| ...... ... |
. |
Đại cương về Luận Câu
Xá
Hòa thượng Thích
Thiện Siêu
Học viện Phật giáo Việt
Nam tại Huế,
PL. 2543 - TL. 1999
II. PHẨM PHÂN BIỆT
CĂN
Phẩm này gồm 47 bài tụng, chia
làm bốn đoạn chính:
1) 22 căn.
2) Các pháp câu sanh.
3) Tánh cách câu sanh.
4) 6 nhơn, 4 duyên và 5 quả.
Đoạn 1 - 22 căn:
Các pháp hữu vi có thế, có dụng.
Phẩm Giới nói về thể, Phẩm này nói về dụng. Cái tác dụng mạnh
mẽ, rõ rệt nhất của các pháp nhiễm tịnh là 22 căn, nên căn
được nêu làm tên phẩm, và được nói đến trước tiên. (Luận Chính
Lý gọi là phẩm Sai biệt, Luận Tạp Tâm gọi là phẩm
Hành).
22 căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
(cơ năng phát thức), nam căn, nữ căn (sự sai biệt hữu tình,
tướng mạo), mạng căn (khả năng tồn tục của một chúng sanh), ưu,
hỷ, khổ, lạc, xả (thuộc pháp ô nhiễm), ý căn (khả năng tiếp
nối sanh tử tự tại tùy hành), tín, tấn, niệm, định, huệ (năm
căn thanh tịnh), vị tri đương tri, dĩ tri, cụ tri (ba căn vô lậu), 8 căn
sau thuộc pháp thanh tịnh.
Con số 22 căn chính do Phật nói rải
rác trong các kinh A-hàm và các đệ tử gom chung lại. Toàn bộ Phật
pháp chỉ thuyết giảng hai mặt mê và ngộ. Mê là sanh tử lưu
chuyển. Ngộ là hoàn diệt Niết-bàn. Luận Chánh Lý nói: "Sanh
tử tiếp nối là nghĩa lưu chuyển, sanh tử chấm dứt là nghĩa hoàn
diệt". Về mặt hiện thực lưu chuyển phải có 14 căn
đầu trong 22 căn đó. Về mặt hiện thực hoàn diệt cần có 8
căn sau trong 22 căn căn đó. Ở đây đặc biệt tìm hiểu 5 căn là
mạng căn, ý căn, vị tri đương tri căn, dĩ tri căn và cụ tri căn
trong 22 căn đó.
Mạng căn: mạng căn là thể sanh
mạng, thọ mạng của loài hữu tình. Chính nó có công năng kết
hợp với khí nóng và thức (thọ, noãn, thức) tạo thành một hữu
tình, sống và bảo trì sự sống vừa thân và tâm đó trong một
thời gian ngắn dài của một đời. Nếu khi ba thứ thọ, noãn, thức
rời nhau thì sự sống cũng chấm dứt. Nói cách khác, đây là
nghiệp lực (sức mạnh của nghiệp) đưa đẩy giống như trái banh lăn
xa hay gần là do sức người đá. Khi sức đá hết thì trái banh
phải ngưng lại.
Y Ù căn: Y Ù căn cũng tức là
tâm căn, tâm vương, làm chỗ dựa cho sáu thức niệm trước sanh
khởi, sáu thức niệm sau bởi năng lực vô gián diệt của nó. Y Ù
căn có hai khả năng đặc biệt: một là làm nối tiếp một sinh mạng
trong tương lai, hai là tự tại vận hành. Như kinh Tạp A-hàm 36 nói:
"Tâm năng đạo thế gian, tâm năng biến nhiếp thọ". Tất
cả điều tốt xấu lành dữ của thế gian đều do tâm dắt dẫn, tâm
làm chủ thâu nhiếp mọi sự.
Ba căn vô lậu: Là vị tri đương
tri,dĩ tri, cụ tri, dựa theo ba đạo là kiến đạo, tu đạo, vô học
đạo để kiến lập và lấy 9 căn là ý, hỷ, lạc, xả, tín, tấn,
niệm, định, tuệ, làm thể. Người hành giả khi tiến tu trên đường
giải thoát, quán sát lý Tứ đế theo tiến trình phát khởi16 tâm
là 8 nhẫn 8 trí để dứt trừ 88 sử kiến hoặc mà nhập kiến đạo.
Nhưng khi sanh kh?i tâm thứ 15, vẫn chưa biết rõ lý Tứ đế, đợi
đến khi tâm thứ 16 khởi lên mới biết trọn lý Tứ đế và dứt
trọn kiến hoặc. Ở tại địa vị này phát sinh 9 căn như trên gọi
là vị tri đương tri căn. Vì kế theo dĩ tri căn ở tu đạo phải dựa
vào đây mới phát khởi ra được. Tiếp giai đoạn kiến đạo là
giai đoạn tu đạo, tại đây cũng phải tiếp tục quán lý Tứ đế
để dứt hết 81 phẩm tư hoặc . Khi tu quán để dứt tư hoặc này
phát sinh 9 căn như trên gọi là dĩ tri căn, vì nhờ đây làm căn
cứ mới tiến đến cụ tri căn. Ở vô học đạo với 9 căn như
trên làm tự thể. Tiểu Bộ Kinh tập I trang 458 nói: "Vị tri
đương tri căn, tri căn, cụ tri căn", (căn: tôi sẽ biết điều
chưa được biết; căn về sự biết; căn của người đã biết. Căn
với nghĩa sức mạnh hoặc phương pháp. Ba căn này liên hệ đến
tương lai, hiện tại, quá khứ. Căn của vị đã biết được đối
với bốn sự thật, đã thành tựu những gì cần phải làm).
Đoạn 2: CÁC PHÁP CÂU SANH
Câu sanh tức duyên sanh, nhằm phá tà
kiến vô nhân sanh, tạo hóa sanh. Các pháp hữu vi (hiện tượng)
không thể đơn độc riêng sanh, mà phải có những pháp khác đồng
thời nương nhau mà phát sanh, nên gọi là câu sanh. Các pháp, trong
vũ trụ nhiều vô lượng không thể kể xiết, nhưng có thể quy hết
trong năm loại là sắc, tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng hành và
vô vi. Trong năm loại này, trừ vô vi là pháp thường hằng không
biến hóa sanh diệt, không thuộc pháp câu sanh; bốn loại còn lại
thuộc pháp hữu vi nên đều là câu sanh. Vậy, các pháp câu sanh là
những pháp gì?
Xem đồ biểu sau:
5 VỊ,
75 PHÁP |
HỮU
VI, 72 |
* SẮC PHÁP, 11 |
5 căn, 5 trần,
và vô biểu sắc. |
* TÂM PHÁP, 1 |
6 thức tâm
vương. |
* TÂM SỞ
PHÁP, 46 |
ĐẠI ĐỊA PHÁP,
10: Thọ, tưởng, tư, xúc, dục, huệ, niệm tác ý, thắng giải, tam ma
địa.
ĐẠI THIỆN ĐỊA PHÁP, 10: Tín, bất phóng dật, khinh an, xả, tàm, qúy,
vô tham, vô sân, bất hại, cần.
ĐẠI PHIỀN NÃO ĐỊA PHÁP, 6: Si, phóng dật, giải đãi, bất tín, hôn
trầm, trạo cử.
ĐẠI BẤT THIỆN ĐỊA PHÁP, 2: Vô tàm, vô quý.
TIỂU PHIỀN NÃO ĐỊA PHÁP, 10: Phẫn, phú, xan, tật, não, hại, hận,
siểm, cuống, kiêu.
BẤT ĐỊNH ĐỊA PHÁP, 8: Tầm, tứ, thụy miên, ố tác, tham, sân, mạn,
nghi. |
* BẤT TƯƠNG
ƯNG, 14 |
Đắc, phi đắc,
đồng phận, vô tưởng thiền,vô ưởng định, diệt tận định,mạng
căn,sanh, trụ, dị,diệt, cú văn thân. |
VÔ VI, 3 |
- Hư không.
- Trạch diệt.
- Phi trạch diệt. |
|
Biểu đồ phụ: THEO
DUY THỨC CÓ 5 VỊ, 100 PHÁP.
5 VỊ,
100 PHÁP |
HỮU
VI, 94 |
* SẮC PHÁP, 11 |
5 căn, 5 trần,
pháp xứ sở nhiếp sắc |
|
* TÂM PHÁP,8 |
8 thức tâm
vương. |
|
* TÂM
SỞ PHÁP, 51 |
- Biến hành: Như
10 đại địa pháp của Câu xá
- Biệt cảnh: Như 10 đại địa pháp của Câu xá
- Thiện, 11: Như 10 đại thiện địa pháp của Câu-xá thêm vô si.
- Phiền não, 6: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. |
|
- Tùy phiền
não, 20 |
- Tiểu tùy, 10:
Như 10 tiểu phiền não địa pháp trong Câu-xá.
- Trung tùy, 2: Vô tàm, vô quý.
- Đại tùy, 8: Trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật,
thất niệm, tán loạn bất chính tri. |
- Bất định 4:
Hối, miên, tầm, tứ. |
|
* BẤT TƯƠNG ƯNG,
24: Như Câu-xá trừ phi đắc, thêm dị sanh tánh, lưu chuyển, định dị,
tương ưng, thế tấc, thứ đệ, thời, phương, số, hòa hiệp, bất
hòa hiệp. |
|
|
VÔ VI, 6 |
* Hư không vô vi.
* Trạch diệt vô vi.
* Phi trạch diệt vô vi.
* Bất động diệt vô vi.
* Diệt tận định vô vi .
* Chân như vô vi. |
|
|
Về sắc và tâm pháp đã giải thích
ở phẩm Giới. Đây chỉ nói đến tâm sở, tâm bất tương ưng hành
và tánh cách câu sanh của nó.
1. Tâm sở pháp: Tâm thức vô
hình, khi đối tiếp cảnh vật khách quan, không những nó thu nhận
tướng chung của các pháp như tác dụng của tâm vương, mà còn thu
nhận tướng riêng. Chính tác dụng chủ quan thu nhận tướng riêng
này, nó tùy thuộc tâm vương như bầy tôi tùy thuộc vua, là sở
hữu của vua, nên gọi nó là tâm sở, hay tâm sở hữu pháp. Loại
này gồm 46 thứ chia thành 6 nhóm:
a. Đại địa pháp: 10 thứ
b. Đại thiện địa pháp: 10 thứ
c. Đại phiền não địa pháp: 6 thứ
d. Đại bất thiện địa pháp: 2 thứ
đ. Tiểu phiền não địa pháp:10 thứ
e. Bất định địa pháp: 8 thứ
(Chung cả 46 thứ này xem rõ đồ biểu
trên)
a. Đại địa pháp: chỉ tâm vương.
Tâm vương là mảnh đất mà tâm sở hiện hành và lưu hành trên
đó. Đại, chỉ cho 10 tâm sở thọ, tưởng, tư v.v... Vì 10 tâm sở
này có công dụng rất lớn thông cả ba tâm thiện, ác, vô ký và
bất cứ lúc nào tâm vương sanh khởi thì cũng đều có nó tương
ưng khởi theo.
Nói tóm, tâm vương là mảnh đất cho
10 tâm sở thọ, tưởng, v.v...có công dụng rất lớn nương tựa,
hiện hành nên gọi là đại địa pháp.
b. Đại thiện địa pháp: Có hai
cách giải thích:
1. 10 tâm sở: tín, bất phóng dật,
v.v...chỉ thuộc thiện tánh nên gọi là thiện.
2. Biến khắp các thiện tâm. Hễ đã là thiện thì đều có nó, nên
gọi là đại. Địa nghĩa như trên.
c. Đại phiền não địa pháp: Vì
tánh của 6 tâm sở này thuộc về ác và hữu phú vô ký (nhiễm
ô) hay làm não loạn lòng người, và khắp các tâm nhiễm ô đều
có nó, nên gọi là đại phiền não.
d. Đại bất thiện địa pháp: Vì
tánh chất hai tâm sở này thuộc về ác, và khắp các ác tâm đều
có nó, nên gọi là đại bất thiện.
đ. Tiểu phiền não địa pháp: Mười
tâm sở này, tánh chất giống như đại phiền não, đến địa vị tu
đạo mới đoạn trừ. Nhưng nó chỉ riêng biệt khởi lên theo đệ
lục ý thức nên gọi là tiểu phiền não.
e. Bất định địa pháp: Tánh chất
của tám tâm sở này không thuộc thiện như đại thiện địa pháp,
không nhiễm ô như địa và tiểu phiền não địa pháp, cũng không
giống đại bất thiện địa pháp. Nhưng nó lại tùy lúc trở thành
thiện, hoặc ác, hoặc vô ký, nên gọi là bất định. Và nó không
biến khắp các tâm như mấy thứ trên, nên trên đầu không có
thêm chữ đại hay tiểu.
2. Tâm bất tương ưng hànhpháp: Vì
loại pháp này không tương ứng với tâm pháp nên gọi là bất
tương ưng để giản biệt với tâm sở. Hành là hành uẩn, tức
muốn nói nó thuộc hành uẩn, chứ không thuộc sắc uẩn hay vô vi.
Sao gọi là tâm tương ưng và tâm bất
tương ưng? Tâm tương ưng là chỉ cho các tâm sở tương ứng hòa
hợp với tâm vương bởi năm sự đồng đẳng:
a. Đồng sở y: Tâm vương tâm
sở đồng nương một căn mà hiện khởi. Như khi nhãn thức tâm
vương nương nhãn căn mà hiện khởi, thì tâm sở tương ưng với
nhãn thức cũng nương nhãn căn mà hiện khởi, chứ không thể
nương căn khác.
b. Đồng sở duyên: Tâm vương
tiếp xúc cảnh nào thì tâm sở tương ưng cũng tiếp xúc cảnh đó.
c. Đồng hành tướng: Sự nhận
thức của tâm vương như thế nào thì nhận thức của tâm sở tương
ưng cũng như thế ấy. Hành tướng tức tướng mạo hiểu biết, sự
nhận thức là tướng hành động của tâm.
d. Đồng thời gian: Tâm vương,
tâm sở tương ưng phải đồng một lúc hiện khởi.
đ. Đồng thể sự: Mỗi tâm
vương, tâm sở tương ưng đều có tự thể riêng bằng nhau hòa hợp
lại mới thành nghĩa tương ưng.
Loại tâm bất tương ưng hành có 14
thứ như kê trên.
Đoạn 3: TÁNH CÁCH CÂU SANH
Bất luận sắc pháp hay tâm pháp, tuy
Hữu bộ chủ trương chúng đều thật hữu, tương quan phát sinh, song
tâm và vật ngang nhau chứ không phải cái này sinh cái kia. Khi sanh
khởi đều có đủ bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt, cùng sanh khởi,
vì thế mới gọi là pháp hữu vi. Nếu không có bốn tướng này
kèm theo, thì hẳn thành pháp vô vi. Ngoài bốn tướng hữu vi này ra,
mỗi sắc pháp sanh khởi còn có bao nhiêu thứ đồng sanh với nó?
Mỗi tâm pháp sanh khởi còn có bao nhiêu thứ đồng sanh với nó?
1. Tánh cách câu sanh của sắc pháp: Sắc
pháp là chỉ tất cả sự vật có sắc chất từ trong căn thân đến
ngoài khí giới sơn hà đại địa đều do bốn đại năng tạo là
đất, nước, lửa, gió và bốn đại sở tạo (cũng gọi là bốn vi
trần) là sắc, hương, vị, xúc, hòa hợp tạo thành. Và chính ngay
tự mỗi đại hay mỗi cực vi cũng đều có hòa lẫn các đại hay
các cực vi khác. Ví dụ: Địa đại lấy cực vi cứng (cố thể) làm
thể chính, nhưng trong nó vẫn có tánh ướt (dịch thể) của thủy
đại, nếu không thì vàng bạc thể cứng, làm sao nấu chảy, và nếu
không có tánh ướt thì đất sẽ rã rời không thành đất được.
Trong đất vẫn có tánh nóng của lửa nên đập đá có lửa văng
ra, và nhờ tánh nóng mà đất không bị thối mục. Trong đất có
tánh động, (động lực, khí lực) của gió, nên cây cứng cũng lung
lay và mới lớn lên được. Trong đất vẫn có đủ sắc, hương, vị,
xúc hòa hợp nên mới thành được. Thủy, hỏa, phong, sắc, hương,
vị, xúc cũng đều có đủ tánh chất của các đại khác và các vi
hòa hợp lẫn lộn tươmg tự như vậy mới thành. Suy ra để biết.
2. Tánh cách câu sanh của tâm, tâm
sở: Như đã liệt kê trên, tâm sở gồm 46 thứ, trong đó, có
thứ thuộc thiện tánh, có thứ thuộc ác tánh có thứ thuộc vô
ký tánh và có thứ thông cả ba tánh. Vậy, khi tâm vương khởi
thiện tất phải cùng với tâm sở thiện tương ưng, khi tâm vương
khởi ác tất phải cùng với tâm sở ác tương ưng, khi tâm vương
khởi vô ký tất phải cùng tâm sở vô ký cùng khởi. Vậy khi
tâm vương thiện hay ác khởi, có mấy thứ tâm sở cùng khởi
với nó?
BIỂU ĐỔ - Biểu đồ tánh chất tâm
sở cùng khởi với tâm vương
Tâm
Vương |
Thiện tánh |
|
10 đại địa pháp
10 đại thiện địa pháp |
Ác tánh |
|
10 đại địa pháp
8 đại phiền não địa pháp
2 đại bất thiện địa pháp
10 tiểu phiền não địa pháp |
Vô
ký |
Hữu phú |
|
Vô phú |
10 đại địa pháp
8 bất định địa pháp |
Đoạn 4: Sáu Nhân - Bốn
Duyên - Năm Quả:
Muôn pháp đều do nhân duyên mà
sanh mà diệt. Duyên hợp thì sanh, duyên tán thì diệt, vốn không có
tự tánh chân thật. Tuy nhiên, có nhân thì có quả và ngược lại,
nhân quả rõ ràng. Đó là cơ sở của nền giáo lý Phật. Vũ trụ
bao la, các pháp vô cùng, luật nhân quả nhân duyên cũng thâm sâu,
phức tạp, khó suy cùng manh mối. Song, theo Câu-xá tông có sáu
nhân, bốn duyên, năm quả, còn tông Pháp tướng Duy thức thì đề
ra bốn duyên, mười nhân, năm quả. Ở đây giải về sáu nhân,
bốn duyên, năm quả, của tông Câu-xá.
A. SÁU NHÂN
Sáu nhân là: Năng tác nhân, câu
hữu nhân, đồng loại nhân, tương ưng nhân, biến hành nhân, dị
thục nhân (có thể gọi là sáu dữ kiện hay căn nhân).
1. Năng tác nhân: Nhân là năng
tác, quả là sở tác. Năng tác tức nhân, nên gọi là năng tác
nhân. Bất kỳ dữ kiện nào dù không liên hệ trực tiếp, nhưng
nếu có sự trợ giúp cho kết quả được sanh thành đều gọi là
năng tác nhân. Nhân này có hai thứ:
a. Hữu lực năng tác nhân : Hữu
lực là có sức giúp một cách tích cực. Như nhãn căn đối với
nhãn thức, đất giúp cây cỏ mọc. Chỉ pháp hữu vi mới có tánh
cách hữu lực năng tác nhân này; pháp vô vi thì không.
b. Vô lực năng tác nhân: Vô
lực là chỉ giúp một cách tiêu cực. Nói cách khác, là không
giúp gì cả, chỉ không làm trở ngại cho sự sanh thành của kết
quả. Như hư không không làm trở ngại mọi vật phát sanh, tảng đá
trên núi không làm trở ngại cây lúa mọc dưới đồng, v.v...
Pháp vô vi vô tướng, không làm
chướng ngại gì, nên cũng thuộc vô lực năng tác nhân này. Như
vậy, năng tác nhân có phạm vi rất rộng rãi, bao gồm cả hữu vi
và vô vi, nhưng trừ tự thân của mỗi pháp chính nó, vì tự thân
không thể làm nhân cho tự thân.
Hỏi: Nếu vậy, năm nhân kia cũng
làm năng tác nhân được chứ?
Đáp: Được, nhưng vì năm nhân
kia còn có công dụng khác và đã có tên gọi khác, nên không
gọi chúng là năng tác nhân.
2. Câu hữu nhân: Thông thường
về mặt thời gian, luôn luôn nhân trước quả sau, nhân quả khác
thời; nhưng về mặt không gian, nhân quả lại đồng thời, cùng có
một lúc, một chỗ nên gọi là câu hữu nhân. Có hai thứ:
a. Hỗ vi quả câu hữu nhân:
(nguyên nhân hỗ tương), không có vật nào đứng riêng rẽ mà
thành, phải từ hai vật trở lên nương nhau đắp đổi làm nhân làm
quả thì mới thành được. Như sự hỗ tương giữa bốn đại. Như
tục ngữ nói: "Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa".
b. Đồng nhất quả câu hữu nhân:
(Nguyên nhân hiệp đồng), một người không thể tổ chức thành một
xã hội, nhiều người có cùng mục đích mới tổ chức thành xã
hội. Hạt giống, đất, nước, phân,... tuy khác nhau, nhưng cùng chung
tạo ra kết quả là cây lúa, bốn đại hợp nhau mới tồn tại và
tạo ra sự vật. Như tục ngữ nói: "Ba cây chụm lại thành
hòn núi cao".
3. Đồng loại nhân: Tánh đồng
loại liên tục trong sự vật là nguyên nhân cho sự sanh thành của
vật. Như niệm lành trước làm nhân cho niệm lành sau, niệm ác
trước làm nhân cho niệm ác sau, nhiệt độ trong nước mới tăng
dần thì nước mới sôi, nếu cứ đứt đoạn tăng giảm không
chừng thì không thể nào sôi được. Như tục ngữ nói: "Có
công mài sắc, có ngày thành kim". Đồng loại nhân là nguyên
nhân của sự đồng loại tương tục tự nội.
4. Tương ưng nhân: Tương ưng có
nghĩa như câu hữu, vì nó là một phần của câu hữu nhân, chỉ
khác là câu hữu nhân có phạm vi quán thông cả vũ trụ vạn hữu
sắc tâm, còn tương ưng nhân thì chỉ giới hạn ở tâm vương và
tâm sở. Hiện tượng tâm vương, tâm sở không thể tách rời mà
phải tương ưng thuận hợp tư trợ cho nhau để phát sinh. Vậy chính
sự tương đó cũng là nguyên nhân. Giữa tâm vương và tâm sở
có đủ năm sự đồng nhau mới thành tương ưng, như đã nói trên.
5. Biến hành nhân: Biến hành
đồng nghĩa với đồng loại. Nó là một phần của đồng loại.
Nhưng đồng loại nhân có phạm vi quán thông cả vũ trụ, còn biến
hành nhân này chỉ giới hạn ở mười một phiền não biến hành
của tâm sở, chỉ ra tánh quan hệ tiền nhân hậu quả của nó mà
thôi. Mười một phiền não biến hành đó là bảy món: thân kiến,
biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, nghi, vô minh trong
mười hoặc (phiền não) do mê lý Khổ đế sinh ra, cộng với bốn
món: tà kiến, kiến thủ, nghi, vô minh trong bảy hoặc (phiền não) do
mê lý Tập đế sinh ra. Nó có tác dụng làm nhân phát sinh tất cả
phiền não, nên gọi là biến hành nhân.
6. Dị thục nhân: Nhân và quả
khác loại, khác tánh với nhau, hoặc biến đổi đưa đến quả thành
thục, là nguyên nhân đưa đến quả báo dị thục, gọi là dị thục
nhân. Do nhân thiện ác mà cảm quả dị thục vô ký. Như do nhân
thiện mà cảm quả báo vui, do nhân ác nghiệp mà cảm quả báo khổ.
Nhưng vui là vui, khổ là khổ, không thể bảo tự thân sự vui khổ
là thiện hay ác, mặc dù quả báo vui khổ là do nghiệp nhân thiện
ác gây ra. Đây là tâm của lý nhân quả.
Tóm lại, nguyên nhân của vạn pháp tuy
rộng lớn vô cùng, nhưng tóm lại không ngoài hai loại nhân quả
đồng thời và nhân quả dị thời. Nguyên nhân đồng thời là xét
về mặt không gian, các sự vật cùng nương nhau, giúp nhau phát
khởi, như A-B nương nhau sinh tồn. Nguyên nhân dị thời là nhìn về
mặt thời gian trước sau tiếp tục giúp nhau khởi, như hạt lúa
trước sanh cây sanh lúa sau.
Trong sáu nhân này, hai nhân câu
hữu và tương ưng thuộc về nguyên nhân đồng thời,
dù câu hữu nhân thông cả vũ trụ vạn hữu và tương ưng nhân
chỉ giới hạn ở tâm và tâm sở. Ba nhân đồng loại, biền
hành, dị thục đều thuộc về nguyên nhân dị thời, dù
đồng loại nhân thông cả vũ trụ vạn hữu, biến hành nhân chỉ
giới hạn ở lãnh vực của tâm, dị thục nhân thì nhắm vào tánh
nhân quả bất đồng mà nói. Chỉ riêng năng tác nhân là
nguyên nhân bao trùm tất cả, không luận đồng thời, dị thời, nội
tâm, ngoại vật, hữu vi vô vi đều có thể trở thành năng tác
nhân cho nhau được cả.
B. BỐN DUYÊN
Duyên nghĩa là quan hệ. Sự vật
hình thành và tồn tại giữa những mối quan hê chằng chịt phức
tạp. Có bốn duyên:
1. Nhân duyên: Thông thường giải
thích nhân là yếu tố chính, duyên là yếu tố phụ đối với hậu
quả. Nhưng ở đây nhân duyên là cái duyên của nhân. Lấy nhân
làm duyên gọi là nhân duyên. Đó là yếu tố quan hệ mật thiết
trực tiếp với hậu quả. Nên trong sáu nhân nói trên trừ năng
tác nhân, còn lại đều thuộc vào nhân duyên này.
2. Đẳng vô gián duyên: Là sự
diễn ra trong trật tự liên tục tự nội, từ hiện tượng trước
đến hiện tượng sau. Nếu hiện tượng trước đứng im không mở
lối, thì hiện tượng sau không tiến bước được. Như chân trước
không để xuống thì chân sau không dở lên được, và như vậy
không thành đi, đến, nên cũng còn gọi là khai đạo duyên.
Duyên này chủ yếu chỉ thuộc nội tâm. Nó là cái duyên tiếp nối
bình đẳng trước sau không gián đoạn của tâm.
3. Sở duyên duyên: Là duyên của
sở duyên, của đối tượng. Đây là cái duyên của sự đối đãi
chủ khách, trong ngoài. Có khách mới thành chủ, có đối tượng
tâm mới sinh. Duyên này chủ yếu cũng thuộc nội tâm.
4. Tăng thượng duyên: Là cái
duyên giúp thêm từ bên ngoài có hai thứ:
a. Thuận tăng thượng duyên:
Duyên giúp thêm sự thuận lợi để phát triển, như mưa gió thuận
thời đối với hoa màu.
b. Nghịch tăng thượng duyên: Duyên
giúp thêm một cách trái ngược làm cho lụn bại, như hạn hán đối
với hoa màu.
Tăng thượng duyên này tương đương
với năng tác nhân, phạm vi rất rộng.
Xem biểu đồ đối chiếu sáu nhân
bốn duyên sau:
Sáu
nhân |
-
Năng tác nhân
- Câu hữu nhân |
Vô lực |
|
|
Hữu lực |
- Tăng thượng
- Sở duyên
- Đẳng vô gián |
Bốn
duyên |
- Tương ưng nhân
- Đồng loại nhân
- Biến hành nhân
- Dị thục nhân |
|
- Nhân duyên |
Hỏi: Giữa sáu nhân và bốn
duyên có gì sai khác?
Đáp: Nên biết nhân duyên là
chủ yếu của đạo Phật, nhằm cắt nghĩa sự sanh khởi biến hoại
của hiện tượng vạn pháp một cách đúng đắn, chứ không như lối
cắt nghĩa theo tà nhân và vô nhân. Song, phạm vi duyên sanh rất rộng,
nên nó được diễn đạt rất nhiều cách, bốn duyên chủ yếu nói
về sự hiện khởi của nhận thức, còn sáu nhân chủ yếu sự
hoạt động của sanh mạng, ngoài sự chỉ chung cả muôn pháp. Đó là
điểm sai khác của chúng.
C. NĂM QUẢ
Nhân và duyên tạo ra quả.
Quả có hai loại lớn là:
- Quả hữu vi, có sanh diệt biến dị, do
nhân duyên sanh.
- Quả vô vi, thường trú không sanh diệt, do Thánh giả chứng đắc.
1. Quả hữu vi: Có bốn thứ:
a. Dị thục quả:
tức thân quả báo của loài hữu tình hoặc khổ hoặc vui trong lục
đạo. Quả dị thục do nhân dị thục trong sáu nhân và tăng thượng
duyên trong bốn duyên tạo thành. Bản chất của nhân dị thục là
thiện ác, bản chất của quả dị thục là khổ vui vô ký. Vì bản
chất của nhân và quả khác nhau như thế nên gọi là quả dị thục.
Nhân quả dị thục chính là trạng thái chúng sanh sanh tử luân hồi
vậy.
b. Đẳng lưu quả: Tánh
chất của quả giống với nhân. Tâm trước lành sanh ra tâm sau lành,
tâm trước ác sanh ra tâm sau ác. Đẳng lưu quả do đồng loại nhân,
biến hành nhân và tăng thượng duyên tạo ra.
c. Sĩ dụng quả: Sĩ là
sĩ phu, dụng là tác dụng của năng lực. Kết quả do năng lực tác
dụng của sĩ phu gọi là sĩ dụng quả. Có hai thứ:
1. Nhân sĩ dụng: Chỉ năng lực con
người hoặc loài có tri giác tạo ra với trí tuệ và tay chân qua
các công nghiệp trong lao động. Chính kết quả công nghiệp này là sĩ
dụng qủa.
2. Pháp sĩ dụng: Chỉ cho pháp như
sắc, tâm tuy không hoàn toàn là một con người hay loài có tri
thức, nhưng có năng lực tác động tạo ra quả giống như con
người. Ví như do sức người đập đá vỡ là nhân sĩ dụng, còn
như mặt trời làm đá vỡ là pháp sĩ dụng.
d. Tăng thượng duyên: Là
kết quả của năng tác nhân và bốn duyên hợp thành. Như có học
thì biết, nhưng còn tùy thuộc ông thầy dạy dỡ hay hay, đèn sách
tốt hay xấu mà kết quả hiểu biết được nhiều hay ít, đúng hay sai.
Đây là tăng thượng quả.
2. Quả vô vi: Là quả thứ năm
trong năm quả tức ly hệ quả. Ly hệ là thoát ly sự ràng buộc
của phiền não vô minh. Ly hệ quả tức là Niết-bàn, là trạch
diệt vô vi, là kết quả mà chỉ các thánh giả chứng đắc khi đoạn
tận sự ràng buộc của tham ái phiền não nhờ năng lực của trí
tuệ tu đạo. Quả này thuộc quả vô vi, không do sáu nhân và bốn
duyên tạo thành.
CÁC PHÁP HỮU VI DUYÊN SANH
Trong 75 pháp kể trên, trừ ba pháp
vô vi thường trú bất biến, không phải nguyên nhân năng sinh, cũng
không phải là kết quả sở sinh, không phải thuộc phạm vi nhân quả,
còn 72 pháp kia thuộc hữu vi đều theo luật duyên sinh. Như 11 sắc
pháp do nhân duyên và tăng thượng duyên sinh, 47 tâm pháp do bốn
duyên sinh, 14 pháp bất tương ưng hành thì do nhân duyên và tăng
thượng duyên sinh.
11 sắc pháp do nhân duyên và tăng
thượng duyên sinh như thế nào? Nhân duyên đây cũng là ba nhân
câu hữu, đồng loại và năng tác trong sáu nhân, và tăng thượng
duyên đây cũng chính là năng tác nhân trong sáu nhân. Chẳng hạn,
bốn đại chủng, đất, nước, lửa, gió đồng thời đắp đổi làm
nhân qủa cho nhau mà sinh tồn, đó là hỗ vi quả câu hữu nhân, bốn
đại phút trước và phút sau đồng loại nhau, đó là đồng loại
nhân, không làm chướng ngại nhau, đó là vô lực năng tác nhân.
Sự duyên sinh của tâm, tâm sở, bất tương ưng hành chiếu theo đây
để biết.
| Mục lục
câu Xaù| 01a | 01b | 02 | 03 |
| 04a | 04b | |
05a | 05b | 06a | 06b | 07 | 08 |
-- o0o --
| Hòa Thượng Thích Thiện
Siêu| | Mục lục tác giaû|
Cập nhật ngày: 05-10-2001
|
|