A.
KHÁI NIỆM TỒNG QUÁT VỀ NGƯỜI PHẬT
TỬ CHÂN CHÁNH:
Khi
một người biết đi Chùa, thờ Phật,
lễ Phật, tụng kinh, Sám hối nghe Chư
Tăng thuyết pháp có nghĩa là người
đó đã xác nhận mình là Phật tử,
nhưng từ một Phật tử để trở thành
Phật tử chân chánh cần phải có
những nhân tố tích cực hơn về hai
phương diện sự và lý : Sự là thực
hiện những lễ nghi đi chùa,tôn thờ,
tụng kinh,lễ bái, sám hối vị giáo chủ
mà mình theo, qua hình tượng, tranh ảnh,
lý là thực hiện những lời dạy ứng
dụng trong đời sống. làm cho lời dạy
đó biến thành hiện thực có lợi ích
cho cá nhân, gia đình. Đó chính là góp
phần làm cho Phật giáo hưng thịnh.
Đạo
Phật không đòi hỏi người Phật tử
phải thực hành những điều khó khăn
nhưng phải thể hiện tinh thần của Phật
dạy qua đời sống, muốn thế qua thân
phải lễ lạy, miệng tụng kinh, niệm
Phật, xưng tán Phật hiệu, sám hối, ý
phải thành tâm chánh niệm. Tam nghiệp
thân, khẩu, ý lúc nào cũng thanh tịnh,
làm sao cho đạo đức cá nhân của mình
được thăng hoa tốt đẹp. Đó chính là
một trong những phương pháp mà người
Phật tử chân chánh phải tu tập và
thực hành trên bước đường đến
giải thoát.
Đức
Phật đã dạy Chư Tăng là những
người có trách nhiệm duy trì Chánh
Pháp; còn người Phật tử tại gia có
bổn phận hộ trì Chánh pháp, làm cho
Chánh pháp được mọi người nhận
thấy qua đời sống của cá nhân và gia
đình thấm nhuần đạo lý Phật giáo.
Đó chính là chúng ta làm tròn trách
nhiệm của người Phật tử chân chánh
đối với đạo, góp phần xây dựng
cuộc đời trở nên Chân, thiện, mỹtheo
tinh thần Phật giáo.
I.
TẠI SAO PHẢI THỜ PHẬT?.
1)
Nguồn gốc xuất xứ & ý nghĩa:
a/
Nguồn gốc xuất xứ:
Khi
Đức Phật còn tại thế và sau khi Phật
diệt độ, để thể hiện lòng tôn kính
đức đạo sư, Phật tử có vẽ họa
hình tượng Phật để thờ. Câu chuyện
truyền thuyết về Đức Phật lên cung
trời Đâu Suất thuyết pháp cho thân
mẫu liên tiếp trong ba tháng. Nhà Vua Vu
Điền mến mộ Phật Pháp thường đến
tinh xá hầu Phật, nay xa vắng cảm thấy
nhớ Phật nên có sai họa sĩ vẽ chân
dung Ngài để chiêm ngưỡng. Sau khi Phật
trở về nhà Vua có đem việc đó bạch
với Đức Phật Ngài mĩm cười và
cũng bắt đầu từ đây việc thờ chân
dung Đức Phật được đệ tử Ngài
tiếp nối từ đời nầy sang đời khác
cho đến ngày nay.
b/
Ý nghĩa việc thờ Phật:
Qua
câu chuyện truyền thuyết trên khởi
đầu là họa chân dung, đơn thuần chỉ
là một sự nhớ thương của một
người đệ tử đối với Phật và rồi
dần dầân trở thành ngưỡng mộ, tôn
kính, tri ân. Chúng ta nhận thấy trong xã
hội con cháu thờ phụng ông bà, cha mẹ
biểu lộ lòng hiếu thảo. Nhân dân lập
đền thờ các vị anh hùng dân tộc biểu
lộ lòng mến mộ gương đức hy sinh vì
dân vì nước. Điều nầy thể hiện "Cây
có cội nước có nguồn, ăn trái nhớ
kẻ trồng cây" đây là thần
nhân bản trong đạo lý làm người. Cho
nên người Phật tử hơn ai hết ngoài
việc chọn cho mình một vị giáo chủ để
nương theo trên con đường tìm chân lý
còn phải thể hiện đủ ba phương diện:
tri ân, ngưỡng mộ và tôn kính.
Thờ
Phật với lòng tri ân: Người
Phật tử ngoài việc tạo tượng, đúc
chuông, xây dựng chùa chiền bố thí
cúng dường tạo phước, còn phải nhận
thức Đức Phật là một vị giáo chủ
có những đức tánh màchúng ta cần
phải học tập noi theo để từ đó
hướng bản thân mình tiến dần đến
giác ngộ giải thoát như Ngài. Qua hình
ảnh đức Phật khơi lại nguồn tâm của
chúng ta, làm cho nó tỏa sáng với
những đức tính từ bi, bình đẳng.
Thờ
Phật với lòng ngưỡng mộ:
Người Phật tử ngưỡng mộ Phật không
có nghĩa là sùng bái,ca tụng, tôn thờ
như một thần linh ban phước, giáng họa
mà chúng ta ngưỡng mộ Ngài qua những
đức tánh: Bi, Trí và Dũng ( từ bi
vô ngại, trí huệ vô biên và hùng
lực phi thường). Chính ba đức tánh
đặc thù nầy có hiệu năng giúp cho
người Phật tử xây dựng một con
người có lòng nhân, một gia đình hạnh
phúc và hoán cải hoàn cảnh xã hội.
Ngưỡng mộ Đức Phật là chúng ta lập
cước cho bản thân mình đi trên con
đường Ngài đã đi.
Thờ
Phật với lòng Tôn kính: Tôn
kính Phật không có nghĩa là chúng ta
thần thánh hóa Đức Phật mà chúng ta
tôn kính Ngài với một niềm tin qua một
con người đức hạnh cao tuyệt, đưa
đường chỉ lối cho chúng ta thăng tiến
trên bước đường tâm linh. Trên tinh
thần đó người Phật tử là người
thực hiện theo con đường giác ngộ của
Phật, cho nên việc tôn kính Phật ngoài
mục đích tín ngưỡng chúng ta còn thể
hiện noi theo hạnh lành mà Phật đã thể
hiện, trong đời sống.
2/
Nên thờ Đức Phật hay Bồ tát nào?.
Chúng
ta biết rằng các Đức Phật đều có
những đức tính trọn lành, một gương
sáng mà chúng ta có thể nương nơi các
Ngài để tu tập. Thờ Phật là nương
nơi đức tánh đó, chứ không phải
nhờ Ngài ban ơn giáng phước, tuy nhiên
phải tùy theo tâm nguyện của mỗi
người cảm nhận Đức Phật nào mà ta
cảm thấy thích. Đối với Phật giáo
Bắc tông ngoài thờ Phật Thích ca, Di
Lặc, Di Đà, Dược sư...ngoài ra người
Phật tử lại thường thờ các vị Bồ
tát như Quán Âm, Phổ Hiền, Địa
Tạng.... cũng chính điều nầy làm cho
người Phật tử không xác định nhất
quán về việc thờ Phật hay Bồ tát.
Cũng từ những lệch lạc về nhận
thức tinh thần Phật giáo làm cho người
Phật tử sanh ra thờ Phật, Bồ tát một
cách không còn đơn giản mà trở thành
" đa thần giáo " nơi thờ
Phật, Bồ Tát chớp sáng lập loè, mất
hết vẻ tôn nghiêm . Thời đại của
chúng ta là thời đại khoa học cho nên
càng đơn giản càng tốt, vì chính sự
đơn giản là trang nghiêm. Chúng ta nên
thờ độc tôn Đức Phật Thích Ca là vị
giáo chủ cõi Ta bà, vì hình ảnh của
Ngài gần gũi với giáo lý mà chúng ta
đang thực hành, Ngài cũng được các
Chùa cả Nam Tông và Bắc Tông Phật
giáo đều tôn thờ. Phải quan niệm thờ
một vị Phật là thờ tất cả Phật.
3)
Thờ Phật ở đâu cho phù hợp?.
Việc
thờ Phật đối với người Phật tử
là hết sức cần thiết vì ngoài biểu
lộ xác định niềm tin Tam Bảo, còn một
ý nghĩa nhắc nhở chúng ta hằng ngày.
Cho nên việc thờ Phật phải ở nơi trang
nghiêm,trang nghiêm không có nghĩa là
trang nghiêm cho hình ảnh Phật và Bồ tát
mà trang nghiêm cho chính bản thân chúng
ta.Vì kinh Phật dạy: " trang nghiêm
tự thân tức là trang nghiêm Phật độ ".
Thật vậy,trang nghiêm cho khung cảnh nơi
thờ Phật là tạo cho người Phật tử
một niêm tin hỷ lạc khi lễ Phật, tụng
kinh. Như vậy, thờ Phật không nên
rườm rà mà phải thờ sao cho có thẩm
mỹ, vì chính sự thẩm mỹ đó tạo nên
nét đẹp trang nhã phù hợp với tinh
thần đơn giản, giải thoát của Đạo
Phật.
Ngoài
ra người Phật tử có thể treo hình ảnh
Phật nơi phòng khách, phòng đọc sách,
phòng học... nơi mà chúng ta làm việc
hằng ngày, giúp cho chúng ta nhớ đến
Phật với những hạnh lành mà mình cần
phải noi theo, mỗi khi có những chướng
duyên trái ý nghịch lòng, đức Phật
như một vị Thầy bên cạnh nhắc nhở cho
chúng ta từng giây từng phút.
II.
TỤNG KINH, LỄ PHẬT & NIỆM PHẬT:
1/
Nguồn gốc ý nghĩa việc tụng kinh, lễ
Phật& niệm Phật:
a)
Vì sao phải tụng kinh?.
Khi
Đức Phật viên tịch khoảng ba tháng,
các vị đệ tử của Phật nhận thấy
sự quan trọng của Phật còn tại thế
và ý thức đến sự lâu dài những
lời dạy của Ngài nên đã vân tập
về thành Vương Xá đọc lại lời dạy
của Đức Phật. Tôn giả A Nan là vị thị
giả hầu cận Đức Phật nên được
đại chúng đề nghị tuyên lại lời dạy
của Phật gọi là Kinh Tạng, Ưu Ba Ly đọc
lại giới luật gọi là Tạng Luật và
sau nầy bàn luận thêm những điều liên
quan đến lời dạy của Phật gọi là
Luận tạng. Có thể nói đây là lần
kết tập đâu tiên nhằm hệ thống hóa
nền giáo lý của Đức Phật, khỏang 200
năm từ ngày Phật nhập diệt, có nhiều
lần tuyên đọc lại lời Phật mà chúng
ta gọi là "kết tập kinh điển"
nhưng mãi đến khoảng năm 83 trước Tây
lịch mới ghi thành văn bản và sự
trùng tuyên nầy là nguyên nhân đầu
tiên đọc hoặc tụng lời Phật dạy cho
đến ngày nay.Việc tụng kinh không phải
để Phật gia hộ phù trì, làm ăn phát
đạt " ăn nên làm ra " mà
đọc kinh nhằm để nhận ra nghĩa lý mầu
nhiệm của kinh, để áp dụng tu tập trong
đời sống.
b)
Vì sao phải lễ Phật?
Lúc
đức Phật còn tại thế với phong tục
Ấn Độ lúc bấy giờ, lạy là bày tỏ
lòng thành đối với các bậc đạo sư
mỗi khi đến nghe Đức Phật thuyết pháp.
Vì thế cho nên Chư tăng cũng như Phật
tử đều qùy ngay ngắn, chắp tay lạy ba
lạy, đầu cuối lên hai chân Đức Phật
và đặt trán mình lên bàn chân Ngài,
sau đó đi quanh Phật ba vòng gọi là
" nhiểu Phật ", rồi mới
ngồi xuống. Điều nầy được Đức
Phật mặc nhiên chấp nhận như một
người đệ tử đối với bậc thầy
khả kính, chứ không phải là một giáo
điều có tính cách bắt buộc. Sau khi
Phật nhập diệt người đệ tử vẫn xem
Ngài như còn tại thế những hình thức
lễ nghi và cung kính ấy vẫn được duy
trì trong hàng môn đệ của Ngài cho đến
ngày nay.
Lễ
Phật 3 lạy trước khi đọc lời Ngài
nhằm nhớ lại xưa kia mỗi khi nghe thuyết
Pháp đều lạy như vậy. Ba lạy là
tượng trưng cho Tam Bảo tại thế gian, khi
lạy phải qùy xuống, ngữa hai bàn tay ra
như đang nâng hai chân Phật và cúi lưng
đạt trán mình trên hai lòng bàn tay.
Lạy như vậy trong kinh gọi là " thân
tâm cung kính lễ ". Trong Phật giáo
lạy Phật cũng thể hiện, thấu rõ sự
lý vô ngại, đây là quan niệm của
người Phật tử khi thờ Phật lễ Phật,
thọ trì đọc tụng kinh và tọa thiền.
Nếu không nhận ra điều nầy người
Phật tử dễ bị thiên chấp: làm sự
bác lý, hiểu lý thì quên sự, đây
là bệnh cần phải biết để sửa đổi
khi bước chân vào ngôi nhà Phật Pháp.
Về
sự có 2 cách lạy:
a.
Ngã mạn lễ: Lạy Phật mà tâm
không thành, ngoài lạy nhưng trong tâm
không kính, lạy cho lấy có, đầu không
sát đất, đứng lên cúi xuống một
cách cẩu thả.
b.
Cầu danh lễ: Lạy để người khác
thấy mình là biết lạy, nhằm cho người
khác khen mình nhưng khi không có ai thì
biếng nhác, giải đải không muốn lễ
bái.
Về
lý có 4 phép lạy:
a.
Phát trí thanh tịnh lễ: Người lạy
Phật thấu được cảnh giới chư
Phật,lạy một vị phật là lạy tất cả
Phật, lạy một lạy là lạy cả pháp
giới vì hiểu được Pháp thân Phật
đều dung thông .
b.
Biến nhập Pháp giới lễ: Khi
người lạy Phật nhận biết quán thân
tâm của mình cùng pháp giới không
rời nhau.
c.
Chánh quán lễ: Lạy Phật là lạy
tự tâm của chính mình, vì tất cả
chúng sanh đều có tánh giác bình đẳng
như nhau: " ở thánh không tăng ở
phàm không giảm " là ý nầy. Cho
nên không bị ngoài duyên Phật bên
ngoài chi phối, quên Đức Phật thật ở
bên trong, người xưa thường nói: "dĩ
huyển độ chơn" (nương nơi cái
giả để tìm ra cái chân thật)
d.
Thật tướng bình đẳng lễ: Lạy
Phật với tâm" năng lễ sở lễ
tánh không tịch " ( người lễ và
người được lễ đều vắng lặng) hay
còn gọi là phàm thánh là một không
hay không khác.
Bốn
cách lạy trên thuộc lý cho nên nó cao
thâm, nếu không suy tư tột cùng lý
tánh thì khó có thể hiểu một cách
xác đáng được.
c/ Vì sao phải niệm Phật?
Niệm
Phật là niệm hay nhớ nghĩ đến tánh
giác của chính mình,phương pháp nầy
giúp cho hành giả đạt đến trạng thái
định tâm, không bị phiền não dấy
khởi. Phương pháp nầy còn là hạt
giống gieo vào cõi nước Cực Lạc, sau
khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh
về.
Niệm
Phật được phát xuất từ một câu
chuyện : "A Xà Thế là con vua Tần
Bà Sa La và Hoàng Hậu Vi Đề Hy, vì nghe
lời xúi dục của Đề Bà Đạt Đa,
đoạt ngôi vua cha bắt nhốt vào ngục,
không cho ăn uống để phải chết đói.
Hoàng Hậu Di Đề Hy biết vậy cho nên xin
vào thăm, bà lén đắp thức ăn vào
người, để đem vào ngục cho vua ăn. A
Xà thế biết được liền hạ lệnh giam
Hoàng Hậu,trong lúc cực kỳ đau khổ
đó, Hoàng hậu tưởng nhớ đến Đức
Phật. Đức Phật cũng cảm nhận được
tâm niệm của Hoàng Hậu nên hiện đến
thuyết Pháp nói về pháp môn niệm Phật
cỏi Phật A Di Đà ở Tây phương và
dạy bà phương pháp quán Vô lượng
thọ. Chính nhờ tu tập pháp môn nầy sau
khi chết Hoàng hậu được vãng sanh ".
Niệm
Phật theo tinh thần của Tịnh độ tông có
nhiều loại, ở đây đề cập đến một
số phương pháp:
-Trì danh niệm Phật:
Hành giả chuyên tâm niệm Phật A Di Đà
mỗi ngày từ khi thức dậy trong 4 oai nghi
( đi,đứng, nằm, ngồi) cho đến lúc ngủ
không cho các tạp niệm xen vào.
-Tham cứu niệm Phật:
Đây có thể nói là một câu tham thoại
đầu cuả Thiền tông,vì người niệm
Phật luôn luôn quán sát, đặt câu
hỏi: Niệm Phật là ai?, niệm phật từ
đâu đến?, đến rồi đi về đâu?...
-Quán tượng niệm
Phật: Hành giả ngồi trước tượng
Phật quán sát các tướng tốt của
Phật, nhờ chú tâm quán sát nầy mà
tâm hành giả thấm nhuần lâu ngày
thành nhất tâm bất loạn.
-Quán tưởng niệm
Phật: Hành giả quán tưởng đến hình
ảnh đức Phật A Di Đà, đi đứng không
bị gián đoạn, lúc nào cũng đều thấy
hình Phật hiện trước mắt hành giả.
-Thật tướng niệm
Phật: Hành giả niệm Phật đạt đến
bản thể chơn tâm không sanh diệt, như
như bất động, không còn năng và sở (người
niệm và câu niệm) đây là phương
pháp niệm Phật thuộc về "lý"
còn 4 phương pháp trên thuộc "sự
" "niệm đến vô niệm mới là
chơn niệm".
Trong năm phương pháp
nêu trên thì hành giả niệm Phật thì
người niệm Phật chọn "trì danh
niệm Phật" vì dễ thực hiện.
Ngoài niệm Đức Phật A Di Đà ra người
Phật tử còn niệm Phật Thích Ca Mâu Ni,
Quán thế Âm...
d) Ý nghĩa lợi ích của
tụng kinh, lễ Phật & niệm Phật:
Ý
nghĩa:
-
Đọc tụng kinh để cảm nhận lời Phật
dạy và thấy mình không có phước
duyên nghe chính từ kim khẩu Phật nói
Pháp và cũng thông qua đọc kinh chúng ta
mới tư duy quán chiếu những lới dạy
của Ngài để từ đó thực hành tu
tập. Mục đích của việc tụng kinh là
để thấu hiểu những nghĩa lý thâm sâu
trong lời kinh, cho nên kinh nào cũng có
thể thọ trì miễn kinh đó là của Phật
dạy và phù hợp với trình độ nhận
thức của chính ta. Điểm quan trọng là
việc tụng đọc kinh là hiểu được lý
kinh để cố gắng thực hiện, sống với
điều kinh nói, chứ không phải chỉ tụng
cho nhiều hay ít hoặc kinh này cao hay kinh
khác thấp, kinh nầy tiêu nghiệp có
phước, kinh kia đổ nghiệp.
-
Lễ Phật là lễ những đức tánh cao
cả của Chư Phật, lạy cũng giúp cho
chúng ta giảm bớt đi lòng kiêu căng
ngã mạn, cống cao. Lạy Ngài là mong
muốn được noi theo những đức tính
từ bi hỷ xả của Phật và Bồ tát,
ngoài ra không phải vì mục đích mong
Phật, Bồ Tát ban ơn gia hộ. Lễ Phật
còn là một biểu hiện tinh thần hướng
thượng của người Phật tử đối với
đấng giác ngộ mà chúng ta đang hướng
về để tu tập học hạnh giải thoát.
Lợi
ích :
-
Về Cá nhân
: Lúc tụng kinh, lễ Phật tâm
hành giả đặt vào văn kinh và
tượngPhậ mà mình đảnh lễ nên sáu
căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
ý) nhiếp niệm một chỗ nên thân,
miệng, ý không buông lung tạo ác
nghiệp.
-
Về gia đình: Trong
gia đình nếu có người biết tụng
kinh,lễ Phật thì gia đình đó có một
nếp sống thuần lương đạo đức do ảnh
hưởng qua lời kinh, tiếng mõ và biết
lễ những bậc giác ngộ. Nếu trong gia
đình khi nghe tiếng tụng kinh,thấy người
khác lễ Phật tuy không thích cũng giảm
đi sự ồn ào náo nhiệt, có một cảm
mến, gia đình đó nhờ vậy mà hoà
thuận êm ấm.
-
Về những người chung quanh:
Trong những giờ phút tụng kinh lễ Phật
hương trầm hoa øquyện vào với tiếng
mõ nhịp đều pha lẫn tiếng chuông ngân
có thể làm cho những người xung quanh
thức tỉnh giấc mê quay về với thực
tại, khi nhìn thấy một người biết lễ
bái và tiếng kinh đi vào tai người nghe,
gợi cho tâm thức người ấy một cử
chỉ hướng thượng.
Để
kết luận phần nầy chúng ta hãy đọc
lại lời bạc trong Khoá Hư Lục
của Trần Thái Tông nhằm thấy rõ
ý nghĩa đích thực của việc tụng kinh,
ngồi thiền, niệm Phật và lễ Phật :
Lễ
Phật giả kính Phật chi đức,
Niệm Phật
giả cảm Phật chi ân,
Trì giới
giả hành Phật chi hành,
Khán kinh
giả minh Phật chi lý,
Tọa thiền
giả đạt Phật chi cảnh,
Tham thiền
giả hiệp Phật chi tâm,
Thuyết
Pháp giả mãn Phật chi ý.
Dịch
nghĩa:
Lễ
Phật là kính đức của Phật,
Niệm Phật
là cảm ân đức cuả Phật,
Giữ giới
là hành hạnh của Phật,
Xem kinh
là để rõ lý của Phật ,
Tọa thiền
là để đạt cảnh của Phật,
Tham thiền
là để hợp cái tâm của Phật,
Thuyết
pháp là để đầy đủ nguyện của
Phật.
III.
VẤN ĐỀ ĂN CHAY:
V
ấn đề ăn uống trong đời sống con
người là một trong những nhu cầu không
thể thiếu, chính vì thế mà dân gian
thường nói: "miếng ăn là miếng
tồi tàn, mất đi một miếng lộn gan lên
đầu". Thật vậy con người sống
trong xã hội tranh đấu giành với nhau
cũng chỉ vì ăn mà ra. Đạo Phật không
phủ định sự ăn cho nên trong kinh đức
Phật cũng khẳng định:" cơ thể do
ăn mà tồn tại, do ăn mà phát triển ",
chính vì lẽ đó mà con người tạo biết
bao là sát nghiệp cũng chỉ vì phục vụ
cho thân mình, lúc còn là một Thái tử
có lần Ngài than:" sự sống, sống
bằng sự chết ". Qua đó chúng ta
thấy rằng người Phật tử không phải
ăn chay vì "ăn kiên",hay ăn
đểđổi món ăn cho ngon miệng mà là
một phương pháp tu tập quan trọng mà
người thực hiện sẽ có lợi ích cho
bản thân cho gia đình và cho cộng đồng
xã hội.
1)
Mộät số quan điểm & lợi ích
củaviệc ăn chay:
Trong
Phật giáo truyền thống ăn chay được
phát xuất vào lúc nào? Thời kỳ Đức
Phật còn tại thế ăn chay hay ăn mặn (?
) đó là những thắc mắc của nhiều
Phật tử tại gia khi nghe hoặc thấy trong
Phật giáo tại sao có nhiều quan điểm
và biểu hiện về ăn uống không đồng
nhau?. Ở nội dung của bài nầy chúng
tôi chỉ đề cập đến quan điểm lập
trường ăn chay như là một phương pháp
tu tập không thể thiếu được đối
với người Phật tử tại gia. Về mặt
quan điểm chúng ta không phê phán mà
chỉ dẫn chứùng những kinh điển của hai
hệ tư tưỡng Phật giáo, nhằm giúp cho
người Phật tử nhìn đúng đắn hơn về
ăn chay hầu khẳng định lập trường tu
tập của mình va xem đây là dịp cho
người con Phật nuôi dưỡng lòng từ
và tránh được nhân quả nghiệp báo
trong hiện tại cũng như tương lai, dựa
trên nền tảng của lời Phật dạy qua hai
bộ phái chính là Nguyên Thủy và Đại
thưà Phật giáo làm cứ liệu về
thuyết ăn chay của Đạo Phật.
a/
Quan điểm của Phật giáo Nguyên thủy:
P
hật giáo Nguyên thủy cho rằng chính
đức Phật cũng không đặt thành vấn
đều ăn chay là tiêu chí hàng đầu vì
sự giải thoát không phải do ăn chay mà
được; ăn là để có sức khoẻ để
hành đạo là chính vì thế quan niệm ăn
chay không có mặt trong thời kỳ đầu
của Phật giáo.
Tất
cả chư Tăng Phật giáo Nam tông ở
nhiều quốc gia như: Tích Lan, Thái Lan,
Miến Điện, Campuchia, Lào ... một số
nước tu theo Phật giáo Nam tông và một
số tu sĩ tu theo PG Nam tông Việt Nam vẫn
giữ truyền thống nầy. Quan niệm của
Phật giáo Nguyên thủy cho rằng, bản
thân họ không sát sanh, không khích lệ
người khác sát sanh, không tùy hỷ sự
sát sanh và vì thế không phạm giới
sát sanh. Có lần Đề Bà Đạt Đa đến
thỉnh cầu Đức Phật ban hành cấm các
vị Tỳ Kheo không được ăn thịt cá,
Đức Phật không chấp nhận Ngài nói:
"Sự ăn thịt cá có thể coi như
trong sạch với ba trường hợp ( tam tịnh
nhục): người ăn không thấy,
không nghe, không có lòng hoài nghi rằng
con vật bị giết riêng cho mình";
trong một đoạn kinh Amagandha Đức Phật
nói với Jivaka:" phẩm hạnh xấu xa
của người làm tội bằng nhiều cách
khác nhau, còn tệ hại hơn là ăn thịt
cá nhiều ".
Trong
Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận
của Kimura Taiken có dẫn một đoạn kinh A
Hàm: " Tôi muốn sống, không muốn
chết, muốn được sung sướng không
muốn đau khổ. Nếu có kẻ nào cướp đi
sự sống của tôi, tôi có vui vẻ
không?. Nếu tôi không vui vẻ, thì kẻ
khác cũng không vui vẻ khi tôi cướp đi
của họ sự sống và sự sung sướng
ấy. Không những thế phàm cái gì mình
không ưa thích thì kẻ khác cũng không
thích..."
Qua
những trích dẫn nêu trên chúng ta thấy
rằng Phật giáo Nguyên Thủy cho rằng sự
bất tịnh của con người không phải do
ăn, mà nó chính là lòng tham lam, sân
hận, si mê, gian xảo, kiêu căng, tật
đố....tạo thành ác nghiệp. Chính vì quan
niệm như vậy cho nên việc ăn chay hay ăm
mặn là không bắt buộc, vì Đức Phật
và đệ tử của Ngài theo truyền thống
sống vào sự khất thực "ăn
để mà sống chứ không phải sống để
ăn".
b/
Quan điểm của Phật giáo Đại thừa:
Trái
với những quan niệm trên Phật giáo
Bắc tông cho rằng người Phật tử là
người nuôi dưỡng lòng từ thì không
vì một lý do gì mà không thực hiện
tinh thần từ bi của Phật trong đời
sống.
Về lịch sử:
-
Việc ăn chay sau khi Phật nhập Niết đạo
Phật phát triển về phương Bắc và phát
triển mạnh vào thời điểm 274 - 232 (
khoảng thế kỷ 13 trước Tây lịch) vào
thời đại Asoka (A Dục Vương ), một vị
Hoàng đế Phật tử ăn chay trường và
khuyến khích mọi người ăn chay, nhà Vua
còn ra lệnh cấm mọi hành động giết
thú vật để tế lễ thần linh, việc săn
bắn trong rừng, dưới sông đều bị
cấm. Ngài xây dựng nhiều bia đá ghi
khắc giới luật và lời Phật dạy, trong
một bia đá có ghi "Không nên lấy
sự sống nuôi sự sống. Cho đến rơm
rạ, nếu còn côn trùng trong ấy, cũng
không nên đốt ".
-
Khi Phật giáo du nhập vào đất nước
Trung Hoa dưới triều đại nhà Lương
(502-594 trước Tây lịch), triều đình đã
ban hành lệnh cấm tất cả các thức ăn
thịt cá tổ chức tại các buổi tiệc
trong hoàng cung và yêu cầu dân chúng
ăn chay, Nhà vua cũng cấm việc giết thú
vật tế lễ thần linh trong Đạo giáo(
Lão giáo), cấm không được dùng
những con vật như tắc kè, rắn, hổ
...làm thuốc. Đến triều đại nhà
Đường việc ăn chay càng được triều
đình cổ vũ , mãi đến triều Minh có
Hoà Thượng Vân Thê - Châu Hoằng
(1565-1615) là vị xiển dương việc ăn chay
một cách mạnh mẽ, không những khuyên
ăn chay mà còn khuyến khích mọi người
nên phóng sanh.
Về
Kinh Đại thừa:
Trong
Kinh điển của Phật giáo Đại thừa rải
rác nhiều đoạn Đức Phật nói đến
việc cấm ăn thịt :
-
Kinh Lăng già (Lankavatara) "Có thể
có một số tín đồ của Ta còn mê muội
sau khi Ta nhập diệt, không biết lời dạy
và sự dạy của ta vá có thể kết
luận sai lầm rằng; Ta cho phép họ ăn
thịt và chính Ta cũng ăn thịt . Điều
nầy hẳn là sai lầm. làm sao những
người đang an trú trong tâm từ bi, tu
tập khổ hạnh và cố gắng theo con
đường Đại thưà, lại có thể bảo
những người khác ăn thịt thú vật?.
Qủa thực Ta đã từng đưa ra những qui
định về sự ăn, chứ không qui định
về sự ăn thịt...".
-
Kinh Lăng Nghiêm : "Người tu chánh
định cốt ra khỏi trần lao, nếu tâm sát
hại chẳng trừ, thì chẳng thể ra khỏi,
dẫu có nhiều trí hiện tiền, mà chẳng
dứt sát hại ắt phải lạt vào đạo
qủy thần ...Các loài qủy thần kia cũng
có đồ chúng, mỗi mỗi đều xưng đã
thành đạo vô thượng,sau khi ta diệt
độ,trong đời mạt pháp, loại qủy thần
nầy sôi nổi trên thế gian, tự nói ăn
thịt cũng đạt được đạo Bồ Đề....".
-
Kinh Niết Bàn: "Này Ca Diếp, bắt
đầu từ ngày nay trở đi , Như Lai không
cho phép hàng Thanh văn ăn thịt, nếu
đàn việt đem đến dâng cúng phải xem
thịt ấy như con thịt mình.Như Lai cấm tất
cả các đệ tử không được ăn bất
cứ thịt gì".
-
Trong đoạn kinh khác, một hôm Ngài A Nan
bạch Phật:
-
"Bạch đức Thế tôn, tại sao
trước kia Phật cho các đệ tử ăn "tam
tịnh nhục" mà nay Ngài lại cấm
không được ăn thịt?.
-
Đức Phật nói: "Vì trình độ
các ông trong buổi sơ cơ còn thấp kém,
chưa có thể lãnh thọ ...đến nay trình
độ các ông đã cao nên ta cấm tuyệt
đối ăn thịt cá ".
c/ Q
uan điểm ăn chay của người Tây Phương:
Hiện
nay trên thế giới có hai chế độ ăn
uống: một chế độ ăn thực phẩm với
rau đậu, ngũ cốc mà người Đông
phương cho rằng đó là ăn chay, còn một
chế độ khác là ăn cá thịt và các
thức ăn biến chế từ cá thịt, các
động vật. Khoa học đã có những công
trình nghiên cứu cho rằng các loại bệnh
như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
não, một số bệnh ung thư là do ăn
nhiều thịt động vật, các chất bơ,
sửa. So sánh hai chế độ ăn uống nêu
trên thì chế độ ăn thực phẩm rau,
đậu có nhiều sức khoẻ, ít bệnh tật
hơn ăn thịt cá. Điều nầy đã chứng
minh cho chúng ta thấy nạn thịt bò điên
tại Anh năm 1998 và thịt gà tại Hồng
Kông năm 1999, tạo nên sự khủng hoảng
kéo dài cho đến ngày nay vẫn còn là
một sự ám ảnh cho nhiều quốc gia trên
thế giới, nhập khẩu các loại thịt
nầy. Bà Linda Gilbert Chủ tịch Tổng giám
đốc công ty Heath Focus( Tư vấn và tiếp
thị ) ở Mỹ phát biểu: " Hình như
chủ nghĩa ăn chay đang tràn ngập các
quầy hàng heath food và đang trên đường
đi vào các dòng sinh hoạt chính của
đời sống người dân Mỹ " và
bà kết luận : " Chiều hướng
giảm thiểu hoặc chấm dứt ăn thịt sẽ
tiếp tục ". Trên thế giới ngày
nay vấn đề môi trường sinh thái và
các Hội bảo vệ động vật hoang dã có
khuynh hướng càng ngày càng nhiều,
chứng tỏ tinh thần tôn trọng sự sống
của người Tây phương có chiều hướng
phát triển; Bác sĩ Albert Schweitzer,
người đoạt giải Nobel về hoà bình đã
nói: " không giết sinh vật kể cả
côn trùng, không ăn bất cứ cái gì
mà trước kia đã từng có sự
sống"
2)
Lợïi ích của sự ăn chay:
Ăn
chay ngoài ý nghĩa là một phương pháp tu
tập nó còn ảnh hưởng về mặt đời
sống, dưới đây là bản so sánh của Bác
sĩ Lê văn Cầm - Tâm Chánh (
Pháp) chúng tôi trích từ quyển "Quan
điểm về ăn chay của đạo Phật" do
Tâm Diệu biên soạn nhằm giúp qúi
Phật tử so sánh trên cơ sở khoa học :
BẢNG
SO SÁNH TÍNH THEO 100 GRAM MÓN ĂN
| |
Chất đạm |
Chất béo |
Chất ngọt |
Chất vôi |
Chất sắt |
| Trứng gà trứng vịt Thịt bò
Cá chiên hay
nướng
Thịt gà
nướng
Sữa tươi
Gạo lức
Gạo trắng
Trái chanh
Trái xoài
Trái cam
Đậu phụng rang
Đường trắng
Củ cải đỏ
Cải bắp
Rau dền tươi
Đậu trắng
lớn hột
Đậu nành
Khoai lang tây
Khoai lang ta
nướng
Cà chua tươi
|
12,8 18,6
24,0
22,1
3,2
7,7
7,7
0,7
26,7
1,2
1,4
2,3
21,8
43,0
2
1,9
1
|
11,6
16,0
12,5
3,9
3,6
1,7
0,3
0,2
44,2
0,3
0,2
0,3
1,7
2
0,1
0,7
0,3
|
0,8
4,7
77,7
79,4
13,3
17,2
10,1
23,4
99,5
9,3
5,3
3,2
62,0
19
19,1
27,9
4
|
0,062 0,007
0,026
0,013
0,110
0,066
0,010
0,022
0,005
0,019
0,067
0,045
0,046
0,147
0,102
0,013
0,020
0,010
|
2,90 8,70
1,32
3,32
0,20
2
0,90
0,60
0,30
0,20
2
0,62
0,43
2,55
10
8,51
1,02
0,80
0,44
|
Trên
bảng này số trong 4 cột đầu chỉ về
Gram. Số trong cột "sắt" chỉ về
Miligram. Số trong cột sinh tố chỉ về đơn
vị quốc tế
-
Chất đạm thường có nhiều trong đậu
nành, đậu phộng, thịt, cá...
-
Chất béo thường có nhiều trong dầu,
mỡ, bơ (Le beurre)...
-
Chất ngọt thường có nhiều trong
đường, mía, các thứ trái cây chín,
các loại bánh ngọt hay kẹo, mứt hoặc
cà-rem...
Hơn
nữa, chúng ta còn thấy các chất vôi,
chất sắt cũng như các sinh tố A, B, C, D,
E, F... và nước nữa.
Cho
nên, chúng ta ăn uống hằng ngày phải
lựa chọn thế nào cho có đầy đủ
chất bổ để nuôi cơ thể, thông
thường thân thể con người cân nặng
khoảng 55 đến 75 kg, thì phải có từ
2.000 đến 3.000 mới đủ số nhiệt
lượng (calories). Ví như một người cân
nặng 60 kg, thì phải cần dùng 60 grammes
chất đạm, 360 grammes chất ngọt và 60
grammes chất béo. Bởi vì, các nhà khoa
học đã chứng minh được là 1 gramme
chất béo sanh được 9 đơn vị nhiệt
lượng. Do vậy, chúng ta dùng những
thực phẩm kể trên, sẽ có được đơn
vị nhiệt lượng như sau :
60
gr. chất đạm x 4 = 240
360
gr. chất ngọt x 4 = 1.440
60
gr. chất béo x 9 = 540
____________
Cộng chung = 2.220
Qua bản so sánh nêu trên
ăn chay sẽ có những lợi ích như sau:
-Tránh
được các bệnh tật do các động vật
mang lại qua ăn mà phát sinh, như cổ
nhân thường nói:
"Họa
tùng khẩu xuất, bệnh tùng khẩu
nhập" (họa do miệng mà ra, bệnh do
miệng mà vào) thân thể được khoẻ
mạnh.
-
Nuôi dưỡng tinh thần từ bi trong mỗi con
người, chính nhờ ăn chay mà các ác
pháp không phát sinh tinh thần được
nhẹ nhàng trong sạch.
IV.
SÁM HỐI Ý NGHĨA & LỢI ÍCH:
1)
Khái niệm về sám hối:
Đức
Phật thường ca ngợi " Ở đời
có hai hạng người đáng khen: hạng
người thứ nhất là người không có
lỗi, hạng thứ hai là người có lỗi
mà biết ăn năn sám hối". Ngài
khẳng định một cách qủa quyết :" Phàm
còn xuống lên trong ba cõi, lăn lộn trong
sáu đường, thì không một loài nào
hoàn toàn trong sach, không một ai mà
chẳng có tội ". Tất cả mọi
chúng sanh trong đời sống hằng ngày
không ai là không có lỗi lầm do vô
tình hoặc cố ý tạo nên. Người Phật
tử là người dám mạnh dạn nhận ra
những lỗi lầm mà mình phạm phải. Trong
Phật giáo sám hối không phải
là"rửa tội" hay xá tội như
một số quan niệm của các tôn giáo
khác, mà đây là một hành động mạnh
dạn nhận ra lỗi lầm để rồi sau đó
tự mình sửa đổi.
Phật
giáo không bao giờ tin có một vị thần
thánh nào có thể xá tội hay buộc tội
mà Sám hối là một phương pháp phản
tỉnh chính mình, nhằm thăng hoa tự thân
cho mỗi người con Phật trên bước
đường tu nhân học Phật. Có thể xem
đây là con đường chuyển hóa tam
nghiệp trong qúa trình hoàn thiện nhân
cách của một con người từø địa vị
phàm phu bước lên Phật qủa.
2)
Sám hối là gì ?.
a/
Định nghĩa: Tiếng Phạn gọi là
Samma, Trung Hoa dịch âm là"hối
qúa". Trong kinh nói : "Sám giả,
sám kỳ tiền khiên, Hối giả, hối kỳ
hậu qúa" ( ăn năn lỗi trước,
chừa bỏ lỗi sau).
Như
vậy, Sám hối là tự mình ăn năn, hổ
thẹn những lỗi lầm trước đây đã
tạo, nguyện sửa đổi không dám tái
phạm những lỗi lầm đó nửa. Nói
cách khác Sám hối là "ăn năn
chừa bỏ ", đây là trọng tâm
của sự sám hối. Nhưng nếu cứ
thường xuyên phạm tội, rồi thường
xuyên sám hối, lại phạm tội lại sám
hối, như vậy không còn ý nghĩa và
không phải là phương pháp sám hối của
Phật dạy.
Sám
hối có thể xem như là sự mạnh dạn
ăn năn nhận lỗi của người thế gian,
khi mình làm cho người nào đó buồn
phiền tức giận, đến xin lỗi. Trong Phật
giáo cũng thế, do thân hành động sai,
lời nói không khéo, ý buông lung niệm
ác, nay nhận ra bộc lộ lỗi lầm của
mình, tha thiết hối lỗi quyết không tái
phạm.
b/
Các pháp sám hối : Chúng biết
lỗi lầm là do tâm tạo, cho nên cũng
phải do tâm ăn năn sám hối, chính vì
lẽ đó mà các vị tổ sư đã chọn lọc
một số phương pháp sám hối trên cả
hai phương diện sự và lý. Bài văn
sám hối mà người Phật tử thường
đọc nhất mỗi khi tác pháp sám hối:
Xưa
nay đã tạo bao ác nghiệp,
Đều
bởi vô thỉ tham sân si
Từ
thân miệng ý mà sanh ra
Tất
cả,nay con xin sám hối.
Về
sự sám hối:
-Tác
pháp sám hối:Lập đàn thỉnh
chư Tăng chứng minh,người sám
hối trình bày lỗi lầm của mình thành
khẩn ăn năn,sám hối không tái phạm
nửa.
-Thủ
tướng sám hối: Người sám
hối đến trước bàn thờ Phật và Bồ
Tát thành tâm lễ bái từ 1 ngày, 7
ngày cho đến 49 ngày, khi nào thấy
được tướng hảo của Phật và Bồ
tát hoặc hoa sen thì mới thôi.
-Hồng
danh sám hối: Đây là pháp sám
hối do Bất Động pháp sư đời Tống
biên sọan lấy từ 53 danh hiệu Phật trong
Kinh Ngũ Thập Tam Phật và rút 35
danh hiệu trong kinh Quán Dược vương,
Dược Thượng.Đây là nghi thức
sám hối phổ thông nhất được các
Chùa Việt Nam thường dùng trong những
ngày Sám hối .
Về
lý sám hối:
-Vô
sanh sám hối: lý sám hối
dành cho những người có căn cơ cao, cho
nên ở đây chúng ta chỉ biết qua một
pháp nầy với hai cách qúan:
-
Quán tâm vô sanh: Đây là lý được
rút từ Kinh Kim Cang: " Tâm qúa
khứ không thể được, tâm hiện tại
không thể được và tâm vị lai cũng
không thể được". Dùng pháp
quán để thấy rõ : " Tội từ
tâm sanh cũng từ tâm mà diệt ".
-
Quán pháp vô sanh: Quán sát thật
tướng không sanh diệt "ở thánh
không tăng ở phàm không giảm";
đây chỉ cho chơn tâm, Phật tri kiến,
Pháp thân ...Vì khi nhận được chơn tâm
rồi thì các tướng sanh diệt không còn.
Tuy
có nhiều phương cách khác nhau về sám
hối nhưng người Phật tử chúng ta phải
tự chọn cho mình một cách thích hợp
với mình nhất để nương nơi đó mà
sám hối, miễn sao chúng ta đọc và hiểu
được nghĩa lý của việc làm thì thật
sự mới có lợi ích. Trái lại, miệng
đọc mà không hiểu ý nghĩa thì chẳng
được lợi lạc gì. Đây là cái tệ
trong Phật giáo hiện nay.
3/
Lợi ích của sám hối:
Nếu
người Phật tử biết sám hối nghĩa là
biết sửa đổi, tức nhiên là một
người đó có tiến bộ trên con
đường tu tập sẽ được những lợi
ích thiết thực trong hiện tại cũng như
tương lai. Đức Phật đã dạy trong kinh
Trường A Hàm: "Ai biết sửa đổi
lỗi lầm thì người đó có tiến bộ
trong giáo pháp của Như Lai" và
Ngài cũng khẳng định: "Người có
lỗi không biết sửa đổi, diệt trừ
nơi tự tâm, thì lỗi ấy sẽ đến thân,
như nước chảy về biển, dần dần thành
sâu rộng " ( Kinh tứ thập nhị
chương) . Qua đó chúng ta rút ra được
những lợi ích như sau:
·
Mọi hành động trong đời sống không bị
sa vào lầm lỡ vì chúng ta đã có ý
chí cương quyết biết nhận ra lỗi lầm.
·
Phẩm giá con người được nâng cao,
các hạnh lành càng ngày càng phát
triển, vì không tạo nhân xấu trong hiện
tại .
·
Thân tâm luôn luôn nhẹ nhàng vì không
lo âu sầu muộn.
B.
BỒN PHẬN & TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI
PHẬT TỬ TẠI GIA:
I. KHÁI QUÁT BỒN
PHẬN & TRÁCH NHIỆM:
Bất
cứ người nào sống trong xã hội đều
phải có trách nhiệm và bổn phận tùy
theo môi trường và hoàn cảnh của
từng cá nhân mà bổn phận và trách
nhiệm được thể hiện một cách khác
nhau.Người dân có bổn phận đối với
quốc gia,vợ có bổn phận trách nhiệm
với chồng và ngược lại, cha mẹ có
bổn phận và trách nhiệm đối với con
cái và ngược lại. Một gia đình thực
sự có hạnh phúc yên vui không thể
không có nghiã vụ trách nhiệm của
những thành viên trong gia đình. Một
quốc gia có những công dân làm rạng
danh cho tổ quốc là nhờ vào sự đóng
góp của công dân đó có lòng yêu
đất nước thực hiện trách nhiệm và
nghĩa vụ của mình một cách thiết thực.
Một nhà xã hội học đã nói: " Thân
ta là một phần tử trong xã hội,vậy
mỗi việc của ta làm cũng phải giúp
được sự sinh hoạt của xã hội ".
Đối với người