Cây
Giác-Ngộ
The Tree of Enlightenment.
Nguyên tác: Peter Della
Santina,
Ph.D.
Việt dịch: Minh Thiện Trịnh Chỉnh
Melbourne
2002
---o0o---
Chương
7
(Trang
65
-
74.)
Trí
Huệ
Wisdom
~~~~~~~
Chương
này
là
chương
hoàn
tất
việc
quan
sát
tám
bước
đi
của
Bát
Chánh
Ðạo.
Trong
chương
5
và
6
chúng
ta
đã
xét
qua
2
nhóm
đầu
tiên,
các
cách
thực
hành
thuộc
phần
giới
đức
và
thiền
định.
Tới
đây
ta
đối
đầu
với
một
nghịch
lý
rõ
rệt:
trong
danh
sách
tám
bước,
‘Chánh
(tri)
kiến’
và
‘Chánh
tư
duy’
xãy
ra
trước,
vậy
mà
trong
nội
dung
của
3
giai
đoạn
thực
hành,
nhóm
trí
huệ
lại
đến
sau.
Tại
sao
lại
như
vậy?
Trước
đây,
ta
dùng
câu
chuyện
leo
núi
để
cắt
nghĩa
các
sự
liê
n
hệ
trong
tám
bước
của
Bát
chánh
Ðạo.
Trước
khi
khởi
hành
để
leo
núi,
bạn
phải
có
đỉnh
núi
trước
mặt.
Ðây
là
tầm
nhìn
để
hướng
tới
của
ta.
Vì
vậy,
ngay
từ
đầu
ta
phải
giữ
con
mắt
hướng
vào
đỉnh
núi.
Vì
thế,
‘Chánh
(tri)
kiến’
được
đặt
ngay
từ
đầu
các
bước
đi
của
nó.
Trong
thực
tế,
phải
leo
từ
những
sườn
núi
thấp
hơn
và
leo
dần
lên
các
rặng
núi
kế
bên
trước
khi
bạn
có
thể
đạt
tới
đỉnh
núi,
đây
mới
là
sự
đạt
được
trí
huệ.
Vì
thế
trong
thực
tế,
trí
huệ
chỉ
đến
sau
cùng
trong
việc
thực
hành
Bát
Chánh
Ðạo.
Trí
huệ
được
mô
tả
là
sự
hiểu
biết
về
Tứ
Diệu
Ðế,
sự
hiểu
biết
về
thuyết
Duyên
khởi
và
những
thuyết
khác.
Những
gì
chúng
ta
muốn
nói
ở
đây
là:
việc
chứng
đắc
trí
huệ
là
sự
chuyển
biến
các
học
thuyết
từ
tri
thức
thành
sự
chứng
nghiệm
riêng.
Nói
một
cách
khác,
chúng
ta
muốn
chuyển
đổi
kiến
thức
về
Tứ
Diệu
Ðế
và
các
thuyết
khác
từ
việc
học
trong
sách
thành
sự
thật
sinh
động
và
thực
tế.
Muốn
hoàn
tất
sự
chuyển
đổi
này,
trước
nhất
phải
vun
trồng
giới
đức
và
kế
đó
qua
sự
thực
tập
thiền
quán.
Trang
66.
Bất
cứ
ai
cũng
có
thể
đọc
sách
nói
về
ý
nghĩa
của
Tứ
Diệu
Ð
ế,
thuyết
Duyên
sinh,
v.v...
Nhưng
như
vậy
không
có
nghĩa
là
người
ấy
đã
đạt
được
trí
huệ
(bát
nhã
ba
la
mật
đa=prajna
paramita
(Phạn)).
Phật
đã
nói
rằng
chính
vì
không
hiểu
được
Tứ
Diệu
Ðế
và
thuyết
Duyên
sinh
mà
tất
cả
chúng
ta
đã
chịu
luân
hồi
sinh
tử
quá
lâu.
Dĩ
nhiên
ông
còn
muốn
nói
sâu
xa
hơn
thế
nữa.
Trang
66.
Chữ
‘hiểu
biết
(tri
kiến)’
phải
được
hiểu
với
nghĩa
‘Chánh
tri
kiến’
tức
là
hiểu
biết
trực
tiếp
và
tức
thì.
Nó
có
thể
là
một
nhận
thức
giãn
dị
giống
như
thấy
một
dãy
màu
xanh
chẳng
hạn.
Có
thể
đây
là
lý
do
tại
sao
chữ
‘thấy’
được
dùng
rất
thường
để
mô
tả
sự
đạt
được
trí
huệ.
Chúng
ta
nói
đến
trí
huệ
bằng
chữ
‘thấy
sự
thật’
hay
‘thấy
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
của
nó’
bởi
vì
việc
đạt
được
trí
huệ
không
phải
là
sự
sử
dụng
tri
thức
hay
học
tập
lý
thuyết
mà
nó
là
sự
hiểu
biết
hay
‘thấy’
những
sự
vật
này
một
cách
trực
tiếp.
Ðạt
được
sự
hiểu
biết
trực
tiếp
về
bản
chất
thực
tế
tương
đương
với
sự
đạt
được
giác
ngộ.
Ðiều
này
mở
rộng
cánh
cửa
tự
do
để
thoát
khỏi
đau
khổ
và
đến
niết
bàn.
Trong
Phật
giáo,
trí
huệ
là
chìa
khóa
cho
sự
nhận
thức
mục
tiêu
của
tôn
giáo.
Trong
một
vài
tôn
giáo,
chúng
ta
nhận
thấy
rằng
lòng
tin
là
cao
tột
nhất;
ở
những
tín
ngưỡng
khác,
thiền
định
là
cao
tột
nhất.
Trong
Phật
giáo,
bắt
đầu
là
lòng
tin,
kế
đó
là
thiền
quán
và
trung
tâm
chính
yếu
là
trí
huệ.
Hai
bước
trong
Tám
Bước
Bát
chánh
đạo
thuộc
nhóm
trí
huệ
là
‘Thấy
đúng’
(Chánh
tri
kiến)
và
‘Nghĩ
đúng’
(Chánh
tư
duy).
‘Thấy
đúng’
là
thấy
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
hơn
là
chỉ
thấy
qua
bề
ngoài
của
chúng.
Những
gì
mà
điều
này
muốn
nói
đến
trong
nghĩa
thực
tế
là
sự
sáng
suốt,
hiểu
biết
thâm
thúy,
hay
thấy
được
bên
dưới
của
bề
mặt
sự
vật.
Nếu
muốn
cắt
nghĩa
điều
này
về
mặt
học
thuyết,
ta
phải
nói
về
Tứ
Diệu
Ðế,
thuyết
Duyên
khởi,
vô
thường,
vô
ngã,v.v...Ngay
lúc
này,
chúng
ta
chỉ
nói
đến
phương
tiện
để
đạt
được
‘Thấy
đúng’
(Chánh
tri
kiến),
còn
phần
nội
dung,
ta
để
một
dịp
khác
sẽ
nói
sau.
Một
lần
nữa,
quan
điểm
khoa
học
của
Pháp
Phật
thật
hiển
nhiên.
Khi
xem
xét
các
phương
tiện
để
đạt
được
‘Thấy
đúng
(Chánh
tri
kiến),
ta
nhận
thấy
là
chúng
ta
bắt
đầu
với
sự
quan
sát
khách
quan
về
thế
giới
chung
quanh
mình
và
về
chính
mình.
Hơn
nữa,
sự
quan
sát
khách
quan
được
nối
kết
bằng
tìm
tòi,
xem
xét
và
cân
nhắc.
Trang
67.
Trong
tiến
trình
đạt
được
nó,
ta
thấy
rằng
có
hai
loại
tri
kiến:
1.
loại
do
chính
ta
đạt
được,
2.
loại
do
ta
đạt
được
từ
người
khác
hay
do
người
khác
trưng
ra.
Nói
chung,
hai
loại
tri
kiến
này
cuối
cùng
hợp
làm
một.
Tri
kiến
tổng
hợp
này(
hay
Chánh
tri
kiến)
là
của
riêng
ta.
Tuy
nhiên
ta
có
thể
phân
biệt
giữa
cái
tri
kiến
được
hoàn
thành
qua
sự
quan
sát
các
sự
kiện
hàng
ngày
và
cái
tri
kiến
học
hỏi
qua
giáo
lý.
Trong
trường
hợp
kinh
nghiệm
cá
nhân,
chúng
ta
được
khuyến
khích
quan
sát
khách
quan
các
sự
kiện
được
đưa
ra
và
cân
nhắc
ý
nghĩa
của
chúng.
Khi
tiếp
cận
Pháp
Phật,
chúng
ta
được
khuyế
n
khích
nghiên
cứu
trước
(Văn),
rồi
xem
xét
và
cân
nhắc
chúng
sau
(Tư).
Dù
quan
sát
khách
quan
để
tìm
sự
thật
cho
kinh
nghiệm
cá
nhân,
hay
nghiên
cứu,
xem
xét
các
kinh
sách,
bước
thứ
ba
và
cuối
cùng
trong
tiến
trình
đạt
được
kiến
thức
vẫn
là
thiền
định.
Chính
ngay
tại
điểm
này
mà
hai
loại
tri
kiến
tôi
đã
ám
chỉ
trước
đây
trở
nên
không
thể
nào
phân
biệt
được.
Trang
68.
Ðể
tóm
tắt,
các
phương
tiện
đạt
được
sự
‘Thấy
đúng’
(Chánh
tri
kiến)
là:
(1)
giai
đoạn
quan
sát
và
nghiên
cứu;
(2)
giai
dọan
xem
xét
và
suy
nghĩ
những
gì
đã
quan
sát
và
nghiên
cứu;
(3)
giai
đoạn
thiền
định,
suy
ngẫm
những
gì
đã
xem
xét
và
suy
nghĩ.
Hãy
dùng
một
thí
dụ
thực
tế.
Chúng
ta
có
ý
định
du
lịch
một
nơi
nào
đó.
Ðể
chuẩn
bị
cho
cuộc
hành
trình,
ta
phải
có
một
bản
đồ
để
tìm
phương
hướng;
kế
đó
quan
sát,
nghiên
cứu,
xem
xét
các
dấu
hiệu
chỉ
đường,
đường
siêu
xa
lộ,
đường
địa
phương,
khoảng
cách
xa
gần,
các
đô
thị
lớn
nhỏ,
các
ngõ
tắt,v.v....
Sau
cùng,
ta
thực
sự
thực
hiện
cuộc
hành
trình
đi
dến
nơi
đã
định
trước.
Bước
cuối
cùng
này
có
thể
so
sánh
với
thiền
định.
Lấy
một
thí
dụ
khác.
Giả
thử
bạn
đã
mua
một
dụng
cụ
cho
căn
nhà
hay
văn
phòng
mình.
Ðọc
lời
chỉ
dẫn
để
biết
cách
dùng
qua
một
lần
thì
không
đủ.
Nó
phải
được
đọc
đi
đọc
lại
và
xem
xét
kỷ
lưởng
để
chắc
chắn
rằng
bạn
đã
hiểu
rõ
những
gì
nó
muốn
nói.
Chỉ
khi
nào
chắc
chắn
đã
hiểu
thật
sự
thì
lúc
đó
bạn
mới
có
thể
tiến
hành
sử
dụng
dụng
cụ
mới
mua
này.
Cách
sử
dụng
nó
cho
có
kết
quả
giống
như
giai
đoạn
thiền
định.
Ðể
đạt
được
trí
huệ
chúng
ta
phải
thiền
định,
suy
ngẫm
vào
những
điều
mà
chúng
ta
đã
đạt
được
qua
việc
quán
sát,
nghiên
cứu
và
chứng
nghiệm.
Vào
giai
đoạn
thứ
ba
này,
cái
tri
kiến
mà
ta
đạt
được
trước
đó
trở
nên
một
phần
của
kinh
nghiệm
sống
của
mình.
Chúng
ta
có
thể
bỏ
ra
một
chút
thời
gian
xét
đến
thái
độ
thích
nghi
cần
có
để
học
tập
Pháp
Phật.
Muốn
có
một
thái
độ
tốt,
ta
phải
tránh
3
điều,
được
cắt
nghĩa
với
ví
dụ
cái
chén.
Chúng
ta
được
ví
là
cái
chén,
lời
giáo
huấn
là
những
gì
được
đổ
vào
trong
chén.
Trang
69.
Giả
thử
cái
chén
được
đậy
nắp:
chúng
ta
sẽ
không
thể
đổ
gì
vào
đó
được
hết.
Ðiều
này
được
so
sánh
với
tình
trạng
của
một
người
lắng
nghe
lời
giáo
huấn
với
tâm
bị
đóng
chặt
lại,
có
nghĩa
là,
một
cái
tâm
đã
đầy.
Trong
trường
hợp
nầy,
Pháp
Phật
không
thể
nào
vào
được
tâm
trí
của
người
ấy.
Giả
thử
cái
tô
có
lỗ
dưới
đáy:
nếu
chúng
ta
cố
gắng
đổ
đầy
sửa,
chất
sửa
rõ
ràng
là
chỉ
chảy
theo
chỗ
lủng
đó
thôi.
Ðiều
này
được
so
sánh
với
một
người
không
giữ
lại
được
những
gì
họ
nghe,
vì
thế,
không
có
lời
giáo
huấn
nào
có
lợi
ích
cả.
Cuối
cùng,
thí
dụ
chúng
ta
đổ
đầy
sửa
tươi
vào
tô
trước
khi
kiểm
soát
xem
tô
sạch
hay
không
hoặc
còn
sửa
hư
còn
lại
hay
không:
sửa
tươi
mà
chúng
ta
đổ
vào
trong
tô
sẽ
đương
nhiên
bị
hư.
Cũng
giống
như
vậy,
nếu
nghe
lời
giáo
huấn
với
một
tâm
trí
không
trong
sạch,
người
đó
sẽ
không
được
lợi
lạc
gì.
Chẳng
hạn,
có
người
nghe
pháp
vì
những
mục
đích
ích
kỷ,
như
muốn
có
danh
và
có
lợi:
điều
này
giống
như
cái
tô
đã
bị
nhơ
bợn
đầy
những
uế
trược.
Trang
69.
Tất
cả
chúng
ta
phải
cố
gắng
tránh
ba
điều
sai
sót
này
khi
tiếp
cận
giáo
lý
của
Phật.
Cái
thái
độ
đúng
đắn
phải
có
để
nghe
Pháp
giống
như
một
bệnh
nhân
chăm
chú
nghe
lời
khuyên
của
vị
y
sĩ.
Ở
đây,
đức
Phật
cũng
như
vị
Y
sĩ,
Pháp
có
giá
trị
như
thuốc
men,
chúng
ta
là
bệnh
nhân,
và
sự
thực
tập
các
lời
giáo
huấn
là
phương
tiện
mà
nhờ
đó
chúng
ta
có
thể
được
chữa
lành
bệnh
phiền
não,
đây
là
nguyên
nhân
của
sự
đau
khổ.
Chúng
ta
chắc
chắn
hoàn
thành
một
mức
độ
nào
đó
của
việc
‘Thấy
đúng’
(Chánh
tri
kiến)
nếu
chúng
ta
tiếp
cận
việc
học
Pháp
Phật
với
thái
độ
này.
‘Chánh
tri
kiến’
tự
nó
thường
được
chia
là
m
hai
mặt
(hay
hai
trình
độ):
một
trình
độ
thông
thường
và
một
trình
độ
cao
hơn.
Trong
chương
4,
tôi
đã
lưu
ý
đến
những
mục
tiêu
mà
Phật
giáo
đã
cho,
mà
nó
cũng
thuộc
về
hai
trình
độ
khác
nhau:
mục
tiêu
hạnh
phúc
và
sung
mãn
thuộc
về
cuộc
đời
ngày
hôm
nay
và
mai
sau,
trong
khi
mục
tiêu
tự
do,
hay
niết
bàn,
là
mục
đích
thực
hành
tối
hậu.
‘Chánh
tri
kiến’
đầu
tiên
tương
đương
với
mục
tiêu
bình
thường
của
việc
thực
tập,
trong
khi
trình
độ
cao
hơn
của
‘Chánh
tri
kiến’
tương
đương
với
mục
tiêu
tối
hậu
của
việc
tu
tập
Pháp
Phật.
Trang
70.
Cái
đầu
tiê
n,
trình
độ
bình
thường
của
‘Chánh
kiến’,
có
liên
hệ
với
sự
‘Thấy
đúng’
về
sự
liên
hệ
giữa
nhân
và
quả,
nó
thuộc
về
trách
nhiệm
đạo
đức
đối
với
hành
vi
của
mình.
Nói
khác
đi,
không
sớm
thì
muộn,
ta
sẽ
nhận
lấy
các
kết
quả
về
hành
động
của
mình.
Nếu
chúng
ta
hành
động
tốt
đẹp
như
duy
trì
các
giá
trị
của
việc
tôn
trọng
cuộc
sống,
tài
sản,
sự
thật,
v.
v...chúng
ta
sẽ
hưởng
được
những
quả
tốt
đẹp
về
các
hành
động
đúng
đắn
của
mình.
Nói
chung,
ta
sẽ
vui
hưởng
hạnh
phúc
và
những
điều
kiện
may
mắn
hay
sẽ
chịu
khổ
đau,
khốn
đốn
và
những
điều
kiện
không
may
mắn
trong
cuộc
đời
này
và
trong
các
cuộc
đời
tương
lai.
Trang
70.
Cái
thứ
hai,
lãnh
vực
cao
hơn
của
‘Chánh
tri
kiến’,
có
liên
hệ
với
việc
thấy
các
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
của
nó,
thuộc
về
lãnh
vực
tối
hậu
của
Pháp
Phật.
Ý
chúng
ta
muốn
gì
khi
nói
‘
thấy
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
của
nó’?
Một
lần
nữa,
các
câu
trả
lời
có
tính
cách
học
thuyết
cho
thấy:
‘các
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
của
nó’
có
nghĩa
là,
‘thấy
các
sự
vật
là
vô
thường,
là
duyên
sanh,
là
vô
ngã’,
v.v...
Tất
cả
những
câu
trả
lời
này
đều
đúng.
Tất
cả
đều
có
một
cái
gì
để
nói
về
‘các
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
của
nó’.
Ðể
đạt
được
bước
đầu
của
sự
hiểu
biết
này
và
cũng
là
bước
cuối
cùng
của
Bát
Chánh
Ðạo,
chúng
ta
phải
xét
đến
tất
cả
những
lời
diển
tả
có
chung
một
ý
nghĩa.
Ý
nghĩa
tổng
hợp
của
‘Chánh
tri
kiến’
đều
chống
việc
mê
lầm,
nô
lệ
và
sự
mắc
bẫy
trong
luân
hồi
sinh
tử.
Việc
đắc
quả
giác
ngộ
của
Phật
là
một
kinh
nghiệm
cần
thiết
cho
việc
diệt
trừ
vô
minh.
Kinh
nghiệm
này
thường
được
mô
tả
bởi
chính
đức
Phật
nếu
nói
theo
thuyết
Tứ
Diệu
Ðế
và
thuyết
Duyên
sanh.
Cả
hai
thuyết
này
đều
liên
hệ
với
sự
diệt
trừ
vô
minh.
Vô
minh
là
vấn
đề
trung
tâm
của
Phật
giáo.
Ý
niệm
chánh
trong
Tứ
Diệu
Ðế
và
thuyết
Duyên
sanh
là
vô
minh,
các
hậu
quả
và
sự
tiêu
diệt
nó.
Trang
71.
Chúng
ta
hãy
trở
lại
một
chút
công
thức
Tứ
Diệu
Ðế.
Chìa
khóa
để
chuyển
biến
từ
kinh
nghiệm
đau
khổ
qua
kinh
nghiệm
chấm
dứt
đau
khổ
là
việc
‘Thấy
đúng’
sự
thật
gây
ra
đau
khổ.
Một
khi
hiểu
các
nguyên
nhân
của
đau
khổ,
chúng
ta
có
thể
hành
động
để
hoàn
thành
sự
chấm
dứt
nó.
Như
đã
được
đề
cập
trong
Chương
4,
Tứ
Diệu
Ðế
được
chia
thành
hai
nhóm:
nhóm
thứ
nhất
cần
được
diệt
trừ
gồm
có
khổ
và
sự
huân
tập
cái
khổ;
nhóm
thứ
hai
cần
phải
thực
hành
cho
được
gồm
sự
diệt
trừ
đau
khổ
và
Bát
chánh
đạo.
Trang
71.
Hiểu
được
nguyên
nhân
của
đau
khổ
giúp
chúng
ta
hoàn
tất
được
việc
nà
y.
Việc
này
đã
được
mô
tả
rõ
ràng
trong
kinh
nghiệm
riêng
của
đức
Phật
vào
đêm
giác
ngộ
của
ông.
Khi
đức
Phật
nhận
ra
Tham
Sân
Si
là
3
nguyên
nhân
chánh
của
đau
khổ
thì
nó
đã
mở
cánh
cửa
tự
do
và
giác
ngộ
cho
ông.
Nếu
muốn
biết
nguyên
nhân
nào
chủ
động
nhất,
ta
phải
để
tâm
vào
vô
minh
tức
Si,
bởi
vì
chính
vì
vô
minh
mà
tham
và
sân
mới
nổi
lên.
Vô
minh
là
cái
ý
tưởng
về
sự
thường
hằng,
độc
lập
cá
nhân,
hay
cái
ngã.
Chính
vì
ý
niệm
cái
‘tôi’
được
tách
rời
ra
và
đối
lập
với
con
người
và
sự
vật
chung
quanh
chúng
ta,
đấy
là
nguyên
nhân
căn
bản
của
đau
khổ.
Một
khi
có
ý
tưởng
cái
‘tôi’,
ta
sẽ
có
khuynh
hướng
tự
nhiên
trở
thành
kinh
nghiệm
lưu
lại
và
hổ
trợ
cái
‘tôi’
này,
và
một
khuynh
hướng
tự
nhiên
khác
tách
khỏi
những
cái
mà
chúng
ta
tưởng
tượng
đe
dọa
cái
‘tôi’
này.
Chính
vì
ý
niệm
có
cái
ngã
độc
lập
này
mà
nó
là
nguyên
nhân
căn
bản
của
đau
khổ,
căn
nguyên
của
các
cảm
xúc
gây
các
phương
hại
khác
như:
dính
mắc,
ghét
bỏ,
tham
lam,
giận
dữ,
thèm
muốn
và
ghen
ghét.
Chính
vì
không
biết
cái
gọi
là
cái
tôi,
hay
cái
ngã
chỉ
là
cái
tên
gọi
tiện
lợi
cho
các
yếu
tố
thay
đổi
không
ngừng
mà
nó
gây
ra
những
vướng
mắc
hay
trở
ngại
về
tình
cảm.
Trang
72.
Nhưng
có
bao
giờ
có
một
khu
rừng
ở
ngoài
các
cây
cối
hay
không?
Cái
‘tôi’,
hay
‘ngã’,
chỉ
là
cái
tên
thông
thường
cho
một
sự
tập
hợp
của
các
tiến
trình.
Khi
cái
ngã
được
xem
là
có
thực
và
độc
lập,
đây
là
nguyên
nhân
của
đau
khổ
và
sợ
hãi.
Việc
tin
tưởng
có
một
cái
ngã
độc
lập
được
xem
như
tưởng
lầm
cái
dây
thành
con
rắn
trong
lúc
tranh
tối
tranh
sáng.
Nếu
gặp
cái
dây
trong
phòng
tối,
chúng
ta
có
thể
tưởng
sợi
dây
thực
sự
là
một
con
rắn,
và
sự
tưởng
tượng
đó
là
nguyên
nhân
của
sợ
hãi.
Cũng
giống
như
vậy,
vì
bóng
tối
của
vô
minh
mà
chúng
ta
xem
các
tiến
trình
vô
thường,
vô
ngã
của
thọ,
thức,
v.v...là
thực,
là
độc
lập.
Do
vậy,
ta
đáp
ứng
các
tình
trạng
đó
với
hy
vọng
và
lo
sợ,
tham
muốn
một
vài
việc
và
ghét
bỏ
một
số
việc
khác,
thích
người
này
không
thích
người
kia.
Trang
72.
Vì
thế,
vô
minh
là
ý
tưởng
sai
lầm
có
một
cái
bản
ngã
thường
hằng,
có
thực.
Lời
dạy
về
vô
ngã
không
đi
ngược
với
giáo
lý
dạy
về
trách
nhiệm
đạo
đức,
tức
luật
nghiệp
quả.
Bạn
hẵn
nhớ
lại
chúng
ta
đã
mô
tả
‘Chánh
kiến’
theo
hai
mặt:
sự
hiểu
biết
luật
nghiệp
báo
và
thấy
sự
vật
đúng
như
thực
tướng
của
nó.
Một
khi
ý
niệm
sai
lầm
của
cái
ngã
coi
mình
là
trung
tâm,
bị
đẩy
lui
bởi
‘Chánh
kiến’,
tức
thì
tham,
sân
và
những
phiền
não
khác
sẽ
không
xãy
ra.
Khi
tất
cả
ngừng
lại,
tức
là
sự
chấm
dứt
của
đau
khổ
đã
đạt
được.
Tôi
không
mong
tất
cả
những
đìều
này
được
rõ
ràng
ngay
bây
giờ.
Tôi
xin
cống
hiến
thêm
một
số
chương
nói
về
ý
niệm
vô
minh
trong
Phật
giáo
và
sự
xét
lại
cho
đúng
hơn
của
nó.
Bây
giờ
chúng
ta
hãy
tiếp
tục
đi
đến
bước
kế
tiếp
trong
nhóm
trí
huệ,
bước
‘Chánh
tư
duy’.
Ðến
đây
chúng
ta
có
thể
bắt
đầu
thấy
sự
tái
hợp
của
trí
huệ
với
giới
đức,
bởi
vì
‘Tư
duy’
có
một
ảnh
hưởng
rất
lớn
vào
tính
tình
cũng
như
lối
cư
xử
của
chúng
ta.
Ðức
Phật
nói
rằng:
‘Nếu
chúng
ta
hành
động
và
nói
năng
với
một
tâm
não
trong
sạch,
hạnh
phúc
sẽ
theo
liền
giống
như
cái
bóng,
ngược
lại
nếu
chúng
ta
hành
động
và
ăn
nói
với
một
đầu
óc
không
trong
sạch,
sự
dau
khổ
sẽ
theo
sau
giống
như
cái
bánh
xe
bò
theo
sau
móng
guốc
của
con
bò
kéo
(Phẩm
Song
yếu-
The
Pairs--Kinh
Pháp
cú-
Dhammapada).
Trang
73.
Các
nguyên
nhân
của
đau
khổ
được
cho
biết
là
si,
tham,
sân.
Trong
khi
‘Thấy
đúng’
(Chánh
kiến)
trừ
bỏ
được
sự
mê
si
thì
‘Nghĩ
đúng’
(Chánh
tư
duy)
tháo
gở
được
sự
tham
muốn
và
sân
giận.
‘Chánh
kiến’
và
‘Chánh
tư
duy’
cùng
hợp
với
nhau
diệt
được
các
nguyên
nhân
của
đau
khổ.
Muốn
cởi
bỏ
sự
dính
mắc,
tham
muốn
chúng
ta
phải
gieo
trồng
tính
nghị
lực
(dũng)
trong
khi
muốn
tháo
gở
sự
ghét
bỏ,
sân
giận
chúng
ta
phải
gieo
trồng
tình
thương
và
từ
bi.
Làm
sao
chúng
ta
thực
hiện
được
Dũng
và
Bi
để
tu
sửa
Tham
và
Sân?
Dũng
được
phát
triển
bằng
cách
quán
tưởng
sự
không
thỏa
mãn
các
tình
trạng
hiện
tại,
đặc
biệt
là
sự
không
vừa
lòng
các
tình
trạng
về
thú
vui
của
các
giác
quan.
Các
thú
vui
của
các
giác
quan
giống
như
nước
biển.
Người
khát
nước
uống
nước
biển
với
hy
vọng
làm
đả
cơn
khát
rút
cục
chỉ
thấy
rằng
cơn
khát
lại
càng
tăng.
Phật
so
sánh
các
thú
vui
của
các
giác
quan
với
một
loại
trái
cây
có
bề
ngoài
hấp
dẫn,
thơm
ngon,
nhưng
rất
độc
hại
nếu
ăn
nó.
Giống
như
vậy,
các
thú
vui
thì
hấp
dẫn
và
gây
thoả
thích
nhưng
nó
phá
hại.
Vì
thế,
để
gieo
trồng
cái
Dũng,
bạn
phải
xét
đến
những
hậu
quả
phiền
não
từ
sự
vui
thú
của
các
giác
quan.
Trang
73.
Ngoài
ra,
chúng
ta
nên
biết
đến
sự
kiện
là
chính
tính
chất
của
luân
hồi,
tức
vòng
sanh
tử,
là
đau
khổ.
Dù
rằng
sanh
ở
đâu
thì
đời
ta
cũng
sẽ
chịu
ít
nhiều
đau
khổ.
Ðặc
tính
của
luân
hồi
là
đau
khổ,
cũng
như
đặc
tính
của
lửa
là
nóng.
Qua
việc
‘Nghĩ
đúng’
việc
không
thoả
mãn
các
tình
trạng
hiện
tại
và
việc
nhận
ra
các
hậu
quả
phiền
não
về
sự
vui
thú
của
các
giác
quan,
chúng
ta
có
thể
gieo
trồng
lòng
dũng
cảm
và
tính
độc
lập.
Cũng
giống
như
vậy,
chúng
ta
có
thể
phát
triển
tình
thương
và
từ
bi
qua
việc
nhận
ra
sự
bình
đẳng
cần
thiết
của
tất
cả
các
sinh
vật.
Con
người
và
các
sinh
vật
khác
đều
sợ
chết
và
run
sợ
với
ý
nghĩ
bị
trừng
phạt.
Hiểu
được
chuyện
này,
chúng
ta
không
nên
giết
những
sinh
vật
khác,
hoặc
khiến
chúng
bị
sát
sanh.
Giống
như
chúng
ta,
tất
cả
các
sinh
vật
đều
thích
sống
và
sống
hạnh
phúc.
Hiểu
được
như
vậy,
chúng
ta
không
nên
tự
đặt
chúng
ta
trên
trước
người
khác
hay
tự
xem
mình
khác
với
họ.
Trang
74.
Thừa
nhận
sự
bình
đẳng
cần
có
của
tất
cả
các
sinh
vật
là
căn
bản
cho
việc
vun
trồng
tình
thương
và
từ
bi.
Tất
cả
các
sinh
vật
đều
thích
hạnh
phúc
và
sợ
đau
khổ
cũng
như
chúng
ta.
Nhận
ra
được
điều
này,
chúng
ta
phải
kính
trọng
tất
cả
với
tình
thương
và
từ
bi.
Hơn
nữa,
chúng
ta
phải
vun
trồng
mạnh
mẽ
lòng
mong
muốn
rằng
tất
cả
các
sinh
vật
đều
hạnh
phúc
và
không
bị
đau
khổ.
Bằng
cách
này,
tất
cả
chúng
ta
có
thể
vun
trồng
thái
độ
có
ích
cho
lòng
dũng
cảm
và
lòng
từ
bi.
Hai
đức
tính
này
sẽ
sửa
đổi
và
sau
đó
giải
trừ
tham
và
sân.
Cuối
cùng,
bằng
sự
thực
tập
mặt
trí
tuệ
của
Bát
Chánh
Ðạo,
tức
‘Chánh
kiến’
và
‘Chánh
tư
duy’,
chúng
ta
có
thể
tận
diệt
các
phiền
não
của
si
mê,
tham
muốn
và
sân
giận,
đạt
được
tự
do
và
hạnh
phúc
tối
cao
của
niết
bàn.
Ðây
là
mục
tiêu
tối
hậu
của
Bát
Chánh
Ðạo.
---o0o---
Chương
6
| Mục
lục
|
Chương
8
| Mục lục tác giả | Tủ
sách Phật Học |
---o0o---
Trình bày : Nhị Tường
Cập
nhật : 01-03-2002