Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh
Thích Nhất Hạnh
Nếu
nhìn kỹ ta sẽ thấy rằng những điều ta học được ở các kinh
điển, kể cả trong kinh Duy Ma, có liên hệ rất mật thiết trong việc
thực tập tu học của chúng ta. Người tu học luôn luôn nghĩ đến
mục đích của mình là giải thoát và an lạc, cũng như người làm
cách mạng xã hội luôn luôn nghĩ tới tự do và bình đẳng xã
hội. Người tu học có thể nói đến giải thoát, giác ngộ và an
lạc rất nhiều mà không chứng nghiệm được giải thoát, giác ngộ
và an lạc trong khi mình đang nói. Người làm cách mạng xã hội cũng
vậy; họ nói đến tự do, công bình xã hội và ấm no nhưng sự
thực về công bình, tự do và no ấm không hề thấy có. Một chủ
nghĩa đã hứa hẹn tự do, công bình và no ấm trong suốt bảy mươi
lăm năm mà cái tự do, công bình no ấm ấy không hề xuất
hiện.
Điều này không phải chỉ những nhà chính trị mắc phải, mà ngay
những người tu học cũng mắc phải. Phần đông chúng ta rất
"hồ hởi phấn khởi" về đạo giải thoát, giác ngộ và an
lạc của chúng ta; tuy nhiên chúng ta chỉ nói nhiều chứ không nếm
được. Chúng ta nói cuộc đời là vô thường, vô ngã, khổ đau,
chúng ta đi tìm chân tâm, an lạc, giải thoát và giác ngộ nhưng
chúng ta có trực tiếp nếm được cái giải thoát và an lạc ấy hay
không? Thực tập theo con đường Bụt dạy, ta không nên làm như
những người chỉ nói về các thức ăn mà không bao giờ được
ăn. Không nên như những người làm nhà băng mỗi ngày chỉ đi
đếm tiền dùm cho người khác. Chúng ta phải trực tiếp nếm cái vị
tịnh lạc và giải thoát mà ta đã từng nói đó.
Theo
Bụt dạy thì vị tịnh lạc và giải thoát đó chúng ta có thể nếm
được ngay trong hiện tại mà không cần phải tu mười năm hay hai
mươi năm. Ngay trong ngày đầu tu học ta cũng có thể đạt được
phần nào cái tịnh lạc và giải thoát đó. Chúng ta phải đặt lại
cấp bách câu hỏi ấy: "cái an lạc và giải thoát mà ta nói
đó chúng ta đã nếm được hay chưa?" Nếu chưa thì ta phải nếm
cho được trong ngày hôm nay. Thiền duyệt mà Bụt nếm và dùng làm
thức ăn hàng ngày, chúng ta cũng phải được nếm. Hạnh phúc mà
chúng ta nói tới làm sao chúng ta nếm được hoặc tiếp xúc
được? Bản chất của hạnh phúc ấy là gì? Hôm nay chúng ta sẽ nói
sơ lược về cái đó.
1.Yếu
tố thứ nhất là tự do : Tự do đó là chủ quyền
(sovereignty). Có khi ta dịch là tự tại. Ta là ta. Ta không là nô lệ
của quá khứ, của tương lai, của hiện tại; ta không là nô lệ của
những phiền não, và như vậy tự do đó được dịch là giải thoát
(freedom, liberation). Đó là bản chất của sự an lạc. Đó là nền
tảng tất yếu của sự an lạc.
Cố
nhiên là muốn thực tập đạo Bụt trước nhất là phải thực tập
tự do. Nếu không có tự do thì chúng ta không có hạnh phúc. Đó
là điều mà ta không chối cãi được. Đó là nền tảng của thực
tập trong đạo Bụt. Cái mà ta gọi là chủ quyền hoặc tự do đó
có khi được hình dung bằng một danh từ rất là kỳ đặc: ngã. Ngã
đây không phải là một bản chất hoặc một thực tại bất biến.
Nó không phải là atma. Ngã đây là sự tự do. Một trong bốn định
nghĩa của Niết Bàn là ngã. Niết Bàn có ngã. Ngã đây không là
ngã chấp mà là sự tự tại, không bị vướng bận. Ta biết rằng
bốn định nghĩa của Niết Bàn là thường, lạc, ngã và tịnh. Toàn
bộ của giáo lý Bụt dạy là để nói về sự thực vô ngã và
để diệt trừ những khái niệm về ngã. Nhưng khi định nghĩa Niết
Bàn là ngã thì ta nên hiểu ngã này chỉ có nghĩa là tự do hoặc
là chủ quyền thôi.
Khi
đi thiền hành, quý vị bước từng bước chân thảnh thơi, an trú
trong hiện tại và không bị vướng bận vào những phiền não về
quá khứ, những lo lắng về tương lai thì quý vị có thảnh thơi và
tự tại; quý vị tiếp xúc được với bản thân và với vũ trụ
chung quanh. Cái thảnh thơi tự tại đó ta có thể gọi là ngã. Chữ
ngã này không có nghĩa là một thực thể bất biến, đồng nhất,
tách rời với những gì ngoài ngã như được diễn tả trong khái
niệm ngã chấp. Chúng ta chỉ có hạnh phúc khi nào chúng ta có cái
tự do đó. Vì vậy khi đi thiền hành hay ngồi thiền, chính ta biết là
ta có tự tại hay không, hay là ta bị bao vây bởi phiền não, bởi
những chuyện đã qua và những chuyện sắp tới. Nếu biết rằng ta
đang bị bao vây bởi những bực bội thì ta cũng biết rằng ta đang
không có hạnh phúc, vì ta không có tự do. Và tu học là để đạt
tới tự do. Đạt tới tự do là cắt đứt những sợi dây ràng
buộc của mình để có thể tiếp xúc được với sự sống trong
giờ phút hiện tại. Hạnh phúc là tự do, không hạnh phúc là ràng
buộc.
Khi
ta đặt câu hỏi: "Hạnh phúc của Bụt là gì? Chúng ta có quyền
và có khả năng nếm được thứ hạnh phúc đó hay không?" Ta
có thể trả lời rằng: "Có". Vì bản chất của hạnh phúc
đó là sự tự do và nếu ta có tự do, có thảnh thơi thì tức là
ta đã tham dự vào cái hạnh phúc của Bụt một cách trực tiếp. Ta
có thể làm được chuyện đó ngay từ bây giờ. Kinh nói trước
khi rời thành phố Tỳ Sa Ly (Vaisali) lần chót để đi về phương Bắc,
Bụt đã nhìn thành phố bằng cặp mắt của một con voi chúa, rồi
mới ngoảnh mặt lại và tiến về hướng Bắc. Nhìn bằng cặp mắt
của một con voi chúa là nhìn bằng cái nhìn thật là sâu sắc. Mình
chỉ có thể nhìn sâu sắc sự vật trên đời này nếu mình có
được cái tự do lớn, cái thảnh thơi lớn, không bị vướng mắc
bởi những sợi dây ràng buộc. Bụt hay khen thành phố Vaisali và
núi Thứu là đẹp: trong những giây phút đó Bụt cũng an trú trong
hiện tại và đưa cặp mắt của một con tượng chúa để nhìn.
Sáng
nay đi thiền hành với đại chúng về, tôi có nói chuyện về đôi
mắt của con tượng chúa đó. Tôi nói mỗi người chúng ta trong khi
đi thiền hành thỉnh thoảng cũng có thể dừng lại và đưa con mắt
tượng vương của mình để nhìn cảnh vật của xóm Thượng. Nếu ta
nhìn bằng con mắt tự do thì cái nhìn của ta sẽ bao gồm được cả
vũ trụ trong giây phút đó. Khi ta dừng lại và dừng lại với tất
cả con người của ta thì ta sẽ có cái năng lượng của giải thoát,
và khi ta đưa cặp mắt voi chúa của ta mà nhìn cảnh vật xóm Thượng
thì những vùng năng lượng của giải thoát sẽ được dâng lên
mắt. Nhờ thế mà cái nhìn của ta trở nên sâu sắc và chọc thủng
được bức màn thất niệm và hôn mê. Câu thơ của Thế Lữ trong
bài Hổ Nhớ Rừng:
Trong đêm tối mắt thần khi đã quắc
Là khiến cho vạn vật đều im hơi
Ta biết ta chúa tể của muôn loài
Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi
Khi
cọp đưa mắt của cọp chúa mà nhìn cảnh rừng núi của nó, tất
cả muôn loài đều nín im thin thít. Và nó biết nó là chúa tể của
rừng núi. Khi một người có định lực lớn đưa cặp mắt nhìn
cảnh vật của xóm Thượng thì tự nhiên những lo lắng và những
phiền não sẽ lắng im phăng phắc. Nếu chúng ta nhìn cảnh vật xóm
Thượng như vậy một lần trong đời thôi, thì sống trên đời cũng
đã không uổng. Huống gì chúng ta có thể nhìn nhiều lần trong ngày?
Thực tập là làm nhiều lần. Mỗi giây phút là một viên ngọc
quý. Nếu Bụt nhìn sự vật với cặp mắt tượng vương thì khi
bước đi Bụt cũng bước những bước chân của con sư tử chúa.
Từng bước thảnh thơi dẫm lên mặt đất của thực tại, và như
vậy bước đi của Người là bước đi của giải thoát an lạc. Ta
biết hạnh phúc của Người là hạnh phúc căn cứ trên tự do. Vì
vậy nếu bị quá khứ phong tỏa và tương lai lôi kéo thì chúng ta
không có tự do, không có hạnh phúc.
Thực
tập đạo Bụt là thực tập hạnh phúc. Ta nên biết chánh niệm
(mindfulness) là vũ khí giúp chúng ta đoạt lại quyền tự do mà chúng
ta đã đánh mất và đang đánh mất. Người tu mà không biết sử
dụng chánh niệm thì không có vũ khí nào khác cả để giành lại
chủ quyền của mình. Chủ quyền đó đạo Bụt đại thừa gọi là
ngã. Đạo Bụt đại thừa không sợ danh từ, trong đó có danh từ
"Ngã". Chánh niệm là một thứ vũ khí giúp ta giành lại
chủ quyền, nhưng ta còn một vũ khí khác cũng quan trọng lắm, đó
là giới luật. Suốt mùa hè chúng ta đã học và thấy rất rõ là
giới luật không phải những gì do người khác bắt buộc ta phải theo
mà là hoa trái của chánh niệm. Giới luật căn bản của tất cả
các giới luật là chánh niệm. Chánh niệm là mẹ của tất cả các
giới luật.
Nhờ
chánh niệm tôi biết rằng sát sanh tạo ra đau khổ. Nhờ chánh niệm
tôi biết rằng uống rượu và sử dụng các chất ma túy tạo ra khổ
đau. Vì chánh niệm tôi biết rằng tà dâm làm tan nát gia đình và
tạo ra không biết bao nhiêu là đau khổ. Vì vậy tôi nguyện không
uống rượu, không sát hại và không tà dâm. Giới luật, như vậy,
là hoa trái của chánh niệm. Giới luật vì thế không phải là một
cái gì hạn chế tự do của mình. Những người chưa học Bụt và
nhất là chưa thực tập, mỗi khi nghe nói tới giới thì cứ tưởng
rằng giới luật hạn chế tự do của mình. Sự thực, giới luật
bảo vệ tự do của mình, giúp mình có thêm tự do. Phá giới thì ta
lâm vào cái vòng tù tội (không phải là cái vòng tù tội của
chánh quyền đặt ra mà là cái nhà tù của khổ đau). Ví dụ khi
uống rượu và sử dụng các chất ma túy ta tự giam ta vào cái
vòng nghiện ngập. Khăng khăng mình buộc lấy mình vào trong. Mình tự
tạo khổ đau cho mình và tạo khổ đau cho những người khác; mình
tạo ra những cái nhà tù cho mình và cho những người khác. Ta thử
nghĩ cho kỹ lại xem. Ta mà nghiện ngập thì cả gia đình ta ở tù hết.
Ta "tà dâm" thì cả gia đình ta cũng "ở tù" hết.
Cái nhà tù đó là nhà tù của đau khổ.
Trong
một đại chúng tu học cũng vậy, nếu có một người phạm giới thì
tất cả đại chúng đều lãnh đủ hết. Cho nên tự do của một
người, giới luật của một người có liên hệ tới hạnh phúc và
tự do của những người khác trong đại chúng. Trong kinh Sa Môn Quả,
Bụt có nói là khi một vị khất sĩ giữ giới thì vị ấy được
tự do, vị ấy không còn sợ hãi. Ngủ dưới gốc cây ta cũng cảm
thấy rất an lành. Các vị khất sĩ giữ đến hai trăm năm mươi giới
thì tự do càng lớn. Khi có tự do ta cũng có hạnh phúc. Mà hạnh
phúc là an lạc (peace and joy). Nếu mình nói tuy mình đã có tự do
rồi mà mình vẫn chưa có an lạc thì mình hãy thử tự hỏi là cái
tự do đó có phải là tự do thực sự chưa? Bởi vì nếu đó là
tự do thật sự thì dù không muốn mình vẫn có an lạc. Sự thật
là như thế. Nhiều khi không có tự do mà mình cứ tưởng là mình
có tự do, cũng như rất nhiều người có vấn đề về ruột mà vẫn
nghĩ là mình không hề có vấn đề về ruột. Có người có rất
nhiều nội kết mà cứ tưởng là không có nội kết.
Khi
tôi nhìn cảnh mặt trời lặn rực rỡ huy hoàng thì tôi có hạnh
phúc. Có kẻ nói rằng vì cảnh mặt trời kia là vô thường, nên
cái đẹp ấy chỉ là cái hạnh phúc của thế gian chứ không phải
là cái hạnh phúc của người giải thoát. Cái đó không đúng.
Hạnh phúc của người giải thoát là hạnh phúc mang theo tự do và
biểu lộ được tự do. Còn hạnh phúc của người không giải thoát
là hạnh phúc mang theo sự ràng buộc. Bụt có thể nhìn bông hoa và
khen bông hoa đó là đẹp mà vẫn không bị vướng mắc, không bị
ràng buộc bởi cái đẹp ấy. Còn người không có giải thoát nhìn
vào một bông hoa có thể bị dính vào bông hoa. Khi nhìn bông hoa, Bụt
thấy được tính chất vô thường của bông hoa và ý thức về vô
thường đó chứng tỏ rằng Bụt có giải thoát.
Vì
vậy khi Bụt nói với thầy A Nan: "Này thầy A Nan, thành phố Vaisali
đẹp quá há!" Bụt quả thấy thành phố đẹp. Bụt biết thưởng
thức thành phố mà không bị vướng mắc vào thành phố. Chúng ta
là những người tu theo Bụt, chúng ta có thể thấy được cuộc
sống mầu nhiệm trong giây phút hiện tại, chúng ta thấy được cái
đẹp và cái hay của vũ trụ vạn hữu trong giây phút hiện tại,
chúng ta có thể hưởng thụ cái hạnh phúc đó với điều kiện là
chúng ta thấu được lẽ vô thường, biết rõ là những hiện
tượng đó đều là những sự kiện vô thường sẽ tan biến.
Nói
một cách khác hơn là trong khi thưởng thức những cái đó chúng ta
vẫn còn là những con người tự do. Thành ra an lạc ở đây phải
được làm bằng chất liệu của tự do. Nếu không có chất liệu
tự do thì không thể gọi đó là an lạc chân thực. Người kia đang
hưởng thụ năm món dục lạc (tài, sắc, danh, thực và thụy: moneỵ,
sex, fame, uncontrolled eating, and oversleeping), tham đắm và ràng buộc vào
năm món dục lạc như một con thiêu thân nhảy vào trong lửa. Người
như vậy không có tự do. Khi chúng ta đi thiền hành hay uống một ly
nước mát, ta có quyền có sự an lạc. Chúng ta đừng tưởng rằng
có an lạc như vậy là có tội vì đó là hạnh phúc thế gian. Không,
hạnh phúc đó cũng là hạnh phúc giải thoát, Bụt cũng hưởng cái
hạnh phúc đó mà Người không vướng víu.
Ta không thể hiểu bản chất của an lạc trong đạo Bụt nếu ta không
biết rằng tự do là bản chất của an lạc. Bụt dạy các vị khất sĩ
khi ăn nên quán chiếu về thức ăn. Các thầy có thể thấy ngon trong
khi ăn nhưng các thầy cũng biết rằng thức ăn cũng bất tịnh và khi
nuốt vào trong bụng rồi thì thức ăn sẽ rất khác. Đó là cách
quán chiếu về tính cách bất tịnh của thức ăn mà các thầy ngày
xưa thường thực tập. Cố nhiên khi tắm gội thân thể sạch sẽ ta
cũng biết rằng phải hiểu nghĩa sạch sẽ ấy theo tinh thần vô
thường, nghĩa là mình biết trong con người mình đồng thời có
những cái không sạch. Vì vậy Bụt dạy quán bất tịnh. Chẳng phải
khi mình mẩy mồ hôi dơ dáy mình mới quán bất tịnh được mà khi
mới tắm sạch mình cũng quán thấy thân thể mình có tính bất tịnh
như thường.
2. Yếu tố thứ hai là an lạc : An có nghĩa là tâm tư không bị
khuấy động. Cái cảnh mặt trời huy hoàng kia, niềm vui trước mắt
kia không khuấy động được tâm tư mình. Mình đang thưởng thức nó
nhưng tâm mình vẫn bình thản. Mình thưởng thức nó nhưng những huy
hoàng kia không tạo sóng gió và không tạo ra những phiền não ràng
buộc trong tâm mình. Cái đó gọi là an.
An
cũng có nghĩa là không sợ hãi. Biết rằng vạn vật vô thường,
chính ngũ uẩn của ta cũng vô thường nên ta không sợ hãi cái sanh
và cái diệt. Đó mới là thứ an tịnh vững chải nhất. Ta biết
rằng hạnh phúc trong môi trường tu học được làm bằng bản chất
của sự an tịnh. Nếu con người không có bản chất của sự an tịnh
này thì không có hạnh phúc. Còn cái "an lạc" của người
đang say mê trong ngũ dục không gọi là an lạc được. Đó gọi là
đam mê, là sự đánh mất mình.
Lạc
là khả năng vui sống. Bụt bằng sự sống hằng ngày của Người
chứng tỏ là Người có sự vui sống. Tôi rất lấy làm lạ là
trong mấy chục năm tu học ở tu viện, được học rất nhiều giáo
lý sâu sắc của đạo Bụt nhưng chưa bao giờ tôi được quý thầy
dạy cho những câu mà Bụt nói với thầy A Nan như: "Này thầy A
Nan, núi Thứu đẹp quá! A Nan, Thầy hãy nhìn xuống cánh đồng lúa
kia, đẹp không? Tại sao thầy không tìm cách may áo của các vị khất
sĩ theo mẫu mực của các cánh đồng lúa này? Thầy A Nan, thành
Vaisali đẹp quá phải không?"
Bụt
đã chứng tỏ là Người có rất nhiều hạnh phúc. Người an trú
trong hiện tại. Người có tự do. Người đã sống đời sống thanh
thản an lạc. Người tu mà không có an và lạc thì tu chưa giỏi. Hạnh
phúc đó và sự an lạc đó thuộc về cái an lạc xuất thế gian
(lokottara), trong khi những người tham đắm trong ngũ dục thì quanh quẩn
trong cái gọi là hạnh phúc thế gian. Cũng là sắc, thanh, hương, vị,
xúc nhưng cách thức đón nhận khác nhau. Đón nhận bằng ràng buộc,
nặng nề và tham đắm thì ta sống trong cảnh thế gian. Đón nhận bằng
trí tuệ giác ngộ, biết chúng là vô thường và vô ngã thì ta vẫn
duy trì được an tịnh và tự do của ta và vẫn an trú trong thế giới
của tịnh lạc xuất thế gian. Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây là
như vậy. Niết Bàn nằm chính trong giây phút hiện tại.
Đã
biết rằng an và lạc làm bằng bản chất tự do thì ta rõ an lạc ấy
không mong manh như sự đắm chìm theo ngũ dục. Vì không có tính cách
gây khuấy động và gây tà kiến vô minh nên an lạc này có tính
cách tịnh và thường. Có tính cách tịnh, vì an lạc ấy không làm
đục ngầu cái tâm của mình và cái tâm của những người khác,
không tạo ra khổ đau trong năm uẩn mình và trong năm uẩn của những
người khác. Khi thưởng thức một tách trà, ta thưởng thức với
chánh niệm, với tự do. Tuy chúng ta biết trà ấy ngon nhưng chúng ta
nghĩ là nếu không có trà chúng ta cũng uống được nước lạnh,
và nước lạnh cũng có cái ngon của nó. Vì vậy sự thưởng thức
hạnh phúc của chúng ta có tính cách tịnh. Nó không khuấy động tâm
ta.
Trong
khi thưởng thức hạnh phúc ấy, biết rằng hạnh phúc ấy không phải
là nguyên do của những đau khổ trong hiện tại và trong tương lai thì
ta gọi hạnh phúc ấy là tịnh, bởi vì nó không có tác dụng làm
cho thế giới và tâm hồn ta bất tịnh. Còn như khi ta uống rượu và
tham đắm, chúng ta không có chánh niệm. Nếu có chánh niệm, ta đã
biết rằng rượu làm hại gan. Rượu lại có tác dụng gây đau khổ
cho mọi người, cho mình, cho xã hội và cho các loài khác. Ta biết
rằng rượu được làm bằng chất ngũ cốc. Hằng triệu người đang
chết vì thiếu ăn: uống rượu tức là sát sanh và đồng thời làm
hư gan của mình. Nếu nghiện ngập mình sẽ làm đau khổ cho nhiều
người: lái xe có thể làm chết người, say sưa sẽ làm nhiều điều
xằng bậy. Vì vậy uống rượu mà không có chánh niệm là bất tịnh.
Mà nếu uống rượu trong chánh niệm thì không thể nào có an lạc
hạnh phúc được và nếu tiếp tục uống trong chánh niệm ta sẽ bỏ
rượu không chóng thì chầy.
Hạnh
phúc của người tu mang tính cách tịnh ấy. Tuy rằng thân thể ta miêu
tả là bất tịnh, các thức ta ăn là bất tịnh, nhưng nếu ta có tự
do, nếu ta có chứng nghiệm về vô thường và vô ngã thì tất cả
các việc mà ta làm mới xem qua tuy giống hệt như việc người khác
làm nhưng bản chất của chúng là tịnh, bởi vì chúng không gây khổ
đau cho ta và cho người, bây giờ và trong tương lai.
Về
bất tịnh quán, thầy tôi đã dạy: "không phải là thấy được
sự dơ bẩn về vật chất của sự vật mới gọi là bất tịnh
quán". Bất tịnh quán là có thể nhìn với con mắt quán chiếu
về nhân quả. Một hành động nào có thể gây đau khổ trong tương
lai, mình quán chiếu thấy được kết quả đau khổ ấy thì đó có
thể gọi là bất tịnh quán rồi. Đang đi ăn cắp mà chợt thấy rằng
ăn cắp thì có thể bị ở tù, như vậy đã là bất tịnh quán. Quán
như thế cho rõ ràng ta sẽ ngưng ý định ăn cắp. Nhờ tự do, chánh
niệm và giới luật người tu có an lạc và có thanh tịnh. Niết Bàn
của chúng ta là cái mà ta có thể tiếp xúc được ngay trong ngày
hôm nay tới một mức độ nào đó.
Trong
khi đi thiền hành, trong khi uống trà, ta thấy được và ta nếm
được nó. Cái vui của ngũ dục rất mong manh, có khi chỉ kéo dài
một phút, vài phút nhưng vì mê đắm quá có người đã nói
"thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt...!" Nhưng hạnh phúc
của người giải thoát thì có thể kéo dài bao lâu cũng được. Khi
mình ngắm nhìn một cội cây lá vàng rực rỡ trong mùa thu và mình
thực tập hơi thở chánh niệm: "Tôi đang thở vào và tiếp xúc
lá vàng rực rỡ, tôi đang thở ra và cảm thấy hạnh phúc."
Thực tập như thế trong năm phút ta có hạnh phúc trong năm phút.
Nếu thở và ngắm trong mười lăm phút thì hạnh phúc ta kéo dài
mười lăm phút.
Dĩ
nhiên cội cây ấy không vàng rực suốt đời cho mình ngắm đâu.
Lá vàng rồi lá đỏ, và cây từ từ trụi lá. Khi mình không tham
đắm màu vàng mình mới biết tận hưởng màu đỏ và cảm thấy
hạnh phúc. Rồi khi cây trụi lá mình cũng không tham đắm tiếc
thương lá. Biết lá thế nào cũng sẽ trở lại, mình mới thấy
được cái đẹp của cội cây với những cành khẳng khiu trụi lá,
hùng vĩ can trường trong sương tuyết và mình lại có hạnh phúc. Rồi
khi xuân về, mình lại được thấy cái đẹp khi những chồi hoa lá
xuất hiện từ từ trên các cành khẳng khiu kia một cách thật mầu
nhiệm.
Cái
hạnh phúc không tham đắm đó gọi là thường. Khi mà có tuệ giác
về vô thường rồi thì cây vàng mùa thu cũng đẹp mà cây trụi
lá mùa đông cũng đẹp. Hạnh phúc đó là hạnh phúc trường
cửu, hạnh phúc làm bằng chánh niệm và bằng tự do. Những danh từ
thường, lạc, ngã và tịnh ấy có người sợ lắm. Họ xem những
danh từ đó là kỵ, là không chánh thống, là ngoại đạo. Ta phải
hiểu bốn tiếng đó không phải theo nghĩa trái chống với bốn tiếng
vô thường, vô ngã, khổ và bất tịnh. Thường (permanence), lạc (joy),
ngã (sovereignty), tịnh (non disturbance) ở đây là bốn đức của Niết
Bàn, Niết Bàn có thể thực chứng được tại đây và bây
giờ.
Bụt
chỉ cho mọi người thấy tính cách vô thường, khổ, vô ngã và bất
tịnh của mọi sự vật. Chúng ta quán chiếu để thấy được tính
cách vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh của vạn vật vì vậy ta
có khuynh hướng từ bỏ thế giới năm uẩn để đi tìm cái mà Bụt
dạy, đó là Niết Bàn, trong đó có thường, lạc, ngã và tịnh.
Rất nhiều người đã đi lạc vào trong cái quan niệm cho rằng niết
bàn là một cái gì tách rời ra khỏi cuộc đời vô thường, khổ,
vô ngã và bất tịnh này. Đạo Bụt đại thừa tới giúp ta nhìn
sâu hơn, rõ hơn về những điều Bụt dạy và nói rằng cái mà ta
đang đi tìm đó, cái hạnh phúc và Niết Bàn đó, chúng ta hãy tìm
ngay trong thế giới của vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh.
Vì vậy cho nên nếu khéo léo quý vị sẽ thực tập được tự do,
chánh niệm, giới luật, chí và quán và sẽ chứng nhập được
Niết Bàn, cảnh giới của thường, lạc, ngã, tịnh tại đây, ngay
trong cuộc đời này. Bốn từ này phải được hiểu theo nghĩa của
tự do, của giải thoát. Hạnh phúc mà chúng ta đi tìm có tính cách
trường cửu, trường cửu vì được căn cứ trên tuệ giác về
vô thường, căn cứ trên phong độ và nhận thức tự do của chúng
ta. Hạnh phúc ấy đem lại một niềm vui vững bền, nuôi nấng chúng ta
bằng nhiều chất liệu lợi lạc. Thực tập là để cởi bỏ những
sợi dây ràng buộc, để có tự do. Tự do ấy mà không có thì ta
không có gì hết. Khi sống cuộc đời của mình trong tu viện mà
được nuôi dưỡng hằng ngày bằng bốn chất thường, lạc, ngã và
tịnh ấy thì ta mới nên nói về Phật pháp và mới nên đem Phật
pháp chia sẻ với người khác. Anh muốn giảng cho tôi nghe về
thường, lạc, ngã và tịnh thì anh phải nếm nó trước. Anh hãy
cười, hãy chứng tỏ là anh có hạnh phúc. Nếu không, tôi sẽ
không theo học với anh.
(Trích "Về Việt Nam", NXB Lá
Bối, 1992)
Thích Nhất Hạnh
Làng Hồng, ngày 28-11-1991
Chân thành cám ơn Chị Dương Kim
Nguyệt đã có thiện tâm giúp đánh máy bài viết nầy (06/97).
Source: Buddhasasana Homepage
-- o0o --
| Mục lục tác giả|
Cập nhật ngày: 01-10-2001