Đại cương về Luận Câu
Xá
Hòa thượng Thích
Thiện Siêu
Học viện Phật giáo Việt
Nam tại Huế,
PL. 2543 - TL. 1999
[Phẩm 6.b]
* TIẾT III: BỐN THÁNH VỊ
MỤC 1: Dự lưu hướng và dự lưu
quả
Do từ địa vị Thế đệ nhất pháp,
liên tục không ngừng (vô gián) phát khởi chân trí vô lậu đoạn
trừ kiến hoặc, tư hoặc của ba cõi, đó gọi là Thánh, gồm bốn
bậc là Dự lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán. Thánh vị Dự lưu là
thành quả đạt được từ vị Thế đệ nhất pháp, với quán trí
vô gián (chuyên nhất liên tục tức Thánh đế hiện quán), phát ra
16 tâm vô lậu, quán rõ lý 8 đế của cõi Dục và hai cõi
trên(cõi Dục 4 đế, Sắc và Vô sắc 4 đế), mà đoạn trừ 88 kiết
sử thuộc kiến hoặc trong ba cõi, 16 tâm vô lậu là:
1. Khổ pháp trí nhẫn
2. Khổ pháp trí.
3. Khổ loại trí nhẫn
4. Khổ loại trí.
5. Tập pháp trí nhẫn
6. Tập pháp trí.
7. Tập loại trí nhẫn
8. Tập loại trí.
9. Diệt pháp trí nhẫn
10. Diệt pháp trí.
11. Diệt loại trí nhẫn
12. Diệt loại trí.
13. Đạo pháp trí nhẫn
14. Đạo pháp trí.
15. Đạo loại trí nhẫn
16. Đạo loại trí.
Do 16 tâm này quán rõ lý Tứ đế,
nên cũng gọi là Thánh đế hiện quán (rõ ở sau). Trong 16 tâm
gồm 8 nhẫn và 8 trí này, bốn pháp trí nhẫn và bốn pháp trí là
duyên, theo bốn đế của cõi Dục mà phát sinh. Còn bốn loại trí
nhẫn và bốn loại trí là duyên theo 4 đế của hai cõi trên mà phát
sinh. Nhờ 16 tâm này dứt đoạn kiến hoặc trong ba cõi.
Pháp trí nhẫn, pháp trí là trí tuệ
trực tiếp quán lý Tứ đế ở Dục giới. Loại trí nhẫn, loại trí
là trí tuệ gián tiếp quán lý Tứ đế ở hai cõi Sắc và Vô
sắc. Vì Tứ đế của hai cõi trên ở cách biệt giới và địa,
không thể quán trực tiếp được, mà chỉ quán theo cách loại suy
với Tứ đế của cõi Dục, nên gọi là lọai.
Nhẫn là nhân, chỉ vô gián đạo,tâm
tin nhận lý Tứ đế, không có mảy may mê hoặc chen vào làm ngăn
cách gián đoạn (vô gián). Trí là quả, chỉ giải thoát đạo
đã hiểu rõ lý Tứ đế, chính thức lên địa vị kiến đạo, giải
thoát mọi kiến hoặc. Luận Câu-xá 23 nói: "Nhẫn là vô gián
đạo, ước theo sự đang đoạn hoặc mà được, vì không còn bị
cách ngại (vô gián). Trí là giải thoát đạo, do dứt hết kiến
hoặc mà được, cùng với được ly hệ quả khởi lên một lúc,
ví như thế gian đuổi giặc ra khỏi nhà đóng cưả lại". Theo
đây, hễ dứt hết kiến hoặc của một đế thì phải có một vô
gián đạo, một giải thoát đạo. Ngay khi đang dứt hoặc, gọi là vô
gián đạo, khi dứt hoặc xong, gọi là giải thoát đạo.
Như thế, đối với 8 đế ở cả ba
cõi trên, dưới, khởi lên vô gián đạo, giải thoát đạo, tức
nhẫn và trí, cho đến khi dứt hết kiến hoặc trong ba cõi thì gọi là
Dự lưu quả. Dự lưu nghĩa là dự vào dòng loại Thánh quả. Ở
đây, người tu Thánh đế hiện quán, từ vô thỉ đến nay mới bắt
đ?u dự vào hàng Thánh gia, nên gọi là dự lưu, và có chia ra nhân
vị, quả vị. Nhân vị gọi là dự lưu hướng, chỉ cho 15 tâm đầu đang
trên đường hướng đến quả vị. Quả vị gọi là dự lưu quả, chỉ
cho tâm thứ 16 phát sinh, dứt hết kiến hoặc.
Tóm lại, từ vị Thế đệ nhất pháp
đã lần lượt tu hành dồn chứa công đức, làm cho trí lực
được phát triển, nhưng trí này còn thuộc hữu lậu, chưa thể
đoạn hết kiến hoặc, khi lên địa vị thánh đế hiện quán này,
khởi lên 16 tâm vô lậu, gồm 8 nhẫn 8 trí, quán lý Tứ đế một
cách rõ ràng như ở trước mắt, mới đoạn được 88 kiết sử
kiến hoặc của ba cõi. Trong lúc đoạn hoặc là Dự lưu hướng,
đoạn xong là Dự lưu quả ở địa vị kiến đạo.
Hỏi: Sao gọi là hiện quán? Sao
gọi là Thánh đế hiện quán?
Đáp: Hiện quán là chính một
tâm thâm nhập kinh nghiệm đ?i tượng một cách trực tiếp minh bạch,
thân thiết, không trừu tượng, không ngang qua sự phân biệt của ý
thức, cũng không phải là lối kinh nghiệm thường nhật (thường
nghiệm). Thánh đế hiện quán là hiện quán đối với lý Tứ đế.
Có Tứ đế tiệm hiện quán, và Tứ đế đốn hiện quán.
Tứ đế tiệm hiện quán là trước
tiên tập trung quán Khổ đế, sau mới quán Tập đế, Diệt, Đạo
đế. Khi thấy Khổ, không thấy Tập, tuần tự tiệm thứ quán và
chứng kiến đế này rồi tới đế khác, nên gọi là tiệm. Cho đến
khi cả bốn đế được hiện quán trọn vẹn, tức là chứng đắc sơ
qủa.
Tứ đế đốn hiện quán là quán chung
cả bốn đế dưới một cọng tướng "không, vô ngã", trong
một niệm trí tuệ phát sinh, thấy rõ được một đế là thấy rõ
tất cả bốn đế (đốn hiện quán bốn đế) và chứng đắc sơ quả.
Lại nhờ đã trải qua một phen dụng công, nên khi kiến đạo, chỉ thu
gọn tập trung vào quán một Diệt đế, một khi phát sinh trí như thật
chứng nhập Diệt đế là chứng nhập trọn cả bốn và chứng đắc
sơ quả.
Tóm lại, Tứ đế hiện đốn quán là
chỉ cần thấy Diệt đế mà đắc sơ quả; còn Tứ đ? tiệm hiện quán
là tuần tự thấy đủ cả bốn đế mà đắc sơ quả. Tứ đế tiệm
hiện quán là chủ trương của Hữu bộ, theo đây nếu chưa hiện quán
Khổ đế, thì không thể hiện quán Tập đế, DIệt đế, Đạo đế.
Ngược lại, Đại chúng bộ chủ trương Tứ đế đốn hiện quán.
Vậy giữa hai phái có mâu thuẫn nhau không? Để giải đáp vấn đề
này, phải hiểu hiện quán có ba thứ:
1. Kiến hiện quán: Chỉ cho vô lậu
huệ duyên bốn Thánh đế, hiểu đúng như thật và rõ ràng.
2. Duyên hiện quán: Đây là cảnh
bốn Thánh đế vô lậu mà huệ cùng với tâm, tâm sở pháp tương
ưng với huệ đồng thời duyên đến.
3. Sự hiện quán: Chỉ các tâm
tâm sở tương ưng nói trên, cùng với các pháp câu hữu
khác(đạo cọng giới, bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt, là câu hữu
nhân của huệ, nên gọi là câu hữu).
Đồng một sự nghiệp hiện quán Tứ
đế, các học giả Hữu bộ nhắm vào kiến hiện quán và duyên
hiện quán, nên chấp trước Tứ đế tiệm hiện quán; học
giả Đại chúng bộ nhắm vào sự hiện quán, nên chủ trương Tứ
đế đốn hiện quán. Hai phái chẳng có gì mâu thuẫn nhau cả.
MỤC 2: Nhất lai hướng và Nhất lai
quả
Dự lưu quả đã đoạn kiến hoặc
trong ba cõi, nhưng tu hoặc trong ba cõi thì chưa đoạn được, nên phải
tiến lên ba quả sau ở địa vị tu đạo mới dần dần đoạn hết tu
hoặc. Trong đó, Nhất lai và Bất hoàn là hai quả vị đoạn trừ tu
hoặc ở cõi Dục. Tu hoặc ở cõi Dục là gì? Xét về thể tánh
phiền não căn bản không ngoài bốn thứ là tham, sân, si, mạn. Theo
tính chất thô tế của tham,sân, si, mạn mà chia ra chín phẩm bậc:
Thượng thượng, thượng trung, thượng hạ; trung thượng, trung trung,
trung hạ; hạ thượng, hạ trung, hạ hạ. Để đoạn trừ chín phẩm
phiền não ấy, phải dùng chín phẩm đạo tức dùng hạ hạ phẩm
đạo để đoạn trừ thượng thượng phẩm hoặc; dùng hạ trung phẩm
đạo để đoạn trừ thượng trung phẩm hoặc... Cho đến dùng thượng
thượng phẩm đạo để đọan trừ hạ hạ phẩm hoặc (hoặc, bằng
vào thô tế mà phân chia thượng hạ: Thô, thượng, vừa, trung, tế,
hạ, đạo trí, bằng vào sáng mờ mà phân chia thượng hạ: Sáng
thượng, vừa trung, mờ hạ. Dùng hạ hạ phẩm đạo tức là đạo
trí mờ mờ, đoạn thượng thượng phẩm hoặc tức là hoặc thô
thô).
Trong lúc dùng đạo trí năng đoạn
đoạn trừ chín phẩm tu hoặc thì có chín vô gián, chín giải thoát
đạo. Bởi đoạn một phẩm hoặc thì phát sinh một vô gián đạo và
một giải thoát đạo(khi đang đoạn là vô gián, khi đoạn xong là
giải thoát). Đối với chín phẩm hoặc của cõi Dục, đoạn hết năm
phẩm đầu thì gọi là Nhất lai hướng (Đạo), đoạn hết phẩm thứ
sáu thì gọi là Nhất lai quả. Nhất lai là một phen trở lại nhân
gian, hay cõi Dục. Trong chín phẩm mới đoạn được sáu phẩm đầu,
còn ba phẩm sau buộc phải trở lại nhân gian cõi Dục một phen mới
đọan hết ba phẩm chót. Khi mới đoạn sáu phẩm hoặc đầu là đạo
nhân để hướng đến đạo qủa Nhất lai, nên gọi là Nhất lai
hướng.
Thánh giả Nhất lai hướng đang lúc
đoạn ba phẩm hay bốn phẩm tu hoặc cõi Dục thì gọi là thánh quả gia
gia, có nghĩa là từ nhà đến nhà, tức là từ nhân gian
đến trời, hoặc từ trời sanh lại nhân gian. Chín phẩm hoặc cõi
Dục có năng lực làm nhuận sanh bảy phen vào cõi Dục:
- Thượng thượng phẩm là nhuận sinh
hai phen,
- Thượng trung, thượng hạ, trung thượng: ba phẩm, ba phen.
- Trung trung, trung hạ: hai phẩm, một phen.
- Hạ thượng, hạ trung, hạ hạ: ba phẩm, một phen.
Cộng chung thành bảy phen sinh cõi Dục.
Nay mới đoạn ba phẩm đầu, còn sáu phẩm sau, nên còn phải ba phen
sinh cõi Dục, gọi đó là Tam sinh gia gia. Khi đoạn tiếp phẩm thứ tư,
còn lại phẩm thứ năm tức còn hai phen sinh cõi Dục, đó gọi là
Nhị sinh gia gia. Tam và Nhị sinh đều có chia Thiên gia gia và Nhân gia
gia. Thiên gia gia tam sinh là vị Thánh giả có ba phen sinh cõi trời,
hai phen sinh cõi người. Nếu vị ấy sau khi chứng quả Dự lưu, ngay
tại cõi trời, tiếp tục đoạn ba phẩm tu hoặc đầu và chết tại
cõi người sinh lên cõi trời (một phen sinh cõi trời), ở cõi
trời chết lại sinh cõi người (một phen sinh cõi người), ở cõi
người chết lại sinh cõi trời (hai phen sinh cõi trời), ở cõi
trời chết lại simh cõi người (hai phen sinh cõi người). Cuối cùng
ở cõi người chết lại sinh cõi trời (ba phen sinh cõi trời). Ngay
tại cõi trời lần này, đoạn sạch phiền não, chứng quả A-la-hán.
Nhân gia gia tam sinh tức vị Thánh giả
có ba phen sinh cõi người, hai phen sinh cõi trời. Nếu vị ấy sau khi
chứng quả Dự lưu ở cõi trời, bắt đầu đoạn ba phẩm tu hoặc
và từ cõi trời chết sinh về cõi người (một phen sinh cõi
người), ở cõi người chết lại sinh lên cõi trời (một phen sinh
cõi trời), ở cõi trời chết lại sinh cõi người (hai phen sinh cõi
người), ở cõi người chết lại sinh cõi trời (hai phen sinh cõi
trời), cuối cùng ở cõi trời chết lại sinh cõi người (ba phen sinh
cõi người), và ngay tại cõi người lần này, đoạn hết phiền
não, chứng A-la-hán. Còn Thiên gia gia nhị sinh thì hai phen sinh cõi
trời, một phen sinh cõi người; Nhân gia gia nhị sinh thì hai phen sinh
cõi người, một phen sinh cõi trời. Chiếu theo trên sẽ rõ.
Hỏi: Tại sao chỉ đoạn trừ một
phẩm hay hai phẩm, hay năm phẩm tu hoặc của cõi Dục lại không gọi
là gia gia?
Đáp: Chắc chắn không thể có
người đoạn một phẩm, hai phẩm, không đoạn tiếp phẩm thứ ba mà
giữa chừng lại chết đi sanh lại. Cũng có thể có người chỉ
đoạn năm phẩm, không đoạn tiếp phẩm thứ sáu mà giữa chừng
chết đi sanh lại. Bởi vì vị Thánh giả sơ quả khi đoạn tu hoặc cõi
Dục là phải khởi lên sức gia hạnh lớn(cố gắng). Cho nên, hễ
đoạn được một phẩm hai phẩm là chắc chắn đoạn được ba phẩm.
Lại chỉ một phẩm hoặc thì không thể làm chướng ngại việc chứng
quả, cho nên đoạn phẩm thứ năm thì chắc chắn cũng đoạn luôn
phẩm thứ sáu.
Hỏi: Tại sao chỉ đoạn trừ một
phẩm hay hai phâím, hay năm phẩm tu hoặc của cõi Dục lại không gọi
là gia gia?
Đáp: Chắc chắn không thể có
người đoạn một phẩm, hai phẩm, không đoạn tiếp phẩm thứ ba mà
giữa chừng lại chết đi sanh lại. Cũng không thể có người chỉ
đoạn năm phẩm. không đoạn tiếp phẩm thứ sáu mà giữa chừng
chết đi sanh lại. Bởi vì vị Thánh giả sơ quả khi đoạn tu hoặc cõi
Dục là phải khởi lên sức gia hạnh lớn (cố gắng). Cho nên, hể
đoạn được một phẩm hai phẩm là chắc chắn đoạn được ba phẩm.
Lại chỉ một phẩm hoặc thì không thể làm chướng ngại việc chứng
quả, cho nên đoạn phẩm thứ năm thì chắc chắn cũng đoạn luôn
phẩm thứ sáu.
MỤC 3: Bất hoàn hướng và Bất
hoàn quả.
Từ Nhất lai quả tiến lên đoạn
phẩm tu hoặc thứ sáu, bảy thì gọi là bất hoàn hướng, đoạn hết
phẩm thứ chín của cõi Dục thì gọi là Bất hoàn quả. Bất hoàn
nghĩa là ở địa vị này đã đoạn hết toàn bộ tư hoặc của cõi
Dục, không bị thế lực của những tư hoặc đó lôi kéo lại cõi
Dục nữa. Khi đoạn hết ph?m tư hoặc thứ bảy, tám là đạo nhân
hướng đến đạo quả Bất hoàn, cho nên gọi là Bất hoàn hướng,
cũng gọi là Nhất sanh hay Nhất gián Thánh gia, vì còn một phần tư
hoặc thứ chín chưa đoạn, tức còn phải một phen sanh cõi Dục, do
đó làm cách ngại việc chứng quả Bất hoàn nên gọi Nhất gián.
Cũng có chỗ gọi là đoạn ngũ hạ phần kiết thay vì gọi là đoạn
chín phẩm tư hoặc cõi Dục. Như Tạp A-hàm Kinh 34 nói, "Dứt
sạch năm hạ phần kiết, chứng được quả A-na-hàm". Trong kinh
còn chia quả Bất hoàn này ra làm năm thứ, bảy thứ hoặc chín
thứ, gọi là ngũ ban bất hoàn, thất ban bất hoàn, cửu ban bất
hoàn. Ngũ ban Bất hoàn là trung ban, sanh ban, hữu hành ban, vô hành
ban, thượng lưu ban, cộng thêm hành vô sắc ban, hiện ban, thành bảy
ban Bất hoàn.
1. Trung ban: Y Ù nói Thánh giả Bất
hoàn này, sau khi chết ở cõi dục, chưa sanh đến cõi Sắc, ngay tại
trung hữu vị phát sanh sức Thánh đạo rất mạnh, đoạn hết tu hoặc
của hai cõi trên, thành A-la-hán mà nhập (ban) Vô dư Niết-bàn. Ví
như đập cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày, một mảnh
vụn có thể vang ra và trở thành nguội lạnh liền.
2. Sanh ban: Cũng goi là tổn hại
ban, ý nói vị Thánh giả Bất hoàn này chết ở cõi dục, sanh lên
cõi Sắc không bao lâu liền khởi sanh sức Thánh đạo rất mạnh,
đoạn hết các tu hoặc còn lại, thành A-la-hán và mệnh chung mới
nhập Vô dư Niết-bàn. Ví như mảnh vụn của cái bát sắt đốt cháy,
có thể văng ra, bay lên, rớt xuống chạm vào đất mới trở thành
nguội lạnh.
3. Hữu hành ban: Y Ù nói vị Thánh
giả Bất hoàn này chết ở cõi dục, sau khi sanh đến cõi Sắc, qua
thời gian lâu dài, gia hạnh siêng tu mới có thể nhập Hữu dư y
Niết-bàn. Ví như mảnh vụn của cái bát sắt cháy đỏ có thể văng
ra, bay lên, rơi xuống đống cỏ hoặc củi rộng lớn, bốc lửa khói,
đốt cháy tiêu cỏ hoặc củi ấy, rồi mới trở thành nguội lạnh.
4. Vô hành ban: Y Ù nói vị Thánh
giả Bất hoàn này chết ở cõi Dục sanh lên cõi Sắc, trong thời
gian rất lâu, không có gia hạnh tu hành gì, tự nhiên được nhập
Hữu dư y Niết-bàn. Ví như mảnh vụn của cái bát sắt cháy đỏ có
thể văng ra, bay lên, rớt xuống trên một đống cỏ hay củi nhỏ,
rồi bắt lửa khói, đốt cháy tiêu hết đống cỏ hay củi nhỏ đó,
mới trở thành nguội lạnh, vì không còn nhiên liệu.
5. Thượng lưu ban: Thượng lưu có
nghĩa là đi lên. Vị Thánh Bất hoàn này, sau khi sanh đến cõi Sắc
nhưng không nhập Niết- bàn tại đó, mà cứ chuyển sanh lên lần
lần cho đến cõi trời sắc cứu cánh mới nhập Niết-bàn. Ví như
mảnh vụn của cái bát cháy đỏ đó có thể văng ra, bay lên, rơi
xuống trên một đống cỏ hay củi to lớn, rồi bốc thành lửa khói,
đốt cháy đống cỏ hay củi to lớn ấy, thiêu cháy luôn cả lùm
cây rừng rậm, thảo nguyên, ruộng xanh, gò cao, dòng nước...rồi
mới trở thành nguội lạnh (Năm đoạn ví dụ trên đây, trích trong Tăng
Chi Bộ Kinh Tập III, Kinh Các Sanh Thú Của Loài Người).
6. Hành vô sắc ban: Vị Thánh Bất
hòan này chết ở cõi dục, không sanh đến cõi Sắc mà sanh đến
cõi Vô sắc rồi nhập Niết-bàn ở đó.
7. Hiện ban: Vị Thánh bất hoàn
này chính với thân hiện tại mà đoạn hết tư hoặc của cả ba cõi
và nhập Niết-bàn ngay tại cõi Dục, chứ khỏi chờ sanh đến hai
cõi trên.
Trên đây, theo Hữu bộ, Hữu hành ban
được sắp trước Vô hành ban; trái lại, theo Kinh bộ, Vô hành ban
trước, Hữu hành ban sau. Như vậy, Kinh bộ đồng chủ trương với Tăng
Chi Bộ III, "Kinh Các Sanh Thú Của Loài Người" như trên
đã nói và Tạp A-hàm Kinh 29. Ngoài ra, luận Thành Thật
và luận chủ Thế Thân cũng đồng quan điểm với Kinh bộ.
Cửu Bất hoàn là chín thứ Bất hoàn,
tức đem Trung ban chia ba, Sanh ban chia ba, Thượng lưu ban chia ba, thành
chín.
Trung ba chia ba là:
1. Tốc ban, là sau khi chết ở cõi
Dục, liền khởi Thánh đạo và nhập Niết-bàn ngay. Ví như mảnh vụn
của cái bát sắt cháy đỏ có thể văng ra và nguội liền.
2. Phi tốc ban, là sau khi chết một
thời gian mới khởi lên Thánh đạo và nhập Niết-bàn. Ví như mảnh
vụn của cái bát sắt cháy đỏ có thể văng ra, bay lên, rồi mới
nguội lạnh.
3. Kinh cửu ban, là khi sắp sanh
đến cõi Sắc thì khởi Thánh đạo và nhậûp Niết-bàn. Ví như mảnh
vụn của cái bát sắt cháy đỏ có thể văng ra, bay lên, chưa chạm
vào đất, trở thành nguội lạnh. (Ba đoạn ví dụ này trích trong Tăng
Chi Bộ IIIA).
Sanh ban chia ba là: Sanh ban, Hữu hành ban,
và Vô hành ban như đã giải thích trên.
Thượng lưu chia ba là:
1. Toàn siêu: Chỉ một lần vượt
lên khỏi các tầng trời là nhập Niết-bàn.
2. Bán siêu: Cứ tuần tự vượt
lên một tầng trời, ba tầng trời, cho đến tầng trời thứ mười
lăm (tr?i thiện hiện) mà nhập Niết-bàn.
3.Biến siêu: trong thời gian lâu,
trải qua hết các tầng trời, cuối cùng, tại tầng trời thứ mười
sáu (Sắc cứu cánh) mà nhập Niết-bàn.
Sở dĩ chia ba thứ, Chín bất hoàn như
vậy là do ba thứ nghiệp hoặc và căn tánh của các thánh giả
không đồng đều. Tạo nghiệp "thuận trung hữu thọ báo" thì
thành Sanh ban; tạo nghiệp "thuận hậu thọ báo" thì thành
Thượng lưu ban. Hạ phẩm hoặc thì hiện hành nơi vị hành giả Trung
ban; trung phẩm hoặc thì hiện hành nơi vị hành giả Sanh ban; Thượng
phẩm hoặc thì hiện hành nơi vị hành giả thượng lưu ban. Hạng
thượng căn thì Trung ban Niết-bàn, hạng trung căn thì Sanh ban
Niết-bàn; hạng hạ căn thì Thượng lưu ban Niết-bàn.
Ngoài ra, quả bất hoàn còn mang những
tên khác như Thất thiện sĩ thú, Kinh sanh bất hoàn, Thân chứng Bất
hoàn.
MỤC 4: A-la-hán hướng và A-la-hán
quả
Thánh giả Bất hoàn đã dứt chín
phẩm tư hoặc của cõi Dục, từ đó tiến lên dứt phẩm tư hoặc
thứ nhất ở cõi Sơ thiền thì goi là A-la-hán hướng. Khi dứt hết
phẩm tư hoặc thứ chín ở cõi trời Hữu đ?nh thì gọi là A-la-hán
quả, ở địa vị Vô học đạo.
A-la-hán là tiếng Phạn, Trung Hoa
dịch là Sát tặc (dứt phiền não), Bất sanh (không sanh vào ba cõi),
Ứng cúng (có công đức xứng đáng được nhơn thiên cúng
dường).
Tóm lại, dứt hết kiến hoặc (tức 88
sử) của ba cõi, thấy rõ lý Tứ đế, gọi là kiến đạo vị,
chứng quả Dự lưu. Còn 81 phẩm tư hoặc, cần phải tu mới dứt
trừ được. Khi tu để dứt trừ 80 phẩm đầu gọi là tu đạo vị,
và chứng những Thánh quả Nhất lai hướng, cho đến A-la-hán
hướng. Cuối cùng dứt hết phẩm tư hoặc thứ 81, thì chứng quả
A-la-hán và gọi là vô học đạo vị.
Nên biết, từ Dục giới đến Phi
tưởng phi phi tưởng gồm có tất cả 9 địa, mỗi địa có 9 phẩm tu
hoặc, như vậy 9 địa có tất cả là 81 tu hoặc. Để dứt trừ 81
phẩm tu hoặc ấy thì có 81 đạo, nghĩa là mỗi đạo dứt một phẩm tu
hoạc. Song mỗi đạo lại còn có 2 phần là vô gián đạo (lúc đang
dứt một phẩm hoặc) và giải thoát đạo (lúc đã dứt xong một
phẩm hoặc). Như vậy, có 81 vô gián đạo và 81 giải thoát đạo,
gọi chung là 81 đạo .
A-la-hán có sáu thứ:
1. Thối pháp A-la-hán: Vị này sau
khi được quả A-la-hán, thình lình gặp duyên khác liền vụt trở
lại thứ lậu hoặc vừa đoạn trừì sau chót mà bị thối thất quả
chứng, lùi xuống quả Bất hoàn, Nhất lai hay Dự lưu.
2.Tư pháp A-la-hán: Vị này sợ
thối thất quả A-la-hán, thường nghĩ tới việc tự tại, muốn kết
liễu mạng sống để nhập Vô dư Niết-bàn.
3. Hộ pháp A-la-hán: Vị này
thường phòng hộ để khỏi thối thất quả A-la-hán.
4. An trú pháp A-la-hán: Vị này an
trú quả vị A-la-hán đã chứng được, tránh xa ngoại duyên để
khỏi thối thất, nhưng cũng còn gắng sức cầu tiến.
5. Kham đạt pháp A-la-hán: Vị này
có tánh kham năng tu hành, luyện căn để mau đạt tới vị Bất động
tánh A-la-hán.
6. Bất động pháp A-la-hán: Vị
này căn tánh rất lợi, một khi chứng quả A-la-hán rồi, dù gặp
sự tình gì cũng không lay động, thối chuyển.
Trong sáu thứ này, 5 thứ đầu gọi
chung là Thời ái tâm giải thoát, tức là hằng thời,
ái mộ và tâm giải thoát vậy, gọi tắt là thời giải thoát. Vì
phải chờ thời mới có thể nhập định và tâm được giải thoát.
Thời ở đây có sáu trường hợp:
- Lúc được ăn ngon.
- Lúc được áo tốt.
- Được ngọa cụ tốt.
- Được chỗ ngồi tốt.
- Lúc được nói pháp tốt.
- Lúc được bạn đồng học tốt.
Bởi năm thứ A-la-hán này đều là
độn căn, nếu không chờ thời cơ tốt, thì khó chứng qủa A-la-
hán. Còn bất động tánh A-la-hán vì lợi căn nên không cần chờ
thời cơ tốt, vẫn giải thoát dễ dàng hai kiến hoặc, tu hoặc, nên
gọi là bất thời giải thoát, cũng gọi là bất động và tâm
giải thoát. Vì vị này không còn bị phiền não làm thối động và
tâm được giải thoát luôn.
Trong sáu thứ A-la-hán trên lại chia hai
hạn thối và bất thối. Thối có thối tánh và thối quả. Từ căn
tánh bậc trên thối xuống căn tánh bậc dưới, gọi là thối tánh,
như từ kham đạt pháp A-la-hán, thối xuống An trú pháp, Hộ pháp
A-la-hán... Còn từ quả A-la-hán thối xuống quả Bất hoàn, Nhất
lai...gọi là thối quả. Thối còn có ba nghĩa:
- Thối mất công đức thù thắng đã
được.
- Chưa được công đức thù thắng cũng gọi là thối.
- Những công đức đã được nhưng khi thọ dụng lại không hiện ra.
Sáu bậc A-la-hán trên, thối pháp
A-la-hán chỉ thối quả mà không thối tánh. Còn Tư pháp, Hộ pháp, An
trú pháp và Kham đạt pháp A-la-hán có cả thối tánh và thối quả.
Trừ khi ở hữu học vị mà trụ vào bốn tánh: tự, hộ, an, kham thì
khi chứng đến vô học vịA-la-hán cũng sẽ trụ vào bốn tánh đó,
không bị thối chuyển.
Lại, sơ quả Dự lưu chắc chắn không
thối, còn ba quả kia có thể bị thối. Đây là chủ trương của Hữu
bộ. Kinh bộ ngược lại, cho rằng Dự lưu và A-la-hán đều không bị
thối, vì Dự lưu đã dứt hết kiến hoặc thấy rõ lý Tứ đế,
còn A-la-hán thì dứt hết kiến hoặc và tư hoặc, không bị phiền
não gì trói buộc, nên không còn lý do bị thối. Hai quả Nhất lai và
Bất hoàn đang trên đường đoạn trừ tư hoặc, nên không còn lý
do bị thối, Vả lại, Kinh bộ dựa vào hiện pháp lạc trú để gọi
là thối và bất thối, chứ không phải thối quả, vì nếu đã đắc
quả thì là bất động chứ không thối chuyển. Hiện pháp lạc trú
là chỉ cho tịnh lự (thiền định), nếu thối tịnh lự thì gọi là
thối pháp A-la-hán. Còn tư, hộ, an, kham không thối tịnh lự nên
không còn thối chuyển. Nhưng Thượng tọa bộ chủ trương cả bốn
quả Thanh văn đều không thối chuyển.
Lại từ sáu bậc A-la-hán chia ra làm
bảy, tức lấy Bất động tánh A-la-hán chia ra hai hạng là luyện căn
và không luyện căn. Trong đó, hạng độn căn thì phải nhờ sức
luyện căn tu hành mới từ Kham đạt pháp tiến lên Bất động tánh,
nên vẫn gọi là hạng Bất động tánh. Còn hạng lợi căn sẳn có
tính bất thối rồi, không cần nhờ luyện căn tu hành mới có. Hạng
này gọi là Bất thối tánh A-la-hán, và trong bảy hạng A-la-hán này
lại chia ra Huệ giải thoát và Câu giải thoát. Vị nào nhờ
huệ lực giải thoát mọi phiền não, tức giải thoát sự phiền não
của huệ, gọi là huệ giải thoát. Nếu khi được Huệ giải thoát
thành A-la-hán, đồng thời cũng chứng Diệt tận định, giải thoát
luôn cả sự chướng ngại của định là Bất nhiễm ô vô tri, thì
gọi là Câu giải thoát A-la-hán, vì giải thoát luôn cả hệ
chướng, định chướng nên gọi là Câu.
BẢY BẬC THÁNH NHÂN
Trên đã nói về các bậc Thánh
hữu học, vô học gồm có bốn hướng, bốn quả, nhưng rút lại
không ngoài bảy bậc là:
- Tùy tín hành
- Tùy pháp hành
- Tín giải thoát
- Kiến chí
- Thân chứng
- Tuệ giải thoát
- Câu giải thoát
Hỏi: Dựa vào đâu mà lập ra
bảy bậc như thế?
Đáp: Dựa vào bốn điều:
1. Dựa vào sức gia hạnh bất đồng
lập ra hai hạng Tùy tín hành và Tùy pháp hành. Hạng độn căn
không đủ sức hiểu giáo pháp, chỉ tin vào người khác mà tu hành,
gọi là Tùy tín hành. Hạng lợi căn đủ sức hiểu giáo pháp và
tu theo giáo pháp đó nên gọi là Tùy pháp hành.
2. Dựa vào căn tánh bất đồng lập ra
hai hạng Thánh giả Tín giải và Kiến chí. Hạng độn căn Tùy tín
hành tiến lên thì thành Tín giải, hạng lợi căn Tùy pháp hành
tiến lên thành Kiến chí, tức do trí huệ tăng lên mà Chánh pháp
hiện ra.
3. Dựa vào sự chứng được Diệt
tận định mà lập ra hạng Thánh giả Thân chứng. Thân chứng đây
chỉ Bất hoàn quả. Vì chính tự thân chứng đủ tám môn giải
thoát, nhập Diệt tận định, phát sinh sự an lạc tịch tịnh tương tợ
như Niết-bàn, dù chưa dứt sạch các tư hoặc để chứng Huệ giải
thoát và Câu giải thoát như A-la-hán.
4. Dựa vào giải thoát bất đồng mà
lập ra hai hạng Thánh giả Huệ giải thoát và Câu giải thoát.
Lại, tuy có bảy hạng Thánh giả như
vậy, nhưng thật chất chỉ có sáu, đó là kiến đạo, có hai hạng:
Tùy tín hành và Tùy pháp hành. Ở tu đạo có hai hạng Tín giải
và Kiến chí. Ở vô học đạo có hai hạng là Thời giải thoát và
Bất thời giải thoát.
Hỏi: Nếu vậy, trong bảy hay sáu
hạng kể trên, Thân chứng, Huệ giải thoát, Câu giải thoát thuộc
vào đâu?
Đáp: Thân chứng nhiếp thuộc
vào Tín giải và Kiến chí, vì chỉ có danh mà không có thật thể.
Huệ giải thoát và Câu giải thoát nhiếp thuộc vào thời giải
thoát và Bất giải thoát nhưng cứ thực chất cơ bản mà nói, thì
chỉ có hai hạng Thánh giả là độn căn Tùy tín hành và lợi căn
Tùy pháp hành. Còn các hạng kia bất quá cũng từ hai hạng tiến tu
có sai khác mà thành ra vậy thôi.
Tóm lại theo Hữu bộ, Hiền vị có bảy
(cũng gọi là bảy phương tiện, bảy gia hạnh vị) là:
1. Ngũ đình tâm; 2. Biệt tướng niệm
trú; 3. Tổng tướng niệm trú; 4. Noãn; 5. Đảnh; 6.Nhẫn; 7. Thế đệ
nhất.
Thánh vị có bảy đó là: 1. Tín hành,
2. Pháp hành, 3. Tín giải, 4. Kiến đạo, 5. Thân chứng, 6. Thời giải
thoát, 7. Bất thời giải thoát.
Ngoài ra trong Thánh vị, còn có Bích chi
Phật và Đại giác Phật.
Kiến đạo cũng gọi là Kiến chí, Kiến
đắc. Khi bước lên tu đạo vị, tự mình thấy pháp, đắc lý Tứ
đế, nên gọi là Kiến đắc. Và sự tự thấy được đó chính do
sự thấy từ trong nhân dẫn tới nên gọi là Kiến chí.
CHÍN BẬC THÁNH VÔ HỌC
Trên kia, nói chung các vị Thánh
hữu học và vô học. Ở đây chỉ nói riêng các vị Thánh vô học,
tổng quát có chín bậc (theo Tiểu thừa) đó là bảy hạng A-la-hán
thối pháp, Tư pháp, Hộ pháp... nói trên, thêm hai bậc là Bích chi
Phật và đại giác Phật thành ra chín.
Sở dĩ có chín vì căn tánh bất đồng
đưa đến, do hạ căn mà thành Hộ pháp, do trung căn mà thành An trú
pháp, do trung trung căn mà thành Kham đạt pháp, do trung thượng căn
nà thành Bất động tánh, do thượng hạ căn mà thành Bất thối
tánh, do thượng trung căn mà thành Bích chi Phật, do thượng thượng
căn mà thành Đại giác Phật.
27 bậc Hiền Thánh, theo Thành Thật Luận
thuộc Kinh bộ, Hiền là hữu học, Thánh là vô học, gọi là Học
nhân và Vô học nhân.
A. Học nhân có 18:
1. Tùy tín hành; 2. Tùy pháp hành; 3.
Tín giải thoát; 4. Kiến đắc; 5. Thân chứng; 6. Gia gia; 7. Nhất chủng
tử; 8. Hướng sơ quả; 9. Đắc sơ quả; 10. Hướng nhị quả; 11. Đắc
nhị quả; 12. Hướmg tam quả; 13. Đắc tam quả; 14. Trung ban; 15. Sanh ban;
16. Hành ban; 17. Bất hành ban; 18. Thượng lưu ban
B. Vô học nhân có 9:
1. Thối pháp A-la-hán; 2. Tư pháp
A-la-hán; 3. Hộ pháp; 4. Trú pháp; 5. Tiến; 6. Bất động; 7. Bất thối;
8. Huệ giải thoát; 9. Câu giải thoát.
| Mục lục
câu Xaù| 01a | 01b | 02 | 03 |
| 04a | 04b | |
05a | 05b | 06a | 06b | 07 | 08 |
-- o0o --
| Hòa Thượng Thích Thiện
Siêu| | Mục lục tác giaû|
Cập nhật ngày: 05-10-2001