Hãy nói về Đau
khổ
Tỳ kheo Gavesako
Tỳ kheo
Giác Nguyên dịch Việt
Giới
thiệu:
Đại đức Gavesako
(Mitsuo Shibahashi) sinh năm 1951 tại Nhật
Bản. Là một nhà leo núi lão luyện,
đại đức đã từng thành lập một
nhóm hội viên để chinh phục dãy
núi Himalayas. Lần đó đại đức
cùng cả đoàn đi sang Ấn Độ và
trong thời gian chờ đợi thời tiết
tốt để bắt đầu cuộc thám hiểm,
đại đức đã quyết định ở lại
một thảo xá dưới chân núi. Thế
rồi trước khi các thành viên trong
đoàn có mặt đầy đủ (đại đức
đã đi trước một mình), đại đức
bỗng nhiên cảm thấy thích thú với
đời sống thiền định qua chút ít
kiến thức mà mình đã biết được
về pháp môn này để rồi đại
đức không còn thấy hứng thú trong
chuyện leo núi nữa. Đại đức đã
ở lại thảo xá đó suốt hai năm
liền. Và cũng trong thời gian này
đoàn leo núi của đại đức gặp
phải tai nạn, một số người trong
bọn họ đã bị vùi chôn trong một
dòng băng hà đổ từ núi xuống.
Do một ít khó khăn
về vấn đề giấy tờ nhập cảnh,
đại đức buộc phải đi qua Thái Lan,
nơi mà đại đức vẫn hy vọng mình
sẽ tiếp tục tu tập pháp môn thiền
định. Gặp được các vị sư người
Tây Phương ở Bangkok giới thiệu,
đại đức đã đến chùa Pah Pong ở
vùng đông bắc Thái Lan, rồi thọ
giới tỳ kheo với Ngài Ajahn Chah. Lúc
này là năm 1975. Đại đức Gavesako
gần như chuyên sống hạnh đầu đà
và đại đức cũng là người đã
hết mình tận tụy chăm sóc thiền sư
Ajahn Chah trong suốt những năm tháng
cuối đời của Ngài.
Năm 1989 đại đức
đã được mời về Nhật Bản để
trình bày về thiền định Phật giáo
Nguyên thủy suốt mấy tháng trời.
Bài viết sau đây là
một pháp thoại cho các Phật tử từ
Bangkok đến viếng thăm đại đức.
Nội dung của bài viết có thể
được tóm tắt trong mấy dòng sau
đây "Hãy làm thế nào để thấy
được bản chất ma chướng của lòng
ham muốn và chấp thủ. Cho đến khi
nào thoát khỏi được sự chi phối
của chúng thì coi như đã thành
Phật".
Trong
bài nói chuyện này, tôi muốn nhấn
mạnh với quý vị một số tiêu đề có
thể tạm gọi là những kinh nghiệm tu
học mà chúng ta cần phải có.
Vấn
đề trước tiên mà tôi muốn đề cập
ở đây chính là thái độ đối diện
của người Phật tử trước tất cả
những đau khổ trong đời sống. Có là
kỳ quái lắm không khi tôi đề nghị các
vị hãy học cách trân trọng trước
những đau khổ như là đối với một
người thầy. Chúng ta đừng theo thói
quen mà chán ghét, trốn chạy hay e sợ
các đau khổ. Các đau khổ luôn giúp ta
một lời cảnh báo, nó giúp ta thông
minh hơn để có thể nhìn thẳng vào mọi
sự trong đời. Nếu chúng ta có đủ can
đãm để đón nhận các đau khổ thì sẽ
thấy được rằng chúng thật ra có
nhiều ý nghĩa tuyệt vời lắm. Trong tinh
thần đó, chúng ta sẽ khỏi phải lo ngại
bất cứ điều gì mà chỉ việc củng cố
ở nội tâm mình một sức mạnh chịu
đựng. Nói vậy có nghĩa là chúng ta
phải biết mạo hiểm và gan lì, bởi vì
bất luận là những đau khổ đó có
mặt ở đâu chúng ta cũng phải nhìn
ngắm nó một cách trọn vẹn. Nỗi đau
khổ nào cũng cần được nhận thức,
cho nên chúng ta phải học được cách
nhận thức đau khổ. Có điều là chúng
ta cũng đừng quên rằng sự đam mê
trong khả năng nhận thức đó không
khéo cũng tạo ra hai thứ hình thái
phiền não hết sức nguy hiểm là tham ái
và chấp thủ. Chính hai phiền não này
là cội nguồn cho tất cả đau khổ; đồng
thời cũng che khuất tất cả nhận thức
của chúng ta về đau khổ. Đến lúc này
thì chúng ta chỉ có thể bị đau khổ mà
không thể nhìn thấy sự đau khổ. Chính
vì vậy, vấn đề cốt lõi của cuộc tu
là biết chọn lấy cho mình một con
đường chín chắn để thấy rõ tất cả
đau khổ. Từ cái thấy hời hợt của
buổi đầu mới tu học, chúng ta sẽ dần
dần có được một cái nhìn sâu sắc
hơn. Thuật ngữ Phật học gọi đó là
Chánh Tri Kiến, cái khả năng trí tuệ
thấy rõ được từng giai đoạn xuất
hiện, tồn tại và biến mất của các
đau khổ để rồi từ trên cơ sở này,
Chánh Tri Kiến của chúng ta lại lần
lược đi đến những cấp độ khác cao
hơn: không có hạnh phúc hay khổ đau gì
cả, mọi hiện tượng chỉ là từng tiến
trình "xuất hiện - tồn tại - biến
mất". Với trình độ Chánh Tri Kiến
này, ta sẽ thấy rằng thật ra không có
Cái Gì xuất hiện hay biến mất cả.
Không có cái gì trên đời này đáng
để ta ôm ấp. Tất cả các pháp đều
vô ngã.
Bất
cứ cái gì đã xuất hiện thì phải có
lúc biến mất. Nếu chúng ta có thể
buông bỏ hết mọi thứ: Không cực
lòng với những đau khổ, không thích
thú cũng không bất mãn thì chắc chắn
chúng ta sẽ được an lạc. Bất cứ một
đau khổ nào có thể xảy ra trong lúc
này thì cũng chỉ là những bóng khói
hình sương.
Thái
độ thứ hai mà các Phật tử cần phải
có được trước tất cả các đau khổ
là chúng ta học được cách đánh giá
mọi áp lực trong đời sống như là
những người khách lạ. Quả đúng như
vậy, những cảm giác bức xúc khó chịu
thực ra chỉ đến rồi đi qua tâm hồn ta
như những bóng nắng bên thềm. Chúng đi
rồi cũng có lúc quay lại. Nếu chúng ta
không bận lòng vật lộn với chúng thì
chắc chắn chúng sẽ không lưu trú lại
được. Tuy vậy, chúng ta cũng đừng
quá chủ quan trong thái độ đó của
mình. Hãy bình thản một cách tự chủ:
Không xua đuổi để khách không có cơ
hội phản ứng và cũng đừng nồng
nhiệt chào đón để khách có hứng
thú ở lại. Hãy để mặc chúng đến
và đi theo nhân duyên của chúng, ta
không cần thiết phải can thiệp vào. Quý
vị hãy an tâm, các cảm giác đau khổ
bức xúc chỉ là những du khách chứ
không phải là những cư dân. Khi chúng
đến ta biết là chúng đến rồi bình
thản nhìn ngắm cho tới khi chúng ra đi.
Chúng ta phải xây dựng ở nội tâm
mình một khả năng trung hòa: Không ghét
thương, không sợ hãi... Chỉ giữ lại
cho mình khả năng hiểu biết mà thôi.
Cứu cánh của cuộc tu không phải là
một cái hầm trú ẩn để trốn tránh
đau khổ mật cách nhút nhát tiêu cực
mà là một trạng thái tĩnh lặng, thanh
tịnh và trong sáng.
Vấn
đề thứ ba chính là một câu hỏi của
tôi cho các vị. Có ai trong số chúng ta
ở đây đã từng trải qua cái cảm
giác đau đớn gần như muốn chết hay
không? Cho dù sự đau khổ có nghiêm
trọng đến mức nào đi nữa thì công
việc tốt nhất cho nội tâm chúng ta là
nhận biết chính xác sự có mặt của
nó. Chỉ nhận biết thôi, chúng ta không
cần có thêm một nỗ lực nào khác
nữa. Hãy kham nhẫn và quan sát mọi cảm
giác chứ không nên thích thú hay chối
bỏ chúng. Trong những hoàn cảnh đó
hãy cố giữ sao cho nội tâm được
chuyên nhất không thiên lệch. Cái cần
thiết của chúng ta lúc này chính là
sự hiểu biết: Ngồi trong sự hiểu
biết, đi trong sự hiểu biết. Trong khả
năng ý thức này, chúng ta sẽ thấy
được rằng mọi sự đều rổng tuếch
ngay trong chính bản chất của chúng. Mọi
đau khổ và bức xúc chỉ đơn giản là
các cảm giác phù du, chúng không phải
là chúng ta cũng không thuộc quyền sở
hữu của chúng ta. Chúng được xem là
quan trọng chỉ vì chúng ta nắm bắt chúng
bằng những khái niệm. Trong khi đó mọi
thứ luôn vô thường, cái cũ sẽ
được thế chỗ bằng cái mới một
cách liên tục. Bản thân chúng chỉ là
những gì mà Đức Phật vẫn gọi là
vô thường, khổ não, vô ngã.
Nói
một cách chính xác, chúng ta đau khổ chỉ
vì chúng ta chấp thủ. Chúng ta phải học
được cách đào luyện nội tâm mình cho
trở thành một nguồn sức mạnh đủ
để đối diện và chấp nhận mọi sự:
có thấy được sự đổi thay liên tục
của các cảm giác, chúng ta mới thấm
thía được định lý vô thường. Và
định lý vô thường thì luôn gắn liền
với định lý vô ngã.
Vấn
đề tiếp theo mà tôi muốn nhấn mạnh
với các vị là chúng ta đừng bao giờ
đồng hoá mình với bất cứ một đau
khổ nào khác. Sự đau khổ không phải
là TA và ta cũng không phải là sự đau
khổ. Sự đau khổ không tồn tại bên
trong bất cứ AI và cũng không có AI
sống trong sự đau khổ. Sự đau khổ tự
nó xuất hiện, tồn tại rồi biến mất.
Chúng ta chỉ có mỗi một trách nhiệm
đơn giản là nhận ra được từng diễn
biến của sự đau khổ để xem nó đến
và đi như thế nào. Hãy nhìn ngắm đau
khổ mà không cần thiết phải bận tâm
xem nó ở mức độ nào, nhiều hay ít.
Nhờ vậy chúng ta mới có thể chấp
nhận được nó một cách can đảm, bởi
bổn phận của người tu chỉ đơn giản
có bốn chữ "can đảm chấp
nhận". Và được gọi là một bậc
hiền giả thì chỉ đơn giản là người
chấp nhận được mọi đau khổ.
Vấn
đề tiếp đến có giá trị như là một
món hành trang tâm lý để chúng ta có
thể đối mặt với cuộc đời nói chung
và sự đau khổ nói riêng. Ở đây
tôi muốn nói đến thái độ "bao
dung" trong tinh thần thấu đáo được
cái lẽ tương đối trên đời.
Trước
khi đánh giá ai đó là lỗi lầm sai
trái thì chúng ta hãy nhớ lại rằng
bản thân mình cũng có lúc sai trái lỗi
lầm và người kia không phải lúc nào
cũng lỗi lầm sai trái. Hãy giữ lại
mọi thứ ở một nửa con số đo lường
của mình thôi. Có biết suy nghĩ như vậy
chúng ta sẽ không bị các tư tưởng chủ
quan của mình đày ải. Hoặc khi nghe lại
câu chỉ trích của ai đó về mình, chúng
ta đừng nông nổi tin tưởng hay phủ
bác hoàn toàn. Tức là chỉ giữ lại
con số đo năm mươi phần trăm mà thôi.
Điều đặc biệt là đừng để nội tâm
mình có những phản ứng không cần
thiết để rồi bị đau khổ. Mọi sự
không có gì là tuyệt đối: Rất có
thể từng người có liên quan rong chuỗi
dài thông tin kia đã thêm thắc vào đó
một ít tư ý. Nói vậy có nghĩ là
chúng ta đừng bao giờ bị mắc bẩy trong
cái suy nghĩ của người khác. Quý vị
hãy nhớ lại xem chúng ta thường nổi
giận trước khi tìm ra căn cội của vấn
đề chính bằng sự suy nghĩ cẩn thận
của mình. Đại khái, hãy luôn tỉnh táo
và sáng suốt trước khi muốn làm điều
gì đó.
Những
khi bị buộc phải làm điều gì đó mà
mình không thích, chúng ta thường tỏ ra
bất mãn. Hãy nhớ rằng đó không phải
là cách phản ứng tốt. Đừng giử
lại trong lòng mình những cảm giác bực
bội chỉ vì nghĩ rằng đó là điều vô
lý. Ở đây tôi ví dụ như quí vị đang
làm việc với một đồng sự của mình.
Cả hai bên làm sao có cùng một suy nghĩ
được. Mà mọi suy nghĩ thì luôn vô
thường, thay đổi. Người đồng sự
của quí vị có thể rồi sẽ thay đổi suy
nghĩ hoặc cũng có thể họ nghĩ một
đàng mà làm một nẻo...Quý vị đừng
để mình bị đánh lừa bởi các cảm
giác. Bởi nếu chúng ta tỉnh táo thì
chúng ta không bị đau khổ. Đừng bao
giờ hoàn toàn tin tưởng vào bất cứ
cái gì dầu là chính mình, người khác
hay bất cứ một sự kiện nào. Hãy học
cách bình thản và không sợ hãi. Đồng
thời cũng đừng để mình bị cuốn hút
vào những gì nghe thấy được. Bởi
hãy nhớ: cái gì cũng đều vô thường
và bất toại, hãy dành cho mọi sự
trên đời năm mươi phần trăm giá trị
thôi.
Nãy
giờ tôi vẫn nói với quí vị về
những thái độ cần thiết phải có để
đối diện với đau khổ nhưng nếu như ta
đã bằng đủ mọi cách mà chúng ta vẫn
cứ tiếp tục đau khổ thì phải làm sao?
Ở đây tôi chỉ có một câu trả lời
thôi và đồng thời đây cũng chính là
một vấn đề nữa trong bài nói chguyện
này. Đó là cố gắng nhìn thẳng vào
mọi sự một cách cam đãm và tin
tưởng hơn nữa.
Cái
nhìn mà tôi muốn nói ở đây chính là
trí tuệ về Lý Tứ Đế. Nếu chúng ta
còn "bị đau khổ" thì cũng có
nghĩa là chúng ta chưa hoàn tất được
chánh kiến của mình. Khi đau khổ xuất
hiện, chúng ta hãy dõi mắt theo từng
dịch biến của nó bằng cách nhìn ngắm
vào chính thân tâm của mình để thấy
được thế nào là vai trò nhân tố
của lòng tham muốn và chấp thủ đối
với sự đau khổ đang hiện hữu. Chúng
là những ma chướng, những kẻ thù nguy
hiểm nhất của chúng ta. Chúng xuất hiện
len lỏi qua các dòng tư tưởng của
chúng ta. Ghi nhận được chúng, ta sẽ
được vô hại, không bị kích động và
khỏi phải ôm ấp chúng một cách ngu
xuẩn nữa. Con Người Đau Khổ lúc này
đã thành ra một bậc Giác Ngộ, một
Đức Phật. Ta không cần thiết phải đi
tìm kiếm thêm những gì thật ra không
có liên quan đến con đường mà mình
đang đi. Nếu phải đánh mất cả tánh
mạng để đổi lấy trí tuệ này thì đó
cũng là một điều xứng đáng.
Chánh
kiến hay trí tuệ giác ngộ còn có một
nguồn trợ lực khác hết sức quan
trọng, đó là Chánh Tư Duy. Cho dù có
làm bất cứ công việc gì, ta cũng phải
luôn giữ được cho mình những khả
năng chánh niệm và trí tuệ. Nếu như
chúng ta đang lau nhà thì công việc đó
vào ngay lúc này phải được xem là
một công việc quan trọng nhất trên
đời, ngoài ra không còn công việc nào
quan trọng hơn. Đang lau nhà thì chúng ta
chỉ nên "biết" mình đang lau nhà
mà thôi. Ta phải dành cho công việc đó
tất cả sự quan tâm.
Cứ
thế, cho đến tất cả những công việc
lớn nhỏ khác trong đời sống thường
nhật cũng đều phải được thực hiện
bằng tinh thần đó. Mỗi việc có một
thời gian hoàn toàn độc lập để chúng
ta có thể chuyên tâm bất nhị trong mỗi
cử động của mình. Như vậy thì công
việc nào đối với chúng ta cũng đều
có thể là những thiền án: làm chỉ
biết là làm, không bận tâm đến
những gì ngoài ra. Làm với một tâm
hồn thanh thản, không để mình phải bị
cực lòng vì những ám ảnh về một quan
điểm hay khái niệm nào đó. Chúng ta
hãy làm việc như đang thực hiện bổn
phận bằng tất cả tinh thần trách nhiệm.
Nếu đối với bất cứ hoàn cảnh nào
ta cũng có thể sống với thái độ nội
tâm đó được thì chúng ta sẽ không
bị đau khổ và sẽ có được một nguồn
an lành, tịnh lạc rộng lớn, thường
trực. Có thể nói đây là con đường
tu hành được đặt cơ sở trên Chánh
Kiến và Chánh Tư Duy.
(Trích
"Họ đã nghĩ như thế", Chùa
Pháp Luân, Texas, USA, ấn tống)
___________________
Chân
thành cảm ơn Đạo hữu Bình Ansơn đã
gởi tặng bài viết này.
-- o0o --
| Tỳ kheo
Giác Nguyên | Mục lục tác giả|
Cập nhật ngày: 01-07-2001