Biển sâu thẳm, biển mênh mông
và diễm tuyệt, biển bao dung vô lượng và biến ảo vô biên... Vì
thế biển cũng là Tâm.
Hãy nghe biển hát, biển hát lời kinh.
Biển vang rền, triều vọng tiếng... muôn đời hát lên
lời kinh của cánh cửa phổ độ, cánh cửa vô môn: "Hải chấn
triều âm thuyết Phổ môn", đó là câu thi tán dành cho Bồ Tát
Quán Thế Âm nhưng mỗi lần đọc tụng, lại một lần thanh tân...
Hãy nghe biển hát, biển hát lời kinh.
Biển mùa xuân
sớm hôm không ngớt
trầm trầm dâng dâng.
Buson
(Haru no umi
hinemosu notari
notari kana)
Đó là biển xanh đang thở. Biển thở vào trầm trầm,
biển thở ra dâng dâng.
Đó là biển xanh đang múa. Vũ khúc của biển có nhịp điệu trầm,
có nhịp điệu dâng.
Đêm nay triều dâng trong biển
Như nhịp tim trong thế giới này.
Tagore
(Tonight there is a swell in the sea
like the heart-throb of the world).
Vì sao biển lên tiếng, biển hát ca? Biển không
là tịch tịch, liêu liêu của vạn vạn đời hay sao? Bản tính nước
đâu có âm thanh. Nhưng rồi có tiếp xúc. Do đâu trái tim ta khóc
cười?
Nước nguyên không một tiếng đàn
bởi đi ngang đá mà vang điệu huyền.
(Thủ nguyên vô thanh
xúc thạch tức minh).
Như một lời uyên áo trong kinh Vượt qua ý thức
(Vigyana Bhairava Tantra):
Sóng khởi lên với nước
và ánh lửa xa khởỉ lên với lửa
cũng như thế ấy mà
những làn sóng vũ trụ
khởi lên từng hồi với ta.
Trái tim là biển nên có biết bao là trận trận phong
ba trong tâm thức mỗi người? Nhưng cũng với trái tim, ta có thể
làm lặng yên - sấm sét và lên đường đi vào mây trắng phiêu
diêu. Kinh Pháp Hoa trao truyền cho ta phương tiện ấy:
Tâm bi thì sấm sét yên
Ý từ như áng mây hiền bao dung.
(Bi thể giới lôi chấn
Từ ý diệu đại vân).
Và như vậy trái tim trở thành đại dương của tình
yêu:
Bạn là sâu thẳm đại dương
Suối sông vô tận mười phương đổ vào
Thiền sư Sùng Sơn (Hàn Quốc)
Đó là biển đại bi. Trong kinh Hoa Nghiêm, trên đường
đi tìm Bồ tát đạo, Thiện Tài đồng tử đã hỏi Tỳ kheo Hải Vân:
"Làm sao bỏ nhà thế tục mà sinh vào nhà Như Lai? Làm sao cạn
được biển ái dục mà sinh vào biển đại bi?".
Biển ái dục ư ? Một bài thơ thiền của Kenneth Rexroth
đã miêu tả cái biển vô biên này:
Khi mà yêu em
như uống nước biển
càng uống
lại càng khao khát thêm
chỉ còn cách uống cạn
biển nước đầy vô biên.
(Making love with you
Is like drinking sea water.
The more I drink
The thirstier I become,
Until nothing can slake my thrist
But to drink the entire sea).
Trước câu hỏi của Thiện Tài, Tỳ kheo Hải Vân đáp
rằng ngài dùng biển cả làm cảnh giới và đã quán sát biển cả
mười hai năm: "Thế gian này có gì rộng lớn hơn biển cả
không? Còn có gì vô lượng hơn chăng? Còn có gì sâu thẳm hơn
chăng? Còn có gì kỳ diệu hơn chăng?". Cái tên Hải Vân có
nghĩa là "Mây trên biển" một vầng mây trắng đứng yên
trên trùng trùng sóng biển, nhẹ nhàng và oai nghi. Như người ta
thường miêu tả hình ảnh Đức Quán Thế Âm trên đại dương:
"Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai" (Đứng yên trên sóng trần
ai tuyệt vời).
Mây trên biển, đó là cái tâm đã sạch bụi đời.
Hình ảnh diễm tuyệt ấy có thể gặp trong bài đoản ca
vô danh sau đây ở Vạn diệp tập (Manyôshu):
Biển lớn
mênh mông không đảo
sóng xanh phơi bày
Đứngyên trên sóng
trắng một vầng mây.
(ô-umi ni
shima mo aranaku ni
unabara no
tayutau mami ni
tateru shirakumo).
Biển lớn (Ô-umi) và mây trắng (Shirakumo) thật ra
là một. Hải Vân: biển là mây, mây là biển. Cho dù là mây, các
Bồ tát vẫn thề nguyện cứu đời như lời kệ trong kinh Pháp Hoa:
Lời thề sâu thẳm biển
Muôn kiếp chẳng hề phai.
(Hoằng thệ thâm như hải
Lịch kiếp bất tư nghì)
Lời thề đó là ánh quang minh soi chiếu đời đời
trên biển trầm luân. Ai cũng có biển tâm, có đủ chỗ để tiếp
nhận ánh sáng, để cảm chiếu vầng trăng toàn bích tuyệt vời:
Biển triều dâng
trải muôn manh chiếu
trăng nằm mênh mông.
Seisensui
(Umi wa michishio ka
tsuki wa senjô
hikari o shiku).
Đứng yên trên sóng triều có thể là một áng mây
trắng, có thể là một vầng trăng lạnh. Trăng và mây trên biển
là những hình ảnh siêu thóat, huyền diệu, là cái đẹp mà thơ ca
không ngớt kiếm tìm:
Vịnh Shiga
sóng vỗ xa bờ
hiện trên đầu sóng
một vầng trăng lạnh
trong ánh tinh mơ.
Letaka
(Shiga no ura ya
Tôzakariyuku
Namima yori
Kôrite izuru
Ariake no tsuki).
Vầng trăng dường như bất động, đông lạnh
giữa ánh sáng mờ ảo, giữa những cơn sóng xao động liên tục
gợi lên một trái tim thanh tịnh, sáng trong, siêu phàm. Trăng có mặt
giữa sóng cồn bọt sủi nhưng vẫn an nhiên, vô ngại.
Một bài đoản ca khác lộ rõ ý hơn:
Trên biển thu đầy
sóng triều lên xuống
xô bóng trăng phai
thế mà trăng vẫn
còn nguyên hình hài.
Fukayabu
(Aki no umi ni
Utsureru tsuki o
Tachikaeri
Nami wa araedo
Iro mo kawarazu).
Trăng vẫn nguyên hình nguyên sắc mặc cho bể dâu,
dâu bể.
Nhưng trăng thì lúc ẩn lúc hiện. Chỉ có biển
cả mới thực là cảnh giới của con người, của tàng thức. Và
cảnh giới đó bao giờ cũng hùng vĩ, hoằng thâm, biến diệu:
Từ biển bao la
sóng đổ sấm rền
lên bờ bãi xa
tan tành, vỡ vụn
tung tán mưa hoa.
Sanetomo
(ôumi no
Iso mo todoro ni
Yosuru nami
Warete kudakete
Sakete chiru ka mo).
Tựa như Thiên nữ tán hoa , khi sóng biển đập
lên ta, có cách nào phủi giọt biển đi, có cách nào phủi hạt
muối đi? Và khi sóng biển lùi xa, ta nghe như biển đang cười. Nhưng
biển nhạo ta làm gì?
Hãy lắng nghe âm thanh của biển, hãy nghe biển
hát. Trên thế gian này không có âm thanh nào kỳ diệu và cao quý
hơn đâu, như kinh Pháp Hoa đã từng tuyên thuyết:
Diệu âm, Quán Thế Âm
Phạm âm, hải triều âm
Thắng bỉ thế gian âm. . .
Vượt lên thế gian âm là tiếng biển hát. Hãy nghe
biển hát, biển hát lời kinh. Biển hát lời Diệu âm (thanh âm
nhiệm mầu), biển hát lời cao quý (Phạm âm), biển hát lời Quán
Thế Âm (quán chiếu tiếng kêu thương của cuộc đời).
Biển hát, biển hát và biển hát.
Biển ơi
cho mượn triều dâng
để ta hát tặng một vầng trăng yêu;
Biển ơi
cầm giữ tịch liêu
để ta quay gót một chiều về thăm.
(Source : nguyệt san Giác ngộ số 67, tháng 10
năm 2001)