Đại cương về Luận Câu
Xá
Hòa thượng Thích
Thiện Siêu
Học viện Phật giáo Việt
Nam tại Huế,
PL. 2543 - TL. 1999
| MỤC LỤC
Tựa
Dẫn nhập
Luận bản
1. Phẩm Phân Biệt Giới
2. Phẩm Phân Biệt Căn
3. Phẩm Phân Biệt Thế Gian
4. Phẩm Phân Biệt Nghiệp
5. Phẩm Phân Biệt Tùy miên
6. Phẩm Phân Biệt Hiền Thánh
7. Phẩm Phân Biệt Trí
8. Phẩm Phân Biệt Định |
TỰA
Toàn bộ giáo lý đức Phật đều
nhằm mục đích ''chuyển mê khai ngộ'' cho chúng sanh. Vì mê ngộ là
gốc của khổ vui. Mê thì khổ, ngộ thì vui. Mê thì thành chúng sanh
luân hồi sanh tử, ngộ thì thành chư Phật giải thoát Niết-bàn.
Nhưng mê là tâm mà ngộ cũng là tâm. Chuyển mê khai ngộ tức là
chuyển đổi tâm mê lầm thành tâm giác ngộ. Như vậy đạo Phật
chính là đạo nói về tâm (Phật ngữ tâm tông, nhất thế Phật
ngữ tâm). Tùy theo trình độ căn cơ của chúng sanh mà mỗi kinh
nói về tâm mỗi khác. Khi thì nói về tâm tánh, khi thì nói về tâm
tướng, khi thì nói về tâm dụng. Thậm chí có khi đề cập vấn đề
thế giới sắc trần, sự vật chuyển biến nhưng cũng cốt để chỉ
rõ tâm hầu dễ thực hành chuyển mê khai ngộ.
Kinh Pháp Cú nói: "Tâm dẫn đầu,
tâm làm chủ, tâm tạo tác mọi sự". "Ham muốn sinh lo, ham
muốn sinh sợ, không còn ham muốn có lo sợ gì !" Đó là nói
tâm.
Kinh A-hàm nói: "Tứ đế, Thập nhị
Nhơn duyên, Vô thường, Vô ngã, Giới, Định, Tuệ...". Đó là
nói tâm.
Kinh Bát-nhã nói: "Bát nhã tâm,
vô sở đắc, vô trụ, nhất thiết không, vô trú sinh tâm, vô
tướng vô tự tánh...". Đó là nói tâm.
Kinh Hoa Nghiêm nói: "Tam giới
thượng hạ pháp, duy thị nhất tâm tắc. Tâm như công họa sư, họa
chủng chủng thế gian. Ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm
tạo...". Đó là nói tâm.vô tướng vô tự tánh...". Đó
là nói tâm.
Kinh Lăng Già nói: "Năm pháp, ba
Tự tánh, tám thức, hai Vô ngã. Thánh trí tự giác ...". Đó
là nói tâm.
Kinh Lăng Nghiêm nói: "Bảy chỗ gạn
tâm, mười phen chỉ tánh thấy. Thức tinh nguyên minh, tánh tịnh minh
thể, tri kiến lập tri, tức vô minh bổn, tri kiến vô kiến, tư tức
Niết-bàn...". Đó là nói tâm.
Kinh Pháp Hoa nói: "Phật tri kiến,
nhất thừa đạo, chúng sanh đều thành Phật...". Đó là nói
tâm.
Kinh Niết-bàn nói: "Phật tánh
thường trú, thường lạc ngã tịnh...". Đó là nói tâm.
Kinh Viên Giác nói: "Huyễn tùng
giác sanh, huyễn diệt giác viên, giác tâm bất động...". Đó là
nói tâm.
Thiền tông nói: ''Bản lai diện mục,
vô vị chân nhân. Thuyền không đáy, đàn không giây...". Đó
là nói tâm.
Nhưng trong kinh, đức Phật nói tâm một
cách vắn tắt cô đọng. Các vị Tổ sư, Luận sư mới dựa theo để
suy tầm tu chứng phát hiện ra nhiều ý nghĩa ẩn khuất trong đó, mới
tạo luận để giải thích, dần dần mới phát sinh nhiều ý nghĩa mới
lạ độc đáo giúp cho hành giả có thêm sự hiểu biết hết sức
phong phú. Từ lý Tứ đế, ngài Long Thọ đã khái quát thành hai
đế là tục đế và chơn đế, hay thế tục đế, thắng nghĩa đế.
Ngài Hộ Pháp lại khai triển ra thành bốn lớp hai đế (Tứ trùng
Nhị đế) là thế gian thế tục đế, đạo lýï thế tục đế, chứng
đắc thế tục đế, thắng nghĩa thế tục đế, thế gian thắng nghĩa
đế, đạo lý thắng nghĩa đế, chứng đắc thắng nghĩa đế, thắng
nghĩa thắng nghĩa đế. Chữ vô minh trong kinh cũng được trong luận
chia ra làm phát nghiệp vô minh, nhuận sanh vô minh, nhiễm ô vô tri,
bất nhiễm ô vô tri, kiến hoặc, tư hoặc, trần sa hoặc, vô minh hoặc,
năm trụ địa vô minh. Luận Du-già cuốn hai còn nói đến mười lăm
thứ vô minh. Ngay luận Câu-xá này cũng đã hệ thống năm uẩn,
mười hai xứ, mười tám giới thành ba khoa và phân tích một cách
tỉ mỉ theo hai mươi hai phương diện (hai mươi hai môn phân biệt) và
đặt chúng thành một vấn đề tranh cải giữa các bộ phái Tiểu
thừa về tính hư thật của chúng. Những gì thuộc về tâm mê như
năm cái, mười triền mười hoặc...và những gì thuộc về tâm ngộ
như giới, định, tuệ, biến tri, biến đoạn, tận trí, vô sanh
trí...đều được gom lại sắp đặt có hệ thống để luận giải làm
cho rõ ràng từng ly từng tí quá trình diễn biến trong khi mê, cũng
như tuần tự tu chứng trên bước đường ngộ.
Đây là những hiểu biết sâu sắc,
rộng rãi và cần thiết để xác định rõ ràng từng bước chuyển
mê khai ngộ mà luận tạng đã cung cấp cho chúng ta. Tuy nhiên bên
cạnh cái hay đó, luận tạng đã không tránh khỏi nhược điểm vì
đôi khi phân tách quá tỉ mỉ làm cho vấn đề bị văm vún, lại có
khi còn nêu những việc tầm thường như vì sao có hai mắt, thấy
với một mắt hay với hai mắt?...khiến cho người đọc bị chán nản,
khó tập trung nghiên cứu các vấn đề thâm áo hơn. Vì lẽ đó ở
tập Đại Cương Luận Câu Xá này chúng tôi đã lờ đi những
gì tỉ mỉ rườm rà, mà chọn lấy phần rất cương yếu hầu giúp cho
Tăng Ni sinh và những ai không ở vào hạng căn cơ "nhất đao
triệt đoạn, nhất cú liễu nhiên siêu bách ức" muốn biết
được phần giáo lý "chuyển mê khai ngộ" cơ bản của
luận Câu Xá, trước khi nghiên cứu sâu xa vào những chi tiết đầy
đủ.
Đọc luận Câu Xá và các luận thư
A-tỳ-đạt-ma khác, còn cho thấy lịch sử chuyển biến về tư tưởng
Phật giáo từ sau ngày phân chia hai bộ Thượng tọa và Đại chúng
với sự hăng say sôi nổi tranh biện về giáo lý giữa các bộ
phái suốt một thời gian dài trên 400 năm sau kỳ kết tập kinh điển
lần thứ hai tại Tỳ-xá-ly.
Riêng luận Câu-xá còn có vị trí rất
quan trọng đối với Hữu bộ, cũng như luận Thắng Pháp Tập Yếu
của ngài A-nậu-lâu-đà có một vị trí rất quan trọng đối với
Tân Thượng tọa bộ. Và có thể nói môn tâm lý học, đạo đức
học Phật giáo cũng đã được các luận này trình bày khá đầy
đủ.
Từ Đàm, ngày 28 tháng 11 năm
1991
Soạn thuật
-ooOoo-
DẪN NHẬP
SỰ HÌNH THÀNH CỦA
A-TỲ-ĐẠT-MA
Ba tạng:
Tu-đa-la-tạng, Tỳ-nại-da tạng, A-tỳ-đạt-ma tạng. Chữ A-tỳ-đạt-ma
luận thường để chỉ các luận thư của các bộ phái, chứ không
dùng cho các luận thư Đại thừa. Abhidharma Trung Hoa dịch âm là A-tỳ-đàm,
A-tỳ-đạt-ma, và dịch nghĩa là Vô tỷ pháp, Thắng pháp,
Đối pháp.
A. ĐỊNH NGHĨA
Nguyên trong kinh A-hàm đức Phật
dùng chữ A-tỳ-đạt-ma với dụng ý tán mỹ các pháp nghĩa
thâm huyền, rộng lớn không gì sánh kịp, dần dần nó biến chuyển
qua nhiều nghĩa bởi các luận sư của các bộ phái. Như luận sư
Bà-sa thì gọi A-tỳ-đạt-ma là phục pháp, vì nó hàng phục được
tất cả tà thuyết của ngoại đạo. Hóa địa bộ thì gọi là chiếu
pháp, vì nó có khả năng chiếu soi tất cả tánh tướng các pháp.
Thí dụ sư thì gọi là thứ pháp, vì Niết-bàn là tối thượng, nó
dưới pháp Niết-bàn một bực. Chánh lý sư thì gọi là Thông
pháp, vì nó có khả năng thấu đạt tất cả khế kinh. Hiếp Tôn Giả
thì gọi là Cứu kính tuệ, Quyết đoán tuệ v.v...đến ngài Thế Thân
thì gọi là Đối pháp với hai nghĩa là đối hướng và đối quán.
Đối là đối diện hướng tới. Đối diện hướng tới Niết-bàn
gọi là Đối hướng Niết-bàn và đối diện quán sát pháp Tứ
đế gọi là Đối quán. Pháp của Phật dạy không ngoài hai thứ là
pháp Vô lậu thắng nghĩa (Niết-bàn) và pháp Hữu lậu pháp tướng.
Trí tuệ quán sát pháp tướng và chứng nhập Niết-bàn thì gọi là
Đối pháp trí hay A-tỳ-đạt-ma.
Đạt-ma dịch là Pháp có nghĩa là
tự giữ lấy tính cách nó (nhậm trì tự tánh) và làm mẫu mực
phát sinh cho sự nhận biết (quỹ sanh vật giải).
Đạt-ma tức Dharma từ tự căn Dhri
(giữ lại, mang) tức là cái được nắm giữ, hay lý tưởng nếu
giới hạn ý nghĩa nó trong tác vụ tâm lý. Trình độ tâm lý sai
biệt tùy sự tiếp nhận của mỗi cá thể:
1. Ở đức Phật nó là sự toàn
giác hay viên mãn giác (Bồ-đề).
2. Lý tưởng diễn tả trong ngôn từ là giáo lý giáo pháp.
3. Lý tưởng đề ra cho đệ tử theo là luật nghi, đức lý, cấm
giới.
4. Lý tưởng để chứng ngộ sẽ là nguyên lý, chân lý, bản tính,
luật tắc, điều kiện.
5. Lý tưởng thể hiện trong một ý nghĩa tổng quát đó là sự
thật thực tại, sự kiện, sự thể, yếu tố, (bị tạo hay không bị
tạo), tâm và vật, ý thể và hiện tượng. Trong trường hợp phái
duy thật của các luận sư A-tỳ-đạt-ma, chữ Đạt-Ma được dùng
nhiều nhất theo nghĩa thứ năm.
A-tỳ tức Abhi (tiếp đầu ngữ) có
nghĩa là hơn thế, nói về. Như vậy Abhidharma, có nghĩa là pháp tối
thắng, hay là "Thắng", hay trần thuật về pháp. Ngài Buddhagosa
(Phật Âm, Phật Minh) trong Na-tư-mạn-già-la Y-lạp-hy-ni (sách giải thích
Dhiga Nikaya) dẫn bài tụng:" Có pháp tăng thịnh đặc thù, tôn
trọng, nói rõ, tối thượng, thế gọi là A-tỳ-đạt-ma". Như vậy
nó rốt ráo có hai điểm. Về nội dung thì ý nghĩa thù thắng, về
phương pháp luận cứu thì tường tận khúc chiết. Ngài Phật Âm
còn nói:". Trong kinh, pháp ngũ uẩn chỉ được thuyết minh một
cách đại khái chứ không đi sâu vào chi tiết, còn trong
A-tỳ-đạt-ma thì phân biệt kinh, phân biệt luận, phân biệt vấn
đáp, nên pháp ngũ uẩn được thuyết minh một cách cặn kẻ đầy
đủ".
Luận Đại Trí Độ nói:
"A-tỳ-đạt-ma là gì? Đáp: Là đối vấn mà đáp, hoàn
toàn là hình thức luận cứu, nêu ra nhiều mặt để phân biệt, như
nói về 18 giới, thì phân biệt cái nào có sắc, cái nào không
sắc? Cái nào có thể thấy, cái nào không thể thấy? Cái nào hưũ
lậu, cái nào vô lậu? Cái nào thiện, cái nào bất thiện? Cái nào
hữu báo, cái nào vô báo? v.v....như thế gọi là A-tỳ-đạt-ma".
Lại như bảy kiết sử là dục nhiễm,
sân nhuế, hữu ái, kiêu mạn, vô minh, kiến, nghi (Kinh Mật Hoàn Dụ
số 115, Trung A-hàm) trong đó cái nào là dục giới hệ (trói buộc
ở cõi Dục)?. Cái nào là sắc giới hệ? Cái nào vô sắc giới
hệ? Cái nào kiến đế đoạn?. Cái nào tư duy đoạn? Cái nào biến
sử? Cái nào bất biến sử? v.v...
Ngài Chân Đế và ngài Huyền Trang
đều dịch Abhidharina là Đối pháp, có nhiệm vụ tập hợp các pháp
nghĩa lại rồi đem ra phân loại, định nghĩa, giải thích và phân biệt.
Đối pháp có hai là Đối quán lý Tứ đế và Đối hướng quả
Niết-bàn. Như vậy không thể hiểu Abhi,A là vô, Bhi là tỷ một cách
máy móc được.
B. NGUỔN GỐC CỦA A-TỲ-DẠT-MA
Nó đã bao gồm trong sự thuyết
pháp của đức Phật. Đức Phật thuyết pháp một cách ung dung tự
tại. Lời Phật nói đơn giản minh bạch không có gì bí mật. Phật
đã phân biệt và phân loại một cách rõ ràng. Như vậy nguồn gốc
của A-tỳ-đạt-ma xuất phát từ Phật.
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
LUẬN THƯ A-TỲ-ĐẠT-MA
Thời kỳ 1: Luận thư còn giữ
hình thức khế kinh. Trong thời kỳ 100 năm sau Phật Niết-bàn, chưa chia
kinh luận như kinh A-hàm còn truyền đến ngày nay là do học phong của
Giáo hội Tăng đoàn mà được chỉnh lý và A-tỳ-đạt-ma hóa, cho
nên trong đó có những kinh mang nhiều sắc thái như luận, như kinh
Tăng Nhất, Tạp A-hàm, kinh Thế Ký trong Trường A-hàm và Phân Biệt
Bộ trong Trung Bộ, kinh Chúng Tập trong Trường Bộ.
Thời kỳ 2: Luận thư giải thích
nghĩa kinh. Lấy kinh làm bối cảnh rồi định nghĩa, phân loại, phân
biệt, giải thích những điều đã nói trong kinh chứ chưa phát huy
vấn đề gì đặc sắc độc lập, như Vô Ngại Đạo Luận của Phật
Âm, Ma-ha-ni-luật-sa, Cưu-lạp-ni-luật-sa trong Tiểu Bộ hay như Hán dịch
Pháp Uẩn Túc Luận, Tập Dị Môn Túc Luận.
Thời kỳ 3: Luận thư tiến tới
độc lập. Thời kỳ này Luận thư không còn bàn giải nghĩa kinh mà
lấy tất cả đề mục của các kinh tập hợp lại rồi phân loại một
cách tường tận và theo mọi tiêu chuẩn để phân biệt tính chất
các đề mục ấy, nội dung dần dần bao hàm các vấn đề sự thật
độc lập hẳn với kinh luật. Đó là thời kỳ xuất hiện bảy bộ
luận của Phật giáo Nam phương và Đại Tỳ-bà-sa luận của Hữu bộ,
Thành Thật luận của Kinh bộ.
Thời kỳ 4: Là thời kỳ Luận
thư cương yếu. Các luận thư A-tỳ-đạt-ma phát huy giáo nghĩa của
các bộ phái khi đã phát triển thì mắc phải cái nạn quá nhiều,
khó học hỏi nổi, nên đòi hỏi phải có các luận thư toát yếu.
Bộ luận thư toát yếu ra đời đầu tiên là bộ A-tỳ-đàm Tâm
Luận của Pháp Thắng (Đạt-ma-thi-la), đến Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luận
của Pháp Cứu, học trò Pháp Thắng, rồi đến Câu-xá luận của
ngài Thế Thân, Thanh Tịnh Đạo luận của ngài Phật Âm, luận
A-tỳ-đạt-ma Nghĩa Tập của ngài A-nậu-lâu-đà. Hai bộ sau này thuộc
Thượng tọa bộ Tích Lan.
Tóm lại, phương pháp xử lý vấn
đề của các A-tỳ-đạt-ma là trước hết nó hoàn toàn phụ thuộc
vào kinh, chỉ có kinh là có quyền chứng tuyệt đối. Rồi dần dần
từ việc giải thích từng mỗi câu kinh tiến lên thuyết minh toàn
thể tư tưởng được gói ghém trong các câu kinh, trong sự tiến bộ
đó nó đã nảy sinh ra thái độ phê phán tư tưởng trong kinh, cho
đến khi không còn bị kinh chi phối, thậm chí không tôn trọng kinh
bằng luận. Luận Đại Tỳ-bà-sa cuốn 5 nói: "Nếu cứ khư khư
chấp chặt từng câu kinh mà không đạt quan chân lý của nó thì
người ấy là "Trước văn Sa-môn". Đó là thái độ của
Hữu bộ lấy A-tỳ-đạt-ma làm trung tâm. Và theo ngài Chân Đế thì
Kê dẫn bộ còn cho rằng: "Kinh luật chẳng qua chỉ là phương tiện,
còn đệ nhất nghĩa đế chính thật nằm trong A-tỳ-đạt-ma". Như
vậy A-tỳ-đạt-ma đã có chỗ đặc sắc không giống khế kinh. Chẳng
hạn, ở khế kinh chú trọng giá trị tu chứng thực tiễn theo ch?
trương "chuyển mê khai ngộ" cho nên những điều gì không
thiết thực giúp cho việc chuyển mê khai ngộ thì đức Phật bỏ qua
không nói đến. Trong những Pháp môn Ngài dạy để chuyển mê khai
ngộ, Ngài chỉ dạy những điều vừa đủ hiểu để tu hành, nhưng
đến A-tỳ-đạt-ma thì chuyển sang chú trọng nghiên cứu vấn đề sự
thật. Thay vì xử lý các vấn đề tu dưỡng trước, thì
A-tỳ-đạt-ma lại lo thuyết minh một cách tinh tế về sự thật liên
quan đến nhân sanh vũ trụ trước rồi sau mới đề cập vấn đề tu
dưỡng. Chủ ý các luận sư A-tỳ-đạt-ma tuy không coi thường vấn
đề tu dưỡng nhưng muốn xác lập lý tưởng tu dưỡng thì trước
phải xác định sự thật.
Sau hết, nhìn vào phạm vi phân chia
các vấn đề cứu xét sự bất đồng giữa mới và cũ. Lúc đầu
A-tỳ-đạt-ma chỉ luận cứu những đề mục đặc thù như thiền định,
trí tuệ... Nhưng trong quá trình tiến bộ liên tục nó đã lấy việc
thuyết minh các đề mục đó một cách hệ thống làm nhiệm vụ và
để tránh khó khăn nó lại chia các vấn đề đó ra từng bộ môn
(chư môn phân biệt). Do đó mới có nhiều luận thư, và sau cùng
để tiện việc học hỏi lại có các luận thư cương yếu ra đời.
C. CÁC LUẬN THƯ CỦA THƯƠ ÏNG TỌA
BỘ
1. Pháp Tụ Luận (Dhamma Sanghani)
2. Phân Biệt Luận (Vibhanga)
3. Giới Thuyết Luận (Dhatu Katha)
4. Nhân Thi Thiết Luận (Pudgala Pannati)
5. Song Đối Luận (Yamaka)
6. Pháp Trí Luận (Patthana)
7. Thuyết Sự Luận (Kathavasthu)
Ngoài bảy luận thư cơ bản này còn
có các luận thư được sáng tác tiếp theo:
- Thanh Tịnh Đạo Luận (visudhimagga) của
ngài Phật Âm thế kỷ 5 TL, có giá trị như một bộ bách khoa toàn
thư Phật giáo, tính chất tương đương Câu-xá Luận đối với Hữu
bộ. Đây là sách tiêu chuẩn của tân Thượng tọa bộ.
- Trường Tập Kinh Chú Sớ (Sumangala Vilasini) sách giải thích Trường
Tập Kinh (Trường Bộ Kinh).
- Attha Salina, sách chú thích bộ Luận Pháp Tụ.
- Ngũ Thư Thuật Nghĩa (Panca-Pakarana Atthokattha): Năm sách Chú sớ Đối
pháp tạng.
Sau ngài Phật Âm có nhiều tác phẩm
ra đời, trong đó có giá trị nhất là bộ A-tỳ-đạt-ma Nghĩa Tập
Luận (Abhidharmattha Sangaha; H.T Minh Châu dịch Thắng Pháp Tập Yếu) này do
ngài A-nậu-lâu-đà (Anuruddha) viết thế kỷ 8 T.L. Đây là bộ sách
ngắn gọn toát yếu giáo nghĩa Phật giáo, làm sách chỉ nam của Phật
giáo Nam phương, với những giải thích xác đáng rõ ràng giáo nghĩa
của Thượng tọa bộ nên nhiều nơi đã dùng nó thay cho Thanh Tịnh
Đạo Luận.
D. CÁC LUẬN THƯ CỦA HỮU BỘ
1. Pháp Uẩn Túc Luận (Dharma
Skandha): 12 cuốn, do Đại-Mục-kiền-liên (Mahamogalyayana), có thuyết nói
do Xá-lợi-phất viết lúc Phật tại thế.
2. Tập Dị Môn Túc Luận (Sangti paryaya pada) do Xá-lợi-phất viết lúc
Phật tại thế. (20 cuốn)
3. Thi Thiết Túc Luận (Prajnapti): Do Ca-chiên-diên (Kaiyaya) viết
lúc Phật tại thế, chưa dịch ra Hán văn.
4. Thức Thân Túc Luận (Vijnanakaya): 16 cuốn do Đề-bà-thiết-ma
(Devasarman) viết sau Phật Niết-bàn 100 năm . 5. Phẩm Loại Túc Luận
(Ptrakarama): 18 cuốn do Thế Hữu viết sau Phật Niết-bàn 300 năm, cũng
dịch là Chúng Sự Phần A-tỳ-đàm Luận (1).
6. Giới Thân Túc Luận (Dhatukaya): 3 cuốn do Thế Hữu viết sau
Phật Niết-bàn 300 năm [*]
7. Phát Trí Luận (Janna Prasthana, A-tỳ-đàm Bát-kiền-độ Luận):
20 cuốn do Ca-chiên-diên tử (Katyayaniputra - Ca-na-diễn-ni tử) viết sau
Phật Niết-bàn 300 năm.
[*] Có trước Đại Tỳ Bà Sa . Có
giá trị nhất trong các luận khác thời đó . Sau đệ tử thấy nhiều
mới gom lại thành Giới Thân Túc Luận.
Bảy bộ luận này, bộ Phát Trí gọi
là Thân Luận, còn sáu bộ kia gọi là Túc Luận, vì nó là chỗ
dựa cho luận Phát Trí được thành, và vì nghĩa lý chứa đựng
trong nó ít ỏi không bằng nghĩa lý trong Phát Trí Luận rộng hơn. Trong
đó ba bộ viết ra lúc đức Phật còn tại thế, bốn bộ viết ra sau
khi Phật Niết-bàn. Ngoài bảy bộ luận cơ bản này, Hữu bộ còn có
các luận thư để quảng diễn nghĩa lý các bộ trên như:
- Luận Đại Tỳ-bà-sa (Mahavibhasa)
200 cuốn, là kết quả của Đại hội Kiết tập lần thứ tư vào
giữa thế kỷ 2 T.L tại Ca-thấp-di-la (Kasmir, Kế Tân) do các ngài Thế
Hữu, Diệu Âm, Giác Thiên, Pháp Cứu, Hiếp Tôn Giả chủ trì với
sự ủng hộ tận lực của vua Ca-nị-sắc-ca (Kaniska). Bộ này quảng
diễn giáo nghĩa của luận Phát Trí.
- A-tỳ-đàm Tâm Luận
(Abhidharmahridaya) do Pháp Thắng (Đạt-ma-thi-la) tạo vào thế kỷ 6 sau
Phật Niết-bàn (đầu thế kỷ 3 T.L), toát yếu Đại Tỳ-bà-sa Luận.
- Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luận
(Samyutara Abhidhar-mahridaya) do đệ tử của ngài Pháp Thắng là Pháp
Cứu (Tăng-già-bạt-ma) tạo vào thế kỷ 7 sau Phật diệt độ (đầu
thế kỷ 4 T.L) nhằm làm rõ nghĩa trong A-tỳ-đàm Tâm Luận, vì cho
A-tỳ-đàm Tâm Luận quá giản lược.
- Câu xá Luận (Abhidharma Kosa) do
Thế Thân (Vasubhandhu) tạo vào 900 năm sau Phật diệt độ (đầu thế
kỷ 5 T.L), 30 cuốn.
- Thuận Chánh Lý Luận: 80 cuốn, do
Chúng Hiền đồng thời Thế Thân tạo, nhằm bác lại Câu-xá.
- Hiển Tông Luận: 40 cuốn do Chúng
Hiền tạo, nhằm nêu bật tông nghĩa của Hữu bô.
- Kinh Lượng Bộ - Có Thành Thật
Luận 20 cuốn.
Đ. CÁC LUẬN THƯ DO AI NÓI?
Theo ngài Phật Âm trong Nam
phương Phật giáo thì cho rằng, sau khi thành đạo, đức Phật ngồi tư
duy dưới cội Bồ-đề, và về sau trong các buổi thuyết pháp cho thân
mẫu trên cung trời Đao-lợi, chính đức Phật đã nói sáu bộ luận
đầu trong bảy luận thư thuộc Thượng tọa bộ. Sáu luận thư này
đã được hình thành tại Đại hội Kiết tập lần thứ ba, còn bộ
Luận Sự thứ bảy do Mục-kiền-liên tử Đế-tu làm ra khoảng 200
năm sau Phật Niết-bàn, nhưng cũng do lời Phật chú ký mà làm, nên
về quan hệ vẫn được xem như do chính Phật nói. Trái lại, về phía
Bắc phương Phật giáo thì cho rằng các luận thư A-tì-đàm không phải
do Phật nói mà là do các đệ tử Phật nói trong các thời gian
khác nhau, hoặc trong lúc Phật tại thế, hoặc sau khi Phật Niết-bàn.
Quan điểm của Bắc phương sát với sự thật hơn.
-ooOoo-
LUẬN CÂU XÁ
A. TÁC GIẢ VÀ THỜI GIAN TẠO LUẬN
Tác giả luận này là Luận sư
Bà-tấu-bàn-đậu (Vasubandhu - cựu dịch là Thiên Thân, tân dịch là
Thế Thân), người Bắc Aán Độ, sanh trong khoảng 900 năm sau Phật
nhập diệt, tại đô thành Bố-lâu-sa-bố-sa (Purusapura), nước
Kiền-đà-la (Gandhara), họ Kiều-thi-la, chủng tộc Bà-la-môn, Ngài có
ba anh em đều xuất gia theo bộ phái Tát-bà-đa (Sarvàstivada: Nhất thế
hữu bộ, gọi tắc là Hữu bộ, một trong hai mươi bộ phái Tiểu
thừa), nhưng anh ngài là Vô Trước (Asanga) sớm tỏ ngộ không lý
(Sunyata) của Tiểu thừa, không còn bị bế tắc ở nơi đó, nên
thông suốt thật tướng, quay về nghiên cứu và hoằng dương
giáo lý Đại Thừa. Em ngài là Tỷ-lân-trì-đạt-đa thì chỉ theo
giáo nghĩa Tiểu thừa mà thôi. Riêng ngài là bậc thông tuệ tuyệt
vời, khi còn theo Tiểu thừa đã viết 500 bộ luận để xiễn dương
giáo nghĩa này. Về sau, được sự khuyến dẫn của anh là Vô
Trước, ngài trở về Đại thừa và cũng viết 500 bộ luận để
hoằng dương giáo nghĩa này. Vì thế, đương thời tôn ngài là Thiên
Bộ Luận Sư. Câu-xá Luận là một trong 500 bộ luận Tiểu thừa do
ngài trước tác. Đến năm 80 tuổi ngài viết bộ luận cuối cùng
là "Duy Thức Tam Thập Tụng". Như vậy, có thể ước
định, ngài viết luận Câu-xá vào khoảng từ 40-50 tuổi, tức khi
ngài đang theo Tiểu thừa.
Theo Tây Vức Ký 2, cách thành
Bố-lâu-sa-bố-la, khoảng tám, chín dặm về phía đông, có một cây
tất-bát-la, phía nam cây này có một ngôi tháp cao do vua A-nị-sắc-ca
(Kaniska, 120TL) dựng lên khoảng năm trăm năm sau Phật Niết-bàn, phía
tây ngôi tháp có một ngôi chùa cao rộng, với nhiều tầng, tên là
Quỳnh Lâm, cũng do vua Ca-nị-sắc-ca lập. Tầng thứ ba là một Tăng
phòng, nơi mà trước kia ngài Hiếp Tôn Giả ở, phía đông Tăng
phòng có một gian nhà, chính nơi đây ngài Thế Thân viết bộ luận
Câu-xá này.
B. Y Ù HƯỚNG TẠO LUẬN
Khi tách khỏi Thượng tọa bộ,
Hữu bộ có kiến giải riêng về Phật pháp. Theo Hữu bộ mục đích
của toàn bộ Phật pháp ở chỗ chỉ ra sự khổ của thế giới hiện
hữu và phương cách thoát ly sự khổ đó để đạt Niết-bàn an ổn
vĩnh cửu. Nói đầy đủ hơn là chỉ rõ sự khổ mà người cầu
giải thoát cần phải biết, nguyên nhân sự khổ mà người cầu
giải thoát cần phải diệt trừ, phương cách diệt khổ cần phải tu
và cảnh giới Niết-bàn an vui cần phải chứng. Đó là bốn Thánh
đế bao gồm tất cả mọi sự vật thế gian và xuất thế gian. Mọi
sự vật này lại có thể chia ra năm vị là sắc, tâm, tâm sở, tâm
bất tương ưng và vô vi. Sắc tức năm căn, năm trần và vô biểu
sắc. Tâm tức tinh thần, khả năng nhận thức, tức tâm vương. Tâm
sở là công dụng tinh thần đặc thù như cảm giác, tri giác, tưởng
tượng v.v... Công dụng đặc thù này không phải là công dụng của
tâm vương nhưng nó có tự thể riêng hợp cùng với tâm vương
thành có cảm giác tri giác, như thọ tâm sở hợp với tâm vương
thành có sự cảm thọ vui khổ. Tâm bất tương ưng hành, hành là
tạo tác, những pháp có công dụng tạo tác gọi là hành như sanh,
trụ, dị, diệt v.v... nó từ tâm và sắc mà có được, chứ không
phải như tâm sở tương ưng với tâm vương, nên gọi tâm bất tương
ưng hành. Vô vi pháp tức ba thứ trạch diệt, phi trạch diệt và hư
không vô vi. Năm vị pháp này theo chỗ tiện nghi chia làm năm uẩn và
vô vi, hoặc chia làm mười hai xứ, hoặc chia làm mười tám giới.
Năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới hợp lại gọi là ba khoa,
thể nó thường hằng bất diệt, chỉ khi tác dụng nó chưa khởi gọi
là pháp vị lai, khi đã khởi rồi gọi là quá khứ, khi đang khởi
gọi hiện tại. Đây là chủ trương "ba đời thật có",
"pháp thể hằng có" của tông phái Hữu bộ. Pháp thể tuy
hằng có, nhưng tác dụng của nó sanh khởi được phải nhờ đến
sự hòa hợp của các cái khác và sự quan hệ trước sau, tức
là nhờ nhân duyên, chứ không thể đơn độc khởi lên tác dụng.
Tự thể mỗi pháp riêng còn không thể khởi lên tác dụng huống
là có một chủ tể thường nhất để gọi đó là ngã được sao?
Do đó tông này còn được gọi là "Pháp hữu ngã vô
tông".
Hỏi: Nếu không có ngã thể
chủ tể thường nhất thì cái gì dẫn đến sự khổ của thế giới
hiện thực này?
Đáp: Dẫn đến sự khổ của
thế giới hiện thực không ngoài nghiệp nhân và phiền não duyên,
nếu dứt hết nghiệp nhân và phiền não duyên thì quả báo sự khổ
tự dứt, đồng thời chứng đắc diệu thể Niết-bàn. Phương pháp
dứt nghiệp phiền não này nói lược là Thánh đạo tám chi, nói
rộng là bảy khoa ba mươi bảy giác phần. Tóm lại, tông phái Hữu
bộ rất chú trọng lý tánh, chú trọng dùng tuệ giản trạch các
pháp để dứt mê hoặc chứng chân lý. Cho nên trên bước đường
tu đạo không ngoài vận dụng tuệ thế tục (hưũ lậu tuệ) và tuệ
thắng nghĩa (vô lậu tuệ) tuần tự tiến theo ba đạo là kiến đạo,
tu đạo, vô học đạo. Kiến đạo là dựa vào tuệ trạch pháp thấy
biết một cách xác thật về lý Tứ đế, dứt được kiến hoặc
cũng gọi mê lý hoặc. Tu đạo là tiến lên dùng sức tuệ trạch
pháp tiếp tục quán sát lý Tứ đế, để dứt trừ tư hoặc cũng
gọi là mê sự hoặc (sự là sự trạng). Nhưng hai đạo này còn
trên đường tu tập dứt hoặc chứ chưa hòan toàn thanh tịnh, nên
còn gọi chúng là hữu học, cho đến khi hòan toàn sạch hết mê
hoặc chứng đạt Niết-bàn mới gọi là vô học đạo, còn gọi là
vô học vị. Lại do căn cơ người tu có hạ, trung, thượng nên kết
quả khác nhau. Hạ căn phải nhờ nghe giáo pháp Phật để tu mới
được giải thoát, đây là chủng tánh thanh văn, kết quả chứng
A-la-hán. Trung căn không nhờ sự nghe giáo, chỉ do tự lực quán
sát lý Mười hai Nhân duyên mà dứt hoặc ngộ đạo. Đây là
chủng tánh duyên giác, kết quả chứng độc giác Phật. Thượng căn
trải nhiều kiếp tu hành đầy đủ nhất thế chủng trí, dứt sạch mê
hoặc, viên mãn công hạnh tự lợi lợi tha, chứng vô thượng
giác. Đây là chủng tánh đại giác.
Giáo nghĩa của Hữu bộ từ khi tách
khỏi Thượng tọa bộ cho đến khi luận sư Ca-đa-diễn-ni tử ra đời
mới tổ chức hoàn chỉnh có hệ thốngvới bộ luận Phát Trí của
ông, được truyền bá mạnh nhất tại nước Ca-thấp-di-la (Kasmir, Kế
Tân) ở Bắc Aán. Đến giữa thế kỷ thứ hai TL, vua Ca-nị-sắc-ca
của Ca-thấp-di-la triệu tập Đại hội Kết tập Kinh điển lần thứ tư
dưới sự chủ trì của các ngài Hiếp Tôn Giả, Pháp Cứu, Thế
Hữu, Diệu Âm, Giác Thiên thuộc Hữu bộ (trong đó, Thế Hữu làm
Thượng thủ), kết quả đặc bi?t của cuộc kết tập là cho ra đời
bộ luận A-tỳ-đạt-ma Đại Tỳ-bà-sa 200 cuốn, nhằm giải thích luận
Phát Trí. Từ trước các học giả A-tỳ-đạt-ma được gọi là
Đối pháp sư, từ khi luận Đại tỳ-bà-sa ra đời thì các học giả
này được gọi là Tỳ-bà-sa sư, nghĩa là vị thầy giải thích tỉ mỉ.
Họ truyền bá rất mạnh Hữu bộ, tôn trọng luận Lục Túc, Phát Trí
hơn kinh, mạt sát các kinh luận của các bộ phái khác hành trì và
cứ mê chấp chủ trương "Ba đời thật có, ba khoa đều
thật", cho đó là chân lý, rồi chê bai kẻ khác.
Đến đây các luận thư của Hữu bộ
đã phong phú, lý nghĩa dồi dào đến chi li phiền toái, người học
khó theo nổi, đòi hỏi đến sách tóm lược. Đáp ứng nhu cầu
đó, Pháp Thắng đã viết A-tỳ-đàm Tâm luận, rồi Như Y Ù Luận sư
viết Vô Y Hư Không Luận giải thích Tâm Luận. Pháp Cứu, đệ tử
của Pháp Thắng (cũng gọi Pháp Thượng, Đạt-ma-thi-la), không đồng
ý Hư Không Luận nên viết Tạp A-tỳ-đàm Tâm Luận để giải thích
Tâm Luận của thầy mình. Các luận này tuy nói là tóm lược Đại
Tỳ-bà-sa nhưng đã có nhiều điều không trung thực với Đại
Tỳ-bà-sa, nghĩa là không trung thực với lý thuyết Hữu bộ, nên
khi Tâm Luận ra đời được truyền bá tại nước Càn-đà-la trở
thành đối lập với sự truyền bá của Đại Tỳ-bà-sa ở
Ca-thấp-di-la. Ngài Thế Thân sinh tại Càn-đà-la đọc đến Tâm Luận,
Tạp Tâm Luận, cùng giáo nghĩa của Kinh bộ có chỗ đồng tình,
ngược lại không đồng tình một số giáo nghĩa chính của Hữu bộ
nhưng Hữu bộ đã tôn trọng nó hơn cả kinh Phật nói, nên ngài
muốn thẩm định lại thị phi, bèn cải trang đến tại Ca-thấp-di-la
nghiên cứu giáo nghĩa Hữu bộ, nhất là nghiên cứu bộ luận Đại
tỳ-bà-sa, được giữ nghiêm ngặt tại nước đó. Khi đến nơi
ngài được vị A-la-hán Ngộ Nhập (Tác-kiện-đà) (Tây Tạng truyền
rằng ngài học với Chúng Hiền là học trò của Ngộ Nhập) truyền
dạy giáo nghĩa Hữu bộ cho. Sau 4 năm học hiểu thấu trọn giáo nghĩa
Hữu bộ ngài được ngài Ngộ Nhập ngầm khuyên trở về. Khi ngài
trở về nước bắt đầu giảng Đại Tỳ-bà-sa, tập hết yếu nghĩa
tạo thành 600 bài tụng, trong đó thường thêm chữ "truyền
thuyết" biểu thị sự không tin hẳn chủ trương "Ba đời thật
có, pháp thể hằng có" của Hữu bộ. Sáu trăm bài tụng này
được đưa đến Ca-thấp-di-la, các học giả Ca-thấp-di-la rất hoan
nghênh và yêu cầu giải thích, ngài đã giải thích và đúc kết
thành bộ luận Câu-xá với nội dung trình bày theo sự hiểu biết
độc lập của mình chứ không thiên vị tông phái nào. Tuy ngài theo
Hữu bộ, nhưng nếu giáo nghĩa nào của Hữu bộ không đúng thì
ngài đều bỏ qua, còn nếu giáo nghĩa nào của Kinh bộ mà đúng thì
thì ngài thu lấy, mục đích là trừ bỏ bịnh tình chấp ngoan cố hẹp
hòi từ trước của nhà Hữu bộ, để phát huy chân lý Phật, và
phát huy chân lý Phật tức là để giúp cho chúng sanh khai sinh trí
tuệ, đoạn trừ phiền não, lấy đó làm cách duy trì Chánh pháp
tồn tại lâu dài ở thế gian. Xem bài tụng cuốn luận này đủ thấy
ngài không theo hẳn giáo nghĩa chính thống của Hữu bộ: "Nghĩa
lý của Ca-thấp-di-la đã hoàn bị. Có một ít điều chê bai đó là
lỗi ở tôi, nhưng phê phán đâu là chính, điều đó chỉ do ở
đức Mâu-ni". Đối với luận Câu-xá này, Tây Vức Ký
cuốn 4 đã viết: "Bấy giờ có Bồ-tát Thế Thân chuyên tâm
đạo mầu, tìm hiểu nghĩa lý bên ngoài ngôn ngữ, phá chỗ mê chấp
của Tỳ-bà-sa, tạo luận Câu-xá, lời lẽ nghĩa lý tinh vi, lý trí
cao siêu trong sáng".
Do lẽ trên nên khi luận Câu-xá ra
đời được mọi người hoan nghênh nghiên cứu và được tôn là
Thông minh luận, khiến Luận sư Chúng Hiền viết Thuận Chánh Lý luận
80 cuốn để kích bác lại.
C. TỒ CHỨC CỦA BỘ LUẬN CÂU-XÁ.
Như đã biết, luận này nhằm mục
đích phá thiên chấp của Hữu bộ để làm sáng tỏ chân lý của
giáo pháp. Tuy nhiên, để thấy rõ chân lý ấy, Luận được trình
bày như sau: Toàn bộ luận này có 30 cuốn chia làm 9 phẩm:
1. Phẩm Phân biệt giới, 2 quyển
2. Phẩm Phân biệt căn, 5 quyển
3. Phẩm Phân biệt thế gian, 5 quyển
4. Phẩm Phân biệt nghiệp, 6 quyển
5. Phẩm Phân biệt tùy miên, 3 quyển
6. Phẩm Phân biệt hiền thánh, 4 quyển
7. Phẩm Phân biệt trí, 2 quyển
8. Phẩm Phân biệt định, 2 quyển
9. Phẩm Phân biệt ngã, 1 quyển
Chín phẩm này nhằm thuyết minh hai
điều:
1. Tám phẩm đầu (29 quyển): Thuyết minh
sự tướng của các pháp.
2. Phẩm Phá ngã (1 quyển): Thuyết minh lý vô ngã.
Hoặc nói rõ hơn, toàn bộ Luận
không ngoài thuyết minh về bốn nghĩa chính sau đây:
1. Thể dụng của vũ trụ vạn hữu
(phẩm Giới và Căn).
2. Nhân và quả của mê (các phẩm 3, 4 và 5).
3. Nhân và quả của ngộ (các phẩm 6, 7 và 8).
4. Đạo lý vô ngã (phẩm 9).
Đồ biểu:
1.
Thể dụng các pháp |
Thể (P.1) |
Nói
tổng quát pháp hữu lậu, vô lậu. |
Dụng (P.2) |
2.
Nhân quả của mê |
Quả (P.3) |
Nói
riêng về hữu lậu (mê) |
Thân nhân (P.4) |
Sơ duyên (P.5) |
3.
Nhân quả của ngộ |
Quả (P.6) |
Nói
riêng về vô lậu (ngộ) |
Thân nhân (P.7) |
Sơ duyên (P.8) |
4. Đạo lý vô
ngã |
(P.9) |
|
D. TÔN CHỈ CỦA LUẬN
Như tổ chức của Luận này chắc
chắn nó phải có đối tượng tôn sùng và có chủ đích để làm
tôn chỉ. Vậy tôn chỉ của nó là gì? Đó là: "Quán sát cùng
tột lý nhân quả của mê và ngộ để đạt đến chân trí vô lậu
của Niết-bàn". Tại sao nói như vậy? Bởi lẽ, nếu không
nhằm mục đích ấy, thì thuyết minh về thể tánh, tác dụng của vạn
hữu ở hai phẩm Giới và Căn gồm 7 quyển để làm gì?
Thuyết minh về nhân và quả của mê ở ba phẩm Thế gian, Nghiệp,
Tùy miên gồm 14 quyển, để làm gì? Thuyết minh về nhân và quả
của ngộ ở ba phẩm Hiền Thánh, Trí, Định gồm 8 quyển, để
làm gì? Và đả phá chủ trương Hữu ngã của luận phái cổ đại
Aán Độ như Số luận (Samkhya) và Thắng luận (Vaisesika) và Độc tử
bộ ở phẩm Phá ngã 1 quyển, để làm gì? Tất cả đều nhằm
mục đích phát khởi chân trí vô lậu của chúng sanh để quét sạch
trần cấu vọng niệm vô minh mà đạt đến Niết-bàn. Cứ xem đề
mục của Luận thì càng thấy rõ tôn chỉ của nó. Đề mục của Luận
là: A-tỳ-đạt-ma Câu-xá (Abhidharma Kosa). A-tỳ (Abhi) dịch là đối;
Đạt-ma (Dharma) dịch là pháp; Câu-xá (Kosa) dịch là
tạng. Vậy A-tỳ-đạt-ma Câu-xá là Đối pháp tạng.
Đối có hai nghĩa: 1. Đối quán lý
mê ngộ (lý Tứ đế). 2. Đối hướng quả Niết-bàn. Nhưng lấy cái
gì để đối quán và đối hướng? Đó là trí tuệ vô
lậu chân chính. Luận này chứa đựng trọn vẹn trí tuệ ấy nên
mệnh danh là Đối pháp tạng. Đã gọi là Đối pháp tạng, thì
tôn chỉ được thuyết minh trong đó không ngoài trí tuệ đối pháp.
Tóm lại, giáo nghĩa của Luận này tuy
trăm sai ngàn biệt, nhưng tôn chỉ trọng yếu không ngoài khai phát trí
tuệ vô lậu mà thôi.
Đ. PHIÊN DỊCH VÀ HOẰNG TRUYỀN
Luận được truyền sang do hai nhà
dịch: Chân Đế - người nước Ưu-thiền-ni (Ujyaini) ở Aán Độ
sang Trung Hoa dịch thành 22 quyển dưới triều Trần Văn Đế, niên hiệu
Thiên Gia thứ 4 (563 TL), được các Ngài Trí Khải đời Trần và
Tịnh Huệ đời Đường viết sớ giải truyền bá. Người thứ hai
là Huyền Trang đời Đường dịch thành 30 quyển, trong những
năm 650 TL và có các Ngài Thần Thái, Phổ Quang, Pháp Bảo, Viên Huy,
Huệ Huy viết sớ giải truyền bá. Từ đó, Luận này trở thành bộ
Luận căn bản của Câu-xá tông tại Trung Hoa.
-ooOoo-
| Mục lục
câu Xaù| 01a | 01b | 02 | 03 |
| 04a | 04b | |
05a | 05b | 06a | 06b | 07 | 08 |
-- o0o --
| Hòa Thượng Thích Thiện
Siêu| | Mục lục tác giaû|
Chân thành cảm ơn Đạo
hữu Bình Anson đã gởi tặng tập sách này.
Cập nhật ngày: 05-10-2001