Đại cương về Luận Câu
Xá
Hòa thượng Thích
Thiện Siêu
Học viện Phật giáo Việt
Nam tại Huế,
PL. 2543 - TL. 1999
IV. PHẨM PHÂN BIỆT
NGHIỆP
Trước đây phẩm Thế gian nói về kết
quả đau khổ của mê lầm, nhưng đã có quả tất phải có nhân,
nhân đây chính là hoặc và nghiệp. Hoặc chỉ cho phiền não, tức
tâm hư vọng, nhận thức sai lầm sự lý của vũ trụ vạn hữu, sanh
tâm đắm trước. Rồi từ sự sai lầm đắm trước đó, khởi lên
những tác vi nơi thân,nói năng nơi miệng, đó là nghiệp. Đối
với kết quả được thành tựu, chính nghiệp là nguyên nhân
trực tiếp, còn hoặc là trợ duyên gián tiếp. Vì nếu có
phiền não mà không khởi nghiệp thì cũng không thể chiêu cảm quả
báo. Hoặc như hạt giống, nghiệp như đất, nước, phân, tro, môi
trường. Có hạt giống mà không có môi trường đất nước, hạt
giống không thể mọc thành cây. Bởi vậy,tiếp theo phẩm Thế gian,
ở đây giảng phẩm Nghiệp.
Phẩm Nghiệp gồm 131 bài tụng, chia làm
hai đoạn. Xem đồ biểu sau:
PHẨM
NGHIỆP |
* Thể tánh
của nghiệp |
- Thể tánh của
nghiệp
- Các mặt khác của nghiệp
- Y Ù nghĩa biểu-vô biểu của nghiệp |
* Nghiệp được
nói trong các kinh |
|
Đoạn I. THỂ TÁNH CỦA NGHIỆP
Thuyết minh về thể tánh của nghiệp,
là đề cập đến hai nghiệp, ba nghiệp và năm nghiệp.
Hai nghiệp là tư nghiệp và tư dĩ
nghiệp. Chính sự hoạt động tư lự phân biệt trong nội tâm là
tư nghiệp. Từ đó phát ra hành động nơi thân, nói năng nơi miệng,
đó là tư dĩ nghiệp.
Ba nghiệp là từ hai nghiệp này chia ra:
thân nghiệp, ngữ nghiệp tức tư dĩ nghiệp, và ý nghiệp tức tư
nghiệp.
Năm nghiệp lại là từ ba nghiệp trên
chia ra, tức là trong hai nghiệp thân và ngữ đều có hai loại biểu
nghiệp và vô biểu nghiệp. Như biểu đồ dưới đây:
| |
Hai Nghiệp |
Ba Nghiệp |
Năm Nghiệp |
NGHIỆP |
Tư nghiệp |
Y Ù nghiệp |
Y Ù nghiệp |
Tư dĩ
nghiệp |
Thân nghiệp |
Thân biểu,
Thân vô biểu |
Ngữ nghiệp |
Ngữ biểu,
Ngữ vô biểu. |
Năm nghiệp như thế nào?
Bất luận là một việc gì, trước tiên ta suy nghĩ, tính toán về
việc đó, đó là ý nghiệp. Khi sự tính toán được phát động ra
nơi thân với những nét rõ rệt trông thấy được, đó là thân
biểu nghiệp,nhưng trong khi đang khởi lên thân biểu nghiệp, bên trong
vẫn có những năng lực vô hình, chiếu trong quy luật nhân quả kích
động thúc đẩy thân hành động hoặc không hành động, đó là
thân vô biểu nghiệp, vì năng lực nầy tiềm ẩn khó trông thấy
được. Ngữ biểu nghiệp và ngữ vô biểu nghiệp cũng tương tự
như thế.
Nhưng tại sao ngoài thân biểu nghiệp
và ngữ biểu nghiệp lại thêm vô biểu nghiệp của thân và ngữ
như thế?
Chân lý đương nhiên trong vũ trụ, hễ
đã có nhân thì có quả. Vậy khi tạo thân và ngữ biểu nghiệp,
hoặc lành hoặc dữ, nó nhất định đưa đến kết quả hoặc khổ
hoặc vui trong tương lai. Nhưng khi thân và ngữ biểu nghiệp đình chỉ
và cũng chưa kết thành quả, trong khi đó, nếu không có cái gì tồn
tại liên tục, để dẫn đến kết quả, thì sẽ mắc phải điều rất
sai lầm là có tạo nghiệp nhân mà không thọ quả báo, hoặc nghiệp
nhân đã tiêu mất mà vẫn có kết qủa, thì hóa ra không nhân cũng
có quả. Thế nên biết, phải có năng lực vô hình tồn tại liên
tục dẫn từ nhân đến quả, năng lực đó vô hình không thể thấy
được, nên gọi là vô biểu nghiệp.
* TIẾT I. THỂ TÁNH CỦA NGHIỆP
Năm nghiệp vừa kể trên lấy gì
làm thể?
Y Ù nghiệp là sự hoạt động tư duy
của nội tâm, cố nhiên lấy tư tâm sở làm thể. Còn thân và
ngữ vô biểu nghiệp thì có sự tranh luận dị đồng.
Tát-bà-đa bộ cho hình sắc là
thể của thân biểu nghiệp, âm thanh là thể của ngữ biểu
nghiệp, bởi thân biểu nghiệp tức chỉ cho động tác nơi thân thể
mà động tác tất phải dựa vào hình sắc dài ngắn...sai biệt mới
có được. Nếu lìa hình sắc có dài ngắn.. .sai biệt thì không thể
nào có động tác; ngữ biểu nghiệp tức chỉ cho tác động của
ngôn ngữ, nếu lìa âm thanh thì không có tác động của ngôn ngữ.
- Kinh bộ ngược lại, lấy tư tâm
sở có khả năng khiến thân thể vận động, gọi tắc là động
thân tư, chính cái đó là thể của thân biểu nghiệp, và tư tâm
sở có khả năng phát động ngôn ngữ, gọi tắt là phát ngữ
tư, đó chính là thể của ngữ biểu nghiệp. Nghiệp có nghĩa là
tạo tác, mà tạo tác tức tư tâm sở. Chính tư tâm sở đó dựa
nơi thân phát hiện gọi là thân nghiệp, dựa nơi lời phát hiện
gọi là ngữ nghiệp, dựa nơi ý phát hiện gọi là ý nghiệp. Ba
nghiệp sở dĩ khác nhau vì có thân, ngữ, ý khác nhau, chứ thật
thể không ngoài tư tâm sở.
Còn thân và ngữ vô biểu nghiệp, theo
Tát- bà-đa bộ là thật pháp, lấy sắc thân do đại chủng tạo
thành làm thể. Kinh bộ ngược lại, cho là giả pháp, dựa trên
chủng tử của tư tâm sở mà giả lập ra thôi. Đó là điểm tranh
luận tối yếu của hai bộ với lý lẽ dưới đây:
Tát-bà-đa dẫn ra tám bằng chứng làm
cơ sở cho lập nghĩa của mình nhưng đều không được Kinh bộ thừa
nhận. Kinh bộ bác và cũng đưa chủ trương mình ra:
1. Bằng chứng Phật nói có ba loại
sắc. Theo kinh Tạp A-hàm cuốn 13, sắc chia ra làm ba loại: Loại có
thấy có đối như xanh, vàng, đỏ, trắng v.v...Loại không thấy có
đối như năm căn và thanh, hương, vị, xúc chỉ có sự chướng ngại
giữa nó với cái khác (hữu đối) chứ không thể thấy. Ngoài hai
loại này, kinh còn nói đến không thấy không đối, rõ ràng loại
này chỉ cho các sắc vô biểu, nếu không có sắc vô biểu thật, thì
loại sắc không thấy không đối để chỉ cái gì. Kinh bộ không đồng
ý, cho rằng sắc không thấy không đối là sắc của cảnh giới trong
định, nó không đối ngại và mắt không thấy được, chứ không
phải thật có riêng.
2. Bằng chứng về sắc vô lậu, cảnh
thấy nghe hay biết của phàm phu như năm căn, năm cảnh đều thuộc
hữu lậu, nhưng trong kinh Tăng nhất A-hàm: "Pháp vô lậu là
thế nào? Là đối với các sắc ở quá khứ, vị lai, hiện tại, nó
không làm khởi lên tâm ái nhiễm, sân nhuế, cho đến đối với
thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, đó gọi là pháp vô lậu".
Như thế, ngoài sắc hữu lậu, kinh còn nói sắc vô lậu, nếu không
có sắc vô lậu, thì lấy gì để gọi là sắc vô lậu? Nhưng Kinh bộ
cũng cho sắc này cũng là sắc cảnh giới của định, do định vô lậu
phát khởi, nên gọi là sắc vô lậu thế thôi.
3. Bằng chứng về phước nghiệp tăng
trưởng, có bảy phước nghiệp:
(1). Bố thí cho người đi đường
thuyền.
(2). Bố thí cho người đi bộ .
(3). Bố thí cho người bệnh tật.
(4). Bố thí cho người săn sóc bệnh nhân .
(5). Bố thí vườn rừng.
(6). Bố thí cho người thường đi khất thực.
(7). Tùy thời bố thí.
(Bảy phước nghiệp này theo kinh nói
có khác hơn).
Kinh Trung A-hàm, phẩm Thế Gian
Phước nói tiếp: "Kẻ thiện nam, tín nữ nào, khi đã tạo
được bảy thứ phước thế gian đó, hoặc đi, hoặc đến, hoặc
đứng, hoặc ngồi, hoặc ngủ, hoặc thức, hoặc ngày, hoặc đêm,
phước đó vẫn thường sanh, càng lúc càng thâm, càng lúc càng
rộng". Hữu bộ cho phước nghiệp thường tăng trưởng đó
là vô biểu sắc thật có. Nhưng Kinh bộ không nhất trí, bộ này cho
đó là chỉ dựa trên chủng tử của tư tâm sở mà giả lập ra,
chứ không thật có sắc vô biểu. Khi ta suy nghĩ về bố thí, suy nghĩ
đó thật là hạt giống huân tập tồn tại trong ta. Về sau dù có khi
khởi ác tâm, có khi khởi vô ký tâm, nhưng chủng tử đó vẫn
âm thầm tương tục biến chuyển để đưa đến kết quả mà gọi là
phước nghiệp tăng trưởng thế thôi, chứ không sắc gì gọi là
sắc vô biểu cả.
4. Bằng chứng không làm mà vẫn thành
nghiệp, như có người nuốn giết một kẻ khác, nhưng không tự tay
giết, chỉ xúi bảo người khác giết. Khi người bị giết chết, thì
người chủ mưu giết dù không tự tay giết cũng mắc ác nghiệp.
Hữu bộ cho cái ác nghiệp không tự làm mà vẫn thành này là vô
biểu sắc thật có. Nhưng theo Kinh bộ đó chỉ là chủng tử của tư
tâm sở, lấy tư tâm sở làm thể. Bởi chính trong khi mưu tính xúi
bảo người khác giết đó, thì chủng tử của một niệm xúi giết
dấy lên trong tâm và tiếp tục chuyển biến tăng trưởng cho đến khi
người xúi bảo hoàn thành công việc giết chết kẻ mưu giết, khi
ấy, người mưu tính xúi bảo mắc tội ác nghiệp sát sanh thế thôi,
chứ không cần thật có một vô biểu sắc nào cả.
5. Bằng chứng sắc pháp xứ, kinh Tạp
A-hàm 13 nói: "Bí-sô nên biết, pháp thuộc ngoại xứ sẽ
không nhiếp vào mười một xứ, nó không thấy không đối".
Theo đây, về pháp xứ sở, kinh nói đó là pháp không thấy không
đối, chứ không nói vô sắc. Vậy nên nói pháp xứ không có
nghĩa ngăn cấm sự tồn tại riêng biệt của vô biểu sắc. Nếu pháp
xứ không phải là vô biểu sắc, cớ sao kinh không nói ngay là vô
sắc mà chỉ nói là không thấy không đối. Như Kinh bộ lại vẫn cho
sắc đó thuộc cảnh giới của định, và bác những điều trích dẫn
của Hữu bộ không đủ để chứng minh sự thật có của sắc vô
biểu được.
6. Bằng chứng là tám chi thánh đạo,
trong tám chi thánh đạo, có ba chi thuộc sắc pháp, đó là chánh
ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng. Người tu chánh đạo, khi
nhập chánh định, thân không hoạt động nên không có chánh nghiệp,
miệng không nói năng nên không có chánh ngữ, không đi khất thực
nên không có chánh mạng. Tuy trong định không có ba chi đó, nhưng
vẫn phải thừa nhận người nhập định đó có đủ tám chi Thánh
đạo, chính nhờ có sắc vô biểu của chánh ngữ, chánh nghiệp,
chánh mạng trong khi nhập định. Nếu giả sử không có sắc vô biểu
của ba chi đó, thì khi xuất định, ba chi đó từ đâu hiện ra? Vô lẽ
người nhập định lại không có tám chi Thánh đạo như người không
nhập định sao? Nhưng Kinh bộ cũng không nhất trí, họ cho trong khi nhập
đ?nh vẫn có chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng là do dựa nơi tư
tâm sở mà giả lập, chứ không có thật thể. Trong định không có
biểu nghiệp về chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng nhưng nhờ có
tư tâm sở suy nghĩ về ba chi chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng
đó, nên khi xuất định có ba chi đó xuất hiện, chứ không phải
từ sắc vô biểu.
7. Bằng chứng về giới biệt giải
thoát, khi một người thọ đắc giới biệt giải thoát, sau đó có
lúc khởi ác tâm, vô ký tâm, thậm chí vô tâm, nhưng giới thể
vẫn không mất. Hữu bộ cho giới thể không mất ấy là sắc vô
biểu thật có. Nhưng Kinh bộ vẫn cho giới thể đó lấy tư tâm sở
làm thể. Từ nơi tư chủng tử, có khả năng phòng phi chỉ ác, gọi
đó là giới thể, dựa vào đó thành lập luật nghi biệt giải
thoát, chứ chẳng có sắc vô biểu gì cả.
8. Bằng chứng giới là bờ đê. Khi
thọ giới xong, lấy giới làm bờ đê ngăn chận không cho nước
tràn ra ao hồ, đã biết giới là bờ đê, tất nó có thật thể
mới ngăn chận được, và có ngăn chận được mới gọi là bờ
đê. Hữu bộ cho đó là sắc vô biểu thật có. Nhưng Kinh bộ vẫn
cho tư tâm sở là thể có khả năng ngăn chận đó. Người thọ
giới khi phát nguyện từ nay về sau quyết định không phạm điều tội
ác, từ đó mỗi niệm mỗi niệm tiếp tục tự nhiên ngăn chận
không cho phạm tội ác, đó gọi là bờ đê, chứ không có sắc
vô biểu nào nào cả.
Tóm lại, Hữu bộ chủ trương ý
nghiệp, lấy tư tâm sở làm thể, hình sắc và ngôn ngữ do tư tâm
sở phát động dẫn sanh ra, gọi là thân biểu nghiệp và ngữ biểu
nghiệp, đều thuộc sắc pháp. Thân biểu lấy hình sắc làm thể,
ngữ biểu lấy âm thanh làm thể, rồi từ đó dẫn khởi ra
một sắc pháp không thể biểu thị, không có đối ngại gọi là vô
biểu sắc, hay vô biểu nghiệp, nó lấy sắc do đại chủng tạo làm
thật thể. Như vậy, theo Hữu bộ, biểu và vô biểu sắc đều có
thật thể. Nhưng Kinh bộ ngược lại, luận Tỳ-bà-sa 122, 123 nói: "Biểu,
vô biểu nghiệp đều không thật thể". Nhà thí dụ sư (Kinh
bộ) nói: "Nghiệp thân, ngữ, ý đều chỉ là tư" (Biểu,
vô biểu nghiệp, vô thật thể tánh,thí dụ giả thuyết thân ngữ,
ý, nghiệp giai thị nhất tư). Và theo Kinh bộ, tư chia ra bốn thứ: 1) Thẩm
lự; 2) Quyết định; 3) Động thân; 4)
Phát ngữ. Khi ta định làm gì, trước tiên suy xét (thẩm tư lự),
tiếp đó quyết định làm, và làm bằng cách nào (quyết định tư),
cả hai đều thuộc ý nghiệp; từ hai tư đó, có sự cử độüng
thân (động thân tư) và phát ra ngôn ngữ (ngữ phát tư), tức
thân nghiệp và ngữ nghiệp. Do đó, đủ biết thân biểu nghiệp,
ngữ biểu nghiệp đều không có thật thể, hoàn toàn do tư tâm sở
phát động. Đến như vô biểu nghiệp cũng vậy, không phải có một
loại sắc thật có riêng biệt gọi là sắc vô biểu, mà chính do tư
tâm sở huân tập thầm kín, tiếp tục chuyển biến mà hình thành,
nó là giả có. Như vậy, vô biểu nghiệp hay vô biểu sắc không gì
khác hơn là chủng tử của tư tâm sở vi tế tiềm tàng tiếp
tục chuyển biến vậy. Xem đồ biểu:
CÁC NGHIỆP LẤY GÌ LÀM THỂ, THEO CHỦ
TRƯƠNG CỦA HỮU BỘ VÀ KINH BỘ sau:
Y Ù
NGHIỆP |
Y Ù |
Tư tâm sở làm
thể |
Hữu bộ |
Thẩm lự tư |
Kinh bộ |
Quyết định tư |
Kinh bộ |
BIỂU |
Thân |
Hình sắc làm
thể |
Hữu bộ |
Phát động làm
thể |
Chính lượng bộ |
Động thân tư |
Kinh bộ |
Ngữ |
Âm thanh làm thể |
Hữu bộ |
Hành động làm
thể |
Chính lượng bộ |
Phát ngữ tư |
Kinh bộ |
VÔ
BIỂU |
Thân |
Sắc do đại
chủng tạo |
Hữu bộ |
Chủng tử tư
tâm sở |
Kinh bộ |
Ngữ |
Sắc do đại
chủng tạo |
Hữu bộ |
Chủng tử tư
tâm sở |
Kinh bộ |
Về nghĩa của chủng tử
tư tâm sở của Kinh bộ như thế nào?
Như việc thọ giới, từ khi phát
nguyện dứt bảy chi tội ác của thân, ngữ, nhưng chưa chính thức
thọ giới, còn ở giai đoạn của hạnh vị, thì huân tập thành bảy
chủng tử tư gia hạnh. Cho đến sau khi gặp thắng duyên (cơ duyên
tốt), qua lần kiết-ma thứ ba xong, từ nơi chủng tử tư gia hạnh,
huân tập thành chủng tử tư căn bản, từ đó, bảy chi chủng tử
này cứ mỗi niệm tăng trưởng mãi đến khi gặp duyên xả giới
mới mất. Về ác giới cũng vậy, lại cũng có nghĩa từ một chủng
tử tư, sát-na sát-na, bảy chi công năng tăng trưởng. Đại thừa
cũng chia xẻ nghĩa này, nhưng cho rằng tư chủng tử huân tập nơi
thức thứ tám, thức thứ tám nắm giữ tư chủng tử đó. Trong khi
đó Kinh bộ lại nói, tư chủng tử này hân tập nơi sắc tâm, và
sắc tâm nắm giữ tư chủng tử, nếu lìa sắc tâm tư chủng tử
không thể có được.
TIẾT 2: CÁC MẶT KHÁC CỦA NGHIỆP
Trong tiết này, luận văn trước
hết nêu ra bốn loại là lọai có chấp thọ không chấp thọ,
loại năm sự, loại tình phi tình, loại đại chủng đồng
dị và sau mới nói đến tánh chất hệ thuộc vào ba cõi, chín
địa của nghiệp, nhưng ở đây, chỉ nói về loại sau hết, tức
là tánh chất hệ thuộc của nghiệp vào ba cõi, chín địa mà thôi.
VỀ TÁNH CHẤT CỦA NGHIỆP
Nghiệp có ba tánh: thiện, ác, vô
ký, song chỉ có hai tánh thiện và ác mới là nghiệp, chứ vô ký
tánh không phải nghiệp. Do ý nghiệp thiện hay ác mà phát sinh ra
thân biểu và vô biểu nghiệp, cũng như khẩu biểu và vô biểu
nghiệp thiện hay ác. Nhưng ý nghiệp vô ký chỉ phát ra thân hoặc
ngữ biểu nghiệp vô ký, chứ không có thân, ngữ vô biểu
nghiệp. Tại sao vậy? Vì tính vô ký chẳng phải lành dữ, thế
lực của nó quá yếu không thể chiêu cảm được kết quả như
nghiệp thiện hay ác, vì vậy, chỉ có thân, ngữ biểu nghiệp vô ký.
Chứ không có vô biểu vô ký.
Nhưng sao gọi là thiện ác vô ký?
Luận Tỳ-bà-sa 51 nói: "Nếu
pháp không chiêu cảm quả khả ái, lạc thọ thì gọi là thiện, còn
nếu chiêu cảm quả không khả ái, khổ thọ thì gọi là ác, nếu
khác với cả hai sự đó thì gọi là vô ký".
Luận Câu-xá 15 nói: "Nghiệp
an ổn hay chiêu cảm được quả báo khả ái và Niết-bàn, tạm
thời và vĩnh viễn xa lìa thống khổ gọi là thiện, nghiệp không an
ổn hay chiêu cảm quả báo bất khả ái, gọi là ác; còn nghiệp
trái với hai tánh trên gọi là vô ký. Đây là căn cứ sự cảm
quả để phân biệt thiện, ác, vô ký tánh".
Luận Câu-xá 13: Lại
căn cứ vào nguyên do để chia ba tánh thiện, ác, vô ký; mỗi tánh
đều có bốn thứ là: thắng nghĩa, tự tánh, tương ưng, đẳng khởi".
Bốn thứ thiện
1. Thắng nghiã thiện: Chỉ
Niết-bàn rất an ổn, vĩnh viễn, bặt dứt dấu vết thống khổ. Thắng
nghĩa có nghĩa là tuyệt vời, tuyệt đối.
2. Tự tánh thiện: Tức chỉ cho
năm tâm sở tàm, quý, vô tham, vô sân, vô si, có tự thể là
thiện, chứ không nhờ cái khác mới có như tương ưng và đẳng
khởi thiện.
3. Tương ưng thiện: Tức những
tâm sở nhờ tương ưng với năm tâm sở tự tánh thiện ở trên
mà thành, chứ tự thể nó không phải là thiện.
4. Đẳng khởi thiện: Chỉ cho thân,
ngữ thiện nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tánh thiện
và tương ưng thiện mà khởi lên.
Bốn thứ ác
1.Thắng nghĩa ác: Chỉ sanh tử,
và sanh tử tự tánh rất là khổ, xấu ác cùng cực.
2. Tự tánh ác: Chỉ năm tâm
sở: vô tàm, vô quý, tham, sân, si; vì tự thể nó là ác, chứ
không phải chờ tương ưng, đẳng khởi mới thành ác.
3. Tương ưng ác: Chỉ các tâm tâm
sở mà tự tánh không phải ác, nhưng và tương ưng với năm tâm
sở tự tánh ác mà thành.
4. Đẳng khởi ác: Chỉ thân, ngữ
ác nghiệp do sự phối hợp bình đẳng của tự tánh ác và tương
ưng ác mà khởi lên.
Vô ký tánh chỉ có thắng nghĩa vô
ký, tức chỉ cho hư không vô vi và phi trạch diệt vô vi. Vì thể của
hai vô vi này là thường trú, nên gọi là thắng nghĩa, nhưng nó
không phải là cái chứng đắc của đạo nên không được gọi là
thiện mà chỉ gọi là vô ký. Ngoài ra, trong 46 tâm sở, thứ nào
cũng thông cả hai hoặc ba tánh, nhưng không có thứ nào thuần là
vô ký, nên không lập tự tánh vô ký, và đã không có tự
tánh vô ký thì cũng không có tương ưng và đẳng khởi vô ký.
Nếu lại lấy giới và địa để phân
biệt năm nghiệp vừa nêu trên thì sẽ thấy ý nghiệp thiện và vô
ký ở cả ba cõi, chín địa đều có; còn ác nghiệp chỉ giới hạn
ở cõi Dục; thiện vô biểu thông cả hai cõi Dục và Sắc. Ác vô
biểu chỉ giới hạn ở cõi Dục. Thân, ngữ thiện biểu nghiệp thông
cả cõi Dục và Sơ thiền, còn ác biểu nghiệp chỉ giới hạn ở
cõi Dục. Tánh vô phú vô ký chỉ giới hạn ở Sơ thiền.
BIỂU ĐỔ NGHIỆP PHÂN BIỆT THEO GIỚI
ĐỊA
NGHIỆP |
Nghiệp |
Thiện |
ở ba
cõi, chín địa |
Vô ký |
Ác |
chỉ có ở cõi
Dục |
Biểu |
Thiện |
chỉ có ở cõi
Dục và Sơ thiền |
Hữu phú |
chỉ
có ở cõi Dục |
Vô ký |
Ác |
chỉ có ở cõi
Dục và cõi Sắc |
Vô
biểu |
Thiện |
chỉ
có ở cõi Dục |
Ác |
* TIẾT 3. Y Ù NGHĨA BIỂU NGHIỆP
VÔ BIỂU NGHIỆP
Tướng trạng biểu nghiệp - vô
biểu nghiệp như thế nào? Vô biểu có ba:
1. Luật nghi vô biểu: Thuộc thiện,
lại chia làm ba:
a. Biệt giải thoát luật nghi vô
biểu: Thành tựu do sự dứt trừ từng tội nơi thân và ngữ.
b. Tịnh lự luật nghi vô biểu:
Cũng gọi là "định cộng giới" nhờ nhập định, tự
nhiên rời bỏ các tội lỗi nơi thân và ngữ. Vô biểu này phát
sinh trong khi nhập định, khi xuất định thì mất.
c. Vô lậu luật nghi vô biểu: Còn
gọi là "đạo cộng giới" Khi thiện tâm vô lậu khởi
lên, tự nhiên lìa bỏ các tội lỗi nơi thân, ngữ. Nó phát sinh
ngay khi thiện tâm vô lậu phát sinh, và diệt mất ngay khi thiện tâm
vô lậu diệt.
2.Bất luật nghi vô biểu: Thuộc
ác.
3. Phi luật nghi phi bất luật nghi vô
biểu: Ở giữa hai thứ trên.
Biệt giải thoát luật nghi có tám
thứ: Bí-sô, Bí-sô-ni, Chánh học, Cần sách, Cần sách nữ, Cận
sự nam, Cận sự nữ và Cận trụ luật nghi. Nhưng thực chất chỉ có
bốn: Bí-sô, Cần sách, Cận sự và Cận trụ. Vì lìa Bí-sô không
thể có Bí-sô ni, lìa Cần sách không thể có Cần sách nữ và
Chánh học. Lìa Cận sự không thể có Cận trụ luật nghi.
Trong tám biệt giải thoát luật nghi,
Cận trụ, Cận sự nam, Cận sự nữ thuộc giới tại gia. Còn năm
thứ kia thuộc về giới xuất gia. Lại nữa, cận trụ luật nghi là
giới chỉ thọ trong một ngày một đêm, qua khỏi một ngày một đêm
gọi là đêm hết (dạ tận) giới tự nhiên xả, cò bảy thứ kia
là giới thọ suốt đời.Về giới Cận trụ, theo Kinh bộ, không
những chỉ thọ trong một ngày đêm là có thể thọ trong nhiều ngày
đêm.
Hỏi: Luật nghi và bất luật nghi
vô biểu nghiệp phải chăng đều do biểu nghiệp sanh hay không do biểu
nghiệp sanh?
Đáp: Do biểu nghiệp sanh cũng có,
không do biểu nghiệp sanh cũng có. Xem biểu đồ dưới đây sẽ rõ:
VÔ
BIỂU |
Luật
nghi (Thiện) |
Biệt giải
thoát luật nghi |
Bí sô giới
Bí sô ni giới
Chánh học
Cần sách
Cần sách nữ
Cận sự giới
Cận sự nữ
Cận trụ giới |
Biểu và Vô
biểu nghiệp |
- Tịnh lự luật
nghi
- Vô lậu luật nghi |
|
Chỉ do Vô biểu |
Bất luật nghi
(Ác) |
|
|
Biểu
và Vô biểu nghiệp |
Phi luật Phi phi
bất luật nghi (phi thiện phi ác) |
|
|
Hỏi: Vô biểu ấy làm sao thành
tựu được? Như thế nào là xả bỏ?
Đáp: Trong ba thứ luật nghi: Biệt
giải thoát, tịnh lự và vô lậu. Trước nói về biệt giải thoát
luật nghi. Câu-xá ký 14 nói " Luật nghi biệt giải
thoát do người khác dạy mà được thàh tựu". Nghĩa là
nhờ sự truyền dạy của người khác mà đắc giới. Có hai cách:
1. Từ cá nhân Tăng-già (Tăng-già
bổ-đặc-già-la) mà thọ đắc, đó là giới Cận sự, Cận sự
nữ, Cận trú, Cần sách, Cần sách nữ. Câu-xá Quang ký 14
nói: "Cần sách, Cần sách nữ từ nơi hai vị Tăng mà thọ
đắc; Cận sự, Cận sự nữ, Cận trú chỉ từ một vị Tăng mà thọ
đắc".
2. Từ Tăng già (Tăng chúng, bốn
nguời trở lên) mà thọ đắc. Đó là giới Bí-sô, Bí-sô-ni và
Chánh học, phải từ nơi năm vị hoặc mười vị Tăng mà thọ đắc.
Nếu nói rộng về sự duyên đắc
giới cụ túc, thì có sự bất đồng giữa bốn bộ luật, năm bộ
luận.
Sự bất đồng trong bốn bộ luật:
a. Luật Thập Tụng nêu mười duyên
đắc giới.
b. Luật Tứ Phần nêu năm duyên.
c. Luật Tăng Kỳ nêu bốn duyên.
d. Luật Ngũ Phần nêu năm duyên.
Sự bất đồng trong năm bộ luận:
a. Luận Tỳ-ni mẫu, năm duyên.
b. Luận Ma-đắc-lặc-già, mười duyên .
c. Luận Thiện Kiến, tám duyên.
d. Luận Tát-bà-đa, bảy duyên.
đ. Luận Minh Liễu, bảy duyên.
Giữa các thuyết dị đồng đó,
Câu-xá chọn Thập Tụng luật nêu mười duyên đắc giới:
1. Tự nhiên đắc: Trường hợp
Phật và Độc giác do vô sư trí ngộ đạo tự nhiên đắc giới.
2. Kiến đế đắc: Còn gọi là nhập chánh tánh ly sanh, trường
hợp năm Tỳ-kheo Kiều-trần-như, thấy lý Tứ đế mà đắc giới.
3. Thiện tai đắc: Trường hợp Da-xá, do Phật bảo: "Thiện
lai Tỷ kheo"(Ehi Bikkhu) mà đắc giới.
4. Tự thệ đắc: Tức trường hợp Đại Ca-diếp do tin và phát
lời thệ rằng: "Phật là Đại sư của mình" mà đắc
giới.
5. Luận nghị đắc: Hoặc gọi là "đáp vấn" tức
trường hợp chú bé bảy tuổi Tô-đà-di, nhân Phật hỏi: "Nhà
ngươi ở đâu?" Chú bé đáp: "Ba cõi không nhà (tam
giới vô gia)", câu đáp làm vừa ý Phật, nên dù tuổi chưa
đủ hai mươi, Phật vẫn cho phép Tăng kiết ma thọ cụ túc cho.
6. Thọ trọng pháp: Tức trường hợp Đại Sanh Chủ thọ tám
kỉnh pháp mà đắc giới.
7. Khiển sứ đắc: trường hợp Pháp Thọ Tỷ-kheo-ni. Muốn đến
giữa Tăng thọ giới nhưng vì tướng mạo đoan nghiêm sợ đi
đường bất trắc, Phật sai sứ đến truyền giới cho.
8. Biên ngũ đắc: Do bốn người làm Tăng chúng và vị trì
luật làm người thứ năm để Kiết ma (trì luật vi đệ ngũ nhân),
tức trường hợp ở nơi không đủ mười vị Tăng kiết ma truyền
giới.
9. Kiết-ma đắc: Hoặc còn gọi do thập chúng, tức trường hợp
ở nơi đủ mười Tăng kiềt-ma truyền giới, nhiều hơn không ngại.
10. Tam quy đắc: Còn gọi là tam ngữ đắc, tức trường hợp
nhóm sáu mươi người hiền (lục thập hiền bộ). Tuy nhiên, đối
với tam ngữ đắc này, Luật Thập Tụng 60 nói: "Nếu khi Phật
chưa chế pháp bạch tứ kiết ma, người nào quy mạng về Phật,
xướng ba lần: Tôi theo Phật xuất gia, người đó đã khéo
thọ đắc cụ túc giới. Nhưng nếu sau khi Phật đã chế pháp bạch
tứ kiết ma, thì xướng ba lần xuất gia không gọi là đắc cụ túc
giới". Luận Hữu bộ nói: "Tam ngữ đắc, tam quy đắc,
chỉ trong thời gian tám năm sau Phật thành đạo thì được, còn sau
tám năm đó thì không thể đắc giới".
Trong mười cách đắc giới trên, tám
cách sau có đủ biểu, vô biểu nghiệp, còn hai cách trước chỉ có
vô biểu nghiệp.
Tịnh lự luật nghi vô biểu cũng gọi
là định cọng giới vô biểu. Khi nhập định hữu lậu vị,
chí, trung gian, căn bản hay cận phần thì liền có vô biểu cùng định
tâm phát sinh.
Vô lậu luật nghi vô biểu cũng gọi
là đạo cọng giới, cũng vậy, khi nhập định vô lậu vị
chí, trung gian hay căn bản, hễ pháp vô lậu xuất hiện, thì cùng lúc
xa lìa xác tội lỗi nơi thân, ngữ, nên tự nhiên phát sinh vô biểu
[*].
[*] Cõi sắc và vô sắc chia ra tám
địa (bốn thiền, bốn định), mỗi địa đều có căn bản định và cận
phần định. Khi dứt hết tư hoặc của cõi dục, chính thức được
định sơ thiền, đó gọi là sơ thiền căn bản định, nhưng khi mới
phục được tư hoặc của cõi dục, chỉ phát sinh thiền định tương
tự gần với căn bản định, đó gọi là sơ thiền cận phần định.
Nhị thiền cho đến phi phi tưởng mỗi địa cũng đều có căn bản và
cận phần định như thế. Nhưng cận phần định của sơ thiền là từ
dục giới tán địa bước lên sắc giới định địa, đó là điểm
khác với các phần định kia, nên cận phần định sơ thiền được
mang tên riêng là vị chí định hay vị đắc định thay vì gọi cận phần
định. Trung gian định cũng gọi là trung gian thiền, trung gian tịnh lự.
Sơ thiền còn có cả tâm sở tầm và từ, Nhị thiền trở nên đều
dứt hết tầm từ. Nhưng khi sắp ra khỏi sơ thiền và chưa lên nhị
thiền, thì đã vứt bỏ tầm chỉ còn từ (vô tầm duy tứ địa),chính
tại đây gọi là trung gian định, ở chót sơ thiền và đại phạm
thiên vương thường trụ thiền định này
Tịnh lự và vô lậu luật nghi không
cần nhờ bởi người khác truyền thọ, nên không có biểu nghiệp.
Trong ba thứ luật nghi trên, biệt giải
thoát là giới không chuyển theo tâm (bất tùy tâm chuyển), nghĩa là
khi đã đắc giới rồi, sau đó, dù tâm có thay đổi, lúc ác, lúc
vô ký hoặc vô tâm, nhưng không xả giới hì giới thể vẫn tồn
tại không mất. Ngược lại, định cọng giới và đạo cọng giới
là giới chuyển theo tâm (tùy tâm chuyển), hễ tâm nhập định thì
có, xuất định thì mất.
Lại, ba luật nghi đều có công năng
phòng phi chỉ ác, nhưng cách thức đạt được khác nhau. Biệt giải
thoát chỉ ở tán tâm vị và loài người thành đạt được qua cả
ba giai đoạn gia hạnh, căn b?n và hậu khởi. Chẳng hạn, về việc sát
sinh, trước tiên móng lên ý nghĩ sát sinh, hoặc chuẩn bị dụng cụ
để giết, đó là gia hạnh nghiệp đạo. Khi chính thức giết và
người, vật bị giết chết hẳn, đó là căn bản nghiệp đạo. Sau khi
giết xong, chẳng những không h?i hận, lại còn thích thú đắc ý, do
đó vô biểu nghiệp sát tiếp tục không dứt, đó là hậu khởi
nghiệp đạo. Khi thọ đắc giới, đối với ba cách hay ba giai đoạn
sát sinh có thể thề dứt bỏ không làm. Như vậy là biệt giải
thoát giới từ ba cách hay ba giai đoạn đó mà đạt được. Nhưng
tịnh lự và vô lậu luật nghi lại khác, chỉ do định tâm mà đạt
thành, khi tâm nhập định thì có, khi xuất định thì mất. Vì vậy, hai
luật nghi này chỉ đắc thành ở căn bản nghiệp đạo, chứ không
đắc thành từ gia hạnh và hậu khởi.
Lại nữa, đối với bất cứ chúng
sanh nào và bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào và bất cứ vì lẽ
gì, thọ trì cấm giới, quyết dứt bảy chi tội của thân ngữ đối
với đối tượng đó, mới gọi là đắc giới. Nếu chỉ dứt tội
lỗi theo năm sự hạn định sau đây, thì chỉ gọi là diệu hạnh, chứ
không thể gọi là giới. Năm hạn định là:
a. Hữu tình định: Tức thề rằng,
ta chỉ lìa sự giết đối với loài hữu tình này chứ không đối
với loài khác.
b. Chi định: Tức thề ta chỉ giữ cấm giới không giết hoặc
không trộm... chứ không phải giữ cả bảy chi tịnh giới.
c. Xứ định: Chỉ lìa sát sinh ở chỗ này chứ không phải ở
chỗ khác.
d. Thời định: Tức chỉ lìa sát sinh trong thời gian này, chứ
không phải ở thời gian khác.
đ. Duyên định: Tức như thề lìa mọi sự sát sinh, trừ vì lý
do chiến đấu.
| Mục lục
câu Xaù| 01a | 01b | 02 | 03 |
| 04a | 04b | |
05a | 05b | 06a | 06b | 07 | 08 |
-- o0o --
| Hòa Thượng Thích Thiện
Siêu| | Mục lục tác giaû|
Cập nhật ngày: 05-10-2001