Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nghi Lễ Phật Giáo


...... ... .


 
KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

Phụ Lục

---o0o---

CHÚ THÍCH

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VÀ DANH TỪ RIÊNG

Thích Giác Hoàng

(Đọc bằng phông chữ Arial Unicode MS)

 

 

 

(S - X)

Sa-bà  ®  Ta-bà.

sám-hối phiên âm và dịch nghĩa của Kṣama (S), ban đầu các nhà Phật học Trung Hoa phiên âm chữ kṣama là "sám-ma"  ,  nghĩa là xin người khác tha lỗi cho mình lỡ phạm. Về sau học giả Trung Hoa dịch là "hối quá." Sau để cho Hán hoá các từ có gốc tiếng nước ngoài, người Hoa dịch thành "sám hối." Nghĩa là ăn năn lỗi trước đã lỡ phạm và nguyện chừa không tái phạm nữa.

sa-môn    phiên âm của śramaṇa (S), samaṇa (P). Thuật ngữ Sa-môn dùng chỉ chung cho giới tu sĩ không tin vào thẩm quyền kinh điển Vệ-đà của đạo Bà-la-môn trong thời Đức Phật. Các tu sĩ ngoại đạo thời đó thường gọi Đức Phật là Sa-môn Cồ-đàm hay bậc Đại Sa-môn. Trong khi đó, Đức Phật thường gọi các đệ tử nam của mình là Tỳ-kheo và các đệ tử nữ là Tỳ-kheo-ni. Về sau, từ này được sử dụng để chỉ chung cho các vị cao tăng.

Sa-nặc   phiên âm của Chandaka (S) hoặc Channa (P), người hầu giữ ngựa trung thành của thái tử Tất-đạt-ta. Sau này ông cũng xuất gia theo Đức Phật, nhưng rất cứng đầu, ngạo mạn. Đức Phật trước khi tịch còn dặn đại chúng là phải dùng phép mặc tẫn (không nói chuyện) với Sa-nặc để hành phạt ông. Tuy nhiên, sau đó tôn giả nỗ lực tu tập và cuối cùng cũng chứng quả A-la-hán.

Sanh chủ   dịch nghĩa của PhạmThiên. Quan niệm của Bà-la-môn giáo cho rằng Phạm Thiên là đấng Tạo Hoá, đấng Sáng Tạo, đấng Tạo Dựng sinh ra muôn loài vạn vật nên có tên là Sanh Chủ. Đức Phật phủ nhận quan điểm này.

San-khê-da phiên âm của từ Saṅkheyya (P), viết đủ là Saṅkheyya-pariveṇa, phiên âm theo tiếng Hoa là San-khế-đa. Tên ngôi chùa của Tỳ-kheo Na-tiên trú ngụ thuộc vùng Sāgala.

sát-đế-lợi   phiên âm của kṣatriya (S) hoặc khattiya (P), nghĩa là giai cấp võ tướng, quý tộc, nắm hết mọi quyền chính trong quốc gia. Đây là giai cấp thứ hai trong bốn giai cấp thời Ấn Độ cổ.  

sát-na phiên âm của kṣaṇa (S) chỉ cho thời gian ngắn nhất mà con người có thể tưởng tưởng được.

sáu ba-la-mật dịch nghĩa của "lục ba-la-mật" , gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.

sáu cõi trời dục giới bao gồm trời Tứ Thiên Vương,  trời Đao-lợi, trời Dạ-ma, trời Đâu-suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa Tự Tại.

sáu đường dịch nghĩa của "lục đạo" , gồm có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên.

sáu giác quan dịch nghĩa của từ Lục căn  :  mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

sáu nhập = sáu giác quan.

sáu phàm dịch nghĩa của “lục phàm” , gồm có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la, nhân và thiên.

sáu yếu tố tạo nên thế giới và con người, gồm: đất, nước, gió, lửa, hư không và tâm thức.

Sa-va-thi phiên âm từ Savatthi (P) = Xá-vệ

Sĩ-đạt-ta phiên âm của Siddhātha (S) hoặc Siddhattha (P), còn được phiên âm là Tất-đạt-đa, tên của Đức Phật khi còn là thái tử, Hán dịch nghĩa là “Nhất thiết sự thành”       , nghĩa là mọi sở nguyện đều được thành tựu.

súc sanh = bàng sanh.

Su-cha-ta phiên âm của Sujātā (P). Tên em gái út của đại nữ tín chủ Visākhā, sau cô là con dâu của cư sĩ Cấp Cô Độc.

Ta-bà hay còn viết là sa-bà    phiên âm của Sahā (S=P), vốn nó xuất phát từ Sahā-lokadhātu (S), nghĩa là thế giới chịu nhiều kham nhẫn, đau khổ. Đây là cảnh giới loài người đang sống, tức là hành tinh của chúng ta.

Ta-la phiên âm của Sāla (P), hoặc Śāla (S). Tên của một loại cây có tên khoa học là Shorea Robusta. Đức Phật vô dư niết-bàn tại rừng cây này.

Tam Bảo   dịch nghĩa của Tri-ratana (S), nghĩa là Ba Ngôi Báu, dịch cách khác là Ba Điều Quý Báu, đó là Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo.

tâm bồ-đề cấu trúc chữ Hán là: Bồ-đề tâm   dịch  từ chữ Bodhicitta (S), nghĩa là tâm hướng đến mục tiêu giác ngộ.

tám chánh đạo còn gọi là Bát Thánh đạo, gồm có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

tám đường chánh = tám chánh đạo.

tám giải thoát dịch nghĩa của cụm từ “Bát giải thoát” , gồm có 1) Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát; 2) Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát; 3) Tịnh giải thoát thân tác chứng cụ túc trụ; 4) Không vô biên xứ giải thoát; 5) Thức vô biên xứ giải thoát; 6) Vô sở hữu xứ giải thoát; 7) Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát; 8) Diệt thọ tưởng định thân tác chứng cụ trụ.

Tam Thế Phật Nghĩa là chư Phật trong ba đời. Chư Phật trong quá khứ như Đức Phật Tỳ-bà-thi, Thi-khí, Tỳ-xá, Ca-la-tôn-đại, Câu-na-hàm, Ca-diếp. Đức Phật thời hiện tại là Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Đức Phật tương lai sẽ là Đức Phật Di-lặc.

Tam y gồm có  1. Y tăng-già-lê (S= P. Saṅghāti), 2. Uất-đa-la-tăng          (S=P. uttarāsaṅga), 3. An-đà-hội       (S=P. antaravāsa). ®  ba y một bát.

tam-ma-bát-đề   phiên âm của Samāpatti (S=P), hoặc  Tam-ma-bát-để , hoặc Tam-ma-bạt-đề ,  dịch ý là “đẳng chí”  hoặc “chánh thọ." Tên một phương pháp thiền định.

tam-ma-đề = tam-ma-để.

tam-ma-đề phiên âm của Samādhi (S=P), nghĩa là định. Samādhi được người Hoa phiên âm nhiều cách khác nhau như tam-muội , tam-ma-đề , tam-ma-địa .  ®  Định.

tam-ma-địa = tam-ma-đề.

tam-muội = tam-ma-để.

tăng thượng mạn        một trong 7 loại kiêu mạn: khi tự thân chưa chứng Thánh quả mà tự xưng đã chứng Thánh quả. Trong Kinh Pháp Hoa, thuật ngữ này chỉ chung cho các hàng Thanh Văn, Duyên Giác không chấp nhận học thuyết một Phật thừa và nghĩ rằng quả A-la-hán mà mình chứng đắc không gì khác với quả Phật cao siêu.

tăng-già-lê phiên âm của saṅghāṭī (S=P), nghĩa là thượng y. Thời Phật còn tại thế, chư tăng khi đi ra ngoài khất thực hoá duyên thì mặc y này. Ngày nay chư tăng đắp thượng y khi lên chánh điện lễ Phật, tụng kinh, bố-tát hoặc khi đi ra đường.

tăng-kỳ kiếp viết đủ là a-tăng-kỳ kiếp . A tăng-kỳ là phiên âm của asaṃkhya  (S=P) nghĩa là vô số, nên a-tăng-kỳ-kiếp nghĩa là vô số kiếp. Theo số học Ấn Độ, một a-tăng-kỳ là 1 tỷ cộng thêm 26 số không phía sau, hoặc mười luỹ thừa 34.

Tất-lăng-già-bà-ta cũng đọc là Tất-lăng-già-bà-sa ,  phiên âm của Pilinda-vatsa (S) hoặc Pilinda-vaccha (P). Tên của một vị Tỳ-khưu đã chứng Thánh quả A-la-hán nhưng thường hay chửi mắng, vì tập khí 500 đời quá khứ thường sanh vào dòng dõi Bà-la-môn có uy quyền còn sót lại, nên đến khi tu hành đắc đạo nhưng vẫn sử dụng ngôn ngữ chỉ thị hoặc mắng rủa trong quá trình hành đạo.

Tệ-túc 宿 phiên âm của Pīyāsi (P). Theo Kinh Tệ Túc thuộc Trường A-hàm, ông là một Bà-la-môn. Theo Kinh Tệ Túc thuộc Trường Bộ, ông là một chư hầu nhỏ dưới quyền cai trị của vua Ba-tư-nặc thuộc nước Câu-sa-la thời  Đức Phật. Ông cật vấn  tôn giả Kimāra Kassapa (Đồng-nữ Ca-diếp) về vấn đề tái sanh, luân hồi. Sau buổi pháp đàm đó, ông xin quy y Tam Bảo trọn đời.

Thắng Man    dịch nghĩa của Mālyaśrī (S), nghĩa là “vòng hoa đẹp." Tên của công chúa con vua Ba-tư-nặc và Mạt-lợi phu nhân. Bà là hoàng hậu của nước A-du-đà (S. Ayodhiyā). Bài kinh mang cùng tên là bài kinh do phu nhân nói dưới sự chứng minh của Đức Phật.

thánh đa văn đệ tử  viết theo cấu trúc chữ Hán là “Đa văn Thánh đệ tử”          nghĩa là một vị đệ tử  của Đức Phật đã đạt được một trong 4 quả Thánh, tinh thông giáo pháp  và có khả năng diễn giảng giáo pháp của Đức Phật dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

thánh nhân      dịch nghĩa của chữ ārya (S=P). Theo quan niệm của Phật giáo, hành giả nào đã chứng được quả Dự Lưu trở lên được gọi là Thánh nhân.

Thanh Văn dịch nghĩa của Śrāvaka (S) hoặc Sāvaka (P), nghĩa là các vị sau khi  nghe xong  giáp pháp của Đức Phật, chứng quả A-la-hán, nhưng chưa chứng được quả vị giác ngộ tối thượng. Theo cách phân chia giáo pháp của các nhà Đại thừa, thì giáo pháp của Đức Phật chia thành  5 nhóm tương ứng với năm đối tượng: Nhân thừa,Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ-tát thừa.

Thế Gian Giải        (S. Lokavid, P. Lokavidū): Bậc tinh tường và giải thông hết thảy những sự việc ở thế gian. Một trong mười danh hiệu của Phật.

thế giới ba nghìn tiếng Hán là “tam thiên đại thiên thế giới”             . Theo thế giới quan Phật giáo, một quả địa cầu là một thế giới, gộp 1000 quả địa cầu lại thành một tiểu thiên thế giới. Gồm một ngàn Tiểu thiên thế giới thành một Trung thiên thế giới. Gồm một ngàn Trung thiên thế giới thành một Đại thiên thế giới. Như vậy Tam thiên đại thiên thế giới có nghĩa là thế giới gồm chung cả Tiểu thiên, Trung thiên và Đại thiên.

Thế Tôn    dịch nghĩa của Lokanātha (S), hoặc Bhagavā (S=P), có nghĩa là bậc được thế gian tôn trọng. Thỉnh thoảng trong các bản chữ Hán và vài bản dịch tiếng Việt giữ nguyên cách phiên âm của Bhagavā là Bạt-già-phạm . Đây là một trong mười danh hiệu của Đức Phật. Danh hiệu nầy còn là từ tôn xưng của hàng đệ tử đối với Đức Phật.

Thích-đề-hoàn-nhân hay Thích-đề-hoàn-nhơn   phiên âm của cụm từ Śakro-devānāmindra. Cũng gọi là   Đế-thích , vị vua cai trị cõi trời có 33 tầng. ® Đao-lợi.

Thiện Giác hay còn gọi là Thiện Giác Vương dịch nghĩa của từ Suprabuddha (S), Suppabudha (P). Ông là cha của công chúa Da-du-đà-la.

thiện nam tử 1. viết đủ của "thiện nam" nghĩa là một người cư sĩ nam quy y Tam Bảo; 2. Trong một số kinh điển Đại thừa, thuật ngữ này chỉ chung cho các hàng Bồ-tát.

thiện nam dịch nghĩa của Upāsaka (S=P) phiên âm Hán Việt là Ưu-bà-tắc , nghĩa là một người nam đã phát nguyện quy y Tam Bảo, vâng giữ học giới, làm các điều thiện theo lời Phật dạy, và hay giúp đỡ chư tăng  nên Trung Hoa còn dịch là "cận sự nam" .

Thiên Nhân Sư   (S. Śastā devamanuṣyāṇām, P. Satthā-deva-manussaanaṃ), bậc Thầy của trời người. Một trong mười danh hiệu của Đức Phật.

Thiện Sanh  dịch nghĩa của Sīṅgālaka (S) hoặc  Singālaka (P),   âm Hán Việt là Thi-ca-la-việt . Thiện Sanh là tên của một cư sĩ thời Đức Phật đã nghe theo lời cha dặn trước khi qua đời lễ bái sáu phương để báo hiếu, sau được Đức Phật hoá độ.

Thiện Thệ       (S=P. Sugata) Nghĩa là bậc khéo vượt qua sông mê bể khổ, cảnh giới luân hồi. Một trong mười danh hiệu của Đức Phật.

thiền thứ ba hành giả đạt đến trạng thái buông bỏ hỷ (niềm vui thân cảm nhận được) hoàn toàn tỉnh giác, thân cảm nhận sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là "xả niệm lạc trú."

thiền thứ hai vị hành giả chứng và trú vào trạng thái hỷ lạc, không còn tầm không còn tứ, nội tĩnh nhất tâm.

thiền thứ nhất đây là trạng thái của một hành giả sau khi đã loại trừ được năm triền cái, đó là tham, sân, trạo cử, hôn trầm, nghi ngờ. Vị hành giả ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc  có tầm, có tứ.

thiền thứ tư  hành giả xả lạc, xả khổ, diệt hỷ diệt ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú vào trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

thiện tri thức        người bạn đạo tốt có tín tâm đối với Tam Bảo và có trí tuệ, có thể tự độ mình và có khả năng độ người.

thức vô biên xứ   định   (S.Vijñānānantyāyatana dhyāna): một trong 4 cảnh giới thiền của sắc giới.

tiền trần khi năm căn tiếp xúc với  đối tượng năm trần, phát sinh sự nhận thức phân biệt  về các trần cảnh. Khi các căn không còn tiếp xúc với năm trần nữa mà các trần cảnh vẫn hiện lên trong ý thức, gọi cảnh đó là tiền trần.

tín nữ   dịch từ chữ upāsikā (S=P), âm Hán Việt là Ưu-bà-di  . Nghĩa là phụ nữ đã quy y Ba Ngôi Báu và thực hành năm nguyên tắc đạo đức của một người tại gia. Thuật ngữ này còn được dịch là "cận sự  nữ"      vì các vị cư sĩ này thường thân cận ủng hộ việc tu trì của chư Tăng Ni.  

tinh xá   dịch nghĩa của từ vihāra (S=P), có nghĩa là nơi ở thanh tịnh và trong sạch của hàng xuất gia, ví dụ như Tinh Xá Kỳ-hoàn hay Tinh Xá Trúc Lâm.  Truyền thống Phật giáo Đại thừa ở Trung Hoa và Nhật Bản đều dùng “tự”, “viện”, "già-lam" hay “đại tùng lâm” có nghĩa là chùa chiền, chỗ chúng tăng tu học hay nghiên cứu để thay thế cho “Tinh Xá."

Tịnh-phạn phiên âm cuả  Suddhodana (S) hoặc Suddhodana (P), thân phụ của Thái tử Tất-đạt-đa. Trước khi băng hà, ông được Đức Phật về thăm viếng và thuyết pháp, nhờ đó ông  chứng được quả vị A-la-hán.

tôn giả bậc