Đại cương về Luận Câu
Xá
Hòa thượng Thích
Thiện Siêu
Học viện Phật giáo Việt
Nam tại Huế,
PL. 2543 - TL. 1999
VIII. PHẨM PHÂN BIỆT
ĐỊNH
Đã giảng về phẩm
Trí là thân nhân của sự giác ngộ, đây phẩm Phân biệt định nói
về sơ duyên của sự giác ngộ. Phẩm này có 39 bài tụng, 38 bài
đầu nói công đức của các định, một bài 39 nói vềì chánh pháp
trụ thế. Chánh pháp của Phật có giáo và chứng. Giáo pháp thì do
có người thụ trì và giảng nói đúng đắn mà được trụ thế.
Còn chứng pháp thì do có người nương giáo như thật tu hành mà
được trụ thế.
Trong các công đức thiền định, phần
đầu nói về các định làm chỗ nương, phần sau nói về các công
đức nương tựa Thiền định như khoa biểu dưới đây:
Khoa
mục phẩm Định |
Công
đức các Định |
Các Định làm
chỗ nương |
4 tịnh lự
4 vô sắc
8 đẳng chí
Các đẳng chí |
Công đức
nương tựa |
4 vô lượng
8 giải thoát
8 thắng xứ
10 biến xứ
Đắc nương nơi thân
Duyên khởi định |
Chánh pháp trụ
thế |
|
ĐOẠN I. CÁC ĐỊNH LÀM CHỖ NƯƠNG
Có bốn tiết:
* TIẾT I: BỐN TỊNH LỰ
Định có hai là sanh sắc định và
tu sắc định. Sanh sắc định là định do đã tu tập từ trước, khi sanh
tự nhiên được định. Tu đắc định là do tu tập dần dần mà
chứng đắc. Sanh sắc định có tám là bốn tịnh lự và bốn vô
sắc. Tịnh lự nói đủ là tịch tịnh thẩm lự. Do định tịch tịnh mà
phát sinh tuệ có khả năng suy xét. Danh từ tịnh lự không phải hạn
chỉ định sắc giới, định vô sắc giới cũng là tịnh lự, song chỉ
và quán cân bằng có khả năng suy xét mạnh thì chỉ có định sắc
giới, nên gọi định sắc giới là bốn tịnh lự Tịnh lự này gồm
có năm chi là tầm, tứ, hỷ, lạc (khinh an), nhất tâm. Căn cứ năm
chi này để phân chia bốn tịnh lự. Đủ cả năm chi là Sơ thiền. Lìa
tầm tứ chỉ có hỷ lạc nhất tâm là Nhị thiền. Lìa tầm tứ hỷ
chỉ có lạc nhất tâm là Tam thiền. Lìa tầm tứ hỷ lạc chỉ có
nhất tâm là Tứ thiền.
* TIẾT II: BỐN ĐỊNH VÔ SẮC
Bốn định vô sắc cốt khiến tâm
chuyên chú nơi cảnh tánh làm chính yếu. Do sự xa lìa ô nhiễm ở
dưới mà dần bước lên trên có bốn bậc: Trong khi tu gia hạnh muốn
xa lìa sắc và tâm chuyên nghĩ tới không vô biên, khi gia hạnh thành
tựu thì bước vào không vô biên, cho đến khi tu gia hạnh muốn xa
lìa Vô sở hữu mà nghĩ tới Phi tưởng phi phi tưởng, khi gia hạnh
thành tựu thì bước vào phi tưởng phi tưởng. Ở đây vì không
có tưởng rõ ràng, thù thắng nên gọi là phi tưởng, nhưng còn
có tưởng lờ mờ yếu ớt nên gọi là phi phi tưởng, ở tại
Hữu đỉnh địa.
* TIẾT III: TÁM ĐẲNG CHÍ
Bốn tịnh lự và bốn định vô
sắc cũng còn gọi là tám đẳng chí. Vì định có bảy tên: Đẳng
dẫn (Tam-ma-hê-đa: Sammahedha); Đẳng trì (Tam-ma-địa, Sammad-hi); Đẳng chí
(Tam-ma-bát-đề, Sammabadhi); Tịnh lự (Đà-diễn-na: Dhyana); Tâm nhất
cảng tánh (Chất-đa-y-ca A-kiết-la-đa, Citta-ekayrata); Chỉ (Xa-ma-tha:
Samatha); Hiện pháp lạc trú. Trong đây đẳng dẫn đẳng chí tịnh lự
thông cả hữu tâm định và vô tâm định. Bốn thứ còn lại chỉ
có ở hữu tâm định. Lại đẳng trì và nhất tâm cảnh tánh thì
thông cả định địa và tán địa, còn năm thứ kia chỉ có ở định
địa. Đẳng chí dùng trong tiết này là một trong bảy tâm định. Nó
có ba thứ: Vị đẳng chí, là khi tâm tương ưng với tham, sân, đắm
say nơi cảnh mà có định tâm. Tịnh đẳng chí là khi tâm tương ưng
với vô tham khởi lên tánh định là thiện hữu lậu. Vô lậu đẳng
chí là tâm đã thoát khỏi mọi phiền não ố cấu phát sinh định
thiện rất cao và khi được định này tâm không còn bị lay động
tán loạn, có khả năng phát sinh trí lực chơn chánh.
* TIẾT IV: BỐN THỨ TỊNH ĐỊNH
Chia tịnh đẳng chí ở trên ra
làm bốn phần: Thuận thối phần định, là thuận với phiền não dễ
bị thối thất; thuận trú phần định là thuận với tự địa mà an
trú, không thối không tiến; thuận thắng tấn định là thuận theo đị
trên mà tiến lên; thuận quyết trạch phần định là thuận với vô
lậu tiến đến kiến đạo, cho nên thuận quyết trạch phần định này
là cái duyên rất tốt giúp cho vô lậu đẳng chí nói trên, phát
khởi chơn trí vô lậu dứt hết phiền não.
Khi sắp sửa vào tám căn bản định
(bốn thiền, bốn không) lại có tám cận phần định, thành ra tám
căn bản định và tám cận phần định. Và cận phần định của Sơ
thiền còn được gọi là vị chí định.
Đoạn II. CÁC CÔNG ĐỨC NƯƠNG TỰA
ĐỊNH
* TIẾT I: BỐN TÂM VÔ LƯƠ ÏNG
Từ vô lượng, tâm cho vui đến
chúng sanh, lấy vô sân làm thể, đối trị tâm sân hận. Bi vô
lượng, tâm cứu khổ cho chúng sanh, lấy vô sân, bất hại làm thể
đối trị tâm làm hại. Hỷ vô lượng, tâm hoan hỷ khi thấy chúng
sanh lìa khổ được vui, lấy hỷ thọ làm thể đối trị tâm buồn
phiền, ganh tị. Xả vô lượng, tâm bình đẳng không phân biệt oán
thuận đối với chúng sanh, lấy vô tham vô sân làm thể đối trị
tâm tham sân cõi Dục.
Bốn tâm này sở dĩ gọi vô lượng
vì ba lẽ: Vì đối vô lượng chúng sanh, vì dẫn sanh ra vô lượng
phước, vì đến quả báo tốt đẹp vô lượng.
Thử bàn đến Từ vô lượng, người
muốn tu từ tâm, trước hết suy nghĩ về cái vui mình có, hoặc nghe
nói cái vui tuyệt diệu của chư Phật, Bồ-tát, liền nghĩ rằng mong sao
tất cả chúng sanh đều có được sự vui này. Nếu chưa đủ sức
vận tâm bình đẳng như vậy thì có thể chia chúng sanh ra làm ba hạng
là người thân, người không thân không oán, người oán. Đối
với người thân lại chia làm ba bậc, thân nhất như cha mẹ, thân
vừa như bạn bè giao hảo vừa tiền tài vừa đạo nghĩa, người
thân ít như bạn bè giao hảo tiền của. Hạng người không thân
không oán chỉ một bậc. Hạng người oán cũng chia ba bậc, oán ít
như kẻ cướp của bạn mình, oán vừa như kẻ cướp của mình, oán
nhiều như kẻ xâm phạm tánh mạng mình và thân hữu mình. Vận dụng
tư tưởng thâu hẹp dần dần sự cách biệt giữa người thân và
người oán, cho đến khi phát khởi tâm bình đẳng, mất đi tướng
người rất thân và người rất oán, chỉ còn lại tướng chúng sanh
không sai biệt, cần đem tâm cho vui đồng nhất phổ cập đến mọi
chúng sanh, từ một thôn đến một quận, một nước, cuối cùng khắp
cả thế giới chúng sanh. Đó là sự tu tập về Từ vô lượng
tâm. Tu tập về ba vô lượng tâm Bi, Hỷ, Xả cũng giống như vậy.
Song khi tu Xả vô lượng tâm thì đối trong bảy bậc chúng sanh,
trước hết xả đối hữu tình bậc hạ, rồi xả đối hữu tình bậc
giữa, rồi đến bậc thượng, cuối cùng là xả đối với người
thân nhất. Vì đối với người oán dễ xả, còn đối
* TIẾT II: TÁM GIẢI THOÁT
1. Nội hữu sắc tưởng quán
ngoại sắc giải thoát, nghĩa là có lòng tham sắc tướng đối với
nội thân. Muốn trừ lòng tham đó, quán sát sắc bất tịnh ở bên
ngoài như thây chết bầm xanh v.v... thì lòng tham sắc về tướng ở
nội thân không khởi lên được, đấy gọi là giải thoát.
2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc
giải thoát, nghĩa là không còn lòng tham về sắc tướng đối với
nội thân, vì lòng tham ấy đã trừ, song muốn cho vững chắc, nên
vẫn tiếp tục quán sát bất tịnh bên ngoài, lòng tham kia không khởi
lên được nữa.
3. Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ
túc trú, nghĩa là bây giờ dù nhìn tịnh sắc, lòng tham vẫn không
khởi lên, đấy là tịnh giải thoát và chứng đắc tính cách tịnh
giải thoát ngay trong thân đầy đủ viên mãn, an trụ nơi định đó
gọi là thân tác chứng cụ túc trú.
4. Không vô biên xứ giải thoát.
5. Thức vô biên xứ giải thoát.
6. Vô sở hữu xứ giải thoát.
7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải
thoát.
Bốn giải thoát này đều xả bỏ lòng
tham của các địa dưới gọi là giải thoát.
8. Diệt thọ tưởng định giải thoát,
thân tác chứng cụ túc nói tắc là Diệt tận định, định này chủ
yếu chán bỏ hai tâm thọ và tưởng, vĩnh viễn an trú vô tâm nên
gọi là giải thoát.
Trong tám giải thoát, ba thứ đầu lấy
vô tham làm thể, và trong ba thứ này, hai thứ đầu nương tựa vào
sơ nhị tịnh lự lấy cảnh sắc đáng ghét ở cõi Dục làm đối
tượng. Cái thứ ba nương tựa vào tịnh lự thứ tư, duyên lấy
cảnh sắc đáng ưa ở cõi Dục làm đối tượng. Còn bốn vô sắc
giải thoát kia thì lấy bốn thiền định cõi Vô sắc làm thể, và
tự duyên lấy Khổ, Tập, Diệt, Đạo ở tự địa và địa trên,
cùng duyên đạo loại trí của chín địa làm đối tượng.
Lại trong tám giải thoát này, chỉ cái
thứ ba, thứ tám còn kèm theo chữ thân tác chứng là vì sao? Vì
hai lẽ: Vì thù thắng nghĩa là cái giải thoát thứ ba chỉ quán về
tịnh tướng vẫn không khởi tâm tham ái. Còn cái giải thoát thứ
tám là vô tâm, còn bảy cái giải thoát kia là hữu tâm. Vì nó
ở vào cuối cùng của cõi Sắc và cõi Vô sắc, nghĩa là cái giải
thoát thứ ba thì nương tựa tịnh lự thứ tư cõi Sắc, còn cái
giải thoát thứ tám thì nương tựa Hữu đỉnh địa của Vô sắc
giới.
* TIẾT III: TÁM THẮNG XỨ VÀ
MƯỜI BIẾN XỨ
Tám thắng xứ là trong có sắc
tưởng quán sắc ngoài ít, trong có sắc tưởng quán sắc ngoài
nhiều, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài ít, trong không sắc
tưởng quán sắc ngoài nhiều, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài
xanh, trong không sắc tưởng quán sắc ngoài vàng, trong không sắc
tưởng quán sắc ngoài đỏ, trong không sắc tưởng quán s?c ngoài
trắng. Trong đây hai cái 1, 2 giống cái giải thoát thứ nhất trên
kia, hai cái 3, 4 giống cái giải thoát thứ hai trên kia, bốn cái sau
giống cái giải thoát thứ ba tên kia. Sao gọi thắng xứ? Là chế
phục được cảnh sở duyên, tâm ở vào cảnh thù thắng vậy.
Mười biến xứ là quán sát mười
pháp sau đây biến khắp tất cả mọi nơi. Từ quán đại địa biến
khắp mọi nơi cho đến quán thủy đại, hỏa đại, phong đại, sắc xanh,
sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng, không vô tận, thức vô tận mỗi
mỗi đều biến khắp mọi nơi, nên gọi biến xứ.
*
* *
PHẦN LƯU THÔNG
Phần này trình bày bằng bốn bài
tụng:
Ca-Thấp-di-la Nghị lý thành
Ngã đa y bỉ thích đối pháp,
Thiểu hữu biếm lượng vi ngã thất,
Phán pháp chánh lý tại Mâu-ni.
Đại sư thế nhãn cửu dĩ bế,
Kham vị chứng giả đa tán diệt.
Bất kiến chơn lý vô chế nhơn,
Do bỉ tầm tư loạn thánh giáo.
Tự giác dĩ quy thắng tịch tịnh,
Trì bỉ giáo giả đa tùy diệt.
Thế vô y hộ tán chúng đức,
Vô câu chế hoặc tùy ý chuyển.
Ký tri Như Lai chánh pháp thọ,
Tiệm thứ luân vong như chí hầu.
Thị chư phiền não lực tăng thời,
Ưng cầu giải thoát vật phóng dật. (XX)
*
* *
- Hết -
| Mục lục
câu Xaù| 01a | 01b | 02 | 03 |
| 04a | 04b | |
05a | 05b | 06a | 06b | 07 | 08 |
-- o0o --
| Hòa Thượng Thích Thiện
Siêu| | Mục lục tác giaû|
Cập nhật ngày: 05-10-2001