| ...... ... |
. |
Thuyết
Bốn
Ðế
GS
MINH
CHI
Chủ
nhiệm
bộ
môn
Tôn
giáo
học
và
Phật
giáo
sử
Việt
Nam
Trường
Phật
học
cao
cấp
Thành
phố
Hồ
Chí
Minh
1996
---o0o---
[3]
Phụ
lục
của
phần
B:
B.1
Kinh
hạt
muối:
Phật
nói:
–
Ví
như
này,
hỡi
các
Tỳ
Kheo
có
người
bỏ
một
nhúm
muối
vào
một
chén
nước
nhỏ,
này
các
Tỳ
Kheo,
các
người
nghĩ
thế
nào,
nước
trong
chén
nhỏ
có
vì
nhúm
muối
nhỏ
này
mà
trở
thành
mặn
và
không
uống
được
hay
không?
–
Thưa
có
vậy,
Bạch
Thế
Tôn!
–
Vì
cớ
sao?
–
Bạch
Thế
Tôn,
vì
nước
trong
chén
quá
ít,
nhúm
muối
làm
cho
nó
trở
thành
mặn,
không
uống
được.
–
Này
các
Tỳ
Kheo,
ví
như
có
một
người
bỏ
một
nhúm
muối
như
vậy
vào
sông
Hằng,
hỡi
các
Tỳ
Kheo,
các
người
nghĩ
thế
nào?
Nước
sông
Hằng
có
vì
nhúm
muối
đó
mà
trở
thành
không
uống
được
hay
không?
–
Thưa
không,
Bạch
Thế
Tôn.
–
Vì
cớ
sao?
–
Bạch
Thế
Tôn
vì
lượng
nước
sông
Hằng
lớn,
cho
nên
không
bị
mặn
và
vẫn
có
thể
uống
được.
Cũng
vậy,
này
các
Tỳ
Kheo!
Ở
đây
có
người
làm
việc
ác
nhỏ
mọn,
khiến
người
ấy
chịu
khổ
não.
Lại
này
nữa
các
Tỳ
Kheo,
có
người
cũng
làm
một
việc
nhỏ
như
vậy,
nhưng
ngay
trong
đời
sống
hiện
tại,
cũng
đền
bù
hết
rồi,
ngay
một
ít
quả
báo
nhỏ
cũng
không
còn
lại
ở
đời
sau,
hà
huống
là
quả
báo
lớn...
Như
vậy,
này
các
Tỳ
Kheo!
Có
người
không
tu
tập
thân,
không
giữ
giới
luật,
không
tu
tập
tâm,
không
tu
tập
huệ,
ít
thiện,
ít
đức,
hằng
ngày
sống
khổ,
người
như
thế,
dù
phạm
một
tội
ác
nhỏ
cũng
làm
nó
khổ
sở
vô
cùng.
Như
vậy,
này
các
Tỳ
Kheo!
Lại
như
có
người
có
tu
tập
thân,
giữ
gìn
giới
luật,
có
tu
tập
tâm,
tu
tập
tuệ,
làm
nhiều
điều
thiện,
sinh
hoạt
thoải
mái,
người
ấy
dù
có
phạm
một
tội
ác
nhỏ,
thì
ngay
trong
cuộc
sống
hiện
tại,
cũng
đủ
đền
bù
hết,
dù
một
quả
báo
nhỏ
cũng
không
phải
chịu
trong
đời
sống
sau,
huống
hồ
là
quả
báo
lớn.
Này
các
Tỳ
Kheo!
Ví
như
có
người
vì
bị
phạt
nửa
đồng
tiền,
một
đồng
tiền,
100
đồng
tiền
mà
phải
vào
tù.
Lại
có
một
người
cũng
bị
phạt
nửa
đồng
tiền,
một
đồng
tiền,
hay
100
đồng
tiền
nhưng
không
phải
vào
tù.
Này
các
Tỳ
Kheo!
Bị
phạt
nửa
đồng
tiền,
một
đồng
tiền,
100
đồng
tiền
mà
phải
vào
tù
là
ai
đó?
Này
các
Tỳ
Kheo!
Người
nào
bần
cùng,
người
đó
không
đủ
sống,
cho
nên
chỉ
vì
bị
phạt
nửa
đồng
tiền,
một
đồng
tiền,
100
đồng
tiền
mà
phải
vào
tù.
Này
các
Tỳ
Kheo!
Bị
phạt
nửa
đồng
tiền,
một
đồng
tiền,
100
đồng
tiền
mà
không
phải
vào
tù,
là
ai
vậy?
Này
các
Tỳ
Kheo!
Người
giàu
có,
tiền
của
dư
dật,
thì
dù
bị
phạt
nửa
đồng
tiền,
một
đồng
đến
100
đồng
tiền
(anh
ta
nộp
phạt
dễ
dàng),
cũng
không
phải
vào
tù.
Như
vậy,
này
các
Tỳ
Kheo,
có
một
người
phạm
một
chút
ác
nhỏ
mà
khỗ
não.
Lại
nữa,
này
các
Tỳ
Kheo,
có
một
người
cũng
phạm
một
chút
ác
nhỏ
như
vậy,
nhưng
trong
cuộc
sống
hiện
tại
cũng
đủ
đền
bù
rồi,
không
còn
chịu
quả
báo
ở
đời
sau,
dù
là
nhỏ,
chứ
đừng
nói
gì
một
quả
báo
lớn.
(Tăng
Nhứt
A
Hàm–bản
Hán)
(Tham
khảo
thêm
bản
dịch
từ
Pàli
trong
Tăng
Chi
I,
Kinh
Pàli,
trang
284-290)
B.2
Hoặc
duyên
với
nghiệp
mà
tạo
ra
sanh
tử,
sầu,
bi
khổ
não
DUYÊN
KHỞI
Từ
Pàli
là
Pratiya-samutpada,
từ
Sanskrit
là
paticca-samuppada.
Nghĩa
là
y
duyên
mà
sanh
khởi
lên.
Duyên
là
nhân
duyên,
cũng
như
hiện
nay
nói
điều
kiện.
Theo
đạo
Phật,
tất
cả
mọi
hiện
tượng,
sự
vật
ở
thế
gian
này
sở
dĩ
tồn
tại
như
vậy
diễn
biến
như
vậy
là
do
có
những
điều
kiện
nhứt
định.
Trong
sách
Phật,
thường
có
những
câu
hay
đoạn
câu:
mọi
pháp
đều
nhơn
duyên
sanh,
đều
có
tính
duyên
khởi,
đều
là
y
tha
khởi;
ý
nói,
mọi
pháp
(tức
mọi
sự
vật,
mọi
hiện
tượng
và
quá
trình)
trong
thế
gian
này
không
thể
tự
mình
tồn
tại
được
mà
dựa
vào
nhiều
nhơn,
nhiều
duyên
để
tồn
tại.
Từ
y
tha
nghĩa
là
dựa
vào
y
vào
nhân
duyên.
Mọi
sự
vật
ở
thế
gian
này
đều
biến
động
vô
thường,
nhưng
sự
biến
động
vô
thường
ấy
không
phải
là
tự
nhiên,
hay
ngẫu
nhiên
mà
theo
quy
luật,
tức
là
quy
luật
nhơn
duyên
sinh.
Đó
là
một
sự
biến
động
có
điều
kiện
(nhơn
duyên).
Bậc
Thánh
giác
ngộ
là
giác
ngộ
về
những
điều
kiện
diễn
biến
của
sự
vật,
hiện
tượng
và
quá
trình
trên
thế
gian
này.
Bậc
Thánh
chỉ
bày
cho
chúng
ta
thấy
rõ
những
điều
kiện
ấy,
để
chúng
ta
có
thể
chủ
động
đối
với
chúng,
chi
phối
chúng,
thay
vì
để
chúng
chi
phối
ta,
sai
sử
chúng
ta.
Ý
nghĩa
cơ
bản
của
duyên
khởi:
Ý
nghĩa
cơ
bản
của
duyên
khởi
ở
trong
câu:
"Cái
này
có
cho
nên
cái
kia
có,
Cái
nàysinh,
cho
nên
cái
kia
sinh,
Cái
này
không
có
cho
nên
cái
kia
không
có,
Cái
này
diệt
cho
nên
cái
kia
diệt".
Hay
là
trong
câu:
"Các
pháp
do
nhơn
duyên
sinh
mà
sinh,
cũng
do
nhơn
duyên
diệt
mà
diệt".
Thuyết
duyên
khởi
có
tầm
quan
trọng
hàng
đầu
đối
với
Phật
Pháp
cho
nên
có
đoạn
kinh
đồng
nhứt
thuyết
duyên
khởi
với
Phật
Pháp:
"Thấy
Phật
Pháp
tức
là
thấy
duyên
khởi,
thấy
duyên
khởi
tức
là
thấy
Phật
Pháp".
Thuyết
duyên
khởi
dù
là
Phật
giáo
nguyên
thủy
hay
Phật
giáo
Đại
thừa,
Phật
giáo
Ấn
Độ
hay
Phật
Giáo
Trung
Hoa,
Nhật
Bản,
Việt
Nam,
được
xem
như
tư
tưởng
cơ
bản
của
Phật
giáo,
là
chủ
thuyết
khu
biệt
Phật
giáo
với
các
tín
ngưỡng
khác,
hệ
tư
tưởng
khác.
Thuyết
duyên
khởi
nói
chung
và
thuyết
duyên
khởi
giá
trị:
Quan
hệ
duyên
khởi
là
quan
hệ
thời
gian,
không
gian
và
quan
hệ
logic
của
mọi
hiện
tượng,
sự
vật
trong
thế
giới,
vũ
trụ.
Phật
giáo,
khi
khảo
sát
những
mối
quan
hệ
đó,
không
ở
ngoài
mục
đích
tìm
hiểu
ý
nghĩa
cứu
kính
của
nhơn
sinh,
nhằm
trả
lời
câu
hỏi:
"Vì
sao
con
người
lại
tồn
tại
trên
thế
gian
này,
vì
sao
con
người
phải
già,
bịnh
và
chết,
chịu
nhiều
đau
khổ?
Khi
nói
thuyết
duyên
khởi
giá
trị
là
nói
thuyết
Duyên
khởi
nhằm
tìm
hiểu
giá
trị
của
nhân
sanh,
cũng
gọi
là
thuyết
Nội
duyên
khởi.
Còn
thuyết
Duyên
khởi
nói
chung
có
tính
chất
bao
trùm
hơn,
phổ
quát
hơn.
Nó
không
những
áp
dụngcho
vấn
đề
nhân
sinh,
mà
cả
cho
toàn
bộ
hiện
tượng,
sự
vật
và
quá
trình
xảy
ra
trên
thế
gian
và
trong
vũ
trụ
này.
Định
đề
cơ
bản
của
nó,
như
đã
nói
trên
là:
Cái
này
có
thì
cái
kia
có,
Cái
này
sinh
thì
cái
kia
sinh,
Cái
này
không
có
thì
cái
kia
không
có,
Cái
này
diệt
thì
cái
kia
diệt...
Tính
phức
tạp
của
thuyết
duyên
khởi
(giá
trị)
Quan
hệ
duyên
khởi
vô
cùng
phức
tạp.
Theo
quan
điểm
Phật
giáo,
mỗi
con
người,
ngay
sau
khi
lọt
lòng
mẹ,
đã
là
một
tổng
hòa
của
toàn
bộ
kinh
nghiệm
quá
khứ
mà
con
người
đã
trải
qua
trong
nhiều
cuộc
sống
trước.
Những
kinh
nghiệm
đó
không
có
mất
đi
với
thời
gian,
mà
lưu
lại
dấu
vết
trong
thức
A
lại
gia
của
con
người
đó,
từ
đời
này
sang
đời
khác.
Rồi
sau
khi
lọt
lòng
mẹ,
con
người
chịu
sự
tác
động
của
gia
đình,
trường
học,
xã
hội...
Tất
cả
những
kinh
nghiệm
tiếp
xúc
đó
cũng
không
mất
đi,
mà
vẫn
tích
lủy
tiếp
tục
trong
thức
A
lại
gia
của
con
người
đó,
tạo
ra
cái
gọi
là
nhân
cách
của
con
người
đó.
Con
người
sống
trong
một
hoàn
cảnh,
một
môi
trường
nhứt
định,
con
người
chịu
ảnh
hưởng
của
hoàn
cảnh,
đồng
thời
cũng
ảnh
hưởng
trở
lại
hoàn
cảnh.
Điều
này
đúng
không
những
đối
với
mặt
đạo
đức,
mà
cả
về
các
mặt
như
thức
ăn,
đồ
uống,
đồ
mặc,
nơi
ở...
Qua
phân
tích
kinh
tế,
chúng
ta
thấy
rất
rõ,
cuộc
sống
dù
là
rất
bình
thường
của
một
cá
nhân
chỉ
có
thể
tồn
tại
và
tiếp
tục,
với
sự
hỗ
trợ
của
biết
bao
điều
kiện,
nào
nguyên
liệu,
nhiên
liệu,
công
lao
động,
vận
tải,
không
những
trong
nước
mà
cả
ngoài
nước
nữa.
Để
có
một
gói
mì
ăn
liền,
phải
có
nguyên
liệu
bột
mì
nhập,
có
cả
một
nhà
máy
kéo
mì
sợi,
bột
gia
vị,
giấy
bao
bì,
phương
tiện
vận
tải
để
chuyển
những
gói
mì
thành
phẩm
đến
người
tiêu
thụ,
thông
qua
một
mạng
lưới
cửa
hàng
bán
buôn,
bán
lẻ
rải
rác
khắp
cả
nước,
không
kể
chi
phí
quảng
cáo
và
một
loạt
các
chi
phí
khác
có
liên
quan.
Đó
là
nói
chuyện
một
gói
mì
ăn
buổi
sáng,
giá
bán
không
tới
một
nghìn.
Cuộc
sống
hàng
ngày
của
chúng
ta
còn
cần
bao
nhiêu
thứ
khác
còn
phức
tạp
hơn.
Trong
lãnh
vực
văn
hóa
giáo
dục,
các
mối
quan
hệ
chằng
chịt,
đan
chen
lại
càng
phức
tạp
hơn:
quan
hệ
truyền
thống
văn
hóa
quá
khứ
ở
trong
nước
và
quốc
tế,
quan
hệ
với
các
ngành
giáo
dục,
in
ấn,
tuyên
truyền,
xuất
bản...
Có
thể
nói
sự
tồn
tại
và
phát
triển
của
bản
thân
chúng
ta
có
liên
quan
mật
thiết
và
phức
tạp
với
quá
khứ
,
với
xã
hội
và
thế
giới.
Đó
chính
là
chủ
thuyết
pháp
giới
trùng
trùng
duyên
khởi
của
Tôn
Hoa
Nghiêm
nổi
tiếng.
Nó
cụ
thể
hóa
quan
điểm
Phật
giáo:
"Một
là
tất
cả,
tất
cả
là
một"
(nhứt
túc
nhứt
thiết,
nhứt
thiết
tức
nhứt).
Biểu
minh
họa
thuyết
duyên
khởi
nói
chung
và
thuyết
duyên
khởi
giá
trị
Thuyết
duyên
khởi
nói
chung:
Cái
này
sinh
thì
cái
kia
sinh:
quan
hệ
thời
gian
Cái
này
diệt
thì
cái
kia
diệt
(các
hạnh
vô
thường)
Cái
này
có
thì
cái
kia
có:
quan
hệ
không
gian
logic
Cái
này
không
có
thì
cái
kia
không
có
Thuyết
duyên
khởi
giá
trị:
Cũng
gọi
là
nội
duyên
khởi.
(12
nhơn
duyên
và
bốn
đế)
Duyên
vô
minh,
có
hành
(khổ
quả)
Duyên
hành
có
thức
lưu
chuyển
(tất
cả
các
hành
là
khổ
(nhân)
tập)
Duyên
sanh
có
già
chết...
với
tất
cả
mọi
khổ
não
kèm
theo.
Vô
minh
diệt
cho
nên
hành
diệt
Hành
diệt
nên
thức
diệt
(Diệt
(quả)
Niết
bàn
vắng
lặng)
Sanh
bị
diệt
cho
nên
già
chết
cũng
diệt:
(Đạo
(nhân))
Qua
biểu
trên,
thấy:
Vế
"cái
này
sinh
thì
cái
kia
sinh,
cái
này
diệt
thì
cái
kia
diệt"...
nói
lên
quan
hệ
thời
gian
trước
sau.
Còn,
vế
:
"cái
này
có
thì
cái
kia
có,
cái
này
khỏng
có
thì
cái
kia
không
có",
nói
lên
quan
hệ
không
gian
và
quan
hệ
logic.
"Các
hành
đều
là
khổ"
nói
lên
mặt
trái
của
giá
trị,
mặt
mê
vọng
luân
hồi.
"Niết
bàn
vắng
lặng",
nói
lên
mặt
phải,
mặt
chính
diện
của
giá
trị,
mặt
giác
ngộ
và
an
lạc.
Các
câu
duyên
vô
minh
có
hành,
duyên
hành
có
thức...
duyên
sanh,
có
già
chết...
đó
là
chuỗi
duyên
khởi
của
mê
vọng
luân
hồi.
Các
câu
vô
minh
diệt
cho
nên
hành
diệt,
hành
diệt
cho
nên
thức
diệt...
là
chuỗi
duyên
khởi
của
giác
ngộ
và
giải
thoát.
Trong
bốn
đế
thì
hai
đế
khổ
và
tập
là
quan
hệ
nhơn
quả
dẫn
tới
lưu
chuyển
trong
vòng
mê
vọng
luân
hồi.
Hai
đế
diệt
và
đạo
là
quan
hệ
nhơn
quả
dẫn
tới
giác
ngộ
và
giải
thoát.
Do
dó,
bốn
đế
eũng
thuộc
phạm
vi
thuyết
duyên
khởi:
lưu
chuyển
duyên
khởi
và
giải
thoát
duyên
khởi.
Thuyết
12
nhơn
duyên:
Trong
kinh
Nguyên
thủy
thuộc
văn
hệ
Pàli,
có
đoạn
văn
giới
thiệu
12
nhơn
duyên
như
sau
:
"Này
các
tỷ
kheo!
Thế
nào
là
duyên
khởi
?
Này
các
tỷ
kheo!
Duyên
vô
minh
mà
có
hành,
duyên
hành
mà
có
thức,
duyên
thức
mà
có
danh
sắc,
duyên
danh
sảc
mà
có
sáu
xứ,
duyên
sáu
xứ
mà
có
xác,
duyên
xúc
mà
có
thọ,
duyên
thọ
mà
có
ai,
duyên
ái
mà
có
thủ,
duyên
thủ
mà
có
hữu,
duyên
hữu
mà
có
sinh,
duyên
sinh
mà
có
già
chết,
sầu
bi
khổ
não
sinh
ra.
Như
vậy,
là
duyên
khởi
của
tất
cả
mọi
đau
khổ.
Ngược
lại,
vô
minh
diệt
cho
nên
hành
diệt,
hành
diệt
cho
nên
thức
diệt,
thức
diệt
cho
nên
danh
sắc
diệt...
sáu
xứ...
xác...
thọ..
ái...
thủ...
hữu...
Hữu
diệt
nên
sinh
diệt
sinh
diệt
nên
già
chết,
và
mọi
sầu
bi
khổ
não
đều
diệt.
Như
vậy,
tất
cả
mọi
đau
khổ
đều
diệt."
Trong
12
chi
nhơn
duyên,
hai
chi
đầu
vô
minh
và
hành
thuộc
về
nhân
của
thời
quá
khứ,
năm
chi
thức
danh
sắc,
sáu
xứ,
xúc,
thọ,
là
năm
quả
thuộc
thời
hiện
đại.
Ðó
là
lớp
nhơn
quả
quá
khứ
và
hiện
tại
(hai
nhơn
quả
quá
khứ
và
năm
quả
hiện
tại).
Ái,
thủ,
hữu
là
ba
nhân
thuộc
thời
hiện
tại.
Sinh
và
già
chết
là
hai
quả
thuộc
thời
vị
lai.
Ðó
là
một
lớp
nhân
quả
nữa
:
ba
nhân
hiện
tai
và
hai
quả
vị
lai.
Ðó
là
lớp
nhân
quả
thứ
hai
hiện
tại
và
vị
lai.
Biểu
sau
đây
minh
họa
hai
lớp
nhân
quả
quá
khứ
hiện
tại
và
hiện
tại
vị
lai
như
sau
:
Mười
hai
duyên
khởi
Vô
minh
tức
là
hoặc
hai
nhân
thời
quá
khứ
Hành
tức
là
nghiệp
Thức,
danh
sắc,
sáu
xứ,
xúc,
thọ....
năm
quả
thời
hiện
tại.
Trên
đây
là
lớp
nhân
quả
quá
khứ
hiện
tại.
Ái
thủ,
hữu...
Ba
nhân
thời
hiện
tại.
Sinh,
già,
chết...
hai
quả
thời
vị
lai.
Là
lớp
nhân
quả
thứ
hai
:
nhơn
hiện
tại
quả
vị
lai.
Cho
nên
gọi
thuyết
12
nhơn
duyên
gồm
hai
lớp
nhơn
quả,
thuộc
ba
đời.
Trong
biểu,
1)
Vô
minh
tức
là
phiền
não
thuộc
đời
trước;
2)
Hành
là
các
nghiệp
thiện
ác
tạo
ra
trong
thời
quá
khứ.
3)
Thức:
Là
dạng
đầu
tiên
nhứt
(sát
na
dầu
tiên)
của
thân
năm
uẩn
trong
thai
mẹ.
4)
Danh
sắc:
là
tổ
hợp
thân
tâm
bắt
đầu
hình
thành
trong
thai
mẹ,
trong
bốn
tuần
dầu
tiên.
5)
Sáu
xứ
(cũng
gọi
là
lục
nhập)
là
sáu
căn
năng.
Ðến
tuần
thứ
năm
thì
bào
thai
đã
có
sáu
căn
đầy
đủ.
6)
Xúc
:
thai
nhi
lọt
lòng
mẹ,
bắt
đầu
tiếp
xúc
với
ngoại
cảnh.
7)
Thọ
:
là
cảm
xúc,
vui,
không
vui...
8)
Ái
:
thích
thú
đồ
vật
hoặc
người
thuộc
giới
tính
khác.
9)
Thủ
:
là
vơ
lấy
nắm
lấy
làm
của
mình.
10)
Hữu
:
cũng
gỉống
nghĩa
chữ
Hành,
tứe
là
tạo
ra
các
nghiệp
thiện
hay
ác,
dẫn
tới
quả
vị
lai.
11)
và
12)
Sinh
và
Già
chết
:
do
tạo
nghiệp
ở
đời
trước
mà
sinh
ra
ở
đời
này,
với
cái
thân
sẽ
già,
bịnh,
chết
với
mọi
khổ
não
kèm
theo.
Quan
niệm
của
phái
Du
Già
tức
học
phái
Duy
Thức:
Phái
Du
Già
xem
10
chi
từ
vô
minh
cho
đến
hữu
là
thuộc
đời
hiện
tại.
Hai
chi
sau,
sinh
và
già
chết
là
thuộc
đời
vị
lai.
Ðó
là
thuyết
một
lớp
nhân
quả
trải
qua
hai
đời.
Quan
niệm
của
Hữu
bộ:
Phái
Hữu
bộ
(sarvastivada)
quan
sát
lý
12
nhơn
duyên
theo
4
loại
duyên
khởi
:
1/
Sát
na
duyên
khởi
:
tức
trong
một
sát
na
(đơn
vị
thời
gian
ngắn
nhứt
có
thể
tưởng
tượng
được)
cả
12
chi
nhơn
duyên
cùng
tồn
tạỉ
một
cách
logic.
2/
Liên
phược
duyên
khởi
:
khi
quan
sát
12
nhơn
duyên
được
thể
hiện
cụ
thể
trong
thân
tâm
con
người,
hàng
giờ
phút
biến
đổi,
và
cả
hoạt
động
bình
thường
của
con
người
hằng
ngày
cũng
dựa
vào
12
nhơn
duyên
đó.
3/
Phân
vị
duyên
khởi:
tức
là
12
nhơn
duyên
chia
thành
hai
lớp
nhơn
quả
trong
ba
đời
quá
khứ,
hiện
tại
và
vị
lai.
4/
Viên
tục
duyên
khởi
:
viễn
tức
là
tiếp
tục
mãi,
cho
tới
khi
con
người
chứng
được
Niết
bàn.
Chuỗi
12
nhơn
duyên
này
nối
tiếp
mãi
không
ngừng
đời
này
sang
đời
khác
cho
tới
khi
đương
sự
chứng
Niết
bàn,
không
còn
luân
hồi
sanh
tử
nữa.
Giải
thích
các
chi
trong
12
nhơn
duyên,
theo
kinh
Nikàya
Pàli
và
A
Hàm:
1/
Vô
minh
:
S.Avidya
P.Avijja,
tức
là
không
biết,
không
hiểu
đối
với
nhân
sinh
quan
và
thế
giới
quan
đúng
đắn,
đối
với
thuyết
bốn
đế.
Trái
với
vô
minh
là
mục
chánh
kiến
trong
Bát
chánh
đạo.
2/
Hành:
S.samskara
P.sankhara,
tức
ba
hành
nghiệp
ý,
lời
nói,
thân.
Do
vô
minh
mà
có
hành
động
tạo
nghiệp
thiện,
ác
nơi
ý
nghĩ,
lời
nói
và
thân.
Những
nghiệp
thiện
ác
này
đều
lưu
lại
dấu
vết
trong
con
người
dưới
dạng
hạt
giống,
hình
thành
nhân
cách,
tập
quán
của
con
người
đó.
3/
Thức:
S.vijinana,
P.Vinnana,
thức
là
tâm
thức
phân
biệt.
Kinh
A
Hàm
khi
nói
về
"duyên
thức
mà
có
danh
sắc",
phân
biệt
có:
1.
Thức
nhập
thai;
2.
Thức
trong
bào
thai;
3.
Thức
sau
khi
lọt
thai.
Thức
nhập
thai
kinh
Pàli
gọi
là
:
Kiết
sanh
thứe.
4/
Danh
sắc:
S.
và
P.
manarupa,
danh
là
các
hành
tướng
của
tâm
như
thọ,
tưỏng,
hành...
sắc
chỉ
sắc
thân.
Cũng
có
sách
giải
thích
sắc
là
năm
ngoại
trần:
sắc,
thanh,
hương,
vị,
xúc.
Nhưng
có
thể
giải
thích
sắc
là
sắc
thân
thì
đúng
lý
hơn.
5/
Sáu
xứ:
S.
sad-ayatana
P.salayatana,
cũng
gọi
theo
chữ
Hán
là
lục
nhập
hay
lục
nhập
xứ:
Tức
là
sáu
căn
năng,
qua
đó,
thân
tâm
tiếp
xúc
với
ngoại
cảnh.
6/
Xúc:
S.aparsa
P.phassa,
tức
là
sự
tiếp
xúc
của
ba
yếu
tố
căn,
cảnh,
và
thức.
7/
Thọ:
S.
và
P.vedana,
tức
là
cảm
thọ
vui,
buồn
hay
không
vui,
không
buồn.
8/
Ái:
S.trsna
P.tanha,
tức
là
sự
thèm
khát,
cũng
như
khát
thèm
nước
vậy.
Như
thấy
cảnh
vui,
thì
thèm
muốn,
gặp
cảnh
nghịch
thì
xa
tránh.
9/
Thủ:
S.
và
P.
upadana,
sau
khi
trong
tâm
khởi
lên
lòng
thèm
khát,
thì
ở
nơi
ý,
lời
nói
và
thân,
cũng
khởi
lên
hành
vi
cụ
thể
bám
lấy,
vơ
lấy,
và
đó
chính
là
tạo
nghiệp.
Có
thể
phân
biệt
có:
-
Dục
thủ:
là
thèm
muốn,
bám
vào
năm
đối
tượng
của
dục
vọng
như
sắc
đẹp,
của
cải,
danh
vọng,
ăn,
ngủ.
-
Kiến
thủ:
tức
là
bám
lấy
kiến
giải
mà
mình
vốn
thích
thú,
dù
là
kiến
giải
sai.
-
Giới
cấm
thủ:
Tức
là
bám
vào
những
giới
diều
vô
lý,
sai
trái,
như
một
số
ngoại
đạo
cho
rằng
tắm
nước
sông
Hằng
thì
được
xóa
sạch
mọi
tội
lỗi,
sống
ép
xác
khổ
hạnh
cũng
xóa
bỏ
được
mọi
tội
lỗi
quá
khứ.
10/
Hữu:
S.
và
P.bhava,
tức
là
sự
tồn
tại.
Vì
tạo
nghiệp
trong
quá
khứ
cho
nên
con
người
mới
tồn
tại,
mới
có
thân
năm
uẩn,
trong
các
cõi
sống
khác
nhau.
Nếu
ở
cõi
Dục
giới
thì
gọi
là
Dục
hữu.
Nếu
là
ở
cõi
Sắc
giới
thì
gọi
là
Sắc
Hữu,
và
nếu
ở
cõi
Vô
sắc
thì
gọi
là
Vô
Sắc
hữu.
11/
Sinh:
S.
và
P.
Jati,
tức
là
loài
hữu
tình,
do
nghiệp
tạo
ra
trong
quá
khứ
mà
sanh
trong
các
cõi
sống
khác
nhau,
thành
các
loại
chúng
sinh
khác
nhau.
12/
Già
chết:
S.
và
P.Jara-marana.
Trong
kinh
nguyên
thủy,
sau
già,
chết
còn
thêm
sầu
P.soka,
bi
P.
parideva,
Khổ
P.dukkha,
não
P.upayasa,
ưu
P.domanassa.
B.3
CÁC
ĐOẠN
TRÍCH
DẪN
KINH
ĐIỂN
VỀ
BỐN
ĐẾ
(liên
hệ
tới
chân
lý
về
sự
khổ)
Khi
Phật
sắp
nhập
Niết
bàn,
Phật
đã
nhắc
lại
thuyết
bốn
đế:
"Này
các
Tỷ
Kheo,
đối
với
thuyết
bốn
đế,
có
điều
gì
nghi
hoặc
thì
mau
mau
hỏi
đi,
đừng
để
còn
nghi
hoặc
mà
không
gạn
hỏi...
Lúc
bấy
giờ
Thế
Tôn
hỏi
lại
ba
lần
mà
không
ai
nói
cả.
Vì
sao
như
vậy?
Là
vì
trong
Tăng
chúng
không
còn
ai
nghi
hoặc
về
thuyết
bốn
đề
nữa.
Khi
ấy,
Tôn
giả
A
nâu
Lâu
Ðà
(Anurrudha),
quan
sát
tâm
tư
trong
chúng,
thấy
như
vậy
bèn
bạch
Phật
rằng:
Bạch
Thế
Tôn,
mặt
trăng
có
thể
nóng
lên,
mặt
trời
có
thể
lạnh
đi,
còn
Thế
Tôn
giảng
bốn
Chân
lý
thì
không
bao
giờ
đổi
khác
được,
Thế
Tôn
nói
chơn
lý
về
sự
khổ
thì
thực
là
khổ,
khổ
không
thể
biến
thành
vui
được.
Tập
đế
là
nhân
của
khổ,
không
thể
có
nhân
khác.
Nếu
khổ
diệt
tức
là
nhân
diệt.
Nhân
diệt
cho
nên
quả
diệt.
Ðạo
diệt
khổ
là
đạo
chân
chính.
Không
còn
có
đạo
khác.
Bạch
Thế
Tôn,
trong
Tăng
chúng,
tâm
tư
đối
với
bốn
đế
đã
quyết
định,
không
còn
nghi
hoặc
điều
gì
nữa."
(Kinh
Di
giáo
bản
dịch
của
Cưu
Ma
La
Thập)
Trích
kinh
Hỏa
Dụ:
(Phật
nói
mọi
sự
vật
trong
thế
gian
đều
như
bốc
lửa).
“Thời
bấy
giờ,
đức
Thế
Tôn
sau
khi
ở
lại
Uruvela
một
thời
gian
đủ
thỏa
thích
bèn
lên
dường
đi
Gaya
(Già
da).
Ði
theo
Phật,
có
một
nghìn
Tỷ
Kheo,
trước
đây
vốn
là
du
sĩ
ngoại
đạo
bện
tóc,
theo
Kỳ
Na
giáo.
Sau
khi
đến
Tinh
Xá
Tượng
Ðầu
(Gaya
head),
Phật
nói
với
đại
chúng
Tỷ
Kheo
rằng:
Này
các
Tỷ
Kheo!
Tất
cả
trong
thế
gian
đều
đang
bốc
cháy!
Này
các
Tỷ
Kheo,
con
mắt
đang
bốc
cháy,
nhãn
thức
đang
bốc
cháy,
sắc
cảnh
mà
nhãn
thức
nắm
bắt
đang
bốc
cháy,
tất
cả
mọi
cảm
thọ
do
thấy
sắc
khởi
lên,
dù
vui
hay
buồn,
hay
không
vui
không
buồn,
đều
đang
bốc
cháy.
Chúng
bốc
cháy
như
thế
nào?
Chúng
bốc
cháy
do
lửa
tham,
lửa
sân,
lửa
si
và
cùng
với
sanh,
già,
bịnh,
chết,
ưu,
bi,
khổ,
não,
đồng
thời
bốc
cháy...
(Ðối
với
tai,
mũi,
lưỡi,
thân,
Phật
cũng
phân
tích
như
vậy
và
Phật
tiếp
lời)...
Và
vị
đệ
tử
có
chánh
kiến
như
vậy,
bèn
sanh
tâm
nhàm
chán
đối
với
mắt,
sắc
pháp,
nhãn
thức,
mọi
cảm
thọ
sanh
ra
từ
nhãn
thức,
sanh
tâm
nhàm
chán
đối
với
tai,
âm
thanh,
nhĩ
thức,
với
mũi,
mùi
vị,
tị
thức...
nhờ
nhàm
chán
mà
vị
đệ
tử
đoạn
trừ
được
tham
dục,
đạt
được
tự
do
và
giải
thoát..."
Trích
kinh
Lăng
Nghiêm:
Một
đoạn
trong
kinh
Lăng
Nghiêm,
dẫn
lời
của
vua
Ba
Tư
Nặc
(Pasenadi):
"Bạch
Thế
Tôn,
con
xưa
còn
nhỏ,
da
dẻ
mượt
mà,
lúc
lớn
lên
huyết
khí
sung
mãn,
mà
nay
đã
già
trở
thành
suy
yếu,
thân
hình
khô
héo
tiều
tụy,
tinh
thần
u
ám,
tóc
bạc
da
nhăn,
chắc
là...
không
còn
thọ
được
bao
lâu
nữa.
Làm
sao
có
thể
so
sánh
dược
với
thời
trai
tráng?
Sự
thay
đổi
là
dần
dần,
thực
ra
con
không
thể
nào
cảm
giác
được,
mùa
qua
tháng
lại,
dẫn
tới
tình
trạng
ngày
nay.
Cớ
vì
sao?
Năm
con
hai
mươi
tuổi,
tuy
gọi
là
còn
nhỏ,
nhưng
dung
nhan
đã
có
già
đi
so
với
hồi
10
tuổi,
đến
năm
30
tuổi
lại
già
đi
so
với
tuổi
20.
Năm
nay,
con
sáu
mươi
tuổi,
nếu
ngó
lại
cách
đây
10
năm
thì
lúc
đó
con
còn
cường
tráng.
Bạch
Thế
Tôn,
con
thấy
sự
thay
đổi
không
chỉ
hạn
chế
trong
10
năm.
Nếu
suy
nghĩ
kỹ,
thì
sự
thay
đổi
không
phải
hạn
chế
trong
một
kỷ
hay
hai
kỷ,
mà
sự
thay
đổi
đó
diễn
ra
hàng
năm,
mà
không
phải
từng
năm
mà
từng
tháng
đã
có
thay
đổi.
Mà
không
phải
từng
tháng
có
thay
đổi,
mà
là
từng
ngày.
Thậm
chí
nếu
xét
kỹ,
thì
sự
thay
đổi
đó
chưa
từng
nghỉ
dừng,
dù
là
trong
từng
sát
na,
trong
từng
niệm.
Vì
vậy
con
biết
thân
của
con,
cuối
cùng
sẽ
phải
biến
diệt
!..."
Trích
Kinh
Niết
Bàn:
Kinh
Niết
Bàn
có
đoạn
nói
lên
đặc
điểm
của
nhân
sanh,
vui
và
buồn,
lạc
và
khổ
đi
kèm
với
nhau
như
bóng
với
hình:
“Có
hai
chị
em,
người
chị
cực
kỳ
xinh
đẹp,
dễ
thương,
đi
dến
đâu
cũng
đem
lại
sự
phát
đạt,
phồn
vinh
già u
có,
và
được
mọi
người
hoan
nghinh,
tiếp
đón,
giữ
lại
không
cho
đi
nơi
khác.
Nhưng
người
em,
thì
trái
lại
cực
kỳ
xấu
xí,
đi
đến
đâu
cũng
gieo
rắc
tai
họa,
sự
phá
sản
và
tử
vong,
cho
nên
mọi
người
đều
ghét
bỏ,
cự
tuyệt
không
cho
đến.
Nhưng
người
chị
nói
:
“Tôi
và
em
tôi,
đi
đâu
cùng
đi
với
nhau,
không
bao
giờ
rời
xa
nhau".....
Ở
đâu
tôi
cũng
làm
diều
lành,
em
tôi
thì
làm
điều
ác,
tôi
đem
lại
niềm
vui,
em
tôi
thì
gây
đau
khổ.
Mọi
người
nếu
yêu
tôi,
thì
cũng
phải
đừng
ghét
em
tôi....
Nhân
sinh
là
như
vậy.
Có
vui
có
buồn,
có
sướng
có
khổ,
có
vinh
có
nhục.
Cho
nên,
Phật
dạy
rằng,
trong
thế
gian
này,
con
người
không
thể
hưởng
được
niềm
vui
thường
tại,
không
thể
có
tự
ngã
biệt
lập
không
thể
có
dung
sắc
đẹp
mãi
mãi
không
bị
tàn
phai.
Vì
chúng
sinh
si
mê
cho
nên
lấy
buồn
làm
vui,
lấy
cái
vô
ngã
làm
ngã,
lấy
vô
thường
làm
thường,
lấy
cái
không
thanh
tịnh
làm
thanh
tịnh,
Phật
gọi
đó
là
thấy
điên
đảo."
Có
lần,
Phật
dạy
các
đệ
tử:
"Này
các
Tỷ
Kheo!
Các
người
hãy
nghĩ
xem,
nước
trong
bốn
biển
là
nhiều,
hay
là
từ
vô
thỉ
đến
nay,
lăn
lộn
mãi
trong
vòng
sanh
tử,
nước
mắt
của
các
người
đổ
xuống
trong
ngày
tháng
đêm
dài
là
nhiều?
Này
các
Tỷ
Kheo!
Các
người
trong
một
thời
gian
dài,
đã
biết
bao
lần,
các
người
chịu
đựng
nỗi
thống
khổ
mất
cha,
mất
mẹ,
đã
bao
lần
các
người
chịu
nỗi
thống
khổ
mất
con,
mất
anh
em,
mất
chị
em.
Ðã
biết
bao
lần,
chịu
nỗi
thống
khổ
mất
tài
sản,
nỗi
thống
khổ
bịnh
tật
triền
miên.
Biết
bao
lần,
các
người
phải
chịu
nỗi
thống
khổ
xa
người
mình
yêu,
gần
người
mình
ghét.
Ðúng
như
vậy
một
điểm
cũng
không
sai,
đã
bao
nhiêu
lần,
các
người
đã
chịu
những
nổi
thống
khổ
như
vậy
mà
phải
khóc
và
chảy
nước
mắt.
Lượng
nước
mắt
đổ
ra
thực
là
nhiều
hơn
nước
của
bốn
biển
cộng
lại.
Này
các
Tỷ
Kheo
trong
một
thời
gian
dài,
các
người
đã
chịu
đựng
những
nỗi
thống
khổ,
sầu
bi,
khổ
não,
như
vậy,
chịu
đựng
bao
nhiêu
bất
hạnh,
bao
nhiêu
đã
kích,
bao
nhiêu
dày
vò...
thây
xác,
xương
cốt
các
người
lấp
đầy
mồ
mả.
Các
người
chịu
khổ
như
vậy
đã
đủ
lắm
rồi.
Ðã
đến
lúc,
các
người
nhàm
chán
thế
gian
này,
đã
đến
lúc
các
người
phải
nổ
lực
thoát
khỏi
nỗi
khổ
của
sanh
tử....
Dàn
bài
|
1
|
2
|
3
|
4
|
5
|
6
_____
| Mục lục tác giả|
---o0o---
Vi
tính : Mỹ Hồ
Trình bày : Nhị
Tường
Cập
nhật : 01-03-2002
|
|