| ...... ... |
. |
Thuyết
Bốn
Ðế
GS
MINH
CHI
Chủ
nhiệm
bộ
môn
Tôn
giáo
học
và
Phật
giáo
sử
Việt
Nam
Trường
Phật
học
cao
cấp
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh
1996
---o0o---
[6]
IV.
ÐẠO
ÐẾ
Ðạo
đế
là
chơn
lý
về
con
đường
đạo
dẫn
tới
Niết
Bàn,
dập
tắt
mọi
khổ
đau,
thoát
khỏi
vòng
sanh
tử
luân
hồi,
giác
ngộ
và
giải
thoát
tối
hậu.
Sách
Phật
nói
37
phương
pháp,
cấu
thành
con
đưòng
đạo
này,
gọi
là
37
đạo
phẩm,
cũng
gọi
là
37
phần
Bồ
đề
(Bồ
đề
phần).
Cụ
thể
là
Bốn
niệm
xứ,
Bốn
Chánh
cần,
Bốn
Như
ý
túc,
năm
Căn,
năm
Lực,
bảy
Giác
chi,
tám
con
đường
đạo
(Bát
chánh
đạo).
Nay
sơ
lược
giải
thích
như
sau:
- Bốn
Niệm
xứ:
Cũng
gọi
là
bốn
niệm
trú,
tức
là
mục
chánh
niệm
trong
Bát
chánh
đạo,
Bốn
niệm
xứ
là
bốn
đối
tượng
của
tư
duy
và
quan
sát
không
bao
giờ
quên.
Ðó
là
thân
(kaya),
thọ
(vedana),
tâm
(citta),
và
pháp
(dhamma).
Luôn
luôn
nhớ
thân,
cảm
thọ,
tâm
và
các
pháp
đều
là
vô
thường,
khổ
và
vô
ngã.
Nếu
phân
biệt
thì
quan
sát
thân
là
không
trong
sạch,
mọi
cảm
thọ
là
khổ,
tâm
là
vô
thường,
và
mọi
pháp
là
vô
ngã,
không
thực
thể.
Theo
kinh
tạng
nguyên
thủy,
thì
bốn
niệm
xứ
là
con
đường
độc
nhứt
(ekayana
magga),
đưa
người
tu
hành
đến
sự
giáe
ngộ
và
giải
thoát
hoàn
toàn.
- Bốn
chánh
cần:
Trong
Bát
chánh
đạo,
gọi
là
Chánh
tin
tấn
(sách
Hán
còn
gọi
là
Tứ
chánh
đạo,
tứ
chánh
thắng,
tứ
ý
đoạn).
Gồm
có
bốn
mục
là:
a.
Ðoạn
trừ
điều
ác
đã
khởi
lên.
b.
Gắng
sức
để
cho
điều
ác
mới
không
sinh
ra.
c.
Gắng
sức
để
cho
điều
thiện
mới
được
sinh
ra.
d.
Nổ
lực
để
cho
điều
thiện
đã
khởi
lên
được
tăng
trưởng.
Thiện
ở
đây
là
mọi
cái
gì
lợi
cho
lý
tưởng
tu
đạo,
và
ác
là
mọi
cái
gì
trở
ngại
cho
lý
tưởng
tu
đạo.
Cho
nên,
theo
quan
niệm
đạo
Phật
mà
nói
nỗ
lực
làm
ác,
chính
là
lười
biếng
chứ
không
phải
là
tinh
tấn
siêng
năng.
- Bốn
thần
túc
:
Sách
Hán
cũng
gọi
là
tứ
như
ý
túc,
là
bốn
điều
như
ý
được
đầy
đủ.
Ý
tứ
là
muốn
có
phép
thần
thông
đầy
đủ,
thì
học
tập
bốn
phương
pháp
này,
tức
là:
a.
Dục
thần
túc:
tức
là
lòng
muốn
có
được
thiền
định.
b.
Tinh
tấn
thần
túc:
nỗ
lực
để
có
được
thiền
dịnh.
c.
Tâm
thần
túc:
tức
là
nhiếp
tâm
đầy
đủ
để
có
được
thiền
định.
d.
Tư
duy
thần
túc
:
tức
là
để
có
thiền
định,
phải
biết
tư
duy
quan
sát.
(Có
sách
gọi
tứ
như
ý
túc
hay
tứ
thần
túc
là:
a.
Dục
thần
túc,
b.
Niệm
thần
túc,
c.
Tinh
tấn
thần
túc,
d.
Tuệ
thần
túc.
)
- Năm
Căn:
Tức
là
Tín,
lòng
tin.
Cần
là
tinh
tấn,
Niệm
là
nghĩ
nhớ
điều
phải
(chơn
lý),
như
lý
vô
thường,
vô
ngã...
Ðịnh
và
Tuệ.
Gọi
năm
mục
này
là
năm
căn
tức
là
năm
cái
gốc
để
cho
người
tu
tiến
tới
mạnh
mẽ
trên
con
đường
đạo.
Trong
năm
cái
gốc
này
thì
tín
(S.Saddha
P.Sraddha)
đứng
hàng
đầu,
vì
lòng
tin
chân
chánh
và
chân
thành
là
động
lực
của
mọi
nỗ
lực
tu
đạo
và
hướng
thiện
tránh
ác.
Nên
phân
biệt
năm
căn
tín
...
với
năm
căn
mắt,
tai,..
(năm
căn
này
thường
gọi
là
năm
căn
năng).
- Năm
Lực
:
Năm
căn
nói
trê n,
khi
dược
phát
huy
thì
biến
thành
năm
sức
mạnh,
tức
năm
lực.
- Bảy
giác
chi
:
Thất
giác
chi,
sách
Hán
cũng
dịch
là
Thất
Bồ
Ðề
phần,
bảy
phần
Bồ
đề,
hay
Thất
giác
phần,
tức
là
bảy
chi
phần
của
giác
ngộ.
a.
Niệm
giác
chi:
sati-samboijhanga
b.
Trạch
pháp
giác
chi:
dhammavicayasamb
jjhanga,
tức
là
biết
lựa
chọn
phải,
trái,
chân
ngụy,
thiện
ác...
c.
Tinh
tấn
giác
chi
s.
viriya
s.
nỗ
lực
hướng
tới
giác
ngộ.
d.
Hỷ
giác
chi
s.piti.
lòng
hoan
hỷ
(trong
tu
đạo
và
độ
sanh).
e.
Khinh
an
giác
chi
s.
passaddhi.
Kinh
A
Hàm
gọi
là
Ỷ
giác
chi,
tức
thân
tâm
nhẹ
nhàng,
khinh
khoái.
f.
Ðịnh
giác
chi
s.
samadhi.
g.
Xả
giác
chi
s.
upekkha.
Trên
đây
là
bảy
hạng
mục
tu
hành,
có
liên
hệ
đến
thiền
dịnh.
Trong
kinh
tạng
Nguyên
thủy,
sau
khi
thực
hành
phép
anapanasati
(niệm
hơi
thở
ra
vào)
để
thành
tựu
sự
thống
nhứt
nội
tâm,
hành
giả
tu
sang
phép
bốn
niệm
xứ,
và
bảy
giác
chi
mà
được
giác
ngộ,
giải
thoát.
Như
vậy,
có
thể
thấy
bảy
giác
chi
là
những
mục
tu
hành
cao
cấp
trên
con
đường
tu
đạo.
7.
Bát
chánh
đạo:
Bát
chánh
dạo
tức
là
tám
con
đường
đạo
hay
là
con
đường
đạo
tám
nhánh.
-
a.
Chánh
kiến:
samma-ditthi,
tức
là
kiến
giải
chính
xác,
tín
ngưỡng
chính
xác.
-
b.
Chánh
tư
duy:
samma-sankappa.
Tư
duy
và
lập
chí
chính
xác
đúng
đắn.
-
c.
Chánh
ngữ:
samma-vaca,
tức
không
nói
dối,
không
nói
lời
ác,
không
nói
chia
rẽ,
không
nói
lời
vô
nghĩa.
Trái
lại,
chỉ
nói
lời
chơn
thực,
lời
dịu
hiền,
lời
đoàn
kết,
lời
có
ích
đối
với
người
nghe.
-
d.
Chánh
nghiệp:
samma-kammanta,
tức
là
các
hành
vi
không
sát
sanh,
không
lấy
của
không
cho,
không
tà
dâm....
thực
hành
việc
tôn
trọng
sự
sống,
bố
thí,
sống
trong
sạch
không
trái
đạo
lý.
-
e.
Chánh
mạng:
samma-ajiva,
tức
là
sống
bằng
nghề
nghiệp
chính
đáng
lương
thiện.
Nói
rộng
ra,
tức
là
theo
một
nề
nếp
sinh
hoạt
lành
mạnh,
giúp
cho
sức
khỏe,
tăng
năng
suất
lao
dộng,
khiến
thân
tâm
luôn
được
thư
thái,
nhẹ
nhàng.
-
g.
Chánh
tinh
tấn:
samma-viriya,
nỗ
lực
chính
đáng,
hướng
tới
lý
tưởng
của
đạo,
siêng
làm
điều
thiện,
siêng
trừ
bỏ
ác.
-
h.
Chánh
niệm:
samma
sati,
nghĩ
nhớ
không
quên,
lý
tưởng
tu
đạo,
tỉnh
táo,
cảnh
giác
dù
là
trong
những
việc
nhỏ,
đừng
để
phạm
lỗi,
vì
những
lỗi
nhỏ
có
thể
đem
lại
hậu
quả
tai
hại
lớn.
Luôn
luôn
nghĩ
nhớ:
các
pháp
là
vô
thường,
vô
ngã,
mọi
cảm
thọ
đều
là
khổ,
không
được
mê
đắm.
-
i.
Chánh
định:
samma-sammadhi,
người
tu
đạo
hằng
ngày
có
gắng
giữ
tinh
thần
an
tịnh,
tư
tưỏng
tập
trung
không
tán
loạn
thì
mọi
việc
làm
mới
mong
có
kết
quả
như
ý.
Ngoài
ra,
người
tu
đạo
cũng
tu
tập
thiền
định,
mong
đạt
tới
một
nội
tâm
trong
sáng
thuần
tịnh
như
gương,
không
còn
niệm,
không
còn
tưởng.
BÁT
CHÁNH
ÐẠO
VÀ
BA
MÔN
HỌC
GIỚI,
ÐỊNH,
TUỆ
Bát
chánh
đạo
thực
ra
là
một
thể
thống
nhứt,
sở
dĩ
chia
ra
tám
hạng
mục
là
để
cho
tiện
thuyết
minh,
giảng
giải
mà
thôi.
Phật
giáo
Nam
phương
thuyết
minh
mọi
quan
hệ
giữa
Bát
chánh
đạo
và
ba
môn
học
như
sau:
Chánh
kiến
và
Chánh
tư
duy...
Tuệ
học
Chánh
ngữ,
chánh
nghiệp,
chánh
mạng...
Giới
học.
Chánh
tinh
tấn...
thông
cả
ba
môn
học.
Chánh
niệm,
chánh
định...
Ðịnh
học.
Về
chánh
tinh
tấn,
có
sách
quy
về
định
học,
có
sách
quy
vào
tuệ
học-
Thứ
tự
tu
học
các
hạng
mục
trong
Bát
chánh
đạo
như
thế
nào?
Theo
logic,
thì
phải
là
thứ
tự
giới,
định,
tuệ.
Thế
nhưng
trong
bát
chánh
đạo,
lại
sắp
xếp:
Tuệ,
giới,
định,
vì
sao?
Thực
ra
sau
tám
mục
còn
có
hai
hạng
mục
nữa
là
Chánh
trí
và
chánh
giải
thoát,
tổng
hợp
lại
thành
10
pháp
vô
lậu
học.
Chánh
trí
và
chánh
giải
thoát
thuộc
về
tuệ
học.
Như
vậy,
thứ
tự
logic
của
10
pháp
vô
lậu
học
là
tuệ,
giới,
định,
tuệ.
Hai
mục
chánh
tri
kiến
và
chánh
tư
duy
thực
ra
là
chánh
tín
đối
với
những
người
mới
nhập
môn.
Do
đó,
toàn
bộ
thứ
tự
sẽ
là:
Tín
–
Giới
–
Ðịnh
–
Tuệ.
QUAN
HỆ
GIỮA
37
PHẨM
BỒ
ÐỀ
VÀ
BA
MÔN
HỌC
Tín
căn
và
tín
lực
không
cho
cả
ba
môn
giới,
định,
tuệ.
Vì
tất
cả
mọi
pháp
tu
hành
đều
xuất
phát
từ
niềm
tin
(tín)
dựa
vào
chánh
tri
kiến
và
chánh
tư
duy.
Niệm
căn,
niệm
lực,
niệm
giác
chi
đều
thông
cả
định
học
và
tuệ
học.
Giới:
Chánh
ngữ,
chánh
nghiệp,
chánh
mạng.
Ðịnh:
Bốn
như
ý
túc,
định
căn,
định
lực,
định
giác
chi,
xả
giác
chi,
chánh
định.
Tuệ:
Bốn
niệm
xứ,
bốn
chánh
cần,
tinh
tấn
cán,
tuệ
căn,
tinh
tấn
lực,
tuệ
lực,
trạch
pháp
giác
chi,
tinh
tấn
giác
chi,
hỷ
giác
chi,
chánh
kiến,
chánh
tư
duy,
chánh
tinh
tấn.
V.
BA
MÔN
HỌC
(Tam
học)
V.1.
GIỚI
HỌC:
Giới
học
tức
là
môn
học
đạo
đức
Phật
giáo,
hay
là
luân
lý
Phật
giáo.
Nghĩa
từ
Giới:
Giới,
chữ
Sanskrit
là
Sila.
Giới
là
các
khuôn
mẫu
ứng
xử,
phòng
sai,
tránh
ác
của
đạo
Phật.
Các
loại
giới:
giới
ngăn
điều
ác
gọi
là
chỉ
ác
giới.
Chỉ
có
nghĩa
là
ngăn
chặn.
Cũng
gọi
là
luật
nghi
Samvara.
Có
hai
loại
giới:
Giới
hữu
lậu
thế
gian
và
giới
vô
lậu
xuất
thế.
Bộ
phận
hữu
lậu
giới
gọi
là
Biệt
giải
thoát
luật
nghi,
giúp
cho
người
tu
hành
hướng
thiện,
tránh
ác
ở
cõi
Dục
giới,
đồng
thời
cũng
hướng
tới
giải
thoát.
Bộ
phận
hữu
lậu
giới,
gọi
là
Tĩnh
lự
luật
nghi,
giúp
cho
hành
giả
mau
chứng
các
cấp
thiền
thuộc
sắc
giới.
Giới
xuất
thế
gọi
là
luật
nghi
vô
lậu.
Biệt
giải
thoát
luật
nghi
lại
chia
thành
giới
tại
gia
và
giới
xuất
gia.
Giới
tại
gia
gồm
có
5
giới
ưu
bà
tắc
và
ưu
bà
đi,
hằng
ngày
cần
giữ
gìn
không
phạm,
và
tám
giới
cần
giữ,
trong
các
ngày
gọi
là
Bát
trai.
Giới
xuất
gia
gồm
có
250
giới
của
Tỳ
Kheo,
348
giới
của
Tỳ
Kheo
ni,
10
giới
của
Sadi,
6
giới
của
chánh
học
nữ.
Ưu
bà
tắc
là
chữ
Phạn
Upasaka.
Hán
dịch
nghĩa
là
cận
sự
nam.
| |
Hữu
lậu
giới |
Biệt
giải
thoát
luật
nghi
(dục
giới) |
| Chỉ
ác
giới |
|
Tĩnh
lự
luật
nghi
(sắc
giới) |
| |
Vô
lậu
giới |
Vô
lậu
luật
nghi
(xuất
thế
gian) |
| |
Giới
tại
gia |
5
giới
Ưu
bà
tắc,
Ưu
bà
di |
| Biệt
giải
thoát |
|
8
giới
trong
các
ngày
trai |
| luật
nghi |
Giới
xuất
gia |
10
giới
cho
sadi
và
sadi
ni |
| |
|
6
giới
cho
chánh
học
nữ |
| |
|
250
giới
cho
Tỳ
kheo |
| |
|
348
giới
cho
Tỳ
kheo
ni |
Thế
nhưng,
tác
dụng
của
giới
cũng
không
phải
chỉ
là
tránh
ác,
mà
còn
là
hành
thiện
nữa.
Giới
làm
điều
thiện
còn
gọi
là
tác
trì
giới,
hay
tác
thiện
giới.
Giới
và
Luật:
Giới
tương
đương
với
đạo
đức.
Luật
tương
đương
với
pháp
luật.
Giới
có
ý
nghĩa
rộng
hơn,
so
với
luật
Giới
là
những
điều
mình
giữ
cho
bản
thân
mình,
nó
thuộc
về
tinh
thần,
về
nội
tâm.
Còn
luật
là
điều
mình
giữ
vì
người
khác,
vì
xã
hội.
Tuy
nhiên
trong
sách
thưòng
dùng
hai
từ
này
đi
kèm
với
nhau,
như
trong
hợp
từ
quen
thuộc
Giới
Luật,
vì
không
có
ranh
giới
phân
biệt
rõ
ràng
giữa
hai
từ.
Về
sự
thành
lập
Luật
tạng:
Luật
tạng
được
kết
tập
ở
cuộc
đ ại
hội
kết
tập
lần
thứ
nhứt,
ở
thành
Vương
Xá,
vài
tháng
sau
khi
Phật
Niết
Bàn.
Người
kết
tập
luật
tạng
là
tôn
giả
Upali,
trong
thời
Phật
còn
sống
vốn
được
ca
ngợi
là
"Giới
luật
đệ
nhứt".
Luật
tạng,
sau
khi
kết
tập,
dần
dần
được
hoàn
chỉnh
và
được
định
hình
trong
các
bộ
luật
của
các
bộ
phái.
Như
đã
nói
trên,
luật
tạng
bao
gồm
hai
nhóm
giới
luật
chính
là
chỉ
trì
giới
(tránh
điều
ác)
và
tác
trì
giới
(làm
điều
thiện),
ứng
với
hai
câu
kệ
nổi
tiếng
của
Chư
Phật.
Chư
ác
mặc
tác
Chúng
thiện
phụng
hành
Dịch:
Chớ
làm
các
điều
ác,
Làm
mọi
điều
lành
Chỉ
trì
giới:
gồm
250
giới
cho
Tỳ
Kheo
và
348
giới
cho
Tỳ
Kheo
ni.
Tùy
theo
các
bộ
phái
mà
con
số
giới
luật
có
xê
xích
khác
nhau,
nhưng
mức
độ
xê
xích
không
lớn.
Trong
luật
tạng,
có
phần
phân
biệt
chú
giải
các
giới
điều,
gọi
chung
là
kinh
Phân
biệt,
P.Suta
vibhanga.
Tác
trì
giới:
gồm
các
quy
định
sinh
hoạt
của
tăng
đoàn,
như
quy
định
về
cách
thức
thọ
giới
của
người
xuất
gia,
về
tổ
chức
tụng
giới
(Bồ
tát)
tổ
chức
an
cư
kiết
hạ,
ngày
tự
tứ,
một
số
quy
định
về
ăn,
mặc,
ở
của
tu
sĩ,
kèm
theo
phần
chú
thích
những
quy
định
này.
Cả
phần
này
gọi
là
kiền
độ
(khandhaka).
Ngoài
hai
phần
trên,
trong
luật
tạng
còn
có
một
phần
phụ
lục,
gọi
là
phụ
tùy
(parivara).
Như
vậy
luật
tạng
Pali
(Thượng
tọa
bộ)
cũng
như
luật
tạng
các
bộ
phái
khác
bao
gồm
3
bộ
phận:
(1)
Kinh
phân
biệt:
giới
điều
cho
Tỳ
Kheo
và
Tỳ
Kheo
ni,
bao
gồm
cả
chú
giải.
(2)
Kiền
độ:
quy
định
cách
thức
sinh
hoạt
cho
tăng
đoàn,
đại
phẩm
và
tiểu
phẩm,
gồm
22
kiền
độ.
(3)
Phụ
tùy.
Nói
chung,
luật
tạng
(bất
cứ
thuộc
bộ
phái
nào)
đều
do
ba
bộ
phận
trên
tạo
thành.
Hiện
nay,
còn
giữ
lại
được
5
bộ
luật
tạng:
1.
Luật
tạng
Pali,
thuộc
Thượng
tọa
bộ
của
Phật
giáo
Nam
Phương.
2.
Ngũ
phần
luật
:
thuộc
Hóa
địa
bộ
(tên
một
bộ
phái
Phật
giáo).
3.
Tứ
phần
luật
:
thuộc
Pháp
tạng
bộ.
4.
Ma
ha
tăng
kỳ
luật
:
thuộc
Ðại
chúng
bộ.
5.
Thập
tụng
luật
:
Nhất
thiết
hữu
bộ.
6.
Hữu
bộ
tân
luật
:
Căn
bản
nhứt
thiếu
hữu
bộ.
7.
Luật
tạng
bằng
chữ
Tây
Tạng
:
Căn
bản
nhứt
thiết
hữu
bộ.
(Hóa
địa
bộ,
Pháp
tạng
bộ,
Ðại
chúng
bộ,
Nhất
thiết
hữu
bộ,
là
tên
của
một
số
bộ
phái
quan
trọng,
xuất
hiện
trong
thời
kỳ
Phật
giáo
bộ
phái,
khoảng
200
năm
sau
khi
Phật
Niết
Bàn.
Vì
từ
bộ
phái
Nhất
thiết
hữu
bộ
tách
ra
một
số
bộ
phái
khác,
cho
nên
bộ
phái
gốc
sau
này
được
gọi
là
căn
bản
nhất
thiết
hữu
bộ).
Trong
7
bộ
luật
được
lưu
lại
hiện
nay,
và
có
ghi
tên
trên
đây
thì
hai
bộ
thứ
sáu
và
thứ
bảy
giống
nhau,
chỉ
có
khác
là
bộ
luật
thứ
6
(thập
tụng
luật)
là
một
bộ
luật
không
hoàn
chỉnh
của
Hữu
bộ.
Còn
bộ
thứ
bảy,
dịch
ra
chữ
Tây
Tạng
là
một
bộ
luật
hoàn
chỉnh
và
đầy
đủ
của
Hữu
bộ.
Luật
tạng
là
văn
bản
cơ
sở
để
quy
định
sinh
hoạt
của
tăng
đoàn.
Hiện
nay,
sinh
hoạt
của
tăng
đoàn
Phật
giáo
Nam
Phương
hoàn
toàn
dựa
vào
bộ
luật
tạng
của
Thượng
tọa
bộ.
Ở
Trung
Quốc
vào
đời
Đưòng,
tăng
sĩ
Ðạo
Tuyên
ở
Nam
Sơn,
lập
ra
luật
tạng,
là
dựa
vào
bộ
luật
Tứ
phần
của
Pháp
Tặng
bộ.
Vì
vậy
tông
phái
của
ông
cũng
có
tên
gọi
"Tứ
phần
luật
Tông".
Các
giới
điều
của
Tỳ
Kheo
và
Tỳ
Kheo
ni
được
xếp
làm
8
loại
như
sau
:
(1)
Ba
la
di:
S.
Parajaka
là
giới
điều
quan
trọng
nhứt
của
Tỳ
Kheo,
người
phạm
lỗi
Ba
la
di
lập
tức
mất
tư
cách
tăng
sĩ
vì
vậy
mà
Trung
Quốc
dịch
nghĩa
là
đoạn
đầu,
nghĩa
là
chém
đầu.
Cũng
như
ở
ngoài
đời,
nếu
phạm
tội
cực
nặng
thì
bị
chém
đầu
Ðó
là
các
tội:
dâm
dục,
trộm
cắp,
giết
người,
đại
vọng
ngữ
(chưa
chứng
quả
Thánh
mà
dám
tuyên
bố
đã
chứng).
(2)
Tăng
tàn
:
S.Sanghavasera
P.Sanghade
sera.
Tội
tăng
tàn,
có
mức
độ
nghiêm
trọng,
chỉ
kém
tội
Ba
la
di
một
bậc.
Nếu
phạm
thì
sẽ
phải
sống
biệt
trú,
và
mất
quyền
lợi
tăng
sĩ
trong
một
thời
gian.
Tổng
cộng
có
13
tội
:
sờ
mó
thân
phụ
nữ,
làm
môi
giới
hôn
nhân,
nói
vu
và
phỉ
báng
người,
làm
tăng
chúng
mất
đoàn
kết....
Có
sách
giải
thích
tăng
tà n
là
người
phạm
tội
sám
hối
và
cầu
xin
tăng
chúng
thương
xót,
cho
duy
trì
mạng
sống
tăng
sĩ
tàn
tạ
của
mình.
(3)
Bất
định:
S.Aniyata,
đây
là
tội
chưa
rõ,
tuy
tăng
sĩ
có
phạm,
cho
nên
gọi
là
bất
định.
Gồm
có
hai
loại
tội:
vi
phạm
bí
mật
hay
công
khai.
(4)
Xã
đọa:
Naiksirajika-payattika.
P.pissaggiya
pacittika.
Tội
có
lấy
của
phi
pháp,
nhưng
sau
biết
đem
nộp
lại
cho
tăng
đoàn
và
xin
sám
hối.
Tổng
cộng
có
30
tội,
gọi
là
30
pháp
xã
đọa.
Ðó
là
các
tội
có
liên
quan
đến
y
phục
và
dụng
cụ
của
tăng
sĩ.
(5)
Ðơn
đọa:
S.Payattika,
P.
Pacittika.
Một
loại
tội
nhẹ,
chỉ
cần
sám
hối
là
miễn
tội.
Tổng
cộng
có
90
tội
đơn
đọa,
cũng
gọi
là
đơn
đề.
Thí
dụ:
làm
hư
hỏng
cỏ
cây
là
một
tội
đơn
đọa,
ăn
quá
ngọ
(đối
với
Tăng
sĩ
Nam
Tông)
cũng
là
một
tội
đơn
đọa,v.v...
(6)
Hối
quá:
S.pratidesamya
P.patidesanya.
Các
lỗi
nhỏ
liên
quan
tới
ăn
uống,
chỉ
cần
sám
hối
là
đủ.
Có
sách
dịch
âm
là
Ðề
xá
ni
(S.desana).
Có
tất
cả
4
tội.
Thí
dụ:
nhận
thức
ăn
tín
thí
quá
mức
cần
thiết...
(7)
Chúng
học:
S.saíksa
P.sekhiya.
Các
lỗi
nhỏ
trong
sinh
hoạt
hằng
ngày,
chỉ
cần
tự
mình
phản
tĩnh
là
được.
Tổng
cộng
có
100
lỗi,
sách
Hán
gọi
là
bách
chúng
học
pháp.
Thí
dụ:
mặc
áo
không
chỉnh
tề,
cười
lộ
cả
hai
hàm
răng,
nhảy
qua
lạch
nước...
(8)
Diệt
tránh:
S.
adhikarma
-
samatha.
P.adhikarana-samatha
Thực
sự
đây
không
phải
là
tội
mà
là
những
phương
thức
giải
quyết
các
vụ
tranh
cãi
trong
tăng
đoàn.
Có
7
điều,
sách
Hán
gọi
là
thất
diệt
tránh
pháp.
Tỳ
Kheo
ni
thọ
một
số
giới
nhiều
hơn
Tỳ
Kheo,
tức
341
giới
so
sánh
như
sau:
Tỳ
Kheo
Tỳ
Kheo
ni
Ba
la
di
4
8
Tăng
tàn
13
17
Bất
định
2
17
Xả
đọa
30
30
Ðơn
đọa
90
178
Ðề
xá
ni
(hối
quá)
4
8
Chúng
học
100
100
Diệt
tránh
7
7
Có
bộ
phái
đưa
số
giới
của
Tỳ
Kheo
ni
lên
348.
Hai
mươi
kiền
độ
của
tác
trì
môn:
Kiền
độ
là
dịch
âm
từ
chữ
Phạn
Khanda,
dịch
nghĩa
là
phần
hay
chương.
Hai
mươi
Kiền
dộ
là
20
chương,
nói
về
các
quy
tắc
sinh
hoạt
của
tăng
già
như:
Kiền
độ
I:
nói
về
phép
thọ
giới.
Kiền
độ
II:
nói
về
phép
thuyết
giới
và
sám
hối
mỗi
tháng
hai
lần
(gọi
là
ngày
Bồ
tát).
Kiền
độ
III:
nói
về
phép
an
cư
kiết
hạ
hàng
năm.
Kiền
dộ
IV:
nói
về
tổ
chức
ngày
tự
tứ,
kết
thúc
mùa
an
cư,
kiết
hạ.
Kiền
dộ
V:
nói
về
quy
tắc
các
Tỳ
Kheo
dùng
các
đồ
vật
bằng
da.
Kiền
độ
VI:
nói
về
ba
áo
của
tu
sĩ
(tam
y).
Kiền
dộ
VII:
nói
về
bốn
loại
thuốc
dùng
cho
tăng
sĩ.
Kiền
độ
VIII
:
nói
về
công
đức
y,
mà
Tỳ
Kheo
nhận
được
vào
ngày
Tự
tứ,
ngày
kết
thúc
kỳ
an
cư
kiết
hạ.
Kiền
độ
IX:
nói
về
phép
giáo
hóa
trong
vụ
Tăng
sĩ
mất
đoàn
kết
ở
Kausambi.
Kiền
độ
X:
nói
về
phép
đối
đãi
với
Tỳ
Kheo
là
khách
từ
các
nơi
khác
đến.
Kiền
độ
XI:
nói
về
phép
khiển
trách,
xử
phạt
Tỳ
Kheo
phạm
giới.
Kiền
độ
XII:
nói
về
trường
hợp
Tỳ
Kheo
phạm
tội,
nhưng
không
giấu,
thì
nên
sám
hối
như
thế
nào.
Kiền
dộ
XIII
:
Tỳ
Kheo
phạm
tội
nhưng
che
giấu,
không
bộc
lộ,
phải
được
xử
phạt
như
thế
nào.
Kiền
độ
XIV:
nói
về
cách
thức
phạt
Tỳ
Kheo
phạm
tội
không
được
ở
trong
chúng.
Kiền
độ
XV:
nói
về
cách
xử
lý
tội
phá
hòa
hợp
tăng.
Kiền
độ
XVI:
nói
về
bảy
pháp
xử
lý
các
vụ
tranh
cãi
trong
tăng
chúng.
Kiền
độ
XVII:
nói
riêng
về
quy
tắc
sinh
hoạt
của
Tỳ
Kheo
ni.
Kiền
độ
XVIII:
nói
về
uy
nghi
của
Tỳ
Kheo.
Kiền
độ
XIX:
nói
về
việc
Tỳ
Kheo
ở
trong
phòng.
Kiền
độ
XX:
một
số
quy
tắc
sinh
hoạt
không
được
quy
định
trong
19
Kiền
độ
trên.
Giới
thể,
giới
tướng
và
giới
hạnh
Giới
thể
là
chủng
tử
lưu
lại
trong
tạng
thức
của
người
thọ
giới,
sau
khi
được
truyền
giới.
Chủng
tử
đó
có
tác
dụng
bảo
vệ
người
thọ
giới
cho
khỏi
phạm
giới.
Có
sách
gọi
đó
là
vô
biểu
sắc.
Giới
hạnh:
là
hành
vi
theo
đúng
giới
luật
được
thọ
trì.
Giới
tướng:
do
có
giới
thể,
giới
hạnh
mà
biểu
hiện
ra
ngoài
thành
giới
tướng
thanh
tịnh,
tốt
đẹp.
Vị
tăng
sĩ
giữ
giới,
nói
năng
hành
xử,
đi
đứng
nằm
ngồi
đều
uy
nghi
mực
thước.
Tông
Chân
Ngôn
(Mật
giáo)
ở
Nhật
riêng
lập
ra
hệ
thống
giới
gọi
là
"Tam
muội
gia",
lấy
ba
loại
bồ
đề
tâm
làm
giới.
Nhưng
đó
chỉ
là
sự
khác
biệt
về
danh
từ
mà
thôi.
Còn
về
nội
dung
thì
cũng
không
khác
gì
mười
giới
thiện
(thập
thiện
giới).
Chân
Tông
ở
Nhật
Bản
(một
nhánh
của
Tông
tịnh
dộ)
thì
không
có
bàn
gì
tới
giới
luật
cả.
Tín
và
giới
:
Vào
thời
đại
Kamakura
(Kiếm
Thương)
ở
Nhật,
các
tông
như
Nhật
Liên
Tông,
Chân
Tông,
Thiền
Tông
đều
không
chú
trọng
nhiều
tới
giới
luật.
Nhưng
theo
sự
nhận
định
của
nhà
Phật
học
nổi
tiếng
Nhật
Bản
là
Thủy
Giả
(xem
cuốn
Phật
giáo
yếu
ngữ
đích
cơ
sở
tri
thức
tr
233)
Phật
giáo
Nhật
Bản
thời
đại
Kiếm
Thương
rất
coi
trọng
đức
tin,
và
cho
rằng
đức
tin
triệt
để,
bao
hàm
đầy
đủ
giới
luật
rồi.
Thí
dụ,
chuyên
tâm
niệm
Phật,
chuyên
tâm
ngồi
thíền,
thì
ngay
từ
ở
trong
ý
nghĩ
và
lời
nói,
mọi
nghiệp
đều
đã
được
thanh
tịnh
rồi.
Ðây
là
do
giới
và
tín
vốn
có
quan
hệ
rất
mật
thiết.
Tăng
sĩ
trong
thời
kỳ
Phật
giáo
nguyên
thủy,
có
câu
:
"Nếu
có
đức
tin
triệt
để,
thì
tự
nhiên
có
được
giới”.
(tín
nhược
triệt
để,
tự
khả
hoạch
đắc
giới).
Trong
kinh
Phật
nguyên
thủy,
có
khái
niệm
"Tứ
bất
hoại
tính"
tức
là
bốn
niềm
tin
trong
sạch,
không
mất
tức
là
tin
Phật,
tin
Pháp,
tin
Tăng
và
tin
ở
Giới
luật.
Trong
kinh
Phật
nguyên
thủy,
có
bài
kệ
nổi
tiếng
là:
Chư
ác
mặc
tác,
Chúng
thiện
phụng
hành,
Tự
tịnh
kỳ
ý,
Thị
chư
Phật
giáo
Nghĩa
là
:
Mọi
điều
ác
đều
không
làm,
Làm
mọi
điều
thiện
Tự
làm
trong
sạch
tâm
ý
Là
lời
dạy
của
các
Ðức
Phật
Bài
kệ
này
được
gọi
là
bài
kệ
của
bảy
vị
Phật
(gồm
cả
Phật
Thích
Ca),
cho
nên
cũng
gọi
là
thất
Phật
thống
giới
kệ
(bài
kệ
răn
dạy
chung
của
bảy
vị
Phật).
Tinh
thần
của
giới
luật
là
tránh
mọi
điều
ác,
làm
mọi
điều
thiện.
Làm
được
như
vậy
là
giới.
Tâm
ý
trong
sạch
là
định
và
tuệ.
Bởi
vì
tâm
có
lặng
(định)
mới
sáng
(tuệ).
Giới
đại
thừa:
Ðặc
điểm
của
giới
đại
thừa
là
cường
điệu
tính
lợi
tha.
Ðại
thừa
có
khái
niệm
ba
nhóm
giới
trong
sạch:
1.
Nhiếp
luật
nghi
giới.
2.
Nhiếp
thiện
pháp
giới.
3.
Nhiếp
chúng
sanh
giới
(cũng
gọi
nhiêu
ích
hữu
tình
giới).
Vì
cả
ba
nhóm
giới
này,
cả
đại
và
tiểu
thừa
đều
tôn
trọng
cho
nên
gọi
là
thông
giới.
Nhiếp
luật
nghi
giới:
S
samvarsa-sila.
Gọi
tắt
là
luật
nghi
giới
tương
đương
với
các
giới
tại
gia,
xuất
gia
của
Phật
giáo
Nguyên
thủy,
nhưng
theo
Ðại
Thừa
giáo
thì
là
Thập
thiện
giới,
hay
là
thập
trọng
cấm
giới
và
48
khinh
giới.
Nội
dung
của
Nhiếp
luật
nghi
giới,
chủ
yếu
là
ngăn
chặn
mọi
điều
ác.
Nhiếp
thiện
pháp
giới:
S.kusala-oharma-samgraha-sila.
Chỉ
riêng
cho
10
giới
thiện.
Nhiếp
chúng
sanh
giới:
S.sattrarthakriya-sila.
Chỉ
mọi
việc
làm,
có
ý
nghĩa
từ
bi
và
lợi
lạc
đối
với
chúng
sanh.
Ba
nhóm
giới
này
được
các
kinh
như
"Anh
lạc
bổn
nghiệp
kinh",...
nói
tới,
và
thường
được
gọi
là
ba
nhóm
giới
thanh
tịnh
(tam
tụ
tịnh
giới).
Thập
thiện
(10
thiện)
và
ba
nhóm
giới:
Các
kinh
Bát
Nhã
(kể
cả
Ðại
phẩm
và
tiểu
phẩm)
đều
lấy
10
thiện
làm
giới
đại
thừa,
kinh
Hoa
Nghiêm
cũng
theo
thuyết
này.
Trong
kinh
Bát
Nhã,
giới
Ba
La
Mật
tức
là
Bồ
tát
tự
mình
làm
10
thiện,
và
khuyến
khích
người
khác
cũng
làm
10
thiện
thực
hành
đầy
đủ
cả
hai
mặt
nhiếp
luật
nghi
giới
và
nhiếp
thiện
pháp
giới.
Kinh
Hoa
Nghiêm
thì
thêm
Nhiếp
chúng
sanh
giới
thành
có
ba
nhóm
giới
đầy
đủ.
Bộ
luận
Du
Già
sư
địa
nói
cả
ba
nhóm
giới
Nhiếp
luận
nghi
giới,
nhiếp
thiện
pháp
giới
và
nhiêu
ích
hữu
tình
giới,
đầy
đủ
như
kinh
Hoa
Nghiêm.
Ba
nhóm
giới
này
cũng
gọi
là
Du
Già
giới.
Mười
thiện
giới:
1.
Không
sát
sanh,
2.
Không
trộm
cắp,
3.
Không
tà
dâm,
4.
Không
nói
dối,
5.
Không
nói
ác,
6.
Không
nói
chia
rẽ
,
7.
Không
nói
phù
phiếm,
8.
Không
tham,
9.
Không
sân,
10.
Chánh
kiến.
Mười
cấm
giới
nặng
(trọng
giới)
Bồ
tát
nếu
phạm
mười
giới
nặng
này,
vi
phạm
tội
nặng
gọi
là
Ba
La
di.
Ðiều
này
được
ghi
trong
kinh
Phạm
Võng,
cho
nên
cũng
gọi
là
Phạm
Võng
giới.
Mười
cấm
giới
nặng
là:
1.
Không
sát
sanh,
2.
Không
trộm
cắp,
3.
Không
phạm
dâm
(tà
dâm)
4.
Không
nói
dối,
5.
Không
bán
rượu,
6.
Không
nói
lỗi
người
khác,
7.
Không
tự
khen
mình
và
vùi
dập
người,
8.
Không
keo
kiệt
đối
với
Pháp
và
tài
sản,
9.
Không
giận,
10.
Không
phỉ
báng
Tam
bảo.
Giới
Ðại
thừa
của
Phật
giáo
Trung
Quốc
và
Phật
giáo
Nhật
Bản:
Người
Trung
Quốc
kết
hợp
Du
già
giới
(tức
ba
nhóm
giới),
Phạm
Võng
giới
(10
giới
nặng
và
48
giới
nhẹ)
thành
ra
Ðại
thừa
giới,
cũng
gọi
là
Bồ
tát
giới,
Phật
tính
giới,
Kim
cang
bảo
giới.
Phật
giáo
Trung
Quốc
kết
hợp
dùng
luật
Tứ
Phần
(Thường
gọi
là
luật
Tiểu
thừa),
với
luật
Ðại
thừa
(Kinh
Phạm
Võng).
Nói
chung,
từ
đời
Tùy
Ðường
về
sau,
đều
kết
hợp
sử
dụng
như
vậy.
Ở
Nhật
Bản,
vào
đời
Nại
Lương
(Nara)
có
sư
Giám
Châu
truyền
kinh
nghiệm
kết
hợp
dùng
giới
Ðại
thừa
và
Tiểu
thừa
(của
Trung
Quốc)
vào
Nhật
Bản.
Nhưng
đến
thời
Ðại
sư
Tối
Trừng,
thì
Ngài
bỏ
giới
Tiểu
thừa,
chỉ
dùng
giới
Ðại
Thừa
mà
thôi
gọi
là
viên
đốn
giới
(hay
Viên
giới).
Tông
Thiên
Thai
(tendai)
và
các
lưu
phái
khác
ở
Nhật,
đều
theo
lập
trường
đó
của
Ngài
Tối
Trừng.
Tông
Tào
Ðộng
của
sư
Ðạo
Nguyên
lập
ra
16
giới
gọi
là
Bồ
tát
giới,
gồm
Tam
quy
giới,
Tam
tụ
tịnh
giới
và
thập
trọng
cấm
giới.
Cái
khác
của
Ðạo
Nguyên
là
xem
thọ
Tam
quy
là
giới.
Còn
Tam
tụ
tịnh
giới
(ba
nhóm
giới
thanh
tịnh)
và
thập
trọng
cấm
giới
thì
giống
như
trên.
Tông
Lâm
Tế
ở
Nhật
cũng
theo
lập
trường
này
của
Tào
Ðộng.
V.2.
ÐỊNH
HỌC
Nghĩa
của
từ
Định
Ðịnh
nghĩa
là
tâm
không
tán
loạn,
là
nhất
tâm.
Bốn
cảnh
giới
định
cúa
Phật
giáo
Nguyên
thủy:
Phật
giáo
Nguyên
thủy
nói
về
4
cảnh
giới
định
(gọi
là
bốn
cấp
thiền)
như
sau:
+
Cấp
thiền
thứ
nhứt:
(Sơ
thiền)
xa
lìa
dục
vọng,
xa
lìa
mọi
pháp
bất
thiện,
có
tầm
và
tứ,
Hỷ
lạc
nhờ
xa
lìa
dục
vọng
và
pháp
bất
thiện
mà
có.
+
Cấp
thiền
thứ
hai:
(Nhị
thiền)
ngưng
chỉ
tầm
và
tứ,
nội
tâm
an
tịnh,
hỷ
lạc
nhờ
định
tâm
mà
có.
+
Cấp
thiền
thứ
ba:
(Tam
thiền)
xa
lìa
tâm
hỷ,
trú
ở
xả,
thân
trú
ở
lạc
+
Cấp
thiền
thứ
tư:
(Tứ
thiền)
bỏ
khổ
lạc,
bỏ
hỷ
ưu,
xả
niệm
thanh
tịnh.
Các
loại
định
:
định
là
tâm
an
tịnh,
thống
nhất.
Người
còn
ở
Dục
giới,
thành
tựu
được
tâm
định
tạm
thời
gọi
là
Dục
giới
định.
Các
cảnh
giới
định
ở
sắc
giới
và
Vô
sắc
giới
mới
gọi
là
căn
bổn
định.
Cần
nhắc
lại
ở
đây
các
khái
níệm
Dục
giới,
Sắc
giới
và
Vô
sắc
giới.
Dục
giới:
(S.Kama
dhatu)
là
cõi
sống
trong
đó
cảm
quan
có
nhiều
dục
vọng,
hướng
tới
sắc,
thinh,
hương,
vị,
xúc
pháp,
tức
sáu
ngoại
trần.
Sắc
giới
(S.rupa
dhatu):
là
cõi
sống
mà
dục
vọng
của
cảm
quan
không
còn
nữa,
nhưng
thân
vật
chất
vẫn
còn.
Chúng
sanh
ở
đây,
luôn
ở
trong
trạng
thái
thiền
định
từ
sơ
thiền
đến
tứ
thiền.
Vô
sắc
giới
(S.
Arupa
dhatu):
là
cõi
sống
ở
đây
chúng
sanh
không
còn
có
thân
vật
chất
nữa
mà
chỉ
sống
cuộc
sống
thuần
túy
tinh
thần
mà
thôi.
Cũng
như
Sắc
giới,
Vô
sắc
giới
có
4
cấp
thiền,
gọi
theo
thứ
tự
từ
thấp
đến
cao:
1.
Không
Vô
biên
xứ,
2.
Thức
Vô
Biên
xứ.
3.
Vô
sở
hữu
xứ
4.
Phi
tưởng
phi
phi
tưởng
xứ.
Các
thuật
ngữ
liên
quan
tới
Ðịnh
học:
Samadhi
dịch
là
Ðịnh:
định
ý;
tam
muội;
tam
ma
địa;
đẳng
trì;
chánh
thọ
dhyana,
jhana
Hán
dịch
là
Thiền:
thiền
na;
tĩnh
lự;
Tư
duy
tu
Samapati
Hán
dịch
là
Ðịnh,
tam
ma
bát
đề,
đẳng
chí
samatha
Hán
dịch
là
chỉ,
xamatha.
S.
Cittankragrata,
P.Cittegaggata
Hán
dịch
là
tâm
chuyên
một
cảnh.
Yoga
Hán
dịch
âm
Du
già.
Samadhi:
là
danh
từ
chung
nhứt,
bao
gồm
các
loại
định
thế
gian
hữn
lậu,
cũng
như
xuất
thế
vô
lậu
hữu
tâm
dịnh,
vô
tâm
định,
toàn
là
các
định
trong
ba
giới.
Dhyana:
chỉ
loại
định
của
sắc
giới
mà
thôi,
không
có
định
của
Dục
giới,
và
của
Vô
sắc
giới.
Samapatti:
là
loại
định
của
riêng
Sắc
giới,
và
Vô
sắc
giới
không
bao
hàm
định
Dục
giới.
Như
vậy,
nó
bao
gồm
9
cấp
định
từ
Sơ
thiền
sắc
giới
cho
tới
Tứ
thiền
Vô
sắc
giới,
kể
cả
diệt
thọ
tưởng
định.
Gọi
chung
tất
cả
là
Cửu
thứ
đệ
định
(chín
cấp
định
xếp
theo
thứ
tự
từ
thấp
tới
cao).
Samatha:
hay
dùng
đồng
thời
với
Vipasvana,
vipassana
(quán
Tỳ
bát
xá
na).
Samatha
là
chỉ,
Samatha
vipassana
là
chỉ
quán.
Chỉ
là
nội
tâm
vắng
lặng,
Quán
là
quan
sát.
Dùng
hai
từ
chỉ
quán
là
muốn
nói
hai
môn
định
học
và
tuệ
học
cần
phát
triển
cân
bằng.
Yoga
là
từ
ngữ
có
trước
Phật
giáo,
cũng
chỉ
cảnh
giới
nội
tâm
thống
nhứt.
Phật
giáo
cũng
dùng
từ
Yoga
(Du
già)
trong
các
khái
niệm
như
Du
già
hạnh,
Du
già
sư,
bộ
phái
Du
già
(yogacara)
cũng
gọi
bộ
phái
Duy
Thức.
Samahita
Hán
dịch
âm
Tam
ma
sất
da,
Hán
dịch
nghĩa
Ðẳng
dẫn,
nhập
định.
Samapanna
:
Hán
dịch
âm
Tam
ma
bác
ra,
dịch
nghĩa
căn
bổn
định.
Hiện
pháp
lạc
trú:
S.
drstadhanoma-suk-havihara
P.
dittha-dhamma-sukhavihara.
Năm
loại
thiền:
Ðời
nhà
Ðường
ở
Trung
Quốc,
các
thiền
sư
Khuê
Phong,
Tôn
Mật,
phân
biệt
có
năm
loại
thiền
là:
(1)
Ngoại
đạo
thiền;
(2)
Phàm
phu
thiền;
(3)
Tiểu
thừa
thiền;
(4)
Ðại
thừa
thiền;
(5)
Tối
thượng
thừa
thiền
(cũng
gọi
là
Như
Lai
thiền).
Và
kết
luận
là
Như
Lai
thiền
và
Tổ
Sư
thiền
đều
bao
hàm
có
yếu
tố
giác
ngộ
tối
cao.
Các
phương
pháp
tu
tập
thiền
định:
Về
phương
pháp
tu
tập
thiền
định,
kinh
sách
Phật
giáo
Nguyê n
thủy,
cũng
như
các
sách
luận
của
Phật
giáo
bộ
phái
đều
có
ghi
chép
khá
cụ
thể.
Bốn
mươi
nghiệp
xứ:
Kinh
sách
Pali
nói
tới
40
tối
tượng
quán,
có
tác
dụng
dẫn
tới
định
tâm,
gọi
là
40
nghiệp
xứ
(kammatthana),
chia
làm:
10
biến
xứ
:
địa,
thủy,
hỏa,
phong,
sắc
xanh ,
sắc
vàng,
sắc
đỏ,
sắc
trắng,
ánh
sáng,
hư
không.
10
tướng
bất
tịnh:
tướng
xác
phồng
to,
tướng
xác
màu
xanh
bủng,
tướng
máu
mủ;
tướng
gân
cốt
rời
rã,
tướng
thây
xác
bị
côn
trùng
ăn,
tướng
xương
cốt
phân
tán
rơi
vải,
tướng
gân
cốt
bị
chặt
đứt,
tướng
máu
chảy
lênh
láng,
tướng
trùng
hôi
bọ
thối,
tướng
hài
cốt.
10
tùy
niệm:
Phật,
Pháp.
Tăng,
Giới,
thí
(xả),
các
cõi
Trời,
chết,
hơi
thở
ra
vào,
sự
vắng
lặng
ngưng
chỉ.
Bốn
vô
lưọng
tâm:
từ,
bi,
hỷ,
xả.
Bốn
cấp
thiền
Vô
sắc:
hư
không
vô
biên
xứ,
thức
vô
biên
xứ,
vô
sở
hữu
xứ,
phi
tưởng
phi
phi
tưởng
xứ.
Tướng
chán
ghét
thức
ăn.
Tưởng
về
giới
sai
biệt.
Quan
hệ
giữa
tính
cách
con
người
và
các
đối
tượng
quán
nghiệp
xứ:
Tính
cách
người
gồm
có:
1.
Bản
tính
tham
(tham
hạnh)
2.
Bản
tính
sân
giận
(sân
hạnh)
3.
Bản
tính
si
mê
(si
hạnh)
4.
Bản
tính
tán
loạn
(tầm
hạnh)
5.
Bản
tính
dễ
tin
(tín
hạnh)
6.
Bản
tính
thiên
lý
trí
(giác
hạnh)
Người
bản
tính
tham
nên
chọn
các
pháp
quán
10
tướng
bất
tịnh,
quán
thân
bất
tịnh.
Người
bản
tính
sân,
chọn
phép
quán
bốn
vô
lượng
tâm,
bốn
sắc
xanh,
vàng,
đỏ,
trắng.
Người
bản
tính
si
và
tán
loạn,
chọn
các
phép
quán
theo
dõi
hơi
thở
vào
ra,
(sổ
tức
quán).
Người
bản
tính
giàu
đức
tin,
chọn
phép
quán
niệm
Phật,
Pháp,
Tăng,
giới,
thí,
cõi
Trời.
Người
bản
tính
thiên
lý
trí,
chọn
các
phép
quán
niệm
chết,
niệm
chán
thức
ăn,
niệm
giới
sai
biệt.
Ngoài
ra,
còn
có
các
phép
quán,
thích
hợp
với
mọi
tính
cách,
như
quán
về
bốn
cấp
thiền
Vô
sắc,
quán
các
biến
xứ
địa,
thủy,
hỏa
phong.
Năm
phép
quán
định
tâm
và
ngũ
môn
thiền:
Phép
quán
Ngũ
đình
tâm,
là
phép
quán
của
Hữu
bộ
được
chỉnh
lý
từ
các
phép
quán
đã
được
nói
trong
kinh
sách
Nguyên
thủy.
1/
Quán
bất
tịnh:
(tức
mười
phép
quán
bất
tịnh
của
Phật
giáo
Nguyên
thủy)
hợp
với
loại
người
có
bản
tính
tham.
2/
Quán
từ
bi:
(tức
quán
bốn
vô
lượng
tâm)
:
từ,
bi,
hỷ,
xả,
thích
hợp
với
bản
tính
sân
hận.
3/
Quán
nhơn
duyên:
(tức
quán
12
nhơn
duyên)
thích
hợp
với
căn
tính
si
.
4/
Quán
giới
sai
biệt:
(tức
là
quán
4
đại:
địa,
thủy,
hỏa,
phong
cấu
tạo
ra
thân
nguời),
thích
hợp
với
loại
người
nặng
về
ngã
kiến.
5/
Quán
hơi
thở:
(sổ
tức
quán),
đối
trị
loại
người
hay
có
tâm
tán
loạn.
Hữu
bộ
cũng
lập
ra
phép
ngũ
môn
thiền
thích
hợp
với
mọi
bản
tính
con
người.
Ngũ
môn
thiền
là
ngũ
đình
tâm,
trong
đó
thay
phép
quán
giới
sai
biệt
bằng
phép
quán
niệm
Phật.
Hai
mươi
lăm
phuơng
tiện:
(chuẩn
bị
cho
tu
thiền
định)
Tông
Thiên
Thai
cho
rằng,
để
chuẩn
bị
cho
việc
tu
thiền
có
kết
quả,
cần
có
đầy
đủ:
1/
Năm
duyên
:
-
Giữ
giới
thanh
tịnh.
-
Thức
ăn,
áo
mặc
đầy
đủ,
-
Nơi
ở
yên
tịnh,
-
Dẹp
các
duyên
vụ
(bỏ
bớt
các
việc
không
cần
thiết)
-
Gần
gũi
thiện
tri
thức.
2/
Bỏ
năm
dục
(vọng)
-
Sắc
-
Thanh,
-
Hương,
-
Vị
-
Xúc
3/
Bỏ
năm
triền
cái
(tức
năm
cái
ngăn
che
vưóng
mắc)
-
Tham,
-
Sân,
-
Hôn
trầm
thụy
miên,
-
Trạo
cử
(lăng
xăng)
-
Nghi.
4/
Ðiều
hòa
năm
sự
:
-
Ăn
uống,
-
Ngủ
nghỉ,
-
Thân,
-
Hơi
thở,
-
Tâm.
5/
Thực
hành
năm
pháp
|