Người trợ niệm nếu có thể xem người
bệnh như là người bà con thì tâm trợ niệm niệm Phật lúc này mới có được
sự chí thành khẩn thiết vô cùng.
4. Trong phòng bệnh ngoại trừ người khai thị ra còn lại tất cả mọi người
không được phép đến bên người bệnh hỏi chuyện cũng không được ở trong
phòng bệnh nói chuyện tạp, nếu người bệnh nghe thấy sẽ phân tâm khiến
mất chánh niệm. Nếu có người bà con lối xóm muốn đến rờ rẫm thăm hỏi
người bệnh, người trợ niệm nên ngăn họ: “Ông đến đây là để trợ niệm cho
người bệnh niệm Phật phải không ? Nếu như vậy thì ông nên nghe theo lời
chỉ đạo của người trợ niệm, hầu tránh phát sanh sự chướng ngại cho
người bịnh”.
Còn bằng họ không phải đến để trợ giúp người bệnh niệm Phật, lúc đó tùy
thời đối quyến thuộc bảo họ mời những người này sang phòng khác để tiếp
đãi, hầu tránh cho người bệnh gặp mặt phát sanh tình ái dục niệm chướng
ngại chánh niệm. Đây là trách nhiệm của người trợ niệm không nên ngại
khó hay vị tình mà không làm. Nếu chúng ta để cho họ gặp người bệnh thì
làm cho duyên tình ái phát sanh chướng ngại chánh niệm, khiến cho người
chết không được vãng sanh và cũng không hợp với tông chỉ trợ niệm.
5. Niệm Phật bốn chữ hay sáu chữ, hoặc nhanh chậm cao thấp nhất định cần
phải hỏi qua ý người bệnh. Nếu lúc đó người bệnh không mở miệng trả lời
được thì tiếng niệm Phật không nên quá nhanh, nếu nhanh quá nghe không
rõ ràng; cũng không nên quá chậm nếu chậm quá tiếng niệm Phật sẽ rời rạc
làm cho người bệnh dễ rơi vào hôn trầm; cũng không nên quá cao nếu cao
quá người trợ niệm cũng khó niệm được lâu; cũng không nên quá thấp nếu
thấp quá người bệnh sẽ nghe không được rõ ràng. Vì thế tiếng niệm Phật
không nhanh không chậm không cao không thấp, mỗi câu mỗi câu trong trẻo
mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng khiến người bệnh mỗi câu mỗi câu đều lọt vào
tai, mỗi chữ mỗi chữ đều sanh tâm khoái lạc. Người trợ niệm niệm Phật
được như thế mới đúng cách thức trợ niệm.
Người trợ niệm nên nhớ không được tùy tiện theo ý mình, thích nhanh niệm
nhanh thích chậm niệm chậm, ưa cao niệm cao ưa thấp niệm thấp, nếu niệm
Phật như thế tuy có tâm trợ niệm nhưng người bệnh khó đạt được sự lợi
ích. Nên nhớ lúc trợ niệm là thời điểm người bệnh khí lực rất yếu bản
thân họ niệm Phật không nổi hoàn toàn nương nhờ vào câu hồng danh Nam mô
A Di Đà Phật do người khác niệm. Tiếng niệm Phật nếu rõ ràng trong suốt
khiến tâm người bệnh duyên theo tiếng niệm Phật, mỗi niệm mỗi niệm đều
quy hướng về câu hồng danh A Di Đà Phật.
Người trợ niệm nên quán sát hết thảy sự tình làm sao đừng để cho tâm
người bệnh dao động khiến họ đạt được chánh niệm niệm niệm tương tục,
một niệm sau cùng khi mạng chung sẽ tùy theo chỗ niệm Phật mà được vãng
sanh Tây phương. Bởi vì, người trợ niệm là người thay thế đức Như lai
đảm nhận trách nhiệm cứu độ chúng sanh liễu sanh thoát tử kia mà.
6. Trợ niệm qua một thời gian dài người bệnh đột nhiên tinh thần có sự
phân minh, sảng khoái lại có thể nói chuyện hoặc thở dài cho đến tay
chân cử động... Lúc đó người trợ niệm nên đặc biệt chú ý không để cho
bất cứ một ai đến thăm hỏi rờ rẫm. Nên nhớ, kể từ thời điểm xảy ra tình
huống này của người bệnh thì không quá hai giờ đồng hồ sau bệnh nhân sẽ
chấm dứt hơi thở. Ví như cây đèn dầu đang cạn dần ánh lửa đang từ từ tối
dần, đến lúc đèn hết dầu lúc đó ánh lửa đột nhiên lóe sáng khoảnh khắc
rồi tắt. Tất cả mọi người đến lúc chấm dứt hơi thở phần nhiều đều rơi
vào tình trạng này.
Thường thường hay xảy ra cảnh người trợ niệm niệm Phật lâu ngày, đến lúc
người bệnh đột nhiên tỉnh táo hoặc nói chuyện, thở dài... các tình huống
như thế xảy ra khi đó người trợ niệm chẳng có kinh nghiệm hay kiến thức
tương đương, lại làm cho người bệnh buồn phiền hoặc đình chỉ sự trợ
niệm. Vì vậy đối với cảnh xảy ra như thế người trợ niệm cần nên nhận
biết để làm cho người mạng chung được sự lợi ích.
Người trợ niệm đến nếu gặp người vừa mới chấm dứt hơi thở hoặc trải qua
một, hai, ba giờ đồng hồ, bấy giờ người trợ niệm không nên thăm dò hơi
nóng người chết. Người trợ niệm nên nhớ thời điểm này là thời điểm vô
cùng quan trọng khẩn thiết. Tốt nhất người trợ niệm trước nên lớn tiếng
khai thị qua một lần sau đó mới niệm Phật. Nhân vì người sau khi mới
chấm dứt hơi thở không luận bà con có than khóc hay không tâm người chết
thảy đều có sự sầu não. Nếu người trợ niệm lớn tiếng khai thị tâm người
chết có sự rõ biết. Do hiểu được lời khai thị tâm người chết có chỗ (
tiếng niệm Phật) để quy hướng, thứ nữa còn biết phát nguyện cầu sanh Tây
phương ( tâm hoan hỷ nghe Phật hiệu, sẽ phát nguyện cầu sanh Tây
phương).
Người trợ niệm khai thị cần phải lớn tiếng lời nói phải rõ ràng : “Ông
trong quá khứ đã gieo trồng các nghiệp lành cũng như đã tạo các nghiệp
ác, giờ phút này không nên nghĩ tưởng đến. Con cháu, tài sản trong nhà
tất cả ông đều nên buông bỏ một chút cũng không để nơi tâm. Lúc này ông
chỉ một lòng niệm hồng danh Phật A Di Đà