Cây
Giác-Ngộ
The Tree of Enlightenment.
Nguyên tác: Peter Della
Santina,
Ph.D.
Việt dịch: Minh Thiện Trịnh Chỉnh
Melbourne
2002
---o0o---
Chương
22
(Trang
199
-
207.)
Nguồn
gốc
Kim
Cương
Thừa
The
Origins
of
the
Vajrayana
Tradition.
~~~~~~~
Chúng
ta
hãy
bắt
đầu
khảo
sát
tông
phái
Kim
cương
thừa
(Mật
tông,
Chơn
ngôn
tông,
Du
già
tông)
trong
bối
cảnh
Bắc
truyền
(Ðại
thừa).
Bắc
truyền
(Ðại
thừa)
được
chia
thành
2
đường
tu
tập:
đường
Ba
la
mật
thừa
(Paramitayana)
và
đường
Kim
cương
thừa
(Vajrayana)
hay
còn
gọi
là
Chơn
ngôn
tông,
Thần
chú
tông
(Mantrayana).
Kim
Cương
thừa
là
một
phần
của
Ðại
thừa.
Thật
ra,
không
có
sự
phân
biệt
giữa
hai
danh
từ
về
điểm
bắt
đầu
(tức
kinh
nghiệm
đau
khổ)
và
mục
tiêu
của
chúng
(Phật
quả).
Cái
khác
biệt
độc
nhất
nằm
trong
hệ
phương
pháp
của
chúng
là:
trong
khi
hoàn
thành
Ba
la
mật
thừa
phải
mất
ba
niên
kỷ
(giai-đoạn-dài-không-thể-tính-được)
thì
phương
pháp
của
Kim
cương
thừa
giúp
hành
giả
tăng
tốc
độ
tu
tập
và
nhờ
vậy
tinh
tấn
rất
mau.
Kim
cương
thừa
được
biết
đến
qua
ba
tê
n:
Kim
cương
thừa,
Chơn
ngôn
thừa
(hay
Thần
chú
thừa,
Mantrayana)
và
Mật
thừa
(Tantrayana
hay
Tantrism).
Kim
cương
thừa
là
con
đường
vững
chắc,
cứng
bén
như
kim
cương.
Vajra
là
kim
cương,
loại
đá
quý
thật
cứng,
cứng
hơn
bất
cứ
loại
nào
khác.
Kim
cương
cũng
là
thần
sấm
sét
hay
quyền
trượng
được
sử
dụng
bởi
Indra,
vua
của
các
thần
Bà
la
môn.
Vì
vậy
kim
cương
là
biểu
hiện
của
tính
không
bị
phá
hủy,
là
sự
kiểm
soát,
điều
khiển
vũ
trụ.
Hình
thức
thần
chú
ngắn,
có
ba
mục
đích.
Một,
nó
được
dùng
trợ
sức
cho
sự
tập
trung.
Ta
sử
dụng
hơi
thở,
hình
ảnh
đức
Phật,
một
cành
hoa
xanh,
một
ý
tưởng
đẹp
làm
đối
tượng
để
tập
trung
trí
óc
của
mình
như
thế
nào
thì
khi
sử
dụng
âm
thanh
thần
chú
cũng
như
thế
ấy.
Hai,
nó
được
dùng
trợ
sức
cho
trí
nhớ.
Thí
dụ
khi
tụng
chú
Om
mani
padme
hum,
ta
không
chỉ
nhớ
đến
Bồ
tát
Quan
Thế
Âm
mà
còn
nhớ
cả
phương
tiện
thiện
xảo
và
trí
tuệ
cùng
sự
cần
thiết
của
việc
hợp
nhất
chúng
lại.
Ba,
thần
chú
có
sức
mạnh
tô
điểm
sự
phát
triển
tâm
linh
con
người,
ở
chỗ
là
việc
liên
tục
dùng
thần
chú
bởi
các
thiền
sư
qua
nhiều
thế
kỷ
đã
tăng
nạp
thêm
sức
mạnh
hiệu
nghiệm
đặc
biệt
cho
những
câu
thần
chú
ấy.
Chữ
mantra
bao
gồm
hai
phần:
man
từ
chữ
manas,
nghĩa
là
tâm,
và
tra
từ
chữ
tranam
nghĩa
là
hộ
trì,
bảo
vệ.
Vì
vậy
mantra
nghĩa
là
‘cái
hộ
trì
cái
tâm’.
Nói
chung,
nó
cũng
có
nghĩa
là
bí
truyền
hay
chiếc
xe
(thừa)
đặc
biệt.
Trang
200.
Tantra
là
tri
thức
mở
rộng
hay
liên
tục.
Nghĩa
đen
là
sự
liên
tục
của
một
sợi
chỉ
trong
tấm
vải;
nghĩa
bóng
là
sự
tiếp
nối
liên
tục
của
chuỗi
kiến
thức
cho
đến
khi
tổng
hợp
được
tất
cả
kiến
thức.
Cần
phân
biệt
đúng
đắn
kinh
văn
Kim
cương
thừa
với
kinh
văn
Ð
ại
thừa.
Ðại
thừa
gồm
kinh
điển
Ba
la
mật
thừa
và
thần
chú
Kim
cương
thừa.
Kinh
điển
và
thần
chú
được
mọi
người
tin
rằng
do
đức
Phật
nói
ra.
Chúng
tạo
thành
văn
chương
kinh
điển
của
Ðại
thừa
và
Kim
cương
thừa.
Có
rất
nhiều
loại
thần
chú.
Phần
quan
trọng
hơn
cả
là
Tuyển
tập
Mật
chú
(Guhyasamaja
Tantra,
The
Collection
of
the
Hidden
of
Secret
meaning),
Thần
chú
của
Niềm
Hạnh
phúc
Khó
Thâm
Nhập
(adamantine)
(Hevaira
Tantra,
the
Tantra
of
Adamántine
Bliss),
và
Thần
chú
của
Bánh
xe
Thời
gian
(Kalachakra
Tantra,
The
Tantra
of
The
Wheel
of
Time).
Ngoài
những
tập
thần
chú
nầy,
còn
có
một
phần
lớn
văn
chương
chú
giải
mà
Kim
cương
thừa
thu
nhận
và
cho
là
của
Long
thọ,
Chandrakirti
và
84
vị
đắc
đạo
(mahasiddhas).
Xin
nói
thêm
một
chút
để
tìm
hiểu
nguồn
gốc
thần
chú,
bởi
vì
ta
thường
được
hỏi
là
chúng
có
thực
do
đức
Phật
dạy
hay
không.
Ngay
từ
đầu,
đức
Phật
thường
giảng
pháp
trong
nhiều
trường
hợp
rất
đặc
biệt.
Khi
thì
ngài
dạy
để
đáp
ứng
lại
lời
yêu
cầu
của
một
vị
thánh
hay
siêu
nhân
khác,
lúc
thì
nói
Vi
diệu
pháp
(Abidharma)
để
chỉ
dẫn
mẹ
mình
(sau
khi
bà
mất)
đang
ở
trên
Tầng
Trời
thứ
Ba
Mươi
Ba.
Trong
Bắc
truyền
Ðại
thừa,
rất
phổ
biến
việc
các
minh
sư
Ðại
thừa
nhận
sự
hướng
dẫn
qua
các
phương
tiện
phi
thường.
Chẳng
hạn,
những
kinh
sách
căn
bản
của
trường
phái
Duy
thức
học
được
tin
rằng
Phật
Di
lặc
vị
lai
đã
dạy
cho
Vô
Trước
(Asanga)
(xem
lại
Chương
19).
Trang
201.
Các
mật
chú
được
truyền
đạt
cùng
một
lối
như
thế.
Sự
có
mặt
của
mật
chú
hoàn
toàn
hữu
lý
nếu
ta
khảo
cứu
chúng
một
cách
cẩn
thận.
Kinh
văn
của
chúng
không
mâu
thuẩn
với
các
kinh
điển
Phật
học
khác
(sẽ
được
thấy
rõ
ràng
hơn
trong
các
chương
sau).
Nếu
đức
Phật
không
dạy
mật
chú
ngay
từ
đầu
cho
mọi
người,
đó
là
vì
không
phải
ai
cũng
có
khả
năng
hiểu
hết
ý
nghĩa
đích
thực
của
chúng.
Với
các
minh
chứng
này,
chắc
chắn
Kim
cương
thừa
là
có
thực.
Kim
cương
thừa
là
do
kết
quả
của
tiến
trình
ba
dòng
tư
tưởng
và
đã
có
mặt
ngay
trong
thời
đức
Phật
còn
tại
thế.
Ðó
là
1.
dòng
tư
tưởng
dân
chủ,
2.
dòng
tư
tưởng
nghi
thức
và
3.
dòng
tư
tưởng
biểu
tượng.
Dòng
tư
tưởng
dân
chủ
dành
cho
người
thế
tục
sử
dụng
để
đạt
quả
vị
cao
nhất
của
đời
sống
tôn
giáo
là
giác
ngộ.
Một
thí
dụ
thực
tế
là
trong
thời
kỳ
đầu
tiên
của
Phật
giáo,
người
cha
của
đức
Phật
là
vua
Tịnh
Phạn
(Shuddhodana)
đã
đạt
được
quả
A
la
hán
trong
khi
ông
là
người
lương.
Trong
Bắc
truyền
Ðại
thừa,
dòng
tư
tưởng
dân
chủ
được
đẩy
mạnh
và
khai
triển,
nhờ
vậy
hình
ảnh
của
người
Bồ
tát
quen
thuộc
trong
mỗi
nhà
trở
thành
mẫu
điển
hình.
Các
thí
dụ
về
dòng
tư
tưởng
nghi
thức
có
trong
kinh
điển
Pali,
trong
đó
đức
Phật
nghiêm
túc
tuyên
bố
công
thức
bảo
vệ
chống
rắn
cắn
và
sự
nguy
hiểm
của
việc
sanh
con.
Theo
lời
kể
lại,
trong
một
lần
tạo
ra
pháp
thuật,
đức
Phật
đã
chuyển
hình
ảnh
hoàng
hậu
Kshema,
từ
một
thiếu
nữ
đáng
yêu
quí
thành
một
bà
già
trong
một
khoảnh
khắc,
với
sự
chứng
kiến
tận
mắt
của
chính
hoàng
hậu
đó.
Trong
trường
hợp
nầy,
đức
Phật
đã
dùng
những
năng
lực
phi
thường
để
tạo
ra
pháp
thuật
chứng
minh
sự
thật
của
vô
thường.
Ðiều
này
xãy
ra
rất
thường
trong
kinh
văn
Ðại
thừa,
trong
đó
đức
Phật
đảm
nhiệm
nhiều
hình
thức
khác
nhau
để
giáo
hoá
chúng
sanh.
Trong
Ðại
thừa,
cũng
có
thêm
việc
dùng
đà
la
ni
(dharanis,
lời
bằng
miệng,
đọc
trước
các
câu
chú),
dùng
các
nghi
thức
khác
nhau
trong
thời
kỳ
Phật
giáo
nguyên
thủy,
đặc
biệt
các
nghi
thức
thụ
phong
như
cạo
đầu
và
mặc
áo
vàng.
Trang
202.
Dòng
tư
tưởng
thứ
ba
qua
việc
dùng
biểu
tượng
cũng
có
mặt
trong
truyền
thống
Phật
giáo
từ
thời
kỳ
đầu
tiên.
Chẳng
hạn,
biểu
tượng
bánh
xe
được
dùng
để
chỉ
Pháp
Phật,
và
biểu
tượng
đàn
luýt
được
dùng
để
cắt
nghĩa
Trung
đạo.
Trong
Ðại
thừa,
việc
dùng
các
biểu
tượng
nầy
tiếp
tục
giữ
một
vai
trò
quan
trọng.
Trong
ba
dòng
tư
tưởng
và
hành
động
nầy--dân
chủ,
nghi
thức
và
biểu
tượng--chúng
ta
có
ba
hướng
chuyển
động
chánh
đóng
góp
vào
sự
lớn
mạnh
của
truyền
thống
Kim
cương
thừa.
Hiện
tượng
mà
ta
nhận
ra
là
Kim
cương
thừa
đã
khởi
từ
Ấn
độ
giữa
thế
kỷ
thứ
III
và
thứ
VII
sau
Tây
lịch.
Kim
cương
thừa
nở
hoa
khắp
Ấn
độ
khoảng
thế
kỷ
thứ
VII.
Long
thọ
(Nagarjuna)
và
Vô
trước
(Asanga)
giữ
vai
trò
chánh
trong
việc
phát
triển
nó
ngay
từ
đầu;
sau
đó,
Kim
cương
thừa
đã
bị
ảnh
hưởng
mạnh
bởi
84
Ðại
sư
đắc
đạo
(Mahasiddhas).
Bạn
có
thể
ngạc
nhiên
khi
thấy
tên
của
các
vị
Long
thọ
và
Vô
trước
xuất
hiện
trong
thời
kỳ
này,
nhưng
Kim
cương
thừa
đều
đồng
ý
trong
việc
nhận
họ
là
những
vị
sáng
lập
nó.
Chúng
ta
sẽ
hiểu
tại
sao,
đây
là
sự
thật
quan
điểm
căn
bản
khi
khảo
sát
đến
hậu
cảnh
triết
học
và
tôn
giáo
của
Kim
cương
thừa
trong
Chương
23.
Riêng
ở
đây,
chúng
ta
hãy
xem
tiểu
sử
của
nhị
vị
Long
thọ
và
Vô
trước
để
giúp
ta
hiểu
rõ
hơn
hoàn
cảnh
nào
mà
Kim
cương
thừa
khởi
sinh
và
phát
triển.
Theo
các
tiểu
sử
truyền
thống
Tây
tạng,
Bồ
tát
Long
Thọ
đã
được
cho
biết
là
sẽ
không
sống
quá
7
tuổi.
Vì
vậy,
khi
sinh
nhựt
thứ
7
của
ông
gần
đến,
cha
mẹ
ông
không
sẵn
lòng
nhìn
con
mình
chết,
đã
gởi
ông
đi
xa
trong
một
cuộc
hành
trình
lâu
dài
với
nhiều
người
bạn
và
đồ
ăn
thức
uống
đầy
đủ.
Những
lời
kể
lại
nói
rằng
Long
Thọ
hướng
về
phía
Bắc
và
sau
đó
đã
tới
Ðại
học
Nalanda.
Ở
đó
Long
Thọ
đã
gặp
Saraha,
một
vị
giáo
sư
tài
ba.
Khi
Saraha
nghe
được
lời
tiên
đoán
là
Long
Thọ
sẽ
chết
sớm,
ông
ta
khuyên
ngài
trì
chú
Cuộc
Ðời
Vô
Hạn
Phật
(Aparamitayus).
Nhờ
trì
chú
suốt
ngày
đêm
sinh
nhật
thứ
bảy,
Long
Thọ
đã
thoát
được
cái
chết
đã
được
tiên
đoán
về
ông.
Trang
203.
Dù
muốn
hay
không
muốn
tin
chuyện
tiểu
sử
này,
ta
vẫn
có
thể
học
được
cái
gì
đó
khá
quan
trọng
cái
thái
độ
chung
đã
chấp
nhận
chuyện
tiểu
sử
này,
đó
là,
tụng
kinh
trì
chú
được
tin
tưởng
là
đã
có
quyền
(năng)
ảnh
hưởng
thật
(tướng).
Trong
phần
tiểu
sử
của
Long
thọ,
ta
cũng
biết
được
là
trong
một
nạn
đói,
ông
đã
giữ
được
các
tăng
chúng
trong
tu
viện
bằng
cách
biến
các
kim
loại
tầm
thường,
kém
giá
trị
thành
vàng.
Ở
đây,
ta
lại
có
một
thí
dụ
về
biểu
tượng
của
thuật
chế
kim.
Chủ
nghĩa
biểu
tượng
rất
quan
trọng
trong
Kim
cương
thừa
bởi
vì,
người
thợ
kim
hoàn
chuyên
môn
như
thế
nào
thì
người
tinh
thông
Kim
cương
thừa
cũng
giỏi
về
việc
chuyển
biến
các
kinh
nghiệm
tạp
chất,
vẩn
đục
của
một
con
người
bình
thường
thành
kinh
nghiệm
giác
ngộ
như
thế
ấy.
Trong
phần
tiểu
sử
của
ngài
Vô
Trước,
ta
cũng
thấy
được
rất
nhiều
điều.
Theo
đó,
ông
lui
ẩn
vào
một
hang
động
để
thực
hành
thiền
quán
về
Phật
Di
lặc
vị
lai,
trong
ba
năm
mà
không
thành
công.
Nản
tâm,
ông
rời
khỏi
hang
cuối
năm
thứ
ba
và
gần
như
gặp
ngay
một
người
đang
chà
một
thỏi
sắt
bằng
lông
chim.
Ðược
hỏi
đang
làm
gì
đó,
người
này
nói
mình
đang
chà
sắt
thành
kim.
Vô
Trước
tự
nghĩ,
một
người
có
được
kiên
nhẫn
ngay
cả
trong
công
việc
tầm
thường
như
thế,
thì
có
thể
ông
quá
vội
khi
bỏ
việc
tu
tập
của
mình
chăng.
Thế
là
ông
trở
lại
hang
động
và
tiếp
tục
thiền
định.
Trong
tất
cả
12
năm,
Vô
Trước
không
được
một
kinh
nghiệm
lợi
lạc
trực
tiếp
nào
của
Di
lặc.
Một
lần
nữa,
vào
cuối
năm
thứ
12,
ông
rời
hang.
Lần
này,
ông
gặp
một
con
chó
bệnh
nằm
bên
đường,
thân
xác
ghẻ
lở,
mưng
mủ
đầy
giòi
bọ
đang
đục
khoét.
Nhờ
quán
tưởng
Ðức
Di
lặc
trong
12
năm,
phát
triển
được
lòng
đại
bi
nên
ngài
lập
tức
cầu
nguyện
sự
bớt
đau
khổ
cho
con
chó.
Nghĩ
đến
việc
bắt
bỏ
giòi
bọ
ra
nhưng
lo
rằng
nếu
ông
dùng
bằng
tay,
chúng
sẽ
đau
đớn.
Ðể
các
giòi
bọ
không
đau,
đồng
thời
giúp
giảm
bớt
sự
đau
đớn
cho
con
chó,
ông
cúi
xuống
dùng
lưỡi
để
bắt
từng
giòi
bọ
ra.
Ngay
khi
làm
thế,
tức
thì
con
chó
biến
thành
một
cầu
vòng
với
ánh
sáng
đầy
đủ
màu
sắc
và
Bồ
tát
Di
lặc
xuất
hiện
ngay
trước
mặt
ngài.
Trang
204.
Vô
Trước
hỏi,
‘‘Mấy
năm
qua
ông
ở
đâu?’’
Di
lặc
trả
lời,
‘‘Ta
luôn
luôn
bên
ngươi,
ngươi
không
thấy
được
ta
chỉ
vì
ngươi
không
có
khả
năng
thấy
ta
thôi.
Chỉ
khi
ngươi
phát
lòng
từ
bi
và
thanh
lọc
cái
tâm
đầy
đủ
thì
thấy
được
ta.’’
Ðể
chứng
minh
sự
thật
này,
ông
bảo
Vô
Trước
cõng
ông
trên
vai
và
cùng
vào
làng.
Không
ai
thấy
cái
gì
trên
vai
Vô
Trước
trừ
một
cụ
già,
vị
này
hỏi
ông,
‘‘Ông
cõng
con
chó
bệnh
hoạn
chi
vậy?’’
Trong
phần
tiểu
sử
của
Vô
Trước,
chúng
ta
thấy
một
sự
thật
quan
trọng
là:
muốn
chứng
nghiệm
cái
toàn
thể
của
thực
tướng,
tất
cả
đều
tùy
thuộc
vào
tâm
duyên.
Trang
204.
Trong
phần
tiểu
sử
của
hai
vị
sáng
lập,
chúng
ta
có
thể
thấy
các
thành
phần
khác
nhau
nhưng
rất
quan
trọng,
đó
là
yếu
tố
nghi
thức,
yếu
tố
chuyển
biến
và
yếu
tố
pháp
thuật,
hay
tự
tính
tâm
duyên
của
thực
tướng.
Trong
khi
Long
Thọ
và
Vô
Trước
được
tin
là
cha
đẻ
sáng
lập
Kim
cương
thừa,
84
vị
đại
sư
(Mahasiddhas)
chắc
chắn
đã
làm
công
việc
phổ
biến
Kim
cương
thừa
khắp
xứ
Ấn
độ.
Những
vị
này
là
các
thí
dụ
điển
hình
của
một
loại
mới
về
cá
tính
riêng
biệt
tôn
giáo.
Không
cần
biết
họ
là
tu
sĩ
Phật
giáo
chính
thống
hay
Bà
la
môn
cổ,
tất
cả
những
nhân
vật
này
đều
giữ
vai
trò
chính
yếu
trong
việc
truyền
bá
Kim
cương
thừa;
họ
là
người
lương,
bậc
tu
khổ
hạnh,
kẻ
chèo
đò,
thợ
đồ
gốm
hay
các
vì
vua.
Nếu
xét
đến
các
lời
tường
thuật
về
đời
sống
và
thời
đại
của
các
vị
anh
hùng
nầy,
chúng
ta
sẽ
hiểu
được
thái
độ
tâm
linh
chung
trong
thời
kỳ
phát
triển
phái
Bắc
truyền
(Ðại
thừa)
ở
Ấn
độ.
Sau
đây
ta
thử
xét
đến
tiểu
sử
hai
trong
84
vị
Ðại
sư
này,
Virupa
và
Naropa.
Trang
205.
Virupa
có
trách
nhiệm
về
nguồn
gốc
và
sự
truyền
bá
các
lời
giáo
huấn
Kim
cương
thừa.
Ông
là
giảng
sư
triết
học
Ðại
học
Nalanda.
Thực
hành
Kim
cương
thừa
suốt
ngày
đêm,
năm
này
đến
năm
khác,
trì
hàng
ngàn
chú
mà
vẫn
không
thành
công.
Cuối
cùng,
ông
chán
nản
và
ném
tràng
hạt
vào
nhà
xí.
Ðêm
hôm
sau,
trong
giấc
ngủ,
nữ
thần
Nairatmya
tượng
trưng
Vô
ngã
xuất
hiện
và
bảo
rằng
ông
đã
trì
chú
sai
vị
thần.
Ngày
hôm
sau
Virupa
trở
lại
lần
tràng
hạt,
thiền
định
và
trì
chú
đúng
vào
vị
nữ
thần
Nairatmya.
Ông
tu
tập
thành
công
và
rời
bỏ
địa
vị,
lang
bạt
khắp
Ấn
độ.
Có
ba
sự
kiện
quan
trọng
được
nói
về
Virupa:
ông
đã
làm
ngưng
dòng
sông
Hằng
để
ông
có
thể
băng
qua;
ông
đã
uống
rượu
ba
ngày
liên
tiếp;
ông
đã
giữ
ánh
sáng
mặt
trời
bất
động
trong
một
lúc.
Những
kỳ
công
này
có
ý
nghĩa
gì?
-
Làm
ngưng
nước
chảy
sông
Hằng
có
nghĩa
là
chận
đứng
các
phiền
não,
phá
tan
vòng
sanh
tử.
-
Uống
rượu
ba
ngày
có
nghĩa
là
hưởng
hạnh
phúc
giải
thoát
tối
thượng.
-
Giữ
được
ánh
sáng
mặt
trời
bất
động
trong
bầu
trời
có
nghĩa
là
giữ
được
ánh
sáng
của
cái
tâm
muôn
pháp
về
một
Trong
tiểu
sử
Virupa,
chúng
ta
thấy
có
một
ẩn
dụ
quan
trọng:
Kim
cương
thừa
đặt
sự
hiểu
biết
vào
kinh
nghiệm
trực
tiếp.
Ông
là
giảng
sư
Ðại
học
Nalanda,
nhưng
việc
đó
chưa
đủ.
Ngoài
kiến
thức
đạt
được
qua
nghiên
cứu,
ông
phải
đạt
được
tri
kiến
trực
tiếp,
lập
tức
cho
chính
mình
qua
việc
nhận
ra
chơn
lý.
Trang
206.
Cùng
một
ẩn
dụ
cũng
được
thấy
rõ
trong
tiểu
sử
Naropa,
vị
này
cũng
là
giảng
sư
Ðại
học
Nalanda.
Một
ngày
nọ,
trong
khi
ông
đang
ngồi
tại
phòng
đọc
sách
với
đầy
sách
chung
quanh,
một
người
đàn
bà
có
tuổi
xuất
hiện
và
hỏi
ông
có
hiểu
những
chữ
trong
các
lời
giáo
huấn
trong
kinh
sách
không.
Naropa
trả
lời
rằng
ông
hiểu.
Người
đàn
bà
hoan
hỷ
và
rồi
hỏi
tiếp
là
ông
có
hiểu
cái
tinh
thần
của
chúng
không.
Naropa
trả
lời
rằng
mình
cũng
hiểu
luôn
cái
tinh
thần
chúng
nữa.
Lần
này
người
đàn
bà
bỗng
trở
nên
giận
dữ,
nói
rằng
lần
thứ
nhứt
ông
nói
thật,
nhưng
lần
thứ
hai
thì
không.
Người
phụ
nữ
này
chính
là
Vajravarahi,
một
vị
nữ
thần
khác
của
Vô
ngã.
Sau
khi
biết
được
rằng
mình
đã
không
hiểu
tinh
thần
của
những
gì
mình
đọc,
Naropa
từ
bỏ
địa
vị
và
đi
tìm
chơn
lý.
Chúng
ta
kết
luận
bằng
cách
xét
đến
một
vài
ý
tưởng
được
cho
là
của
các
Ðại
Ðạo
sư.
Trong
các
đoạn
văn
này,
ta
thấy
được
một
loại
cá
tính
tôn
giáo
điển
hình
mới.
Chúng
ta
cũng
thấy
được
việc
dùng
các
biểu
tượng
khác
nhau
để
nói
lên
cái
quan
trọng
về
tính
siêu
việt
của
đối
đãi.
Ðoạn
văn
đầu
tiên
như
sau:
Dombi,
(một
người
đàn
bà
bị
ruồng
bỏ)
ngôi
lều
của
ngươi
nằm
phía
ngoài
làng.
Ngươi
bị
bọn
trọc
đầu
và
bọn
giai
cấp
Bà
la
môn
làm
hại.
Ta
là
Kapalica,
một
người
tu
khổ
hạnh
không
manh
quần
tấm
áo,
mang
vòng
hoa
sọ
người.
Ta
không
có
thành
kiến
nào
cả.
Ta
sẽ
xem
bà
là
người
sống
bên
cạnh
ta.
Trang
207.
Ở
đây
‘Dombi’
tượng
trưng
cho
vị
nữ
thần
Vô
ngã,
tức
Nairatmya.
‘‘Ngôi
lều
của
bà
nằm
phía
ngoài
làng’’
có
nghĩa
là,
để
thực
sự
hiểu
nghĩa
không,
ta
phải
biết
chuyển
biến
các
giới
hạn
qui
ước.
Ý
nghĩa
phần
còn
lại
của
đoạn
văn
là,
mặc
dù
nghĩa
không
có
thể
bị
các
vị
sư
Bà
la
môn
làm
hại,
nhưng
chỉ
có
người
theo
phái
Du
già,
một
nhân
vật
mới
mẻ
của
tôn
giáo,
không
thành
kiến,
mới
có
thể
sống
chung
với
nghĩa
không
được.
Thí
dụ
thứ
hai
như
sau:
Người
đàn
bà
bán
rượu
đang
nấu
rượu.
Kẻ
uống
rượu
thấy
bảng
bán
rượu
trên
thềm
cửa
thứ
mười,
bèn
bước
vào
Ở
đây
‘‘người
đàn
bà
bán
rượu’’
là
nữ
thần
Vô
ngã
Nairatmya.
‘‘Rượu’’
chỉ
sự
không
đối
đãi
(bất
nhị),
không
bên
này
cũng
không
bên
kia.
‘‘Bảng
bán
rượu
trên
thềm
cửa
thứ
mười’’
là
giai
đoạn
thứ
10
của
Bồ
tát
đạo,
ngưỡng
cửa
của
Phật
quả.
Ðoạn
văn
trên
có
nghĩa
là:
người
nào
uống
rượu
muốn
đắc
Phật
quả
phải
qua
nổi
cửa
bất
nhị.
Nhờ
việc
đại
chúng
hoá
các
nghi
thức
và
biểu
tượng
cũng
như
nhờ
việc
tập
hợp
sức
mạnh
các
dòng
tư
tưởng
dân
chủ
nên
có
kết
quả
tâm
linh
cao
nhất
cho
tất
cả
các
bậc
thượng
căn
hạ
trí,
nhờ
thế
Kim
cương
thừa
đã
phổ
biến
vượt
mức
khắp
cả
Ấn
độ
chỉ
trong
thời
gian
vài
thế
kỷ.
---o0o---
Chương
21
| Mục
lục
|
Chương
23
| Mục lục tác giả | Tủ
sách Phật Học |
---o0o---
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-03-2002