Dưới
đây là một thời Pháp của Acharn Plien về "Căn Bản Pháp Hành
Thiền":
*
Tính chất cốt yếu của pháp hành thiền Định (Samàdhi) là học hỏi
nhằm hiểu biết cái tâm.
*
Tâm hay biết và suy tư , nghĩ ngợi điều này rồi nhảy sang điều kia,
quây quần theo những vấn đề khác nhau. Lơ đểnh buông lơi, lợi
dưỡng trong giả tưởng và những ý niệm ấy là làm cho tâm luôn
luôn khuấy động, không bao giờ ngừng nghỉ.
*
Hay biết, theo dõi, ghi nhận cái tâm suy tư, được gọi là niệm
(sàti).
*
Thấu hiểu cái tâm đang suy tư là sampajanna, tức hiểu biết rõ ràng
và sáng suốt.
*
Chúng ta cần phải rèn luyện chú niệm (sàti) và hiểu biết rõ ràng
(sampajanna) đủ bén nhạy để kịp theo dõi tâm.
Nếu
chú niệm còn yếu ắt không đủ lanh lẹ để theo kịp cái tâm vốn
phóng chạy đầu này, xẹt nhảy đầu kia vô cùng nhanh chóng, và do
đó pháp hành vắng lặng (samàdhi) không thể tiến triển tốt đẹp,
ta không thể gom tâm vào đề mục đã chọn, không thể chăm chú
vào hơi thở-vào và thở-ra. Thay vì thế, tâm cứ tiếp tục trôi
chảy theo con đường thiên nhiên của nó, niệm bị bỏ rơi lại, mãi
chạy theo sau không bắt kịp. Chúng ta cố gắng đem nó trở về. Vừa
gần đến nơi thì nó đã lẫn thoát nhảy vọt sang "Hoa Kỳ",
và trong khi theo dõi, ta thấy nó đã về Thái
hoặc sang Đức.
Chúng ta chỉ có thể đuổi chạy theo sau nhưng không bắt kịp vì niệm
vẫn chưa được phát triển đầy đủ, chưa thuần thục. Niệm không
theo kịp tâm. Đó là căn nguyên của những vấn đề khó khăn mà
hành giả gặp phải trong khi trau giồi thiền vắng lặng (cũng gọi
thiền định, hay thiền chỉ). Vì lẽ ấy, điều chánh yếu là phải gia
công chuyên cần trau giồi niệm (sàti).
*
Pháp hành nhằm phát triển chú niệm khởi đầu bằng cách hay biết
oai nghi (tư thế) của thân trong giây phút hiện tại.
Đứng,
hay biết mình đang đứng. Đi, hoặc nằm, ngồi, luôn luôn theo sát sự
di chuyển và oai nghi của thân vào lúc ấy. Tắm, ăn, hoặc đi giải,
luôn luôn hay biết đầy đủ những gì đang xảy ra. Sự hay biết
không gián đoạn những tác động của thân đem niệm (sàti) và hay
biết rõ ràng (sampajanna) lên hàng đầu.
Một
khi chú niệm và giác tỉnh đã thuần thục, quý vị sẽ hay biết sự
thay đổi oai nghi ngay vào lúc tác động xảy diễn: đang làm việc,
giặt quần áo, rửa chén, đọc hay viết, may vá hay thêu thùa, bất
luận việc gì mà quý vị đang làm, quý vị sống trong đó, ngay trong
hiện tại, trong tác động. Ngay trong lúc đang làm, trong công việc đang
làm. Không để phóng tâm, chớ nên lơ đểnh để tâm xẹt nhảy.
Đó là phương cách trau giồi niệm trong cuộc sống hằng ngày.
Quý
vị sẽ thấy rằng niệm trở nên nhanh nhẹn, sắc bén hơn, có thể
nhận ra và bắt kịp cái tâm luôn luôn trôi chảy. Bất luận nơi nào
mà tâm phóng đến, niệm sẽ theo sát và kịp thời đem trở về đề
mục (cũng gọi là công án). Đã điêu luyện hơn trong pháp hành,
quý vị có thể thành công gom tâm an trụ vào hơi thở-ra thở-vào.
Mỗi khi tâm phóng, quý vị sẽ có thể bắt lại và đem trở về hơi
thở.
Giờ
đây niệm (sàti) đã thuần thục và sắc bén, quý vị hãy đưa tâm
cùng với chiều hướng suy tư của nó an trụ vào hơi thở cho đến
khi cảm nhận luồng hơi thở ra vào. Vào lúc quý vị thật sự cảm
nhận hơi thở, tâm cũng hiện hữu cùng với hơi thở. Nếu không
thấy rõ ràng hơi thở, ắt tâm đã phóng đi đâu khác. Chừng khi
đem tâm trở lại, quý vị phải có thể hiểu biết như vậy. Dầu sao,
nếu không còn ở với hơi thở tâm sẽ phóng đi bất định và
không còn hay biết.
Quý
vị hành giả nào có thể gom tâm quán niệm ở hơi thở một cách
tương đối dễ dàng sẽ thấy rằng tâm mình trở nên an tĩnh, vắng
lặng, cùng với hơi thở-ra thở-vào. Có sự hay biết rõ ràng
từng hơi thở-ra, thở-vào, nặng hay nhẹ, dài hay ngắn, luồng hơi
này tiếp theo luồng hơi khác. Trạng thái hay biết như vậy chỉ rằng
tâm đã cùng ở với hơi thở.
Nên
hiểu biết như thế này: Nếu tình trạng gom tâm như vậy chỉ phát sanh
yếu ớt và tồn tại trong một thời gian ngắn thì được gọi là
"tạm định" (khanika samàdhi, định, samàdhi, một cách tạm
thời, khanika). Tâm phóng đi, ta kéo về, quán niệm hơi thở trở
lại. An trụ như vậy một thời gian, hơi thở hình như trở nên ngày
càng vi tế hơn nhiều, hầu như không còn nữa. Quý vị không còn
thấy hơi thở ở đâu hết ! Đến lúc bấy giờ vài người sợ
chết, "Hơi thở của tôi đâu mất rồi? Vừa mới thấy ở đây
tức thời mà!
", và rồi họ xuất thiền, ra khỏi trạng thái
định (samàdhi). Họ xuất thiền vì sợ chết.
Không
nên sợ và bỏ cuộc như vậy. Hơi thở vẫn còn đó, chỉ vì nó vô
cùng vi tế, vô cùng tế nhị. Không cần phải tìm nó ở đâu khác.
Hãy hướng chú niệm và giác tỉnh vào tâm, và đưa nó trở về
đề mục. Hãy quán chiếu và khảo sát: "Một cách chính xác,
tâm phát xuất từ căn nguyên nào? Những suy tư của tâm phát sanh
từ đâu? Cảm giác thỏa thích và hạnh phúc được chứng nghiệm
lúc bấy giờ như thế nào?". Ngay vào khoảnh khắc ấy quý vị tìm
thấy tâm mình. Giờ đây, hãy hướng nó về trước ngực hoặc
một điểm nào khác trong thân. Hãy đặt cảm giác thỏa thích mà
tâm đang chứng nghiệm trên điểm ấy và giữ lại đó, cùng với
niệm và giác tỉnh, hay biết rõ ràng. Giữ quán niệm của quý vị
lại đó, để nó ở nơi mà "suy tư" phát sanh. Làm như thế
ấy ít lâu sẽ phát triển một trạng thái vắng lặng thâm diệu và
vững vàng sâu sắc hơn, dần dần cho đến khi tâm đạt đến
"cận định" (upacàra samàdhi -- "upacàra" là gần kề).
Đến
đây vài người có thể chứng nghiệm ánh sáng tỏ rạng (định
tướng, nimitta). Nhưng nếu không có gì xảy ra, chớ nên nản lòng.
Pháp hành thiền không hề liên quan đến ý muốn trông thấy bất
luận hiện tượng nào. Quý vị chớ nên chế tạo những ấn chứng,
trông chờ ánh sáng hoặc cái gì tương tợ. Không nên nghĩ đến
điều gì có thể sắp xảy ra. Trạng thái vắng lặng sẽ tự nó phát
triển theo đường lối của nó, và bất cứ gì xảy ra sẽ xảy ra.
Không nên vọng móng, nóng lòng muốn thấy cảnh trời hay cảnh địa
ngục, bởi vì chính loại suy tư có tánh cách ham muốn ấy sẽ gây
trở ngại, chận đứng con đường dẫn đến vắng lặng.
Quý
vị hành giả nào đã an trụ tâm dễ dàng, chắc chắn sẽ chứng
nghiệm tình trạng thoải mái hoan hỷ ngay lúc tâm vừa an tĩnh và
vắng lặng. Lần đầu tiên quý vị sẽ tự mình nhận thức hạnh phúc
của an lạc là như thế nào. Tâm tự tại và thoải mái, vắng lặng
và thỏa thích. Trạng thái này cũng bao hàm chi thiền "phỉ"
(pìti), mặc dầu phỉ lạc có thể phát hiện dưới những hình thức
khác nhau cho mỗi người. Tóc của quý vị có thể dựng đứng lên;
hay quý vị chứng nghiệm một loại cảm giác már mẻ nhẹ nhàng trong
tâm hoặc quý vị có thể nghe như có một lớp bông gòn mịn màn bao
trùm cơ thể mình; hoặc thân người hình như nhẹ nhàng đến đổi
tưởng chừng như có thể bay trôi như mây.
Vị
Thiền Sư không thể điều khiển hay kiểm soát những loại chứng
nghiệm tương tợ, được gọi là "thân an khinh", và "tâm
an khinh". Tại sao tâm vắng lặng lại an khinh, tức nhẹ nhàng thơ
thới, như vậy? Là bởi vì nó đã được phóng thích, nó đã phá
vỡ mọi chướng ngại tinh thần (nìvarana, pháp triền cái) và đã
đặt xuống mọi gánh nặng. Quý vị hãy cố gắng duy trì và bảo tồn
trạng thái an khinh này.
Nơi
đây Sư muốn phớt qua, không đề cập đến những âm thanh mà hành
giả có thể nghe khi ở trạng thái này. Nghe văng vẳng như có tiếng
nói trong điện thoại từ xứ xa đến. Có thể hình như quý vị thật
sự nghe và thấy những cuộc đàm thoại, xa và gần, liên quan đến
quý vị. Tuy nhiên, các âm thanh ấy chấm dứt liền khi tâm quý vị an
trụ sâu hơn, hoặc rút ra khỏi từng lớp vắng lặng ấy. Cái tâm
lúc bấy giờ chỉ tình cờ lọt vào đúng tần số. Vì lẽ ấy, chớ
nên khoe khoang rằng mình đã có "thiên nhãn" hay "thiên
nhĩ". Vài người có thể không thích chứng nghiệm những hình
ảnh tương tợ, nhưng bất cứ gì xảy diễn cũng đều tùy thuộc nơi
bản chất của tâm an trụ.
Khi
hành giả để những ấn chứng kể trên trôi qua, và tiếp tục gia
công chú niệm, hiểu biết rõ ràng, thì trạng thái vắng lặng càng
thâm sâu, thâm sâu hơn từng giờ. Cơ thể vật chất hình như dần
dần biến dạng. Không tay, hay không chân: quý vị cảm nghe như không
còn tay, hay không còn thân mình. Đâu mất rồi? Quý vị nghe lòng
thúc giục muốn mở mắt nhìn xem, nhưng rồi thôi, không màn để ý
đến việc ấy. Hãy nhìn tận tường tâm mình, xem mình đã đặt nó
vào điểm nào, và giữ nó lại đó. Một loại hạnh phúc phi
thường phát hiện nổi bật rất linh động. Đó là trạng thái
"nhập định" (apanà samàdhi, toàn định -- tức là tâm định
kiên cố vững chắc, không lay chuyển), trạng thái tâm vô cùng an
lạc, nhẹ nhàng mát mẻ và thơ thới, đã vượt qua mọi chướng
ngại tinh thần. Không còn no hay đói, không còn ham muốn bất cứ gì
ở ngoài, chỉ muốn ở lại trong tình trạng thỏa thích này mà
trước đây chưa bao giờ chứng nghiệm. Hạnh phúc tinh thần này, mà
hành giả thành đạt do nhờ tâm định, đẩy lui ra khỏi tâm tất cả
những sự việc và những ham muốn của cuộc sống phàm tục hằng
ngày.
Nếu
tâm định tiếp tục tiến triển đến hạnh phúc cao cả tuyệt vời,
buông trôi tất cả mà chỉ sống trong đó, thì đó là nhập Thiền
(jhàna, thiền-na). Trạng thái tĩnh lặng này chỉ khác đôi chút với
tâm xả (upekhà). Đến giai đoạn này những câu hỏi về người
khác phát sanh đến hành giả: "Có ai khác chứng nghiệm giống
như ta vậy không?". "Họ đã làm thế nào để đạt
đến?". Đây là lúc mà hành giả phải cực kỳ thận trọng để
khỏi rơi vào tình trạng khoe khoang sự hiểu biết của mình. Tới đây
quả thật rất dễ sai lệch con đường chân chánh. Vậy, phải giác
tỉnh, luôn luôn sẵn sàng tự cảnh giác trong vấn đề này. Nhiều
người lạc lối và trở nên điên cuồng, khoác loác khoe khoang cùng
tất cả mọi người, "Quả thật là hạnh phúc thật sự
Phải thực hành đi !
Hành như thế này !
như thế kia !".
Quý vị hãy chú niệm, hiểu biết rõ ràng, và cẩn mật đề phòng.
Chớ nên đi đầu nầy đầu kia để phô trương -- đến giai đoạn này
quý vị chưa giác ngộ đâu !
Hãy
khảo sát và ghi nhớ từng bước tiến mà quý vị đã thực hiện
để thành tựu mức độ định (samàdhi) này. Đến khi ngồi xuống,
quý vị có thể lặp lại dễ dàng và nhuần nhã hơn. Hãy chú tâm
hồi nhớ quý vị đã làm thế nào để củng cố chú niệm và hiểu
biết rõ ràng, ngay từ đầu. Đặt cái tâm như thế nào? Cái gì
đã được phát triển và cái gì đã được loại bỏ? Khi tâm
đạt đến mức an trụ cao, làm thế nào để giữ tâm lâu dài ở
mức ấy?
Mỗi
khi hành thiền quý vị sẽ có thể đối phó với bất luận gì xen
vào, gây trở ngại cho tâm định. Những phiền toái khuấy rối ấy
cũng giống như trước và quý vị cũng khắc phục nó giống như
trước, để củng cố trạng thái an trụ trở lại. Người đã thuần
thục thực hành sẽ hành thích ứng trong mọi trường hợp, dầu đang
đi xe, đi tàu hay đi phi cơ, bất luận ngồi ở đâu, hay đang ở xứ
nào. Một khi đã tinh thông trong pháp hành thì hành giả có thể
nhập thiền hay xuất thiền dễ dàng và nhanh chóng. Các pháp triền
cái không còn gây trở ngại nữa.
Tuy
vậy, vài người cảm thấy rất khó mà gom tâm được. Dầu cố
gắng mấy, tâm cũng cứ phóng nhảy đầu này đầu kia, vô định.
Hãy bám sát theo dõi cái tâm bay nhảy ấy cho đến khi nó mệt mỏi.
Thật sự nó không thể trốn thoát tình trạng phóng dật, bởi vì
đã kẹt dính trong những suy tư về tiền của, xe cộ, nhà cửa, hay con
cái, cháu chít và bạn bè.
Vừa
khi tâm bị vướng mắc trong một đối tượng như vậy thì niệm và
hiểu biết rõ ràng (sàti và sampajanna) phải theo bắt nó tại đó.
Hãy tức khắc gạn hỏi, "Tại sao ta bám níu và giữ chặt
(thí dụ như) cái nhà này? Có chắc nó là của ta không?". Câu
trả lời sẽ trở lại, "Chắc như vậy, nó là của ta".
Chừng đó, niệm và trí tuệ can thiệp vào, thăm dò và khảo sát,
"Chừng ta chết, nó có đi theo với ta không?". Nếu chấp nhận
rằng nó sẽ không theo ta, thì tiếp theo, "Vậy, tại sao ta mãi bận
lòng vì nó; cái nhà đã được xây cất vững chắc, nó sẽ còn
đó chớ không chạy mất đi đâu!".Ta phải quở rầy cái tâm
và kéo nó trở về, khép vào khuôn khổ kỷ cương. Quán xét và
suy tư như vậy làm cho tâm giựt mình tỉnh thức và vâng lời để ta
đưa về đề mục hành thiền (công án), an trụ theo hơi thở. Đó là
phương pháp dùng trí tuệ phát triển tâm định (samàdhi) của người
cảm thấy rất khó gom tâm. Tức là xử dụng phương tiện tinh xảo
và hữu hiệu nhất, thích ứng với hoàn cảnh.
Một
khi tâm đã trở về với đề mục thì phải kềm giữ nó lại đó,
cột vào, không để nó chạy vuột thoát. Tuy nhiên, đôi khi tâm
cũng đáng được nuông chiều và ngợi khen, ban thưởng. Thí dụ như
có lúc, ta đang mắc bận việc gì, bỗng nghe phát tâm muốn ngồi
xuống hành thiền. Hãy cố gắng nuôi dưỡng loại ý định tương tợ
bằng cách nhanh chóng sắp xếp công việc để chiều theo nó. Thông
thường ta không thể hoàn tất tất cả công việc ở đời. Hết
việc này đến việc khác, không bao giờ viên mãn hoàn thành tất
cả. Thừa đúng lúc lòng sẵn sàng lắng dịu, hãy ngừng nghỉ, ngồi
lại giữ tâm tĩnh lặng. Chính những lúc tâm muốn an trụ, đức tin
trở nên dõng mãnh nhiệt thành ta mới dễ dàng phát triển trạng
thái vắng lặng, an tĩnh và tự nhiên gác qua một bên những bận
bịu của cuộc sống hằng ngày.
Tâm
tĩnh lặng đưa đến hạnh phúc không thối chuyển, không lo âu. Đó
là trạng thái mãn nguyện. Cũng giống như ta thích khí hậu và cảnh
vật ở một động đá, một khu rừng, hay bóng mát của một cội cổ
thụ nào. Khi được ngồi xuống, một làn gió mát nhẹ nhàng thoảng
qua làm cho ta khỏe khoắn và sớm cảm nghe thoải mái dễ chịu vô
cùng. Trạng thái tâm muốn hành thiền đáng được ngợi khen và
phải được khuyến khích như vậy. Vào ban đêm, nếu nghe tâm tĩnh
lặng dễ chịu thì hãy cố gắng tiếp tục ngồi đến khuya. Và nếu nghe
trạng thái an tĩnh ngày càng vững chắc, thâm sâu, thì chớ nên
vội ngưng thiền. Phải trau giồi trạng thái vắng lặng ấy cho đến
toàn hảo. Nó sẽ ngày càng yên tĩnh thâm sâu và càng lúc càng
kiên cố vững chắc hơn, trên một từng lớp ngày càng sâu. Không
nên ngừng. Đây là lúc mà ta sẽ biết được công phu hành thiền
của mình đã phát triển đến mức độ nào.
Giờ
đây, đã thành tựu một giai đoạn tiến bộ, ta có thể đi nghỉ. Sau
khi đảnh lễ Phật, ta nằm xuống và hồi nhớ lại những giai đoạn
vắng lặng vừa trải qua và an nghỉ với tâm niệm ấy. Khi tỉnh giấc,
tức thì nhớ đến đề mục hành thiền và tầng vắng lặng ấy.
Chính Sư (Acharn Plien) thực hành như vậy. Lúc bấy giờ tâm tự
nhiên sẽ gom lại và an trụ ngày càng thâm sâu, thâm sâu hơn mức
độ đã đạt đến trong đêm qua. Với tình trạng phát triển đều
đặn không ngừng và với tâm thật sự an trụ, tuyệt đối sẽ
không chiêm bao mộng mị trong giấc ngủ. Đến khi tỉnh giấc trở lại,
tâm liền hiểu biết nhiệm vụ của nó và đó là trạng thái mà
chúng ta gọi là chú niệm và hiểu biết rõ ràng. Niệm (sàti) và
hiểu biết rõ ràng (sampajanna) sẽ được duy trì tại đó để nâng
đỡ, trông nôm và chăm sóc tâm.
Quý
vị đã thông hiểu về phương cách rèn luyện tâm. Khi cần phải
khiển trách, quý vị hãy quở rầy nó. Khi cần phải khép nó vào
khuông khổ kỷ cương, hãy khép nó vào, và khi cần phải nâng đỡ
bảo trì, hãy nâng đỡ nó. Và khi nó đáng được khen ngợi, hãy
ngợi khen, tán thưởng nó. Cũng như đối xử với một đứa trẻ
cứng đầu, không biết vâng lời. Ta nắm giữ tay nó lại, không
buông ra, cho đến khi nó vâng lời. Khi nó biết nghe lời dạy bảo,
biết chăm lo học hành và trở nên ngoan ngoãn hiền lành thì ta phải
khen ngợi và ban thưởng nó. Tâm ta cũng dường thế ấy. Nếu ta
mãi luôn luôn dùng sức để cưỡng bách, nó sẽ kháng cự lại.
Vậy ta phải ngọt dịu, dỗ dành và khuyên bảo. Vì bẩm tánh ngoan cố,
có thể nó từ chối không chịu học, không chịu làm việc, và trở
nên yếu ớt, lười biếng. Nhưng nếu ta ôn tồn khuyến khích và dỗ
ngọt, nó sẽ siêng năng làm việc suốt ngày. Người làm công với
ta cũng phải được đối xử như thế. Người phụ giúp ta buôn
bán, trông nôm chăm sóc hàng hóa và tiếp đón khách hàng để cho
cuộc thương mại làm ăn của ta được thạnh vượng, chớ nên gắt
gao ngược đãi, gây khó khăn cho họ. Họ cũng cần ta chăm sóc và
chú ý đến, cũng cần ta đối xử dịu hiền nhã nhặn. Tuy nhiên, khi
họ lầm lỗi, ta phải nêu lên để sửa sai. Hành động cộc cằn thô
kịch sẽ xua đẩy họ ra xa, bỏ ta lại làm việc một mình để sinh
sống.
Trẻ
con yên lặng và không ồn ào khuấy phá là nhờ cha mẹ sáng suốt
khéo dạy. Không phải chỉ rầy la quở quắng và hình phạt, làm cho con
mãi lo sợ, tinh thần luôn luôn căng thẳng, không thể chăm học.
Tâm tĩnh lặng cũng cần phải được niệm và tuệ thận trọng canh
chừng và sửa sai. Chú niệm với trí tuệ -- đó là nguyên liệu
phải xử dụng, càng nhiều càng tốt.
Niệm
cũng trông chừng lời nói. Ô nhiễm phát sanh dưới nhiều hình
thức, và chúng ta cần phải đề cao cảnh giác, hay biết mình đang
nói gì. Lời ăn tiếng nói cẩn trọng có lợi ích chăng? Có đáng
cho ta cố gắng chăng? Thí dụ lời nói của Sư (Acharn Plien) trong hiện
tại có lợi ích gì cho ai không? Có đem lại hạnh phúc, có làm cho
ai hoan hỷ và có đáng được nói không? Thuyết giảng mà không có
niệm và tuệ trông chừng lời nói ắt phải lỗi lầm sai lạc. Lúc
ban sơ, tất cả chúng ta đều phải lầm lỗi. Vậy, trước tiên, phải
nhận ra lỗi mình, và sau đó hãy sửa sai.
Sau
khi đề cập đến lời nói, giờ đây đến tư tưởng. Hãy chú
niệm, hay biết suy tư bất thiện khi nó phát sanh. Và nếu là ý nghĩ
tốt, hiểu biết đúng như vậy. Một suy tư theo chiều hướng sai lại
phải được chận đứng lại. Phải kéo nó về con đường chân
chánh. Tiến trình tư tưởng cần phải được thận trọng theo dõi và
nếu cần, phải chấm dứt. Hãy buông bỏ, để cho những tư tưởng
bất thiện trôi qua. Trong mọi oai nghi -- đi, đứng, nằm, ngồi -- hãy
chú tâm vào thiện ý nghiệp, những suy tư tạo thiện nghiệp. Tức
nhiên sẽ có hạnh phúc. Một khi quý vị đã nhận thức đúng như
vậy tâm sẽ chuyên cần tự nó hướng về thiện nghiệp, trau giồi
đức hạnh và tích trữ phước lành. Quý vị thử so sánh điều
này với một hiện tượng hoàn toàn vật chất. Như ta xây đắp
đường lộ, chế tạo xe hơi, máy bay, tàu bè hay vải sồ v.v
Nếu
thận trọng và sáng suốt suy tính trước, thành quả sẽ khả quan,
sản phẩm sẽ tốt đẹp, và công việc làm ăn sẽ tiến triển phát
đạt.
Với
cái tâm cũng vậy. Tư tưởng hiền lành sẽ làm cho tâm nhẹ nhàng
thơ thới và an vui. Suy tư hung dữ thiêu đốt tâm can và đưa đến
đau khổ. Nếu quý vị làm ra những sản phẩm không tốt ắt không
bán được. Nếu quý vị nói điều không lành, sớm chầy sẽ phải
gây gỗ và tranh chấp. Rồi chắc chắn đau khổ sẽ đến vì sân hận
và thù oán chỉ đem đến phiền muộn và thất vọng sâu xa.
Hành
thiền mỗi ngày sẽ được an vui vì ta luôn luôn hay biết sinh hoạt
--vật chất và tinh thần -- của mình. Hãy trông chừng: trong khi đi,
đứng, nằm, ngồi, ăn, đi giải, rửa tay, bất luận gì đang làm, hãy
ghi nhận, hay biết mình đang làm việc ấy. Phải luôn luôn hành thiền.
Dầu nấu ăn hay rửa chén, hãy hay biết mỗi tác động -- đó là
hành thiền. Vị hành giả sáng suốt sẽ có thể hành thiền bất luận
lúc nào. Đó là điều mà Sư khuyên quý vị nên làm. Không nên
mãi chờ đợi cho đúng ngày, đúng giờ, đúng thời gian, mới
hành. Hãy trau giồi pháp hành. Khi quý vị đang đọc sách này, đang
viết hay đang thêu thùa, may vá hay đang cắt móng tay đi nữa, luôn
luôn hay biết mình đang làm gì. Hãy giác tỉnh chú niệm, gom tâm vào
những gì đang xảy ra và an trụ nơi đo. Nhưng hãy thận trọng tránh xa
điều bất thiện, vì tư tưởng bất thiện sẽ đưa đến đau khổ
phiền muộn. Người chuyên cần giác tỉnh, người luôn luôn canh
chừng tâm mình như trên, hay biết tâm mình trong từng khoảng khắc --
ngoại trừ lúc ngủ -- người ấy lúc nào cũng tĩnh lặng và an
lạc.
Các
bậc Thánh Nhân (ariya) và những vị Cao Tăng, Thiền Sư của chúng ta,
đều hành như thế. Tâm các Ngài luôn luôn an trụ. Các Ngài nói
chuyện, nhưng tâm luôn luôn ở trong trạng thái vắng lặng và an
lạc, luôn luôn có trí nhớ và hay biết mình. Niệm và tuệ của các
Ngài luôn luôn hiện hữu để trông chừng toàn thể tiến trình sinh
hoạt, do đó, dầu trong lúc chuyện trò, tâm vẫn an tĩnh vắng lặng.
Quý vị Đại Đức bị tử nạn máy bay cách đây mấy năm [1], đã
sẵn sàng để ra đi. Lúc bấy giờ tâm các Ngài an trụ vững chắc
và sẵn sàng để tịch diệt, không mảy may sợ hãi. Trí tuệ luôn
luôn sắc bén, thâm sâu và luôn luôn hiện hữu để giữ tâm an
tĩnh trong mọi trường hợp. Các Ngài sẵn sàng để bỏ lại cái
thân xác này bất cứ lúc nào, luôn luôn giác tỉnh.
Những
ai chưa từng hành thiền, chưa quen thuộc với pháp hành để trau giồi
tâm vắng lặng (samàdhi), ắt khó có thể tin những sự việc như kể
trên có thể xảy ra. Nếu không bao giờ họ thật sự hiểu biết cái
tâm của chính họ là như thế nào, thì làm sao có thể trông chờ
họ tin tưởng. Đối với các vị ấy, không ai có thể rèn luyện
cái tâm, bởi vì tâm luôn luôn biến chuyển. Khi tâm bám vào đau
khổ, ta khổ đau sầu muộn. Khi tâm nắm lấy hạnh phúc, ta hoan hỷ
thỏa thích. Nhưng đối với các vị Đại Đức Thiền Sư, dầu hạnh
phúc hay đau khổ, tâm buông bỏ tất cả. Do đó, các Ngài luôn luôn
tĩnh lặng, thanh bình.
Nếu
tâm ở trong trạng thái vắng lặng (samàdhi) thì lúc nào ta cũng
hành thiền. Sư đã suy nghiệm về điều này và thật sự nhận thức
rằng giáo huấn của Đức Bổn Sư quả thật thâm sâu, vô cùng vi
tế và huyền diệu. Rõ ràng trạng thái tâm hoàn toàn trong sạch
của các bậc cao tăng đã thực hành Giáo Pháp đến mức độ
tuyệt đối cao thâm, thấm nhuần cơ thể vật chất, tràn ngập vào
tận xương tủy. Tại sao xương của Ngài Acharn Mun [2], sau khi hỏa táng
đã trở thành Xá Lợi trong sáng như thủy tinh? Trạng thái trong
sạch chẳng những chỉ ở tâm, mà cũng ảnh hưởng đến xương cốt.
Xương là xương, nhưng ở đây còn có thêm gì nữa. Phải chăng có
chi liên quan đến Niết Bàn? Quả thật là thâm sâu! Quả thật mầu
nhiệm!
Phật
giáo vô cùng thâm diệu. Các tôn giáo khác, mỗi tôn giáo đều cao
quý theo đường lối của mình. Ai muốn theo tôn giáo nào là việc
của người ấy, ta không thể nói gì. Chúng ta nên biết những tánh
chất khác nhau (parisannutà) của mỗi tông phái để có thể đi từ
đoàn thể này sang đoàn thể khác, trong những quốc gia khác nhau, mà
không tranh luận hay có những lời lẽ bất hòa với bất cứ ai, về
bất cứ vấn đề nào [3]./.
-----------------------------
Chú thích:
[1]
Lời người dịch (PKK): Vào năm 1979, một chiếc phi cơ của hoàng gia
Thái cung thỉnh tám vị cao tăng, từ các tỉnh miền Bắc xứ Thái, về
triều để tham dự một cuộc lễ tại Hoàng Cung ở Bangkok. Không may,
giữa đường máy bay lâm nạn và cả tám vị đều chết. Hiện nay,
tại chân núi Puthork có đền thờ Ngài Luang Pu Choun, một trong tám
vị. Dịch giả được duyên may đến viếng đền thờ đồ sộ và rất
trang nghiêm trong khung cảnh núi non hùng vĩ này. Ngay trước pho tượng
của Ngài, trên bàn thờ, có tủ kiếng tôn thờ Xá Lợi Ngài,
đựng từng nhóm theo cỡ lớn nhỏ trên lối mười cái dĩa, để
khách thập phương chiêm bái.
[2]
Acharn Mun (đọc là A-chàn Manh) là vị Thiền Sư nổi tiếng nhất ở
Thái Lan, trong thời hiện đại.
[3]
Bài nầy ghi lại một thời Pháp do Ngài Thiền sư Acharn Plien Panypatipo
thuyết giảng bằng Thái ngữ. Dr. Chalerm-Sri Janorn dịch sang Anh ngữ tựa
đề "The Fundamentals of Meditation". Phạm Kim Khánh dịch từ Anh sang
Việt ngữ với tựa đề "Căn Bản Pháp Hành Thiền".
Mọi
thơ từ về quyển sách này xin liên lạc với địa chỉ:
Acharn Plien Panyapatipo
Aranyavivake Monastery
Mae-Taeng District
Chiang-Mai, Thailand
_______________________________
Đánh máy vi tính: Hải Hạnh
-- o0o --
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình
Ansơn đã gởi tặng phiên bản điện tử bài viết này. (Thích
Nguyên Tạng, 10/09/2000)
-- o0o --
| Mục lục tác giả|
Cập nhật ngày: 01-10-2001