"Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý nhiễm ô (ác)
Nói năng hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như chiếc xe theo chân con vật
kéo". (Dhp 1)
" Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý thanh tịnh (thiện)
Nói năng hay hành động
An lạc bườc theo sau
Như bóng không rời hình". (Dhp 2)
Qua bài kinh trên, chúng ta
nhận rõ rằng chính mối tương quannhân
quả từ nơi tâm ý của con người đã
hình thành nên cái nghiệp thiện hay ác
mà con người phải thọ nhận. Vì thế,
Đức Phật dạy về nghiệp là nhằm
đánh thức con người thức tỉnh nơi
tâm ý của chính mình (tự tịnh kỳ ý)
để từ đó đi vào một đời sống an
lạc giải thoát.Tất nhiên, cái mà gọi
là nghiệp ở đây là những gì thuộc
pháp hữu lậu (nghiệp hữu lậu), tức
là những gì thuộc thiện - ác, khổ đau
- hạnh phúc v.v...nó găn liền với
đời sống đạo đức, luân lý của con
người, với những cảm thọ vui buồn -
khổ lạc, mà không phải là những gì
thuộc vô lậu - giải thoát. Do đó, trong
một số trường hợp, khi các kinh văn
đề cập đến nghiệp và lậu, chúng ta
cần hiểu rằng đó là một lối diễn
đạt nhằm phân biệt giữa cái thiện,
ác và cái đã thoát ly mọi ý niệm
về thiện, ác. Chẳng hạn, tham - sân - si
là nghiệp bất thiện, nghiệp ác; nhưng
tự thân không tham - không sân - không
si là cái nghiệp thiện, hay cái nghiệp
thanh tịnh - giải thoát. Bởi lẽ,thanh tịnh
- giải thoát tự bản thân nó đã
thoát ly mọi khái niệm thiện - ác, hữu
- vô. Do vậy, khi bàn đến nội dung của
nghiệp , ở đây chúng ta chỉ thuần túy
nói đến nghiệp thiện và nghiệp ác,
tức là nghiệp hữu lậu mà không nói
đến nghiệp vô lậu. Cố nhiên, định
nghĩa "Nghiệp là hành động có tác
ý, hay hành động được phát sinh từ
tâm" chỉ được dùng cho tất cả
nghiệp hữu lậu., tức là mọi vấn đề
liên quan đến thiện và ác.
III) PHÂN LOẠI NGHIỆP:
Thông thường, nghiệp
được tạo tác trện cơ sở của thân,
khẩu và ý. Tất nhiên, cả ba nghiệp
trên đều xuất phát từ ý hay còn gọi
là tâm. Như thế, khi xét đến nghiệp
của một von người là xét đến thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Ngoài
ba nghiệp này, không còn một cái nghiệp
nào khác. Tuy nhiên, nghiệp có những
tính chất và chức năng khác nhau nên
chúng được phân làm nhiều loại và
có nhiều tên gọi khác nhau.
1) Phân loại 1 (theo tên
gọi)
Theo trình tự, trước hết,
giáo lý về nghiệp được chia thành hai
loại:
a/ Nghiệp thiện:
Tư duy và hành động về các điều lành
như thực hành Ngũ giới và Thập thiện
giới.
b/ Nghiệp ác: Tư
duy hành động về các điều lành như
thực hành những điều trái ngược
với Ngũ giới và Thập thiện giới.
Từ hai loại nghiệp trên,
chúng ta phải xét đến quá trình tạo
tác, tư duy và hành động để hình
thành nên nghiệp (thiện hay ác). Do
đó,nếu xét về tiến trình của nghiệp
(process of karma) thì nghiệp được chia
thành hai loại nữa:
a/ Nghiệp nhân:
Những tư duy, hành động tạo nghiệp chưa
đưa đến một kết quả. b/ Nghiệp
quả: Những tư duy, hành động tạo
tác sau một tiến trình đã tạo thành
nghiệp, còn gọi là nghiệp quả hay
nghiệp báo.
Trong thực tế, khi nói đến
nghiệp, hàng Phật tử thường chú
trọng đến nghiệp báo (nghiệp quả) hơn
là nghiệp nhân. Và đây là chỗ thiếu
sót của chúng sanh khi đối diện với
nghiệp. Và cũng chính điều này khiến
cho chúng sanh quan tâm đến quả báo hơn
là gieo nhân. Nghiệp quả hay nghiệp báo
còn được gọi là quả dị thục (nghiệp
đã chín muồi).
2) Phân loại 2 (theo
tiến trình)
Xét theo tiến trình (từ
nhân đến quả) của nghiệp thì có hai
loại nghiệp cơ bản:
a/ Định nghiệp:
Là nghiệp được lưu chuyển trong thời
gian ổn định và từ nhân đến quả
thống nhất với nhau. Ví dụ, trứng gà
sau khi được ấp trong một thời gian sẽ
nở ra con gà. Nói chung, các nghiệp nhất
định sẽ đưa đến kết quả (như ăn thì
sẽ no) thì được gọi là định nghiệp.
b/ Bất định nghiệp:
Là nghiệp không dẫn đến kết quả,
hoặc kết quả sẽ thành tựu trong thời
gian bất định, hoặc có thể giữa kết
quả và nguyên nhân không hoàn toàn
thống nhất với nhau, thì được gọi là
bất định nghiệp.
3) Phân loại 3 (theo
thời gian)
Nếu căn cứ theo thời gian,
chúng ta nhận ra hai loại nghiệp, một đã
chín muồi và một đang và sẽ diễn tiến
trong dòng nghiệp tạo tác:
a/ Nghiệp cũ: Là
nghiệp đã được tích lũy từ nhiều
đời sống quá khứ, và hiện tại nó
đã chín muồi. Chẳng hạn thân thể của
ta (cao, thấp, mập, ô1m ,thông minh, ngu
đần, hạnh phúc hay bất hạnh v. v...)
ngày nay là do cái nghiệp đã được
gieo từ trong vô thủy. Các nghiệp quả (y
báo và chánh báo) của thân này là
quả dị thục của các nghiệp từ vô
thủy. Ngoài thân này, không hề có một
cái nghiệp riêng lẻ, cũ xưa nào khác.
b/ Nghiệp mới:
Nếu như thân thể này là nghiệp cũ thì
mọi tao tác đang làm và sẽ làm của ta
ngày hôm nay là do các tạo tác trước
đó. Và sự thành đạt của ngày mai
như thế nào sẽ tùy thuộc vào tư duy
và hành động của ngày hôm nay. Kinh
Tương Ưng IV, Đức Phật dạy: "Mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân và ý là nghiệp
cũ. Các hành động của mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý trong hiện tại là
nghiệp mới".
Trong Truyện Kiều, thi hào
Nguyễn Du đã chỉ rõ cái nghiệp cũ và
mới của con người:
"Sư rằng phúc họa đạo
trời
Cõi nguồn cũng ở lòng người mà
ra
Có rtrời mà cũng có ta
Tu là cội phúc, tình là dây oan"
Họa và phúc (thiện, ác)
là đạo trời, nhưng cái đạo trời ấy
cội nguồn của nó chính là ở tại
lòng người (tâm,ý) mà sinh ra. Và
trời ở đây là nghiệp cũ, còn ta
chính là nghiệp mới.
4/ Phân loại (theo tính
chất)
Như đã trình bày, nghiệp
báo là sự chín muồi (quả dị thục)
của các nghiệp thuộc về bất thiện. Do
đó, khi nói đến nghiệp báo (nghiệp
quả) là nói đến tiến trình nhân - quả
của nghiệp. theo giáo lý về nghiệp, một
nhân không thể tạo thành một quả, mà
phải có các duyên phụ trợ. Cho nên,
nói đủ phải nói là nhân - duyên -
quả. Duyên là các nhân phụ làm cho
nhân chính thành quả; như nước, phân,
đất, sự cần mẫn chăm bón của con
người (là các duyên) làm cho hạt
giống thành tựu nảy nở. Vì thế, khi
tìm hiểu về quả dị thục (sự chín
muồi) của nghiệp, ta phải tìm hiểu về 3
đặc tính sau:
a/ Dị thời di thục:
Thời gian chín muồi của nghiệp quả khác
với thời gian tạo nghiệp (nghiệp nhân).
Ví dụ như trái xoài, thời điểm khi sinh
ra cho tới khi nó chín muồi là khác nhau
(khác thời mà chín).
b/ Dị loại nhi thục:
Kết quả bị biến chất (dị loạ) so với
thời gian mới tạo nghiệp. Ví dụ, trái
xoài khi nhỏ thì chua nhưng khi chín thì
ngọt (biến chất rồi mới chín).
c/ Biến di nhị thục:
Kết quả bị biến thái và biến tướng
(biến dị) so với thời gian mới tạo
nghiệp. Ví dụ trái xoài non thì màu xanh,
đến khi chín thì màu vàng.
5) Phân lọai 5 (theo
năng lực)
Năng lực của nghiệp
được hình thành theo từng loại nghiệp
khác nhau trong một tiến trình tâm lý
rồi đưa đến sự hình thành các đặc
tính của nghiệp.
a/ Tập quán nghiệp:
Là nghiệp được huân tập bởi một
thói quen trong đời sống hàng ngày. Có
thể đó là thói quen thuộc tâm lý,
hành vi, cách ứng xử v.v...Ví dụ, hút
thuốc lá là một Tập quán nghiệp.
b/ Tích lũy nghiệp: Là
các nghiệp được tích lũy dần như rót
nước vào thùng, có thể xem thân của
ta như là một tích lũy nghiệp từ vô
thủy.
c/ Cục trọng nghiệp:
Là các nghiệp gây a61n tượng xấu ác
cực mạnh và sâu trong tâm lý của con
người như phạm các tội ngũ nghịch
(giết cha, mẹ (giết người) v.v..).
d/ Cận tử nghiệp:
là nghiệp lúc sắp chết hay những sức
mạnh tâm lý của con người trước lúc
tắt thở. Nghiệp này cực kỳ hệ trọng
trong việc hướng dẫn nghiệp thức đi
tái sinh. Những tư tưởng cuối cùng
của người chết sẽ tạo nên một cận
tử nghiệp (thiện hoặc bất thiện). Một
người có thể suốt đời làm ác,
nhưng trước lúc tắt thở, nỗ lực sinh
khởi về thiện pháp, về những điều
thiện trong đời, và nhờ ý lực đó
có thể tái sinh vào cõi tốt đẹp
(tương tự như vậy đối với các
trường hợp ngược lại). Từ đó, qua
những kinh nghiệm cận tử, chúng ta cần
huân tập các thiện nghiệp trong đời
sống của mình để tạo thành một sức
mạnh (ý lự) đoạn trừ các ác nghiệp
ngay trong đời sống hàng ngày và cả
đến giờ phút lâm chung.
6) Một số danh từ về
nghiệp mà bạn cần biết
-Bạch nghiệp (nghiệp trắng):
các nghiệp thiện
-Hắc nghiệp (nghiệp đen) các nghiệp
ác
-Phi hắc bạch nghiệp: các hành động
duy tác (không thiện không ác)
-Biệt nghiệp: nghiệp riêng của mỗi
người
-Cộng nghiệp: nghiệp chung của tập
thể(gia đình)
-Thánh nghiệp: nghiệp đưa đến thánh
đạo
-Duy tác nghiệp: nghiệp không có sanh y
(không có quả)
-Chướng nghiệp: nghiệp cản trở sự
kết thành của quả
-Đoạn nghiệp: nghiệp tiêu diệt các
năng lực sanh nghiệp
IV) THÁI ĐỘ TÂM LÝ
TIẾP THỌ NGHIỆP:
Đây là một vấn đề vô
cùng quan trọng trong giáo lý nghiệp báo.
Vì mỗi người đều có cái nghiệp
riêng do vô minh, ái thủ đã tạo nên,
do đó đương nhiên phải đối diện với
quả báo của mình. Sự trốn tránh
nghiệp lực là điều vô ích. Cụ Nguyễn
Du, trong Truyện Kiều đã nói rằng:
"Đã mang lấy nghiệp
vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần
trời xa
Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ
tài"
Vì thế, vấn đề quan trọng
được đặt ra đối với người đang
trên đường tu tập không phải là
nghiệp mà chính là thái độ tâm lý
tiếp thọ nghiệp. Kinh Nipata, Đức Phật
dạy rằng: "Người đã tiêu diệt
ải kiến, phá tan lớp tối tăm dày
đặc trong tâm sẽ không còn thênh thanh
di mãi. Đối với người ấy, vấn đề
nhân quả (nghiệp báo không còn
nữa".
Đoạn kinh trên cho ta thấy
rằng tâm lý của người giải thoát sẽ
hhóa giải mọi nghiệp của chính họ,. Như
một nhà sư vô cớ bị tù, ở trong tù
mà lòng thì vô cùng bình an, không hề
dao động; nghĩa là nhà sư ấy không còn
bị nghiệp lực chi phối nữa. Chẳng hạn,
cùng một hành động xảy ra đối với
hai người nhưng thái độ thọ nhận hành
động (nghiệp)thì hoàn toàn khác nhau như
trường hợp "nhà giàu đứt tay
bằng ăn mày đổ ruột". Do đó,
đối vớ nghiệp,thái dộ tâm lý của
người tiếp thọ thì quan trọng hơn là
chính cái nghiệp ấy. Ngài Huyền Giác,
trong Chứng đạo ca, bảo rằng: "Sát
na diệt khước A Tỳ nghiệp", có
nghĩa là khi đã giác ngộ thì mọi
nghiệp chướng (nặng như A Tỳ) trong tích
tắc cũng đều băng tiêu. Vì lý do này,
nên trong kinh thường nói đến thọ
nghiệp (chịu đựng nghiệp) và phi thọ
nghiệp (không bị chi phối bởi nghiệp).
* Kết luận
Đức Phật dạy rằng:
"Không ai làm cho ta nhiễm ô, cũng
không ai làm cho ta trong sạch; trong sạch
hay ô nhiễm là tự nơi ta, chỉ có ta
làm cho ta ô nhiễm,chỉ có ta làm cho ta
trong sạch" (Dhp). Lời dạy trên đã
mở ra con người một hướng đi rất
chủ động trong việc tạo nên một đời
sống an lạc giải thoát ngay tại cuộc
đời này.
CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN
TẬP
1/ Nghiệp là gì?
2/ Có bao nhiêu loại nghiệp cơ bản?
3/ Hãy trình bày cách phân loại
nghiệp.
4/ Hãy trình bày vai trò của thái
độ tâm lý tiếp thọ nghiệp.
-- o0o --
| Mục lục tác giả|
Cập nhật ngày: 01-10-2001