Trong
lòng sống chết vô tận
Ta đi mãi không dừng
Từ bào thai này sang bào thai khác
Đuổi theo người chủ ngôi nhà
(trong vòng luân hồi)
Chủ nhà ! Ta đã nắm được ngươi
rồi
Ngươi không cất nhà lại được
Cột kèo đã gãy hết
Mái, rường đã sụp đổ
Tâm lìa hết tạo tác
Tất cả đã diệt trừ xong
(giải thoát khỏi vòng luân hồi).
(Pháp cú - 153-154)
1.
Luân hồi - tái sinh:
Qua
bài kinh trên, chúng ta thấy rõ Đức
Phật đã xác định sự thật về luân
hồi một cách cụ thể qua hình ảnh tái
sinh (từ bào thai này sang bào thai khác).
Tái sinh (reincarnation) là sự trở lại
một đời sống mới hoặc cao hơn, hoặc
thấp hơn hoặc như cũ trong lục đạo
(trời, người, a tu la, địa ngục, ngạ
quy3, súc sinh) sau khi đã kết thúc một
chu kỳ sống (life cycles), hay cò gọi là
thọ mạng đã hết - chết.
Thông
thường, khi nói đến luân hồi - tái
sinh, trong phật giáo thường đề cập
đến hai khái niệm cơ bản về sự sinh
tử, đó là:
a.
Chu kỳ sinh tử của từng sát na
b.
Chu kỳ sinh tử của một đời sống
-
Về chu kỳ sinh tử của từng sát na, vì
nó diễn ra quá nhanh chóng như sự sinh ra
rồi mất đi của một làn chớp (điện
chớp) mà thuật ngữ Phật học gọi là
"niệm niệm - sinh diệt" (sư5 sinh
tử diễn ra trong từng ý niệm), do đó
vấn đề chỉ được bàn đến trên một
bình diện cao hơn, như trong thiền định,
hoặc các cảnh giới của tâm thức
v.v...
-
Về chu kỳ sinh tử của một đời sống,
do tính cách giới hạn của một chu kỳ
sống, nghĩa là có thể ghi nhận qua bốn
giai đoạn: sanh, lão, bệnh, tử và /
hoặc sinh thành (sinh), tồn tại (trụ),
biến chuyển (dị) và hoại diệt (diệt)
của một chúng sinh, nên chu kỳ này trở
thành chủ đề trung tâm khi nghiên cứu
về luân hồi-tái sinh.
Theo
quan điểm của Phật giáo, tất cả muôn
loài chúng sinh phải chịu sự chi phối
của định luật vô thường. Đối với
con người, vô thường chính là sự
biểu hiện của sinh, lão, bệnh, tử của
mỗi kiếp sống, và cứ mỗi kiếp sống
như thế đều được giới hạn bởi hai
d9ầu sinh và tử. Tuy nhiên, sinh và tử
chỉ là sự bắt đầu và hoàn tất của
một chu kỳ, Như thế, khi thân xác này
hủy hoại, cái gì sẽ tiếp tục tái sinh
- mở đầu một kiếp sống mới? Đây
là then chốt để tìm hiểu về luân hồi.
Kinh
trung bộ (Majjhima Nikaya - 135), Đức Phật
dạy rằng: "Con người là chủ nhân
của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp,
là quyến thuộc của nghiệp; nghiệp là
thai tạng mà đó con người được sinh
ra".
Từ
lời dạy trên, chúng ta thấy rằng
nghiệp (karma) luôn luôn có mặt cùng
với sự có mặt của con người. Và khi
chết, thì thân thể vật lý này tan
hoại, còn nghiệp vẫn còn tiếp tục
trôi lăn theo dòng trầm luân của nó
(hoặc thiện nghiệp, hoặc ác nghiệp).
Nhưng nghiệp không phải là linh hồn bất
tử để nối kết các kiếp sống, vì
bản thân nó là vô ngã. Tuy nhiên,
chính nghiệp là cơ sở, là điểm trung
tâm, để qua đó, vòng luân hồi xoay
chuyển. Vậy, nghiệp là gì?
Nghiệp
là hành động có tác ý, hay hành
động được phát sinh từ tâm; và
thông qua hành động của thân, miệng và
ý mà nghiệp được hình thành. Nói
đến nghiệp là nói đến thiện ác trong
tương quan nhân quả; và trong mối tương
quan đó, động cơ chính để kiến tạo
nghiệp là tham , sân, si (ác nghiệp) và
ngược lại là không tham, không sân,
không si (thiện nghiệp).
Từ
đây, chúng ta thấy rõ rằng, chính tâm
lý của mình là cơ sở để tạo nên
nghiệp của mỗi người. Con người là
kẻ quyết định cái nghiệp của mình -
cái định nghiệp do mình tạo tác. Và
cũng chính con người là kẻ duy nhất có
thể giải thoát mọi nghiệp lực của
mình, đi ra khỏi vòng luân hồi tái sinh.
2.
Nghiệp và tái sinh:
Trong
đạo Phật, nghiệp được trình bày gồm
nhiều loại, nhưng nghiệp cơ bản là thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Về
mặt tính chất, nghiệp được phân thành
bốn loại như sau:
a.
Cực trọng nghiệp (weighty karma):
nghiệp loại nặng như giết cha mẹ, giết
người v.v...
b.
Tập quán nghiệp (habitual karma):
nghiệp do thói quen hình thành.
c.
Tích lũy nghiệp (strored up karma):
nghiệp do tích tụ từ cuộc sông thường
ngày.
d.
Cận tử nghiệp (death-proximate karma):
nghiệp lúc sắp chết.
Như
đã trình bày, trong suốt vòng luân lưu
của sinh tử, tử sinh, từ đời sống
này sang đời sống khác, nghiệp bao giờ
cũng đóng vai trò trung tâm của sự
luân chuyển. Tuy nhiên, trong lĩnh vực
tái sinh (reincarnation), thì cận tử nghiệp
là điều kiệnn quan trọng nhất ảnh
hưởng trực tiếp đến sự tái
sinh.Cận tử nghiệp, trên một góc độ
nào đó, có thể nói là hệ quả
được cô kết trong suốt đời sống
của một kiếp người; đồng thời, nó
cũng là dòng nghiệp thức mạnh
nhất,thức đẩy thần thức của con
người trước, trong hoặc sau khi chết tìm
kiếm một sự tái sinh.
Thông
thường khi sinh tiền, con người làm
lành hay làm ác, các hành động (của
thân, miệng ý) đó đều được lưu
vào trong Tàng thức (Alaya) như những
hạt giống được gieo vào và nằm im
trong lòng đất, cho đến khi sắp chết
hoăc chết, thân thể và các quan năng
không còn hoạt động, lúc bấy giờ chỉ
có tâm thức hoạt động. tuy nhiên, tâm
thức lúc đó không phải là tâm thức
ở trạng thái định tĩnh, tự chủ, linh
hoạt v.v.., mà trái lại nó rơi vào
trạng thái bất tỉnh, hôn mê, hoảng
hốt, phách lạc hồn xiêu ...Và ngay lúc
bấy giờ, mọi tạo tác của con người,
hoặc thiện hoặc ác (còn gọi là thiện
nghiệp hoặc ác nghiệp), từ trong qua1
khứ (khi còn sống) sẽ tạo thành dòng
nghiệp thức gồm những ý lực cực
mạnh để thôi thúc thần thức của con
người đi tìm cảnh giiới tái sinh. Cần
lưu ý rằng, các tập quán, thói quen,
nhất là sự luyê1n ái, chấp thủ khi
còn sống sẽ ảnh hưởng rất lớn đến
cận tử nghiệp. Do đó, nếu sống an lạc
thì cũng chết an lạc. Sống còn khổ đau
vì tham, sân, si thì đương nhiên chết
cũng khổ đau như thế. Vì sống và chết
chỉ xuất hiện trên một tiến trình, như
thức và ngủ. Vì vậy, để có sự
giải thoát, ngay tại đây và bây ggiờ,
cần phải luôn luôn hướng tâm đến
với sự xả ly thanh tịnh, xoá bỏ mọi
sự tham ưa và bám víu. Thánh nhân có
dạy rằng: "Thế gian như một con
thuyền, hãy đi trên nó chứ đừng mang
vác...".
Từ
một vài chi tiết trên, chúng ta thấy
rằng sự sống và sự che61t của con
người có được an lạc hay không là
tùy thuộc vào dòng tâm thức của mỗi
cá thể. Sau khi thọ mạng đã hết -
chết, thì thân xác sẽ tan hoại, nhưng
dòng nghiệp thức (thần thức) sẽ tiếp
tục đi vào các đời sống mới trong
sáu cõi: trời, người, a tu la , địa
ngục, ngạ quỷ và súc sanh, tùy theo
nghiệp lực thiện hay bất thiện.
3.
Nghiệp thức - sinh và tái sinh:
Theo
kinh Trung Bộ (tập I), sự xuất hiện của
con người bao giờ cũng hội đủ 3 điều
kiện: a. Cha mẹ có gaio hợp; b. Người
mẹ có thể thụ thai; và c. Phải có mặt
nghiệp thức. Nếu không có mặt nghiệp
thức thì thai nhi không thể sống.
Về
nghiệp thức (karmic consciousness), còn
được gọi là hương ấm, hay là Kiết
sinh thức (Gandhabha). Khi điều kiện hội
đủ và do nghiệp chiêu cảm mà kiết sinh
thức đi vào thai mẹ; lúc bấy giờ,
Kiết sinh thư1c cảm như là "ý niệm
tối sơ; của một đời sống mới. Cho
đến khi chết, cũng dòng nghiệp thức
ấy thúc đẩy tìm kiếm tái sinh, nên
được gọi là "nghiệp dẫn tái
sinh". Thực ra, cả sự sinh và tái
sinh đều được căn cứ trên dòng vận
hành của nghiệp thức. Và từ sinh cho
đến tái sinh (sau khi chết), trong suốt
quá trình đó, đời sống của một sinh
thể được hình thành qua cơ cấu của 12
Nhân duyên: vô minh - duyên hành, hành
duyên thức, thức duyên danh sắc, danh
sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên
xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái
duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên
sinh, sinh duyên lão, tử, sầu, bi, khổ,
ưu não... (về ý ngghĩa của 12 Nhân
duyên, sẽ được giới thiện sau. Như
vậy, 12 nhân duyên chính là sự hiện
hữu của con người. Và trong 12 Nhân
duyên, các chi phần vô minh, hành, thức
và danh (sắc) là các yếu tố của
nghiệp dẫn tái sinh.
4.
Các quan niệm về chết và thân trung ấm:
Trong
Nikàya đề cập đến sự chết cụ thể
như sau: thứ nhất là chết sắc thân
đoạn diệt, hai là chết do thọ mạng đã
hết, và do nghiệp ở đời đã hết.
Bên cạnh đó, còn có trường hợp
chết đột ngột (bất đắc kỳ tử, chưa
đến lúc mà chết). Nhìn chung, sự chết
được xem như là sắc thân (cơ thể)
đã đoạn diệt.
Một
vấn đề khác nữa là trung ấm. Theo một
số chủ thuyết của Đông sơn bộ, Chính
lượng bộ thuộc Hữu bộ cho rằng, sau
khi chết và trước khi tái sinh, oở
giữa đó là thân trung ấm (trung gian).
Thời gian của thân này là thời gia
chuẩn bị tái sinh, nó kéo dài không
quá 49 ngày (theo Thiết Ma Đạt Đa). Có
thể do ảnh hưởng của không quá niệm
này mà có tục lệ cúng thất - thất
trai tuần (7 x 7 = 49 ngày).
Tuy
nhiên, theo Nikàya và A Hàm thì từ
"tử tâm" cho đến "kiết sinh
tâm" chỉ diễn ra trong vòng một đến
hai sát na (tích tắc), do đó không cần
có thân trung ấm (trung hữu).
Thật
ra, theo người viết nhận định, thân trung
ấm cũng là một thân vi tế (tịnh sắc
thân), một cảnh giới trong hằng hà sa
thế giới; và đương nhiên nó cũng vô
thường, biến dị, cũng luân hồi sinh
diệt. Vì thế, không có gì mâu thuẫn
giữa "tử tâm" và "kiết
sinh tâm" trong Nikàya với quan điểm
có hay không có quan điểm sắc thân trung
ấm. Vì lẽ, thời gian 49 ngày cho một
thân - thức đương nhiên không có gì
vô lý khi tại trần gian có những đời
sống dài nhất chỉ một vài ngày, như
loài muỗi mòng v.v...
5.
Để có một sự chết trong thanh bình - an
lạc:
Đây
là vấn đề trọng yếu của con người,
Như đã đề cập, sống và chết cũng
như thức và ngủ, vậy thôi. Chúng ta
không nên quan tâm quá đáng về cái
chết, vì ai cũng chết. Nhưng điều đáng
quan tâm hơn là sống và sống như thế
nào để lúc chết được bình an. Vì lẽ
đó, đối với Phật tử cần phải sống
giữ tâm linh trong sạch, đừng làm
điều gì gây khổ đau cho chính mình và
cho kẻ khác, nhất là phải luôn luôn ý
thức rằng cuộc đời là vô thường,
"trần gian này là chiếc cầu, hãy đi
qua nó chứ đừng xây nhà trên
nó". Cho đến khi nào tâm được
trong sạch, thanh bình, không còn luyến
tiếc, không còn bám víu vào bất cứ
điều gì, dầu gia tài sự nghiệp, dầu
vợ đẹp con ngoan v.v..., thì khi đó sự
chết của bạn như lên thuyền sang sông,
giải thoát mọi khổ đau, chết trong sự
bình an phúc lạc. Đức Phật dạy:
"Bỏ
quá khứ, hiện tại và vị lai
Đến bên kia cuộc đời
Ý giải thoát tất cả
Chớ vướng bận sinh, gia, bệnh,
chết"
C.
Kết luận:
Tìm
hiểu về luân hồi là để sống được
an nhiên, tự tại. Chúng ta không cố tìm
gặp luân hồi, vì luân hồi đang trôi
chảy ngay trên thân của mỗi con người,
như dòng máu luân lưu. Cái khổ đau
nhất của người đời là tham muốn và
nắm giữ các đối tượng "của
tôi" và của "cái tôi thích,
tôi yêu". Bạn có thể tập buông
bỏ từ từ cái tâm lý tham muốn và
nắm giữ đó, nhưng nếu một mai...khi vô
thường đến, thần chết đến hỏi bạn
thì bạn hãy ngay lập tức hướng tâm
đến sự từ bỏ tất cả, sự không
tham luyến tất cả, sự thanh tịnh bình an,
sự chánh niệm tỉnh giác; vì đó là
điều kiện tối cần thiết cho sự tái
sinh vào một đời sống tốt đẹp hơn
và cao cả hơn. Và để làm được
điều đó ngay bây giờ và ở đây,
bạn hãy thực tập tư duy về vô
thường - vô ngã.
"Ta
còn để lại gì không
Kìa non đá lở, nọ sông cát bồi
Lang thang từ dộ luân hồi
Vô minh nẻo trước xa xôi dặm
về..."
(Vũ Hoàng Chương)
Câu
hỏi hướng dẫn ôn tập
1.
Luân hồi là gì?
2.
Cái gì thúc đẩy chúng sinh đi vào luân
hồi?
3.
Bạn hiểu như thế nào về thân trung ấm?
4.
làm thế nào để thoát ly luân hồi sinh
tử?