Làm Lại Thâm Tình
Thích Nhất Hạnh
1. Miệng núi lửa
Có
một cô thiếu nữ người Pháp, sinh ra ở một tỉnh cách làng Hồng
độ chừng hai trăm cây số. Khi lớn lên, tới 19 tuổi, cô bỏ gia
đình, bỏ nước Pháp, đi sang nước Anh để sinh sống. Người thiếu
nữ Pháp đó giận mẹ, giận gia đình, giận luôn cả tổ quốc. Cô
sang bên Anh sống như vậy luôn hai mươi năm. Hồi còn bé cô có
bệnh, đã phải đi bệnh viện và giải phẩu nhiều lần. Bà mẹ cũng
đã cố gắng làm đúng bổn phận của bà mẹ. Nhưng theo cô, bà mẹ
đã không hết lòng lo cho cô. Có lẽ bà mẹ cũng có nhiều đau khổ
và nhiều vấn đề. Thành ra hai mẹ con lục đục và không thương nhau.
Cô gái nghĩ là bà mẹ không thương cô hết lòng. Còn bà mẹ thì
nghĩ rằng mình làm như vậy là đủ quá rồi, tại vì chính bản thân
mình cũng còn nhiều khổ đau và nhiều vấn đề quá. Hai mẹ con có
nội kết với nhau và đã gây khổ đau cho nhau. Hai mẹ con đã leo thang
trong sự làm khổ nhau, đã tưới tẩm nội kết của nhau. Trong những
năm gần đây, cô bỗng thấy nhớ mẹ và muốn trở về để hòa
giải với mẹ. Dầu sao những hạt giống của tình thương và của bổn
phận làm con vẫn còn trong lòng cô gái đó. Và bà mẹ, tuy có
giận con, nhưng cũng đã âm thầm mong con trở về.
Bà
cứ tâm tâm nguyện nguyện là con gái trở về thì mình sẽ cố gắng
ăn nói thật nhẹ nhàng và thật dịu dàng để hai mẹ con có thể
làm hòa với nhau. Rồi bà nghĩ nếu trong tương lai có con gái sống
bên mình thì thế nào hai mẹ con cũng có an lạc, có an ninh và có
thoải mái hơn. Cô gái cũng vậy, cô cũng muốn trở về với mẹ,
muốn dung ngôn ngữ hòa ái để làm hòa với mẹ, để thỏa mãn
cái ước ao sâu kín trong lòng cô. Hai mẹ con đều có ý muốn hòa
giải. Không ai bắt buộc họ làm điều này. Không phải do Chúa bảo,
không phải do Bụt bảo, cũng không phải do Thầy bảo. Chính do cái
lương tâm của mình thúc đẩy. Lương tâm ở đây là hạt giống
tình thương mẹ con nằm sâu trong tâm thức của cả hai người. Rồi
hai mẹ con gặp lại nhau. Khi mới gặp, họ bắt đầu nói những câu
khá dễ thương.
Nhưng
sau đó hạt giống giận hờn cũ nổi dậy. Hai mẹ con lại bắt đầu
cãi nhau. Và hai mẹ con lại giận nhau như cũ. Người con gái lại
phải ra đi. Mấy tháng sau, người con gái lại muốn trở về, lần
nấy quyết chắc mình sẽ thành công hơn. Cái ý chí muốn trở về
với mẹ, muốn hòa giải với mẹ rất mạnh. Nhưng cả hai thất bại.
Lần thứ ba rồi lần thứ tư cũng thế. Lần thứ mười cũng thế.
Hễ hai người gặp nhau là có sự bùng nổ, dù cả hai mẹ con đều
không muốn như vậy. Ý chí muốn hòa giải rất mạnh nơi hai người,
nhưng sự hòa giải đã không thực hiện được. Mình thử đặt
câu hỏi tại sao?
Bụt
thường nói tới ba nghiệp. Ba nghiệp tức là thân nghiệp, khẩu
nghiệp và ý nghiệp. Thân nghiệp là hành động của thân thể, khẩu
nghiệp là hành động của ngôn ngữ, và ý nghiệp là hành động
của tư tưởng, của tâm niệm. Mình thử hỏi xem trong ba nghiệp đó,
nghiệp nào đã chịu trách nhiệm về sự thất bại của hai mẹ con?
Cái ý chí muốn hòa giải, cái thân cũng đã làm được chuyện
hòa giải, tức là đã lên xe lửa đi về tới Pháp. Nhưng cái
miệng hình như chưa giỏi. Lạ lắm, ban đầu hai mẹ con nói những câu
rất cảm động với nhau:
"Lâu
quá không được gặp mẹ", " Lâu quá con mới trở về. Mẹ
mừng lắm."
Những
câu rất hay, những câu có thể rơi nước mắt người ngoài và
chính đương sự. Như vậy tức là thiện nghiệp chứ gì. Nhưng nói
chuyện một hồi thì những hạt giống xa xưa của khổ đau, của giận
hờn ở trong tâm thức dần dần nổI dậy. Và miệng của cô thiếu
nữ cũng như miệng của bà mẹ đã trở thành hai cái miệng của
núi lửa. Hỏa Diệm sơn là gì? Hỏa Diệm sơn là một trái núi phun
lửa. Mà lửa ở đâu? Lửa nằm trong lòng đất. Những lúc bình
thường thì miệng núi lửa rất là mát, có sương và mây bao phủ.
Nhưng khi núi sắp phun lửa thì có những chấn động ở bên trong. Khi
lửa được phun ra thì tất cả những cây cối trên sườn núi bị
đốt cháy. Nham thạch chảy xuống và tiêu diệt tất cả những làng
mạc ở dưới chân núi.
Như
vậy có phải là lỗi của miệng núi hay không? Phải. Miệng núi có
trách nhiệm thật, nhưng nếu trong lòng đất không có những khối
lửa vĩ đại thì làm sao cái miệng ấy có thể phun ra biết bao nhiêu
lửa đốt cháy tất cả cây cối trên sườn núi và nhà cửa
dưới chân núi? Cho nên chúng ta không thể nói rằng khẩu nghiệp
ở đây là căn bản vì khẩu nghiệp. Ta nói ra những điều làm cho
mất tình , mất nghĩa, ta nói ra những điều gây ra những khổ đau và
khối nội kết trong lòng người kia và chính trong lòng mình. Nhưng
khẩu nghiệp có liên hệ tới ý nghiệp. Mà ý nghiệp đây không
phải chỉ là tâm ý phần trên mà là tâm ý phần dưới, tức là
tàng thức, hoặc a-lại-gia.
Trong
thiền viện, người tu học phải rất ý thức về cái tai hại khi nói
năng không có chánh niệm. Nếu ta nói năng không có chánh niệm,
nếu ta không nắm vững khẩu nghiệp thì ta gây sự đổ vở, không
phải ở xung quanh ta mà thôi mà còn chính ở trong lòng ta. Cho nên ta
mới có câu chân ngôn để giúp cho thanh tịnh khẩu nghiệp, gọi là
tịnh khẩu nghiệp chân ngôn. Tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, tát
bà ha. Quý vị nào thực tập câu chân ngôn đó nhiều thì
hãy báo cáo coi thử nó có thể làm thanh tịnh khẩu nghiệp mình hay
không? Tôi nghĩ khẩu nghiệp của mình không thể nào trở thành thanh
tịnh được nếu thân nghiệp và ý nghiệp của mình không thanh tịnh.
Vì vậy cho nên lại có một câu chân ngôn, nhắc tới làm thanh tịnh
không những chỉ là khẩu nghiệp, mà cả thân nghiệp và ý nghiệp
nữa. Ùn ta phạ bà phạ truật đà ta phạ đạt ma ta phạ bà phạ
truật độ hám.
Riêng
tôi, tôi chỉ thực tập làm thanh tịnh tam nghiệp bằng các phương
pháp quán niệm hơi thở, thiền hành thiền tọa, những phương pháp
mà quý vị đã học được ở Làng Hồng. Tại Việt Nam, chúng ta có
một pháp môn rất hay để thực tập thanh tịnh khẩu nghiệp và đồng
thời cũng có thể làm thanh tịnh ý nghiệp. Đó là phương pháp Tịnh
Khẩu. Tịnh Khẩu tức là không nói nữa. I vow not to speak any more.
Không nói thì có an ninh hơn nhiều. Ở trên núi Madona gần tu viện Kim
Sơn, có một trung tâm tu học mà ngườI chủ trương là một thầy Ấn
Độ. Vị thầy này thực tập tịnh khẩu suốt đời. Hiện bây giờ
ông vẫn còn ở đó. Nếu quý vị lên thăm trung tâm thì tuy không
nói chuyện với ông nhưng quý vị có thể gặp, có thể thấy mặt,
và có thể được ông tiếp trà. Thỉnh thoảng,muốn nói cái gì thì
ông viết ra một câu rồi ông đưa cho mình đọc. Ông không bao giờ
mở miệng nói. Đó là một người lập nguyện tịnh khẩu suốt
đời.
Nhưng
chúng ta gặp rất nhiều thầy, nhiều sư cô và nhiều người Phật
tử phát nguyện tịnh khẩu trong vòng ba tháng, hay sáu tháng, hay
mười lăm ngày. Phương pháp đó là một phương pháp rất hay. Nếu
muốn thử thì xin quý vị hãy thử. Mình thử thực tập độ chừng
một tiếng đồng hồ là đã thấy có kết quả rồi. Nếu quý vị
thử được bảy ngày thì kết quả ấy có thể trông thấy rất rõ
ràng. Thực tập cho sâu sắc thì quý vị có thể đạt được kết
quả rất mau chóng. Pháp môn tịnh khẩu chuyển hóa không những khẩu
nghiệp, mà còn chuyển hóa cả thân nghiệp và ý nghiệp nữa. Sống
trong một đoàn thể như trong một gia đình hay trong một tăng thân tu
học thì trước khi khởi sự thực tập tịnh khẩu, quý vị phải báo
cho người ta biết. Nếu không người ta có thể tưởng quý vị đang
giận người ta, người ta cho rằng chính mình khinh người ta. Mình báo
cho những người ở trong nhà mình biết và yêu cầu những người
trong nhà yểm trợ mình trong thời gian mình tịnh khẩu. Những lúc cần
thiết, ta có thể dùng ngôn ngữ của hai bàn tay để truyền thông.
Nếu cần ta cũng có thể ta dùng chữ viết. Dùng hai bàn tay và chữ
viết thì có an ninh nhiều hơn, vì trong khi viết, ta có thì giờ để
quán chiếu những cái ta đang viết xuống. Còn trong khi nói ta có thể
có nhiều rủi ro hơn.
Người
tu chánh niệm vững chãi có thể có ý thức và quán chiếu về
những điếu mình đang nói. Những người mà chánh niệm chưa vững
chãi dễ bị cái nói của mình kéo mình theo. Ta nói những điều mà
chính ta không muốn nói. Lúc ban đầu ta quyết tâm không nói những
điều đó. Lúc ta bắt đầu nói, ta cũng quyết tâm không nói những
điều kia. Nhưng không biết vì ma xui quỷ khiến như thế nào mà càng
nói ta càng đánh mất chủ quyền, và chính ta bị những lực lượng
rất ma quái kéo đi. Những lực lượng ma quái đó là những lực
lượng nào? Đó là những khối đau ở trong tiềm thức của mình.
Nó là những nội kết có sẵn. Những cái đó mạnh hơn mình. Cela
est plus fort que moi.
Nếu
muốn thực tập tịnh khẩu ta phải biết rằng thực tập tịnh khẩu có
lợi cho mình. Tịnh khẩu là làm thanh tịnh khẩu nghiệp. Nó có ích
lợi cho mình và có ích lợi cho những người xung quanh mình. Nó
tránh sự gây đỗ vỡ. Trong thời gian tập tịnh khẩu đó, ta nhắm
tới sự chuyển hóa. Không phải ta thực tập tịnh khẩu trong ba tháng
để chỉ có an ninh trong ba tháng. Không, ta muốn có an ninh nhiều hơn
trong ba tháng. Vì vậy cho nên trong ba tháng tịnh khẩu, ta phải thực
tập chuyển hóa để sau khi ta chấm dứt tịnh khẩu thì an ninh đó có
thể kéo dài.
Muốn
như vậy, ta phải có phương pháp. Trước hết ta thấy được nhu cầu
muốn tịnh khẩu của mình. Ta biết rằng trong một tăng thân tu học,
trong một gia đình tin Phật, sự phát nguyện tịnh khẩu ba ngày, năm
ngày, mười ngày, mười lăm ngày được coi như là một phương
pháp tu học đứng đắn rất đáng được khuyến khích. Cho nên ta
không ngần ngại nói với những người trong gia đình của ta hay trong
tăng thân của ta là ta muốn xin phép được tịnh khẩu trong vòng bao
nhiêu ngày đó. Trong những ngày ấy, nếu có người gọi điện
thoại tới cho mình thì một người trong gia đình hoặc trong tăng thân
nói: "em nó đang tịnh khẩu, có muốn nhắn gì thì nhắn đi, tôi
sẽ viết lại trên một mảnh giấy và sẽ đưa lại cho em." Vì vậy
ta cần sự yểm trợ của những người trong gia đình hay trong tăng
thân của ta khi thực tập tịnh khẩu. Ên cơm có canh, tu hành có
bạn. Trong những ngày đầu của thời gian tịnh khẩu ta có thể sẽ
thấy hơi khó chịu. Hơi khó chịu là vì ta ngứa miệng. Ta nghe và thấy
những điều khiến ta muốn nói. Khó chịu vì ta cưỡng lại cái tập
khí ưa nói. Nhưng tịnh khẩu càng lâu thì ta càng có hạnh phúc.
Miệng mình tuy không nói nhưng có thể cười. Và cuời thì hay hơn
nói nhiều lắm.
2. Im lặng để có dịp nhận diện
Ta
phải biết ngay từ lúc ban đầu rằng tịnh khẩu là một phương pháp
thực tập rất sâu sắc chứ không phải là chuyện cấm nói. Tịnh
khẩu không có nghĩa là không nói mà thôi. Nó có nghĩa là quán
chiếu bằng chánh niệm của mình những điều gì mình định nói, nhưng
vì tịnh khẩu mà mình không nói. Mỗi khi ngứa miệng và muốn nói
một cái gì đó, ta nên lập tức lấy cuốn sổ tay ra và chép xuống
rằng "hồi nãy mình đã tính trả lời như thế này: ... "Rồi
mình viết đúng nguyên văn những tiếng những lời mà mình muốn
nói xuống giấy. Những lời đó trong đời sống hàng ngày có thể
gây đổ vỡ, có thể gây nội kết. Vài giờ hay vài ngày sau ngồi
đọc lại những giòng đó, ta quán chiếu và đặt vấn đề, đặt
câu hỏi. Nếu là người nghe thì ta sẽ đáp ứng lại với những
lời đó bằng thái độ nào, bằng lời nói nào. Người đã có
thể nghe câu phát biểu này của mình thuộc về hạng người nào?
Người đó thường hay có những mặc cảm và những nội kết nào?
Sau khi quán chiếu, ta có thể tự nói: "Hú hồn! May quá! Mình
đã không phát ngôn thiếu chánh niệm như vậy, nhờ mình tịnh
khẩu." Lần thứ hai, khi nghe người ta nói một câu gì đó hay khi
thấy người ta làm một cái gì chướng tai gai mắt, tập khí của mình
lại thức mình. Nó nói "phải nói" hoặc "ít nhất phải
làm cái gì chứ!"
Nhờ
đang tịnh khẩu ta mới có dịp dừng lại và nhận diện tập khí. Ta
hãy lắng nghe cái tâm của ta, ta hãy lắng nghe nội kết của ta, ta
hãy lắng nghe cái tập quán của ta để xem cái tâm đó, cái nội
kết đó, cái tập quán đó muốn nói cái gì. Rồi ta mới lấy cuốn
sổ tay của mình ra và chép những lời mà mìng đã định nói xuống
để quán chiếu. Ta không bỏ qua bất cứ một lời nói nào ta nói
trong tâm. Ta phải đọc lại, phải quán chiếu lại, phải thấy được
gốc rễ của những lời nói đó của ta và những hậu quả có thể
có của những lời nói đó. Đó là sự thực tập quán chiếu.
Quán
chiếu có nghĩa là nhìn để thấy được gốc rễ và hậu quả. Một
cái cây luôn luôn có gốc rễ và hoa trái của nó. Gốc rễ giúp
cây thành hình và hoa trái là cái mà cây cống hiến. Một lời
nói cũng vậy. Nếu ta nói một lời nào thì lời nói đó có gốc
rễ của nó. Ta tìm hiểu tại sao ta lại muốn nói như vậy, tại sao ta
đang nói như vậy và tại sao ta đã nói như vậy. Niềm đau đã sẵn
có ở trong ta cần được nhận diện. Ta phải gọi tên, phải chỉ ra
cho rõ những khối nội kết đó, những gốc rễ, những khối nội
kết làm căn bản đưa tới lời nói mà tôi đã suýt nói
đó." Và sau khi thấy được gốc rễ rồi, ta phải quán chiếu
để thấy được hậu quả của lời nói đó. Nếu lời nói này mà
được nói ra thì sẽ đem tới những hậu quả nào? Người nghe sẽ
phản ứng như thế nào? Và sau khi họ phản ứng rồi thì cái tình
trạng tâm hồn mình sẽ ra sao? Sự đỗ vỡ do một lời nói gây ra
không phải chỉ là ở bên ngoài, lời nói kia còn gây đỗ vỡ ngay
chính trong lòng mình. Nó tàn phá hết hai bên. Nó làm ung thối môi
trường sinh hoạt. Mình tưởng nói ra cho khỏe, ai ngờ nói ra lại
càng mệt, càng khổ, càng chuốc lấy khổ đau vào thân, trong tâm
của mình. Mình làm khổ mình. Và cứ như vậy mình quán sát trong
thời gian bảy ngày hay trong thời gian mười bốn ngày.
Ta
phải thực tập tịnh khẩu cho thật sâu sắc, tại vì tịnh khẩu ở
đây nghĩa là tịnh tâm, tịnh ý và chuyển hóa. Trong khi quán chiếu,
ta phải thấy rằng người bên kia, người nghe, có thể cũng không
phải là một người bình thường. Người nghe cũng có những nội
kết, những thành kiến, những gốc rễ đau khổ của họ. Và họ nghe
qua những nội kết đó, họ không nghe với một cái tâm vô tư. Mình
nói một câu nói thương yêu, không hờn giận, mà người ta còn
có thể hiểu lầm được và người ta còn giận mình được; huống
hồ là mình nói một câu phát xuất từ sự buồn bực, tức tối
và giận hờn của mình.
Nhiều
khi ta nói một câu nói có tính cách xây dựng mà người kia lại
nhận thức như là một câu nói thách đố hay chê bai. Cái đó do
vọng tưởng, do tri giác sai lầm của người ấy. Ta phải cẩn thận.
Nếu lời nói của mình có gốc rễ từ sự giận hờn, tức tối,
khổ đau và bực bội của mình thì sức tàn phá của nó đối với
người kia sẽ lớn lao biết mấy? Nó tàn phá người kia và sẽ
trở lại tàn phá chính thân tâm của mình. Và trong cái thời gian
bảy ngày hoặc hai tuần ấy, nếu thực tập cho thật vững chãi, ta
có thể có chuyển hóa rất lớn. Còn những người thực tập tịnh
khẩu mà không làm gì hết ngoài cái chuyện không nói, những
người đó không đi xa hơn được. Những người đó chỉ có an ninh
trong vòng bảy ngày thôi, rồi sau đó lại mất an ninh.
Nếu
chúng ta thuộc truyền thống đạo Bụt, nếu chúng ta muốn thực tập
chuyển hóa tam nghiệp thì thỉnh thoảng trong gia đình hay trong tăng thân,
ta cũng nên xin cho ta một thời gian tịnh khẩu. Trong thời gian thực
tập, từng hơi thở, từng bước chân, khi đi, khi đứng, khi nằm, khi
ngồi, chúng ta phải ở trong chánh niệm thì mới có cơ hội và năng
lượng để có thể thấy được tâm ý của chúng ta. Ý nguyện
muốn thương, muốn làm hạnh phúc cho ngườI kia, ý nguyện muốn hòa
giải, muốn tạo sự an lạc và hạnh phúc, tuy có mặt trong lòng ta,
nhưng điều đó không có nghĩa là ta đang đứng về phe của lẽ
phải. Bên kia, người kia có thể cũng đang đứng về phe của lẽ
phải. Bên kia, người kia có thể cũng đang có ý nguyện muốn yêu
thương mình, muốn làm hạnh phúc và hòa giải với mình, và cũng
có thể nghĩ rằng người ấy đứng về phe chính, còn chính mình mới
đứng về phe tà, tức là phe không muốn thương yêu, không muốn
hòa giải. Do đó chúng ta nên biết rằng ý nguyện muốn thương yêu,
muốn hòa giải không đủ. Nó có thể rất yếu khi phải đọ sức
với cái lực lượng của những nội kết, những khổ đau trong ta.
Những nội kết và những khổ đau đó, chính chúng ta đã làm cho
chúng lớn lên và chính trong cái quá trình giao tiếp với nhau, hai
bên đã làm cho những nội kết của nhau lớn lên. Đã có sự leo
thang trong thời gian.
Cô
gái kia và bà mẹ đã thực tập như vậy trong khoảng mười năm
trước khi cô gái lên mười chín tuổi. Vì vậy tới mười chín
tuổi là cô chịu không nổi nữa. Cô đã bỏ nhà, bỏ nước ra đi.
Trong cô có chín năm nội kết. Trong bà mẹ cũng có chín năm nội
kết. Vì vậy, cả cô cả bà, tuy đều có ý hướng hòa giải, nhưng
mỗi khi hai người gặp lại nhau là chiến tranh bùng nổ. Trong thời
gian thực tập tịnh khẩu, thỉnh thoảng ta cần phải nhờ cậy những
người trong gia đình mình hay trong tăng thân. Thỉnh thoảng những
người trong gia đình hay trong tăng thân mình muốn hỏi mình một chuyện
và mình phải trả lời. Trong trường hợp đó, ta có thể cầm một
cây bút và một mảnh giấy để trả lời người đó. Trong khi viết,
chúng ta có thể bình tĩnh hơn và chúng ta hãy tập viết một mình.
Chúng ta hãy để cho người khác đang thực tập tịnh khẩu có thì
giờ viết câu đó ra một cách bình tĩnh, vì người đó cần có
đủ thì giờ quán chiếu những điều mình viết. Viết xong ta đọc
lại xem những điều này có đúng là đã được viết ra trong sự
bình tĩnh và trong chánh niệm hay không. Nếu không thì ta xé miếng
giấy và viết lại trên một miếng giấy khác, cho đến khi nào thấy
rằng những điều mình viết đó có thể đem lại an ninh thì mới đưa
cho người kia. Vì vậy không những người thực tập tịnh khẩu thực
tập mà cả những người trong tăng thân, trong gia đình cũng đều
thực tập. Họ phải có thì giờ để giúp cho người kia thực tập
một cách sâu sắc.
3. Lấy lại chủ quyền
Khi
người thiếu phụ tới làng Hồng tu học, cô đã bỏ vào trong
chuông một câu hỏi. Cô kể lại cái liên hệ giữa hai mẹ con và
cô xin một lời giải đáp. Tôi đã nói rằng ý chí hòa giải rất
tốt, nhưng không đủ Condition necessaire nhưng mà chưa suffisante. Tại vì
lực lượng của những tập quán, của những nội kết trong hai
người đều mạnh quá. Vì vậy có thể tạm thời chưa nên tới
với nhau, hẹn nhau trong vòng sáu tháng hay một năm. Và trong thời
gian đó hai người phải thực tập chuyển hóa những khối nội kết
ở trong mỗi người, cái khối lửa trong lòng đất.
Phương
pháp mà tôi đề nghị cho cô gái đó như thế này. Mình chưa phải
là một con người tự do, mình đừng có ảo tưởng mình là con
người tự do. Mình có ý chí muốn hòa giải và nghĩ rằng nếu muốn
là mình làm được. Nhưng sự thật mình không đủ tự do để làm
chuyện đó. Khi người kia bắt đầu nói và chạm vào mình thì tự
nhiên những khối nội kết cũ trong ta bắt đầu nẩy mầm và phát
hiện. Rồi khi ta mở miệng ra mà không có khả năng quán chiếu
từng lời nói thì lời nói của ta sẽ thu hút tất cả những chất
độc của những nội kết cũ đó và phun các chất độc kia ra ngoài
như là miệng núi đá phun lửa. Cho nên ta phải biết ta chưa phải là
con người tự do.
Ta
nô lệ cho ai? Không phải nô lệ cho người kia đâu. Chính ta là nô
lệ của những khối đau và những thói quen ở trong ta, thói quen
đối đáp chua chát, thói quen ăn miếng trả miếng mà ta đã thực
tập trong vòng chín năm. Đó là thời gian leo thang làm khổ nhau.
Thời gian leo thang làm khổ nhau có thể kéo dài chín năm, có thể
tám năm, có thể bảy năm, có thể năm năm, có thể sáu tháng.
Đó là thời gian không may mắn của cả hai người. Có thể là có
một con người thứ ba, nhưng mà hai người, vì không nhận diện
được cái sự rủi ro đó, đã để cho bản thân mình bị kéo vào
trong cuộc tranh chấp. Và chín tháng đó hoặc sáu tháng đó đã tàn
phá hai người. Hai người mang những khối nội kết và chính bây
giờ mỗi người đang làm nô lệ cho khối nội kết của chính mình,
nô lệ cho tập quán và thói quen của mình.
Người
thực tập phải can đảm nói lên sự thật: "tôi chưa phải
là một con người tự do, tôi bị cái giận của tôi, những n¶i kết
của tôi và thói quen của tôi khống chế". Ban đầu thì
tôi có vẻ tự chủ được trong khi nói, tôi có thể nói được
vài lời thương yêu, nhưng sau đó thì các nội kết dẫn đường,
tôi không còn dẫn đường nữa, tôi chỉ đi theo chúng riu ríu như
một tên tù nhân bị hai người lính áp giải. Sự thật là như vậy.
Người thực tập chân chính phải chấp nhận là mình đang còn yếu,
đang bị nội kết của mình lôi đi như em bé chăn trâu không có đủ
sức điều phục con trâu của mình. Trâu ăn lúa mà mình không biết
làm gì cả, mình chỉ biết kêu gào. "Để trâu ăn lúa kêu cha
bời bời". Nhưng "cha còn cắt cỏ trên trời, mẹ còn cởi
ngựa đi chơi non Bồng". Kêu gọi mấy cũng vậy thôi. Mình không
biết chăm sóc con trâu của chính mình. Vậy thì người thực tập
phải công nhận một điều, tuy hơi xấu hổ nhưng mà thiệt, là mình
không làm chủ được tình trạng. Vì vậy mình mới cần thực tập
tịnh khẩu.
Thực
tập tịnh khẩu tức là đặt mình vào trong một khung cảnh an ninh, một
loại vòng đại an ninh. Trong thời gian có an ninh đó, ta thực tập
để chuyển hóa. Sau khi chuyển hóa rồi ta bắt đầu có an ninh thật .
Ta thâu hồi lại chủ quyền của chính ta. Ta trở thành con người tự
do. Không ai tước đoạt sự tự do của ta cả. Chỉ có các khối đau,
chỉ có nội kết, chỉ có tập quán của mình áp chế mình và làm
mất tự do của mình mà thôi.
Tôi
đã đề nghị hai mẹ con thực tập và nhất là người con, tại vì
người con là người đã có duyên tới với Phật Pháp, đã tiếp
xúc được với thầy, với bạn, đã bắt đầu hỏi thầy được
một câu hỏi thông minh về sự thực tập, đã biết thiền hành,
đã tập hơi thở chánh niệm, đã tập thiền tọa. Tôi đã nói
với cô rằng hãy thực tập thiền hành, hãy tiếp xúc với những
gì tươi mát có tính cách trị liệu, những gì đẹp đẽ ở trong
đời sống hàng ngày để làm cho con người mình an lành thêm.
Đứng
về vấn đề xúc thực và đoàn thực, ta phải tổ chức cuộc sống
hàng ngày của ta. Nếu chúng ta có tài tổ chức thì chúng ta lại
có thêm một yếu tố để thành công. Có nhiều người tổ chức
Phật Đản rất hay nhưng không bao giờ tổ chức được sự tu học
cho chính bản thân mình cả. Có những người tổ chức cho người
khác tu học khá hay, nhưng không bao giờ chịu tu học cả. Những
người đó hãy đem tài tổ chức đó để tổ chức lại đời
sống hàng ngày của mình. Làm sao để buổi sáng, buổi trưa, buổi
chiều ta được tiếp xúc với những gì tươi mát, lành mạnh, có
tính cách trị liệu để con người ta được nuôi dưỡng. Khi con
người ta trở nên tươi mát và dễ chịu hơn thì những nội kết kia
sẽ dịu xuống. Đó là chánh niệm về tiếp xúc; chỉ có chánh niệm
mới làm được điều đó. Các bạn có tài năng tổ chức hãy
sử dụng tài năng tổ chức của mình để tổ chức và sắp xếp
lại đời sống hàng ngày của chính mình. Có thể vì đời sống
hàng ngày hiện thời của ta vô tổ chức, cho nên ta cứ tiếp xúc
mãi với những cái làm ta bực mình suốt ngày. Và nếu cứ bị
tiếp xúc với những cái làm ta bực mình suốt ngày thì ta sẽ
điên loạn, những khối nội kết càng ngày càng lớn, chúng sẽ
đè bẹp ta một cách hoàn toàn. Ta không còn gì nữa, ta "không
còn kí lô" nào nữa. Hãy tổ chức lại đời sống hàng ngày
để ta đừng bị tiếp xúc quá nhiều với những yếu tố độc hại
làm cho ta bực bội, sầu khổ, hận thù, tưới tẩm những hạt giống
khổ đau đã quá lớn ở trong ta.
Ví
dụ như hai cha con nhà đó. Cha có nội kết với con, con có nội kết
với cha. Hai cha con gặp nhau mỗi ngày và những câu nói của cha làm
nội kết của con lớn thêm, những câu nói của con làm nội kết
của cha lớn thêm. Vậy nếu đứa con có tài tổ chức, nó sẽ làm
như thế này. Trong những lúc vui vẻ, nó cố gắng viết cho cha một
lá thơ. Nó viết "thưa Ba, chủ nhật tuần trước Ba có nghe Thầy
nói về chuyện tịnh khẩu. Con cũng muốn tịnh khẩu bảy ngày. Nếu Ba
cùng làm với con thì vui quá đi". Nếu hai cha con cùng làm thì
rất hay. Anh ta có tài tổ chức và anh ta nghĩ rằng nếu anh ta tịnh
khẩu trong khi cha mìng cũng tịnh khẩu thì hai cha con sẽ đạt tới một
thành quả nào đó rồi cả hai sẽ được chuyển hóa. Hai cha con có
một thời gian an ninh là bảy ngày. Hoặc là hai chị em. Hai chị em mỗi
ngày gặp nhau. Mình đề nghị với em gái mình: "Em muốn không? Em
muốn tịnh khẩu với chị hai tuần không? " có thể hai người
đồng tịnh khẩu một lần. Cả hai đều phải thực tập. Mỗi người
có một cuốn sổ để ghi những câu mà thường ngày mình hay nói
nhưng nhờ tịnh khẩu nên đã dằn kịp, không nói. Rồi từ những
yếu tố tiêu cực, họ sẽ tìm ra những gốc rễ nào đã khiến họ
hay nói với nhau những lời nặng nề chua cay và họ quyết định
chuyển hóa như thế nào.
4. Thấy được cội nguồn
Tôi
đề nghị với người thiếu phụ khoan trở về gặp mẹ. Tôi đề nghị
với người đó tổ chức một tăng thân tu học, hoặc là gia nhập
một tăng thân tươi mát để tu học. Mục đích là để cho người
đó được sống trong khung cảnh chánh niệm, đi, đứng, nằm, ngồi
trong chánh niệm để làm cho tinh lực chánh niệm lớn lên trong bản
thân. Rồi tôi đề nghị người đó ghi lại những câu mà mình đã
nói với mẹ và mẹ đã nói với mình trong buổi gặp mặt vừa rồi
để quán chiếu: mẹ đã nói điều gì và mình đã nói những điều
gì. Những điều gì mẹ nói đã làm cho mình đau khổ điên cuồng cho
đến nỗi mình đã trả lời bằng những câu nói rất phũ phàng.
Rồi mình quán chiếu. Phương pháp này gọi là trạch pháp.
Ví
dụ mình quán chiếu vào một câu nói của mẹ. Câu nói đó có vẻ
hết tình hết nghĩa quá đi. Nhưng mà mình phải đặt câu hỏi tại sao
mẹ đã nói như vậy, động lực nào đã khiến cho bà nói như vậy?
Những nguyên do nào, những gốc rễ nào đã đưa tới một câu nói
như thế? Và mình ngồi quán chiếu, đi thiền hành mà quán chiếu.
Một vài ngày sau, tự nhiên mình thấy, mình thấy được tại sao mẹ
đã nói như vậy. Và mình cũng sẽ nói như vậy và bất cứ ai nếu
đã đi qua những khổ đau như khổ đau của mẹ, những kinh nghiệm như
kinh nghiệm của mẹ chắc cũng sẽ nói như vậy. Và khi thấy được
điều đó tự nhiên ta hiểu được và cái hiểu đó đưa tới sự
tha thứ.
Cái
hiểu đó ở trong đạo Bụt gọi là Prajna hay là Bát Nhã. Có thể
người kia đã không muốn nói, nhưng mà người đó đã nói. Một
lực lượng ma quái gì ở trong họ bắt họ nói. Và mình phải thấy
cho được cái lực lượng ma quái đó. Mà lực lượng ma quái
đó là những nội kết, những khổ đau đã được gây ra trong quá
khứ và mình đã chịu trách nhiệm một phần nào về cái quá khứ
đó. Một khi đã thấy được như vậy rồi thì mình hiểu. Khi hiểu
được rồi thì mình có thể tha thứ và cái giận của mình sẽ tan.
Sau đó mình quán chiếu câu nói mà mình đã nói với mẹ. Câu nói
nào đã làm cho mẹ nổi điên? Mình tự hỏi tại sao mình đã nói
như vậy? Lúc ban đầu, mình đã đi tới với một tâm niệm thương
yêu, hòa giải, mình đâu có muốn nói những câu nói như thế;
nhưng mà tại sao mìng đã nói những câu nói đó? Quán chiếu một
ngày hai ngày, ba ngày, đi thiền hành, sống trong tăng thân mình sẽ
tìm hiểu, mình sẽ thấy được. Mình thấy tuy mình nói như vậy nhưng
không phải chính mình nói mà là khối nội kết kia đã nói. Mà
những khối nội kết ấy được gây ra như thế nào, với ai và
bởi ai? Mình không lên án nhưng mình thấy rõ ràng, sở dĩ mình đã
nói như vậy vì có những khối đau như vậy. Lúc đó, ta thấy những
khối đau kia được tượng hình do những nguyên do nào và tự nhiên
ta tha thứ cho chính ta, ta không có mặc cảm tội lỗi nữa. Ta nói
rằng nếu mẹ ta đã sống qua những khổ đau của ta như vậy thì bà
chắc cũng sẽ nói như vậy. Bất cứ ai sống qua những khổ đau và
tức bực như mình thì chắc cũng sẽ nói như vậy. Thành ra mình tha
thứ cho mình.
Hiểu
được như vậy ta biết rằng từ nay trở đi ta sẽ không bao giờ
để cho cái tâm của ta và để cho cái thân của ta bị trưng bày ra
để cho những hạt giống nội kết kia được gieo trồng vào nữa.
Trong quá khứ ta đã không giữ thân, giữ tâm của ta. Một miếng
đất mà để phô bày ra như thế thì bất cứ hạt giống nào cũng
rơi vào được, nhất là những hạt giống độc hại. Ta phải giữ
thân ta, ta phải giữ tâm ta. Trong quá khứ ta đã không tu học, ta
đã không biết giữ thân, giữ tâm để cho tâm ta xúc chạm vào
những độc tố. Và bây giờ đây, ở trong một đại chúng tu học,
ta phải biết giữ gìn để cho điều đó đừng tiếp diễn và ta để
ta có cơ duyên chuyển hóa.
Khi
mình bắt đầu hiểu được mình và hiểu được mẹ mình thì cái
hiểu đó có thể biểu hiệu bằng ngôn ngữ. Mình ngồi xuống viết
thơ. Mẹ ơi, sáng hôm nay sau khi đi thiền hành, con thấy rất nhiều
điều ngộ nghĩnh. Con xin trình bày để mẹ thấy... Và người đó
viết tất cả những gì mình đã thấy trong tâm của mình. Trong thời
gian một giờ đồng hồ hay hai giờ đồng hồ viết lá thơ đó,
người thiếu phụ tưới tẩm lại hạt giống hiểu biết và tha thứ
của mình. Nghĩa là cô ta tiếp tục thực tập trong vòng một giờ hay
hai giờ đồng hồ nữa cho vững chãi cái thấy vừa qua của cô ta.
Viết xong lá thơ, người thiếu phụ thấy nhẹ hẳn người. Người
thiếu phụ đó biết chắc rằng nếu mẹ đọc lá thơ này thì mẹ
cũng sẽ khỏe. Người đó bỏ lá thơ vào trong phong bì và gởi về
miền nam nước Pháp cho mẹ. Bà mẹ mở lá thơ ra đọc. Những lời,
những ý và cái thấy của con gái mình giống như là một ngọn
đuốc soi sáng những ngõ ngách trong tâm hồn mình. Mình thấy rằng
tháng trước quả thật mình đã có nói những câu nói đó và
những câu nói kia thật ra đã tuột khỏi miệng mình chứ mình không
bao giờ muốn nói. Cái gì đã làm cho mình nói câu nói đó để
làm cho nó nổi điên? Con gái mình đã quán chiếu, đã thấy và
đã nói để nhờ mình xét lại coi thử có đúng hay không. Nó đã
nói đúng. Nhưng nó chưa thấy được một vài điều ở trong tâm
mình. Tuy nhiên trong mấy mươi phút đọc lá thơ này, bao nhiêu cái
nút thắt ở trong lòng bà được mở ra. Những nội kết được
tiêu tán là nhờ đọc lá thơ. Lá thơ đó là ánh sáng tuệ giác
của đứa con gái chiếu vào trong nội tâm của mình. Lá thơ đó đã
giải phóng cho đứa con nhưng cũng bắt đầu làm công việc giải
phóng cho bà mẹ.
Tháng
sau người con gái gởi thêm một lá thơ thứ hai. Cô ấy tiếp tục
thực tập như vậy và sáu tháng sau, sau khi viết được sáu lá thơ,
cô gái thấy trong người khỏe hẳn. Cô có cảm tưởng là có thể
về gặp mẹ mà không còn sợ nguy hiểm. Lúc đó, sự gặp gỡ có
thể không tạo ra chiến tranh nữa vì cô gái đã được thực tập
trong sáu tháng, đã biết thở, biết đi, biết mĩm cười, đã nhìn,
đã hiểu và vì vậy nên cô có nhiều tự do. Cô không còn bị nô
lệ cho cái khối đau trong lòng mình nữa và vì vậy công tác hóa
giải của cô kỳ này có thể đem tới kết quả. Người thông minh
tự vạch cho mình một con đường thực tập. Người thông minh biết
rằng trong khi ta đau khổ, người kia cũng đau khổ. Chắc chắn là cả
hai người đều phải thực tập. Có thể chúng ta nên thực tập chung
và thực tập cùng một pháp môn. Có thể chúng ta nên cùng thực
tập tại một nơi hay chúng ta nên xa nhau trong một thời gian để thực
tập. Nếu thực tập ở một nơi, có thể là chúng ta cùng thực
tập tịnh khẩu đồng thời với nhau, mà trong trường hợp đó thì
không cần phải xa nhau.
Chúng
ta không hối hả, không gấp gáp về chuyện hòa giải, tại vì nếu
không có yếu tố và điều kiện của hòa giải thì dầu có ý chí
hòa giải, chúng ta cũng không đi đến đâu. Có nhiều cuộc hòa
đàm kéo dài từ năm này sang năm khác mà không bao giờ đem tới
hòa bình cả. Vừa đánh vừa đàm. Tiếng Hoa gọi là "đả đả
đàm đàm". Thương thuyết thì thương thuyết, đánh thì cứ đánh.
Vì vậy cho nên có những cuộc thương thuyết hòa bình kéo dài tới
ba năm, năm năm, mười năm. Chúng ta nên biết rằng giữa nước
Pháp và nước Anh có một trận chiến tranh kéo dài tới một trăm
năm, La guerre de cent ans. Và chính tới bây giờ người Pháp
cũng còn có nội kết với người Anh và người Anh cũng có nội
kết với người Pháp. Nội kết giữa người Pháp với người
Đức đã được hòa giải cũng khá nhiều, nhưng nội kết giữa
người Pháp và người Anh cũng đang còn.
Tu
tập, chúng ta phải nhìn vào tâm của chúng ta và tâm của người kia
để thấy được những hạt giống của khổ đau, của nội kết trong
tâm ta và trong tâm người kia. Đừng bao giờ nói rằng ta là
người đau khổ duy nhất và người kia chỉ làm ta đau khổ thôi.
Người kia thật ra cũng đau khổ lắm. Và chính ta cũng chịu trách
nhiệm một phần trong cái sự đau khổ của người kia. Người kia đau
khổ có thể là vì trong quá khứ, hồi còn thơ ấu, người đó đã
tiếp nhận những hạt giống nội kết. Nhưng nếu chúng ta tươi mát,
khéo léo, có nhiều thương yêu thì chúng ta đã giúp được người
đó hóa giải bớt rồi. Đằng này người đó đã không bớt. Và
vì vậy cho nên chúng ta biết chúng ta chưa phải là một người anh
tốt, chưa phải là một người bạn tốt, chưa phải là một người
chị tốt đối với người kia. Và chúng ta đã chịu trách nhiệm một
phần nào. Vấn đề không phải là vấn đề trách móc. Trách móc
không phải là giải pháp. Trong bài Sám nguyện, chúng ta đọc:
Lý luận xong rồi trách móc,
Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau
Chia cách hố kia càng rộng
Có ngày không nói với nhau
Cũng không muốn nhìn thấy mặt
Gây nên nội kết dài lâu ...
Đó
là sự thật.
5. Chiếc hộp ân tình
Tôi
xin kể câu chuyện hộp bánh LU để làm rõ thêm ra sự thực tập
này. Bánh bích quy hiệu LU, Lefevre Utile, là một thứ bánh ở
Việt Nam ngày xưa coi như là bánh sang, nhập cảng từ nước Pháp.
Hộp bánh LU rất đẹp. Có những cô thiếu nữ đem cất những lá
thơ tình của người con trai mình yêu viết cho mình trong hộp bánh LU.
Cô có nhỏ vào đấy một ít nước hoa và giữ gìn hộp bánh LU rất
kín đáo. Có khi cha mẹ cũng không có cơ hội thấy được cái hộp
bánh LU kỷ niệm ấy của các cô nữa. Ngày xưa không có điện
thoại, vì vậy cho nên phương cách để cho hai người yêu liên lạc
với nhau chỉ là viết thơ thôi. Viết thơ mà đôi khi cũng không
gởi bằng nhà giây thép, tại vì nếu gởi nhà giây thép (nhà bưu
điện) thì ông phát thơ có thể đưa tới cho mẹ mình. Rồi mẹ mình
biết, và mẹ người kia biết. Thành ra đôi khi họ giả bộ mượn
sách, cho nhau mượn sách và dấu thơ trong cuốn sách của mình. Những
lá thơ đó, đọc xong mình không xé, mình muốn giữ kỹ.
Có
một gia đình nọ, hai người lấy nhay vì tình yêu chớ không phải là
vì cha mẹ bắt ép. Lúc mới cưới nhau, họ có hạnh phúc. Nhưng vì
không biết tu tập chánh niệm nên sau một thời gian, họ gây nội
kết cho nhau và làm khổ nhau. Nguời đàn bà mất hết sự tươi mát,
người đàn ông mất hết sự dịu dàng và ngọt ngào. Hai vợ chồng
sống không có hạnh phúc nữa. Sở dĩ họ còn sống với nhau là vì
danh dự, có thể là tại vì sợ cha mẹ hai bên buồn. Ông ta không
còn cảm thấy thoải mái khi sống gần bà vợ. Bà vợ cũng không
cảm thấy thoải mái khi sống gần chồng. Hai người đi tìm những
niềm vui riêng. Nếu những niềm vui ấy lành mạnh thì đở. Bà bỏ
hết thì giờ để lo việc chùa hay lo việc xã hội... làm như là nếu
không có bà thì nhà chùa sống không nổi! Ông thì lấy cớ là
cần phải học thêm ngành chuyên môn nên cứ ở miết trong sở hay
đi ghi tên lớp đêm để học thêm.
Có
một bác sĩ cảm thấy không thoải mái khi về nhà, cho nên sau giờ
làm việc ở phòng mạch xong, ông nấn ná thêm một vài giờ đồng
hồ nữa để cứu xét hồ sơ của những bệnh nhân ngày mai. Về
nhà không có hạnh phúc gì mấy. Thà rằng ngồi ở phòng mạch của
mình làm việc mà khỏe hơn. Đó là một bi kịch. Bà vợ của ông
có khi than: "Em cũng là một người bệnh nữa đây. Anh chẳng
chăm sóc em gì cả. Anh chỉ chăm sóc hồ sơ của bệnh nhân anh
thôi". Người vợ đau khổ và cũng muốn được coi như là một
bệnh nhân. Câu nói đó chỉ chứng tỏ rằng anh ta không muốn về
nhà mà thôi. Có người đã có bằng tiến sĩ rồi nhưng không muốn
về nhà, cho nên đi học thêm một lớp ban đêm để có thêm một
bằng tiến sĩ thứ hai. Không biết để làm gì? Có người tìm làm
công việc xã hội, dạy văn hóa cho con nít ở khu phố trong khi con
mình thì không hề để ý, vợ mình cũng không để ý. Cái đó gọi
là trốn tránh. Người kia mất hết sự tươi mát rồi và mình tìm
sự trốn chạy. Cả hai bên đều như vậy cả.
Một
buổi sáng nọ, trong khi ông chồng đang ở trong sở thì bà vợ dọn
lại cái tủ áo của mình, tủ áo có nhiều chiếc áo rất đẹp mà
lâu nay bà không mặc. Bà còn giữ lại cái áo cưới ngày xưa.
Trong khi lục tìm, không biết vì sao mà bà đụng tới cái hộp bánh
LU. Rồi không biết buổi sáng đó ông bà dun dủi làm sao mà bà ta
lại có ý muốn mở cái hộp bánh đó ra. Khi mở ra và nhìn thấy
những lá thư thì bà cảm thấy rung động. Cả mười , mười mấy
năm nay bà không nhìn thấy những lá thư đó. Thấy lại cái màu
sắc của những lá thư, những nét chữ của anh chàng ngày xưa, tự
nhiên có một cái gì như một giọt nước mát thấm vào trái tim
của bà. Bao nhiêu quá khứ, bao nhiêu kỷ niệm hạnh phúc ngày xưa
sống dậy. Bà đứng đó, rút một lá thư ra, và đọc. Trong khi
đọc, bà tiếp xúc được với cái ngôn ngữ của anh chàng ngày
xưa. Nguời gì mà nói năng, viết lách ngọt ngào làm sao. Tự nhiên
hình ảnh ngày xưa của anh chàng hiện ra, rất tươi mát, đúng là vị
hoàng tử của đời mình. Đọc xong lá thư đó tự nhiên bà thấy
khỏe. Thấy dễ chịu. Bà bỏ lá thư ấy xuống, đọc thêm một lá
nữa. Càng đọc bà càng thấy dễ chịu. Bà dẹp mấy cái áo vào
tủ, không muốn sắp lại nữa. Lấy nguyên hộp LU để lên bàn, bà
ngồi đọc. Bà ngồi đọc một mạch bốn chục lá thư, cái này sang
cái khác. Đọc xong, bà xếp thư trở lại theo thứ tự ngày tháng
như một trò chơi trẻ con vậy. Trong khi bà đọc những lá thư đó,
những hạt giống của hạnh phúc, của thương yêu, của kỷ niệm
được tưới tẩm. Và hình ảnh của chàng trai dễ mến ngày xưa
hiện ra, rất kỳ lạ, giống như những hạt giống lâu nay chưa bao giờ
được tuới tẩm.
Bà
đâu có biết rằng bà đang thực tập đúng theo đường hướng Duy
thức của Phật học. Thực tập đúng nghĩa là tưới tẩm những
hạt giống của thương yêu, của hạnh phúc trong con người của mình.
Ở đây một sự may mắn đã xảy ra cho bà thôi, chứ bà đâu có
chú ý thực tập. Nếu còn giữ hộp bánh LU của mình, xin quý vị
về thử rồi sẽ biết. Trong khi đọc thư, tâm hồn khô khan như sa mạc
của bà có một trận mưa rào đi qua. Biết bao nhiêu hạt giống bừng
nở lên. Bà thấy khỏe. Bảy tám năm nay, không bao giờ ông nói
với bà bằng cái giọng ngọt ngào như vậy. Và bà quên, đã nghĩ
không bao giờ người đàn ông lại có thể nói được những câu
như vậy. Ông ta bây giờ lạnh lùng, khắt khe, không giống gì người
con trai ngày xưa. Đọc lại những lá thư, hình ảnh tưởng đã chết
rồi lại xuất hiện trong lòng mình. Thì ra hình ảnh ấy chưa bao giờ
chết cả. Những hạt giống còn đó, không bao giờ chết hết.
Đọc
xong thư bà thấy chuyển hóa. Bà nhìn vào bà và bà tự hỏi: một
con trai dịu hiền, biết điều, tươi mát như vậy, mình đã làm ăn như
thế nào để bây giờ người đó trở nên một người khắt khe
và lạnh lùng thế kia? Tại sao? Ta đã có trách nhiệm nào trong việc
làm cho anh chàng trở thành một người đàn ông khó chịu như ngày
hôm nay? Bà có ý định sẽ ngồi xuống, lấy một tờ giấy và viết
cho ông một lá thư, và nói ra những cảm nghĩ của mình trong khi đọc
lại bao nhiêu lá thư đó. Bà tiếc cho cái hạnh phúc ngày xưa của
mình. Hạnh phúc ấy ngày xưa đã có chứ không phải không có.
Chính mình đã đánh mất nó. Cố nhiên là anh chàng có lỗi, nhưng
lỗi phần mình cũng có rất nhiều trong đó. Không thể nói là mình
không có lỗi được. Chưa kịp viết thư thì có điện thoại của ông
ta gọi về. Ông nói là ông phải đi New York, chiều hôm nay không về
nhà ăn cơm được. Bà biết đó là cái thói quen trốn chạy của
ông. Về nhà đâu có hạnh phúc gì? "Ông chủ nói anh phải đi
New York với ông, có thể là ở cả tuần bên đó." Ông cũng
biết rằng bà không cần gì ông mấy. Chắc bà sẽ nói: "O.K, anh
đi thì cứ đi". Nhưng lần này giọng bà trả lời hơi ngọt. Bà
nói: "Anh cứ đi, cần thì anh đi. Nhưng xong công việc thì anh về
với em." Bà đã nói như vậy. Ông cũng không có chánh niệm gì
mấy và không để tâm tới giọng nói đã trở nên dịu dàng của
bà. Trong bảy tám năm nay, giọng bà có khi rất chua chát. Từ một
nàng tiên tươi mát, dịu hiền, bà đã trở thành một thứ bà
chằng cho ông. Đặt ống điện thoại xuống, bà nghĩ rằng bây giờ
nếu ngồi viết một lá thư cho ông sẽ là một niềm vui. Bà ngồi và
viết lá thư đó. Bà viết như đã từng viết cho ông ngày xưa. Bà
bắt đầu bằng ba chữ: "Anh yêu quý".
6. Xây lại thâm tình
Trong
lá thư bà đã nhắc lại những kỷ niệm hạnh phúc lúc hai người
mới gặp nhau. Viết một lá thư như thế tốn vào khoảng một giờ
mấy mươi phút. Và trong một giờ mấy đó bà lại tưới tẩm một
lần nữa những hạt giống của hạnh phúc, của kỷ niệm ngày xưa.
Bà thấy khỏe quá đi. Viết xong lá thư, bà nhẹ người, tuy rằng
ông chưa đọc. Bà xếp thư lại, bỏ vào phong bì, và viết chữ
"Anh" lên rồi đem lên lầu, để nơi bàn viết của ông. Lúc
nào ông đọc cũng được. Sự thật là viết xong lá thư, bà đã
thấy con người của mình khỏe ra rồi.
Đó
là phép lạ của sự tưới tẩm những hạt giống tích cực của
hiểu biết và thương yêu. Không đợi người kia, không cần người
kia. Ở đây người thiếu phụ không có thầy, không có bạn, không
có tăng thân, bà chỉ có cái hộp bánh LU thôi. Quý vị đừng khinh
thường những gì quanh chúng ta, một con đường thiền hành, một gốc
cây, hay một em bé đều có thể là một yếu tố của tăng thân mà
chúng ta đã bỏ quên. Đáng lý ông ấy đi bảy ngày mới về. Nhưng
đến ngày thứ hai, sau khi sắp đặt công việc xong, ông nhớ lại cú
điện thoại. Và ông nhớ lại lời dặn của bà, rõ ràng từng
tiếng, chưa bao giờ bà nói bằng cái giọng đó: Xong công việc thì
về với em. Và ông không muốn ở thêm nữa. Ông gọi điện thoại
cho hãng máy bay. Ông muốn dành một sự ngạc nhiên cho bà.
Khi
về tới nhà, ông đi thẳng lên studio. Bà ở dưới này. Bà đã
sống thanh thản được hai ngày rồi. Bà đã biết thế nào ông cũng
đọc lá thư kia. Nhưng bà nghĩ nếu ba, hay năm, hay bảy ngày sau ông
mới đọc thì cũng không sao hết. Vấn đề là bà đã viết được
lá thư đó và bà đã thấy trong người khỏe ra. Ông về và thấy
cái thư trên phong bì đề chữ "Anh" trên bàn. Ông ta ngồi
đọc và ông ta ở lại trên đó rất lâu. Rất lâu, trong thời gian
đọc, tất cả những hạt giống hạnh phúc của ông đã được lá
thư đó tưới tẩm. Và ông khám phá lại được cái hình ảnh của
nàng tiên ngày xưa. Tuy bà không có chú ý giúp ông, nhưng lá thư
đó đã trở thành một phép mầu nhiệm: nó tưới tẩm những hạt
giống hạnh phúc và kỷ niệm của ông ngày xưa. Và lần đầu tiên
sau tám năm, ông khám phá lại được như bà là tại sao bà đã
trở thành như vậy. Một người con gái dịu hiền, một người con
gái tươi mát như thế, bây giờ tại sao lại trở thành khó khăn
và chua chát như vậy. Mình đã làm gì? Mình đã chịu trách nhiệm
nào trong việc đó? Nhà văn Pháp Antoine Saint Expery nói rằng: Anh chịu
trách nhiệm về bông hồng của anh (Tu es resonsable de ta rose).
Ông
thấy rất rõ là nếu bà ra nông nỗi như vậy, một phần cũng là
tại ông. Tại ông sống không có chánh niệm. Ông ở trên lầu rất
lâu để chiêm nghiệm, để đọc lại lần thứ hai lá thư đó. Và
khi xuống, ông xuống với ý định là sẽ thay đổi sự sống của
mình đi, làm thế nào để phục hồi được người đàn bà tươi
mát ngày xưa mà chính mình đã mong đợi sẽ cùng mình sống suốt
đời. Tôi thấy hai vợ chồng đó có một cơ hội làm mới lại,
một cơ hội Beginning Anew. Và chúng ta ai cũng mong mõi họ thành công.
Trường
hợp chúng ta cũng vậy. Mỗi người trong chúng ta đều có cơ
hội làm lại thâm tình với người thân của chúng ta.
Người đó có thể là con trai hay con gái ta. Có thể là mẹ, là cha
ta. Có thể là chồng hay vợ ta. Và chúng ta biết phương pháp thực
tập rồi. Chúng ta phải tạo ra một khung cảnh để có thể tiếp xúc
lại với những hạt giống tươi mát trong sáng cũ, để có thể
tưới tẩm được những hạt giống của kỷ niệm thật hạnh phúc,
thật hiểu biết và thương yêu trong quá khứ và cũng để chuyển
hóa. Ý muốn hòa giải, muốn thương yêu, nhưng chúng ta không đủ
tự do để thương yêu. Chúng ta muốn hòa giải, nhưng chúng ta không
đủ tự do để hòa giải. Đó là do những khối nội kết trong ta,
những khối tập khí ở trong ta quá lớn.
Tu tập là chuyển hóa nội kết. Nếu có tài
tổ chức, quý vị hãy cùng cái tài đó để sắp đật lại đời
sống hàng ngày của mình, sắp đặt lại tăng thân của mình. Vì tổ
chức có thể đóng một vai trò rất quan trọng. Nhờ biết tổ chức
mà sự tiếp xúc với những bực bội và phiền não hàng ngày sẽ
được giảm thiểu tới mức tối đa. Chúng ta phải
-- o0o --
| Mục lục tác giả|
Cập nhật ngày: 01-10-2001