KINH TỤNG HẰNG
NGÀY
TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN
THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG
Tỳ-kheo Thích Nhật
Từ
biên soạn
---o0o---
Phụ lục 1
TÓM TẮT NỘI DUNG 49 BÀI KINH
***
Dưới đây là phần
tóm tắt nội dung của bốn mươi chín bài kinh trong bộ Kinh Tụng Hằng
Ngày, để giúp cho người đọc tụng kinh nắm bắt được chủ đề và nội dung
căn bản của kinh. Trong phần này, soạn giả không chú ý đến việc phân tích
và bình giảng nội dung của các kinh như những tác phẩm chuyên chú giải về
Kinh xưa nay. Phần tóm tắt này chỉ đóng chức năng “gợi ý” cho người đọc
nắm bắt được ý chính của kinh. Người đọc tụng cần phải tự mình suy nghĩ,
chiêm nghiệm và nghiền ngẫm nghĩa lý ẩn chứa trong kinh để phát hiện hết
những chân lý sâu xa, vi diệu trong từng chữ, từng lời, từng câu, từng
đoạn và từng bài kinh mà phần tóm tắt không sao nêu ra hết được. Sau đó,
người thọ trì nên ứng dụng lời Phật dạy vào đời sống hằng ngày, đem lại
lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội. Được như vậy thì sự đọc tụng mới
thật sự được lợi lạc.
1. Thi Kệ Cuộc
Đời Đức Phật
Do cư sĩ Phan Khắc Nhượng diễn thơ dựa vào tác phẩm Tiểu Sử Đức Phật
Thích-ca Mâu-ni trong Phật học Phổ Thông của HT. Thích Thiện
Hoa, có tham khảo tác phẩm Lịch sử Đức Phật Thích-ca. của HT. Thích
Minh Châu. Nguyên tác thi kệ gồm 900 câu, soạn giả đã tỉnh lược một phần
ba, nhuận thơ và hiệu đính tư tưởng giáo lý và các sự kiện lịch sử theo
truyền thống Đại thừa, có đối chiếu với các tài liệu về cuộc đời đức Phật
trong kinh điển Nam tông.
Thi kệ chia làm ba phần chính. Phần thứ nhất miêu tả sự đản sinh, dòng họ
gia thế của đức Phật, trình bày tài đức siêu quần của Ngài, đời sống vương
giả vợ đẹp con xinh không thể kềm chân Ngài trước lý tưởng xuất gia, cầu
quả vị giác ngộ giải thoát. Phần thứ hai trình bày ý chí xuất trần của
Phật, trải qua sáu năm khổ hạnh rừng sâu, tu tập tất cả các pháp môn nổi
tiếng lúc bấy giờ. Ngài đã chóng chứng ngộ các pháp tu đó nhưng rồi Ngài
nhận ra rằng các pháp này chưa đưa đến giải thoát thật sự. Cuối cùng Ngài
từ bỏ khổ hạnh, chuyên tâm thiền định, quán lý Duyên Khởi và Trung Đạo mà
thành Phật. Phần ba nói về sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh của Phật trong
suốt 49 năm, bao gồm sự hóa độ
theo căn cơ thứ lớp, vận dụng nhiều phương tiện, và độ tất cả những người
hữu duyên với tinh thần bình đẳng. Bài thi kệ kết thúc bằng cách nhắc lại
những lời giáo huấn sau cùng của Phật trước khi Ngài Niết-bàn vô dư.
Mục đích của thi
kệ này là giúp người đọc tụng ôn lại cuộc đời và sự nghiệp hoằng pháp độ
sanh của Phật trước khi đi vào các giáo pháp căn bản mà ngài đã dạy, trong
48 bài kinh tiếp theo sau. Nhờ vậy, người đọc tụng và thọ trì kinh điển có
thể phát lòng tôn kính đối với Phật và giáo pháp cao thượng của Ngài.
2. Kinh Chuyển
Pháp Luân
Bản kinh này do
soạn giả dịch từ bản tiếng Anh The Book of Kindred Sayings của Hội
Thánh Điển Pāli, vốn có xuất xứ từ bài Dhammacakkappavattana Sutta
(S. V. 420-423) và phần Ðại Phẩm (Mahāvagga) thuộc
Tạng Luật (Vinaya pitaka) của Tam Tạng Pāli. Người dịch cũng có đối
chiếu với bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tương
Ưng, V. 610-16 (ấn bản Đại Tạng Kinh Việt Nam) và các bản dịch
tiếng Việt hiện có.
Đây là bài pháp
đầu tiên của đức Phật, sau khi ngài thành tựu đạo quả giác ngộ vô thượng
Bồ-đề theo truyền thống Nam tông. Về phương diện lịch sử, bài pháp được
Phật nói cho những người bạn đồng tu khổ hạnh ngày xưa là năm anh em tôn
giả Kiều-trần-như tại vườn Nai, Isipatana, gần Benares. Về phương diện
triết lý, bài kinh giới thiệu và
khẳng định con đường Trung Đạo, không phải là con đường ở chặng
giữa mà là con đường vượt lên trên hai lối sống cực đoan: xem sự hưởng thụ
khoái lạc giác quan như là hạnh phúc cao nhất, và lối tu khổ hạnh ép xác
như là con đường dẫn đến giải thoát khỏi khổ đau.
Hưởng thụ dục lạc
giác quan là lối sống của đức Phật khi ngài còn là đông cung thái tử trong
khi khổ hạnh ép xác là lối tu tập của ngài với những người bạn đồng tu,
trong suốt sáu năm tầm cầu chân lý. Cả hai đều thấp kém, vô vọng, và không
dẫn đến giải thoát. Con đường hưởng thụ dục lạc như chúng ta đã chứng kiến
trong đời, mang lại nhiều đau khổ: trong vui đã có sẵn mầm mống của đau
khổ, tạm bợ và mong manh. Con đường khổ luyện để mong được giải thoát đã
trở thành một cực đoan đối lập, làm bại hoại thân thể và do đó, hành giả
không thể còn minh mẫn để hướng tâm tu tập thiền định và giải thoát. Tự
mình kinh qua hai lối sống đó, đức Phật cuối cùng nhận chân ra được con
đường Trung đạo, vượt lên trên hai cực đoan thấp kém và hướng đến cứu cánh
giải thoát. Đó là con đường gồm tám yếu tố: quan niệm chân chánh, tư duy
chân chánh, lời nói chân chánh, hành vi chân chánh, nghề nghiệp chân chánh,
nỗ lực chân chánh, chánh niệm và thiền định chân chánh.
Quan điểm chân
chánh là cái nhìn mọi sự vật hiện tượng dưới nhãn quan duyên khởi, không
có nguyên nhân đầu tiên của thế giới, không có Thượng Đế, tất cả đều vận
hành chuyển biến và không thực thể. Tư duy chân chánh là những nếp nghĩ
suy vượt khỏi các đối tượng tham ái, sân hận và tổn hại. Nó bao gồm những
tư duy đối lập với ba tư duy trên và hướng đến mục đích lợi mình và người
khác. Lời nói chân chánh bao gồm tuyên bố sự thật, không nói lời gây sự
chia rẽ, không dệt hoa thêu gấm, không nói lời tục tĩu và không nói tán
dóc hay những lời không có lợi cho sự phát triển của đạo đức và trí tuệ.
Hành vi chân chánh bao gồm các hành động của thân thể, lời nói và tác ý
hướng đến các giá trị đạo đức. Đó là hành vi vị tha, lợi ích cho mình và
cộng đồng xã hội. Nghề nghiệp chân chánh bao gồm các nghề nghiệp không
liên can đến sự lừa đảo, dối trá, luồn cúi, buôn thần bán thánh, buôn bán
vũ khí, buôn bán rượu và các chất kích thích có hại cho thể chất và tinh
thần. Nó còn đi ngược lại với các nghề buôn lậu, buôn nô lệ, bán súc vật,
bán thân nuôi miệng, bói toán xem quẻ. Nói chung nó bao gồm các kế sanh
nhai lành mạnh, hiền lương, hướng đến sự phát triển đời sống đạo đức bản
thân và phúc lợi xã hội. Nỗ lực chân chánh là những cố gắng theo đuổi các
mục đích thiện ích, chấm dứt các nghiệp bất thiện, hướng đến sự thành tựu
đời sống tâm linh và đạo đức. Chánh niệm là ý thức và sự tập trung chân
chánh, về các đối tượng nội tại và ngoại tại một cách không vướng mắc. Nó
là tiến trình quan sát và phản ánh về thế giới của các kinh nghiệm giác
quan và năm nhóm nhân thể. Nó còn bao gồm các ý thức đứng đắn về các hoạt
động của thân thể, về cảm giác, về tâm và các ý niệm của tâm. Và thiền
định chân chánh là sự chuyên nhất của tâm trong các đối tượng thiền quán.
Đó là trạng thái an chỉ và sự phát triển an chỉ, hướng đến sự chứng đắc
hạnh phúc tối thượng, Niết-bàn.
3. Kinh Người Áo
Trắng
Kinh này do HT. Thích Nhất Hạnh dịch từ Kinh Ưu-bà-tắc, số 128,
thuộc Trung A-hàm, có tham khảo Anguttara Nikāya, III. 211.
Kinh này đức Phật
dạy cho tôn giả Xá-lợi-phất, cư sĩ Cấp Cô Độc và 500 vị Phật tử khác. Nội
dung kinh giới thiệu nếp sống đạo đức thanh cao của người Phật tử tại gia,
trong việc góp phần kiến tạo một con người gương mẫu, một gia đình hạnh
phúc, một đất nước an bình, thịnh vượng và một thế giới an lạc, không còn
chiến tranh. Nếp sống đó bao gồm năm nguyên tắc đạo đức và bốn pháp quán
tưởng song hành với bốn tâm cao thượng.
Trước nhất về năm nguyên tắc đạo đức. Nguyên tắc thứ nhất là người Phật tử
từ bỏ sự giết chóc, buông bỏ khí giới, tu tập tình thương đối với con
người, loài vật và sinh thái. Nguyên tắc thứ hai là từ bỏ sự trộm cướp,
không cho mà lấy, các hình thức bóc lột, tham nhũng, biến của công thành
của riêng v.v… Đồng thời phát triển tâm rộng lượng, giúp đỡ tài sản, vật
chất và tình thương cho người khác. Nguyên tắc thứ ba là từ bỏ quan hệ
tình cảm phi pháp và bất chánh. Tôn trọng và bảo vệ hạnh phúc lứa đôi của
kẻ khác. Nguyên tắc thứ tư là xa lìa các hình thức nói dối, nói lời độc ác,
nói lời gây chia rẽ, nói lời vô ích; đồng thời phát triển lời chân thật,
từ ái, hài hòa, xây dựng đoàn kết và có ích cho người nghe. Nguyên tắc thứ
năm là từ bỏ các hình thức uống rượu, hút thuốc, sử dụng các kích thích tố
có hại cho sức khỏe và tâm trí. Đồng thời góp phần tuyên truyền một đời
sống lành mạnh.
Để có được bốn tâm cao thượng là tâm thương người và vật, tâm cứu khổ ban
vui, tâm hoan hỷ và tâm xả bỏ mọi chấp thủ, người Phật tử nên tu bốn pháp
quán niệm sau đây. Quán niệm thứ nhất là quán tưởng với chánh kiến rằng
đức Phật là bậc giác ngộ viên mãn, đạo đức và trí tuệ toàn vẹn, là bậc
Thầy đáng nương tựa và học hỏi của nhân loại và chư thiên. Nhờ quán tưởng
như thế, hành giả an trụ vào tâm cao thượng thứ nhất là tâm từ. Bởi lẽ trí
tuệ và đạo đức của đức Phật là để phục vụ cho sự an lạc và lợi ích cho con
người. Quán niệm thứ hai là quán tưởng với chánh kiến rằng lời Phật dạy (chánh
Pháp) rất thực tiễn, đem lại lợi ích hiện tại và tương lai, được người trí
khen ngợi và học hỏi, có khả năng hướng thượng. Nhờ quán niệm như vậy,
hành giả an trú vào tâm cao thượng thứ hai là tâm bi. Nói cách khác, giáo
pháp của đức Phật có công năng thanh tẩy ác, bồi dưỡng thiện, giúp cho
chúng sanh hết khổ được vui. Quán niệm thứ ba là quán tưởng với chánh kiến
rằng đoàn thể Tăng Ni tu tập Phật đạo là đoàn thể thanh tịnh, với quyết
tâm đạt được thánh quả, thành tựu đạo đức, thiền định và trí tuệ, có khả
năng cứu giúp cuộc đời, đáng được cung kính, cúng dường và noi gương học
hỏi. Nhờ quán sát như vậy, hành giả an trụ được tâm cao thượng thứ ba là
hoan hỷ. Nói cách khác, cung kính và hỗ trợ sự tu học và làm Phật sự của
quý Tăng Ni là một hạnh tùy hỷ hay hoan hỷ với các thành tựu về đạo đức và
trí tuệ. Quán niệm thứ tư là quán tưởng với chánh kiến rằng giới luật của
Phật là hoàn hảo, có khả năng giúp chúng ta an trụ vào đạo đức của Như
Lai. Nhờ quán tưởng như vậy, hành giả an trụ được tâm cao thượng thứ tư là
tâm xả, buông bỏ tất cả các chấp thủ về bản thân như ngã và thế giới là
thường còn.
Nói tóm lại,
người tu tập và truyền bá năm nguyên tắc đạo đức, bốn pháp quán tưởng Phật,
Pháp, Tăng và Giới luật và bốn tâm cao thượng sẽ từng bước sống an lạc và
hạnh phúc ở đời này. Người như vậy là người xây dựng Tịnh Độ tại nhân gian,
biến đau khổ thành an lạc.
4. Kinh Danh Ngôn
Chánh Pháp
Kinh này do cư sĩ
Phan Khắc Nhượng dịch từ bản dịch tiếng Anh của HT. Narada, vốn dịch từ
bản Pāli có tên là Dhammapāda. Trong khi dịch, dịch giả cũng có đối
chiếu với bản chữ Hán và các bản dịch tiếng Việt Kinh Pháp Cú của
HT. Thích Minh Châu và HT. Trí Đức (Thích Thiện Siêu). Bản dịch được soạn
giả hiệu đính và nhuận văn vào năm 1992. Tựa đề của kinh được dịch giả ghi
là Kinh Pháp Cú như các bản dịch xưa nay. Soạn giả đã đổi thành
Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp, để phù hợp với hình thức và nội dung của
Kinh.
Dhammapāda
không phải là một bài kinh được đức Phật tuyên thuyết trong một pháp hội,
như phần lớn các kinh khác, mà do các vị thánh đệ tử tuyển chọn và kết tập
lại phần lớn từ bốn bộ kinh Nikāya. Dhamma có nhiều nghĩa nhưng ở
đây có nghĩa là “giáo pháp” hay “chánh pháp” và pāda có nghĩa là
câu, và có thể hiểu ý là danh ngôn. Do đó, tựa kinh có thể dịch thoát là
Kinh Tuyển Tập Lời Vàng của Phật, hay Kinh Danh Ngôn của Phật,
hay Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp. Như bản nguyên tác tiếng Anh và
tiếng Pāli, bản dịch có đủ 423 câu. Nhưng vì có nhiều câu trùng lập ý
tưởng lẫn nhau, hoặc được trình bày theo các cặp đối lập (chẳng hạn như
phẩm Song Đối), soạn giả chỉ tuyển chọn 153 câu có nội dung tiêu
biểu nhất. Kinh này như là sách gối đầu giường của Tăng Ni và Phật Tử Nam
tông, trên con đường tu học chánh pháp của Phật.
Phần lớn các câu
kệ này đều có nội dung độc lập; một số khác cùng chủ đề nhằm để minh hoạ
cho nhau; cốt để giáo dục đạo đức và trí tuệ cho người tầm cầu đạo giải
thoát. Ở mức độ ứng dụng thấp hơn, mỗi câu kệ trong kinh này có thể được
xem như những khuôn vàng thước ngọc để ứng dụng xử thế, một cách khôn
ngoan, giúp cho người đọc tụng và thọ trì có khả năng tự lập, tự tu, tự
vượt thoát khỏi các gian khó trong đời và đạo. Kinh này có thể được xem
như là tinh hoa của lời Phật dạy trong gần 50 năm thuyết pháp độ sinh của
Ngài, được trình bày dưới dạng kệ thơ, dễ nhớ, dễ thuộc. Người tu học Phật
nếu không có thời giờ đọc tụng Ba kho tàng kinh điển Phật giáo, có thể đọc
kinh này để nắm lấy ý chỉ mà vào đạo.
5. Kinh Nền Tảng
Đức Tin
Tựa đề nguyên tác
Pāli là Kālāma Sutta (A. I. 189-92). Soạn giả tóm lược từ
bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng Chi (III. 539-43,
ấn bản năm 1988), có tham khảo bản tiếng Anh Those of Kesaputta
thuộc The Book of Gradual Sayings (I. 170-5), Hội Thánh Điển Pāli
ấn hành năm 1989). Soạn giả đã đặt lại tựa kinh để làm nổi bật nội dung
chính của Kinh. Nhân sự kiện dân chúng Kālāma hoang mang về sự kiện nhiều
nhà tôn giáo ca ngợi tôn chỉ của mình trong khi hết lời chỉ trích tôn giáo
khác, thỉnh cầu Ngài dạy dỗ. Đức Phật đã tuyên nói về mười nền tảng của
một đức tin chân chính.
Đức Phật khuyên mọi người sống với lý trí, không nên vội tin bất cứ điều
gì, chỉ vì điều đó là: (1) truyền thuyết, (2) truyền thống, (3) tuyên
truyền, (4) kinh điển, (5) lý luận logic, (6) phù hợp lập trường mình, (7)
không đủ bằng chứng, (8) phù hợp định kiến của mình, (9) có thế lực ủng
hộ, (10) các đạo sư hay nhà lãnh đạo tôn giáo nói.
Bên cạnh mười nền
tảng này làm thước đo chân lý đúng sai, đức Phật còn khuyên mọi người nên
suy nghĩ thật chín chắn, thể nghiệm giá trị đạo đức và lợi ích của nó
trước khi nên tin theo một điều gì. Chỉ khi nào, sau khi kiểm nghiệm, điều
nào nếu ứng dụng sẽ mang lại lợi ích, phúc lợi, an lạc cho mình và người ở
hiện tại cũng như tương lai thì hãy tin theo. Ngược lại, hãy đặt vấn đề và
từ chối chúng.
Có thể nói đây là
nền tảng của một niềm tin khoa học, một niềm tin có trí tuệ, một niềm tin
cần thiết cho sự tu học của tất cả những ai muốn hướng mình đến an lạc và
giải thoát chân chánh.
6. Kinh Từ Tâm
Nguyên tác tiếng
Pāli của kinh này là Metta
Sutta,
một bài kinh ngắn trong bộ Kinh Tập (Sutta Nipāta)
thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddhaka Nikāya). Bản diễn thơ này được
Tỳ-kheo Đệ Tử Phật dựa theo bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong Kinh
Tăng Chi (III, 11-14, ấn bản 1988).
Bản kinh chứa tải
nhiều giá trị đạo đức rất cao, nhất là hạnh ban rải tình thương đến con
người và các loài động vật một cách không phân biệt. Tình thương hay từ bi
trong Phật giáo là một thứ tình thương siêu vượt khỏi giới tính, thân sơ,
bạn thù, ta người. Nó là một thứ tình thương vượt biên giới của tình cảm
và tâm lý nhị nguyên. Tình thương như vậy chỉ có thể phát xuất từ một tấm
lòng bao la, vô ngã, không vị kỷ, để cứu giúp tất cả chúng sanh đang đau
khổ.
Đức Phật khẳng
định rằng người tu tập và phát triển tâm từ như vậy sẽ hưởng được an lạc
hiện đời và về sau. Về phương diện hiện tại, người tu tâm từ sẽ có giấc
ngủ an lành, không có mộng mị khiếp đảm. Khi đi đứng và lúc nằm ngồi, tâm
tư luôn thấm nhuần an lạc. Người tu tâm từ như vậy sẽ được mọi người đem
lòng kính mến, tin phục, hộ trì và giúp đỡ. Về phương diện đời sau, người
có tâm từ sẽ được sanh về cảnh giới tốt. Nếu sanh làm người thì không có
kẻ thù, không bị ai hiềm khích, hãm hại, sống trong sự an lành và hạnh
phúc. Nói chung hạnh từ tâm không chỉ làm thanh tịnh thân tâm hành giả mà
còn có tác dụng chuyển hóa cuộc đời đau khổ, phân chia, tranh chấp, hiềm
hận, thù hằn thành an lạc, không phân chia, không tranh chấp, không hiềm
hận và không thù hằn. Nói cách khác nơi nào có tình thương vô ngã thì nơi
đó có hình bóng của hòa bình, an lạc và giải thoát.
7. Kinh Phước Đức
Bản dịch của HT.
Thích Nhất Hạnh, có xuất xứ từ Mahāmangala Sutta, một bài kinh
trong bộ Kinh Tập (Sutta Nipāta) thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka
Nikāya). Nội dung của kinh đề cập đến mười phương pháp tạo nên phước
đức / cát tường hay hạnh phúc (mangala) cho mình và tha nhân và nói
chung cho toàn thể nhân loại. Bài kinh được xem là cẩm nang tu thân, tề
gia và an bình xã hội, qua những dòng thơ kệ ngắn gọn.
Phương pháp thứ
nhất là lánh xa môi trường xấu, thân cận bậc hiền đức, tôn kính và cầu học
ở bậc đạo đức. Phương pháp thứ hai là tận dụng cuộc sống hiện tại để gieo
trồng các hạt giống lành mạnh và đạo đức. Phương pháp thứ ba là ổn định
nghề nghiệp chân chánh, sống cuộc đời thanh bần đạo đức, lời nói ôn hòa,
ái kính. Phương pháp thứ tư là hiếu kính mẹ và cha, thương yêu và bảo hộ
gia đình bằng sức mạnh của đôi tay và trí thông minh chân chính, hợp pháp.
Phương pháp thứ năm là sống cuộc đời thanh liêm, chính trực, không chịu
khuất phục trước gian tà, biết mở lòng thương, giúp đỡ người nghèo khó và
thân bằng quyến thuộc.
Phương pháp thứ
sáu là từ bỏ vĩnh viễn các hành vi xấu ác và phi pháp, không đam mê rượu
chè, hút sách, cờ bạc, ăn chơi sa đọa, sống tinh cần và làm việc lành
trong từng phút giây của cuộc sống. Phương pháp thứ bảy là biết khiêm
cung, lễ độ, kính trên nhường dưới, biết tiết kiệm để phòng hờ về sau,
biết ân và trả ơn người đã giúp đỡ và dạy dỗ mình và không bỏ quên việc
học đạo, trau dồi đạo đức và trí tuệ. Phương pháp thứ tám là biết kiên
trì, nhẫn nại trước gian khó, thân cận và học hỏi các bậc thầy, phục thiện
khi sai lầm và trau dồi phẩm cách, đạo đức cho hoàn thiện hơn. Phương pháp
thứ chín là sống chánh niệm và tỉnh giác trong từng hơi thở, ra sức học
chánh pháp không mệt mỏi, để thể chứng an lạc và giải thoát. Phương pháp
thứ mười là giữ tâm bất động trước các ngọn gió khen chê, vui buồn, được
mất, thành bại của cuộc đời; giữ tâm an nhiên trong đời như hoa sen trong
bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Sống trong đời ô trược nhưng tỏa ra thanh
tịnh và giải thoát.
Đây là mười phước
lành giúp cho con người sống cuộc đời an vui và hạnh phúc tại thế gian
này. Đời sau nếu sanh làm người thì chắc chắn sẽ sanh trong gia đình giàu
có và an lạc. Bằng không, sẽ sanh về các thế giới chư thiên, tiếp tục tu
tập bất thối chuyển.
8. Kinh Sáu Pháp
Vô Thượng
Bài kinh có xuất
xứ từ A. III. 324-8, được soạn giả tóm lược từ bản dịch của HT.
Thích Minh Châu trong Kinh Tăng Chi (II. 319-322, ấn bản năm 1988)
có tham khảo bản tiếng Anh The Book of Gradual Sayings (III.
229-32) của hội Thánh Điển Pāli.
Bài kinh trình
bày sáu cặp quan điểm hoàn toàn đối nghịch nhau: một đàng thuận theo dòng
đời và đàng còn lại ngược dòng đời. Cặp đối lập thứ nhất là: nếu người đời
thích xem các bảy báu thế gian và thăm viếng các Bà-la-môn có tà kiến tà
hạnh, thì người Phật tử chỉ nên yết kiến Thế Tôn và các hàng Thánh Tăng.
Cặp đối lập thứ hai là: nếu người đời thích nghe các loại nhạc cụ, bài ca
thế gian, hoặc lời của các Bà-la-môn nói, thì người Phật tử chỉ nên thích
nghe chánh pháp. Cặp đối lập thứ ba là: nếu người đời cảm thấy hạnh phúc
khi có được người bạn đời, con cái, tài sản v.v... thì người tu đạo giải
thoát chỉ hạnh phúc với các tài sản thánh. Cặp đối lập thứ tư là: nếu
người đời vui sướng khi học các ngành nghề thế gian thì người tu đạo giải
thoát cảm thấy vui sướng khi trau dồi ba học thánh đó là giới định và tuệ.
Cặp đối lập thứ năm là: nếu người đời hạnh phúc khi được hầu cận và phục
dịch vua chúa và hàng phú quý thì người Phật tử cảm thấy hạnh phúc khi
được phụng sự Tam Bảo. Và Cặp đối lập sau cùng là: nếu người đời hạnh phúc
khi nhớ nghĩ đến vợ con, tài sản, thầy tà bạn xấu thì người tu đạo giải
thoát cảm thấy hạnh phúc khi nhớ đến Phật, Pháp, Tăng, đạo đức và việc làm
thiện.
Qua sáu cặp phạm
trù khác biệt về sở thích này, chúng ta thấy đạo Phật quả là “đạo ngược
đời” hay “đạo đi ngược dòng đời,” để hướng đến dòng thánh, dòng an lạc và
dòng giải thoát.
9. Kinh Hiền Nhân
Bài kinh do cố HT. Thích Hành Trụ dịch và HT. Thích Nhất Hạnh nhuận văn.
Nội dung kinh dạy về phép trị quốc an bang, dưới hình thức đối đáp giữa
một đức vua và Hiền Nhân, một bậc đạo đức thông tuệ, tiền thân của Phật
Thích-ca. Bài kinh có thể được xem là cẩm nang của những kẻ cầm cân nảy
mực, trong chí hướng đưa đất nước tiến đến đời sống giàu mạnh về vật chất,
an lạc về tâm linh, toàn dân thuần hoà, vui vẻ, bốn biển một nhà, trên
dưới hòa thuận đều chung sức gây lại một cuộc thái bình, thạnh trị. Đây là
phép trị nước theo quan điểm Phật giáo Đại thừa, công thành thân thoái.
Người trị nước thì nên ban bố ân huệ cho kẻ biết làm lành, tạo điều kiện
thuận lợi cho kẻ tu hành truyền bá chánh đạo, góp phần làm giàu mạnh đất
nước.
Kinh cũng vạch ra những nét tiêu cực của nhiều chế độ lỏng lẻo về quản lý,
tin dùng các nịnh thần, nạn tham nhũng hối lộ lan tràn không chỉ làm cho
đất nước lâm nguy mà còn đem lại cơ cực và đau khổ cho người dân. Thông
qua đó, bài Kinh khuyên các bậc vua chúa nên giao việc trị nước cho người
hiền, phó thác việc trọng đại cho bậc tài trí, ban thưởng người lành,
trừng phạt kẻ gian ác, không tin nghe kẻ nịnh thần.
Bậc Đại Nhân ở
đây không chỉ là người thấu suốt nhân quả, thể hiện lòng nhân từ độ lượng,
mà còn đại diện cho hình ảnh Bồ-tát trong cuộc sống đời thường. Bài kinh
còn dạy về nhân quả báo ứng, họa phúc rõ ràng như âm vang theo tiếng, bóng
theo hình. Tất cả sự thiên sai vạn biệt trong thế gian như kẻ sống lâu,
người chết yểu, kẻ nhiều bệnh, người ít bệnh, kẻ xấu xa, người tốt đẹp, kẻ
nghèo hèn, người giàu sang, đều do hành vi tác tạo có chủ ý của con người;
không có ông Thượng Đế hay thần linh nào can thiệp hay ban phước giáng
hoạ. Hoạ phước hay hạnh phúc khổ đau đều do con người tạo ra và do đó con
người phải chịu trách nhiệm về đời sống đạo đức của mình.
Kinh còn đề cập
đến nhiều chủ đề khác nhau như phép giao du kết bạn, bốn điều không nên
tin, năm cái đáng ghét, năm tính tốt, tám dấu hiệu của ghét nhau, tám điều
kiện hạnh phúc, tám điều nên yêu thích, mười yếu tố xác định người trí,
mười dấu hiệu của tình người, mười điều khó khuyên can, mười trường hợp
không nên nói, mười dấu hiệu của người nữ bất khả tín, mười đối tượng mà
mình không nên mời về nhà, mười hạnh tốt, mười điều hổ thẹn, mười hai điều
luôn phải nghĩ tới không bao giờ lãng quên, mười hai điều khó, mười lăm
tội nặng và bốn mươi lăm việc của bậc trí, v.v...
Nói tóm lại bài
kinh này là một cẩm nang xử thế, mỗi lời mỗi câu là những khuôn vàng thước
ngọc của phép tu thân, tề gia, trị quốc và bình thiên hạ, thấm nhuần trí
tuệ siêu phàm, có giá trị ứng dụng không chỉ cho con người hôm nay mà còn
cả ngàn sau.
10. Kinh Quốc Gia
Cường Thịnh
Bài kinh có xuất xứ từ Anguttara Nikāya (IV. 16-8), được soạn giả
tóm lược từ bản dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng
Chi (II. 415-55, ấn bản năm 1988), có tham khảo bản tiếng Anh The
Book of Gradual Sayings (IV. 11-3 Hội Thánh Điển Pāli ấn hành năm
1988). Tựa đề của kinh do dịch giả ra đặt cho phù hợp với chủ đề và nội
dung của Kinh.
Nhân sự kiện vua
A-xà-thế định trả thù nước Bạt-kỳ (Vajji) bằng cách cất quân xâm chiếm
nước này, sai đại thần đến thỉnh ý Phật, đức Phật đã dạy về bảy tiêu chí
làm cho một đất nước cường thịnh, đồng thời có thể bảo vệ được bờ cõi và
đảm bảo được đời sống thanh bình cho muôn dân. Bài kinh cho thấy mặc dù
đức Phật không trực tiếp đàm luận về vấn đề chính trị, chiến tranh và
chiến lược, nhưng những điều Ngài gián tiếp nói về sự cường thịnh và bất
khả chiến bại của đất nước Vajji đã làm cho vua A-xà-thế từ bỏ mộng báo
thù. Điều đó cho thấy đạo Phật không đứng ngoài đời, không xoay lưng với
các vấn đề của con người, chẳng những không chán đời mà rất lạc quan với
một đời sống lợi mình, lợi người trong hoà bình và thạnh trị.
Một xã hội an
bình và thạnh trị theo đức Phật không nhất thiết giàu có về vật chất, đầy
đủ các tiện nghi hiện đại như các nước đại tư bản hiện nay, mà là một xã
hội mà các vị lãnh đạo và nhân dân của nước đó: 1. thường nhóm hợp với
nhau, 2. tụ hợp, làm việc và giải tán trong tinh thần đoàn kết, 3. không
ban hành những luật lệ không cần thiết và không huỷ bỏ các luật pháp thích
đáng, 4. tôn trọng, lắng nghe và học hỏi những bậc trưởng thượng, 5. không
cưỡng bức, không chà đạp phụ nữ, 6. tôn trọng và giúp đỡ các cơ sở tôn
giáo, 7. bảo hộ và giúp đỡ cho các bậc thánh nhân và các nhà tu hành chân
chánh truyền bá đạo.
Yếu tố đầu có thể
bao gồm các hình thức họp quốc hội, các đại hội khoáng đại để trưng cầu
dân ý, phát huy và phát triển chính sách có lợi cho đất nước và nhân dân.
Yếu tố thứ hai nhằm loại bỏ các chủ nghĩa cá nhân, địa phương để hướng đến
việc hình thành vào bảo vệ sự hoà hợp và đoàn kết trong các hội đoàn và
cộng đồng xã hội. Yếu tố thứ ba liên hệ đến ý thức tôn trọng và sống phù
hợp với luật pháp, bảo vệ các phong tục và truyền thống tốt của một quốc
gia, không ban hành các chính sách hà khắc dân. Yếu tố thứ tư tạo nên sự
hài hoà giữa các thế hệ già và trẻ, bằng thái độ ứng xử tôn trọng và lắng
nghe những người trưởng thượng và các thế hệ đi trước. Yếu tố thứ năm nhằm
bảo vệ quyền bình đẳng và các quyền con người của phụ nữ, giúp họ đứng
vững và góp phần làm xã hội giàu mạnh và an vui. Yếu tố thứ sáu là bảo vệ
các tôn giáo, khích lệ các hoạt động tôn giáo và tâm linh, để tạo điều
kiện cho các tôn giáo chu toàn chức năng giáo dục xã hội. Yếu tố thứ bảy
là tôn trọng các bậc thánh nhân, những bậc đức hạnh và các bậc anh tài của
đất nước.
Quốc gia nào hội
đủ bảy yếu tố trên chắc chắn sẽ an bình, thịnh trị và muôn dân sẽ sống
trong cảnh hạnh phúc và ấm no. Do vậy không có nước xâm lăng nào có thể
thôn tính được.
11. Kinh Nền Tảng
Đạo Đức Xã Hội
Tên nguyên tác
Pāli là Singālovāda Sutta
(D. III. 180-93).
Đây là bài kinh thứ 31 trong Trường Bộ Kinh,
được cư sĩ Phan Khắc Nhượng diễn thơ, phỏng theo bản tiếng Anh trong bộ
Dialogues of the Buddha (III. 172-84, Hội Thánh Điển Pāli ấn hành năm
1995). Bản diễn thơ
có tham khảo Trường A-hàm (I, 555-547, Đại Tạng
Kinh Việt Nam) và đối chiếu bản dịch của HT. Thích Minh Châu “Kinh
Giáo Thọ Thi-Ca-La-Việt” (Trường Bộ II, 529-548, Đại Tạng Kinh Việt
Nam). Soạn giả đã đặt lại tựa Kinh, hiệu đính và nhuận thơ cho bản
phỏng dịch.
Nhân sự kiện một
thanh niên Bà-la-môn tên là Thi-ca-la-việt đảnh lễ sáu phương vào mỗi buổi
sáng mà không hiểu ý nghĩa của việc mình làm, đức Phật đã giảng dạy về các
mối quan hệ đạo đức xã hội, thông qua sáu phương. Phương Đông tượng trưng
cha mẹ. Phương Nam tượng trưng cho thầy cô giáo. Phương Tây tượng trưng
cho đạo vợ chồng. Phương Bắc tượng trưng cho bạn bè. Phương Trên tượng
trưng cho các bậc tu hành. Phương Dưới tượng trưng cho quan hệ chủ thợ.
Về quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đức Phật dạy 5 nguyên tắc đạo đức cho
cha mẹ và 5 nguyên tắc đạo đức cho con cái. Phàm làm cha mẹ phải thương
yêu con cái theo 5 nguyên tắc đạo đức: (1) ngăn chận con làm việc ác, (2)
khuyên dạy con làm việc thiện, (3) tạo dựng nghề nghiệp chân chánh cho
con, (4) xây dựng gia đình xứng đáng cho con, (5) truyền trao gia tài cho
con đúng thời. Ngược lại phần làm con phải đối xử với cha mẹ theo năm
cách: (1) nuôi dưỡng mẹ cha, (2) làm tròn bổn phận, (3) giữ gìn danh dự và
truyền thống gia đình, (4) bảo vệ tài sản thừa tự, (5) chu toàn tang lễ
cho cha mẹ.
Về đạo vợ chồng, đức Phật dạy mỗi bên cũng có 5 bổn phận như nhau. Chồng
đối với vợ phải: (1) trọng nể vợ, (2) chung thủy với vợ, (3) tin tưởng khả
năng của vợ, (4) giao quyền hạn cho vợ, (5) sắm nữ trang cho vợ. Ngược
lại, người vợ phải đối xử với chồng theo 5 cách: (1) làm tốt trách nhiệm,
(2) cư xử tốt đối với bên nội và bên ngoại, (3) chung thủy thương yêu
chồng, (4) giữ gìn và bảo quản tài sản gia đình, (5) siêng năng và khéo
léo trong giao tế.
Về đạo bằng hữu,
đức Phật dạy năm điều sau đây: (1) giúp đỡ bạn, (2) nói lời từ ái với bạn,
(3) vì lợi ích của bạn, (4) xem bạn như mình, (5) thành thật và giữ lời
hứa với bạn. Ngược lại, người bạn cũng nên đối xử với ta như sau: (1)
không để bạn sa ngã, (2) không làm cho bạn sợ hãi (3) bảo vệ bạn hoạn nạn,
(4) giúp bạn trong gian khó, (5) ca ngợi tánh tốt của bạn.
Về đạo chủ thợ,
đức Phật dạy như sau. Chủ phải đối với thợ: (1) giao công việc cho thợ
đúng với khả năng và sức khỏe, (2) trả lương và tặng quà thích đáng, (3)
chăm lo sức khỏe khi thợ bị bệnh, (4) chia xẻ thức ăn cho thợ, (5) cho thợ
nghỉ ngơi hợp lý. Ngược lại, thợ cũng phải đối với chủ: (1) dậy trước chủ,
(2) ngủ sau chủ, (3) hài lòng với những gì chủ cho, (4) làm tốt công việc
được giao, (5) giữ gìn danh giá và uy tín của chủ.
Về đạo cư sĩ và
tu sĩ, đức Phật dạy như sau. Người cư sĩ phải xử sự với người tu sĩ: (1-3)
từ ái bằng lời nói, ý nghĩ và việc làm đối với người tu, (4) cung kính và
chào đón tu sĩ, (5) cúng dường và ủng hộ tu sĩ. Ngược lại, người tu cũng
đối lại: (1) khuyên cư sĩ từ bỏ ác, (2) khuyến khích cư sĩ làm việc thiện,
(3) trải lòng từ ái đối với cư sĩ, (4) dạy cho cư sĩ những gì chưa được
học hỏi, (5) hiệu chỉnh và thanh tịnh những gì chưa hoàn thiện ở cư sĩ,
(6) chỉ dạy cho cư sĩ cách tái sanh về cõi trời.
Trên nền tảng các
mối quan hệ đạo đức như vừa nêu, kinh này được xem là giềng mối đạo đức
của gia đình và xã hội.
12. Kinh Bảy Loại
Vợ
Bài kinh có xuất xứ từ Anguttara Nikāya (IV. 91-3) được soạn giả
tóm lược từ bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng Chi
(II. 515-7, ấn bản 1988), có tham khảo tiếng Anh The Book of Gradual
Sayings (IV. 56-8, Hội Thánh Điển Pāli ấn bản 1988). Tựa do soạn giả
đặt cho phù hợp chủ đề và nội dung của Kinh.
Như
tựa đề của kinh, bài kinh ngắn này được đức Phật giảng cho cô Su-cha-ta
(Sujātā), nàng dâu ngỗ nghịch của cư sĩ Cấp Cô Độc, nhân dịp đức Phật
viếng thăm vị cư sĩ này. Được cư sĩ Cấp Cô Độc thỉnh cầu khuyên dạy nàng
dâu, đức Phật không hề quở trách cô, mà chỉ giới thiệu cho cô biết về bảy
hạng người vợ trên đời, để cô tự xác định mình thuộc vào hạng nào. Bảy
hạng vợ đó là: vợ như kẻ sát nhân, vợ như người ăn trộm, vợ như chủ nhân,
vợ như người mẹ, vợ như người em gái, vợ như người bạn, và vợ như người
hầu. Sau khi giải thích rõ ràng về các loại vợ, đức Phật khuyên rằng ba
hạng vợ đầu nên tránh và nên học hỏi và noi gương theo bốn hạng vợ sau
cùng.
Hạng vợ sát nhân bao gồm những người vợ thiếu chung thuỷ trong đời sống
hôn nhân, không tôn trọng chồng, có nhiều tánh xấu ác và thường thích việc
sát hại. Người vợ như vậy đúng là kẻ sát nhân của chồng, của gia đình hai
họ. Hạng vợ như người ăn trộm chỉ chung cho những người vợ, không tự tạo
ra của cải vật chất trong gia đình, không biết giữ gìn và phát triển tài
chánh gia đình, mà trái lại, còn tiêu xài xa hoa, hoang phí những tài sản
của chồng tạo ra từ mồ hôi nước mắt bằng nghề nghiệp chân chánh. Hạng vợ
như chủ nhân chỉ cho những người vợ muốn “quản lý” chồng mình, chẳng những
không biết nhường nhịn tôn kính chồng mà còn lấn lướt chồng trước mọi
người, như một người “xếp” không biết điều. Hạng thứ nhất phá vỡ hạnh phúc
gia đình, hạng thứ hai làm tiêu tan tài sản và hạng thứ ba tạo ra những
gia đình mà người chồng chẳng khác gì kẻ nô lệ.
Hạng vợ như người mẹ bao gồm những người vợ hiền nhu, biết lo lắng sức
khoẻ cho chồng, tánh tình dịu dàng, ngăn nắp từ trên xuống dưới, chu tất
mọi việc từ nội gia cho đến giao tế trong xã hội, để đem lại tiếng thơm và
hạnh phúc cho cả hai và con cái. Hạng vợ như em gái chỉ cho những người vợ
tánh tình khiêm cung, nhã nhặn, biết tôn trọng và cung kính chồng như một
người em gái ngoan ngoãn nghe lời và lo lắng cho người anh trai trong gia
đình. Hạng vợ như bạn là những người vợ biết thương yêu, tôn trọng, cảm
thông, giúp đỡ, chia sẻ và tha thứ chồng để cả hai cùng thăng tiến trên
đường đời cũng như đường đạo. Thái độ đồng hành và bạn hữu của vợ đối với
chồng là yếu tố dẫn đến một gia đình đầm ấm và hạnh phúc. Hạng vợ như
người hầu là người vợ có tánh chịu đựng bền bỉ, năng động, biết nhường
nhịn, biết hy sinh, nhằm đem lại hạnh phúc và thành công của chồng cũng
như của cả hai.
Dựa trên tinh
thần giáo dục của bài Kinh, chúng ta có thể quy ra bảy loại người chồng
tương ứng với bảy loại người vợ, đó là: chồng như kẻ sát nhân, chồng như
người ăn trộm, chồng như chủ nhân, chồng như người cha, chồng như người
anh trai, chồng như người bạn, và chồng như người hầu. Ở đây, giáo
dục hôn nhân theo tinh thần của lời Phật dạy không chỉ dừng lại ở nữ giới,
mà bao trùm cả nam giới, một thành phần quan trọng không thể thiếu trong
việc tạo dựng hạnh phúc lứa đôi. Nói cách khác, để đời sống hôn nhân được
loan phụng hoà minh, trăm năm hạnh phúc, cả đôi bạn đời phải biết từ bỏ
các thái độ và lối cư xử phụ tình, phụ bạc, tiêu xài phung phí của cải của
chung, và muốn làm “xếp” của người kia. Thêm vào đó, đôi bạn đời phải biết
lo lắng và chăm sóc cho nhau như cha mẹ của nhau, chung lo cho con cái. Cả
hai phải sống với thái độ tận tâm giúp đỡ nhau trong đời, để cùng thăng
hoa. Cả hai phải biết chăm sóc, lo lắng và chu toàn cho nhau như người em
gái lo cho anh trai hay như người anh trai lo cho em gái của mình. Cả hai
phải xem nhau như hai người bạn đồng hành trong mọi lãnh vực: phu xướng
phụ tuỳ và ngược lại. Và không kém phần quan trọng, cả hai phải biết sống
với thái độ dâng hiến cho nhau và vì nhau như người hầu lo cho chủ nhân
của mình.
13. Kinh Người Vợ
Mẫu Mực
Bài kinh này có
xuất xứ từ bản Pāli (A. III. 294-8) được soạn giả tóm lược từ bản
dịch tiếng Việt của HT. Thích Minh Châu Kinh Tăng Chi (II. 295-8,
ấn bản năm 1988), có tham khảo bản tiếng Anh The Book of Gradual
Sayings (III. 211-4, Hội Thánh Điển Pāli ấn hành năm 1988). Tựa kinh
do dịch giả đặt.
Bài kinh kể về một sự kiện ly kỳ hiếm có, đó là cha của Nakula thoát được
thần chết trong cơn bệnh vô cùng ngặt nghèo, nhờ vào lòng chung thuỷ,
thương kính và niềm tin Tam Bảo sắt đá của người vợ hiền dịu và đảm đang.
Thái độ quyến luyến và lo sợ của vị cư sĩ cho tương lai của vợ ông, của
con ông, và của gia đình ông, có lẽ đã làm cho bệnh tình của ông ngày thêm
trầm trọng. Nào ông sợ vợ ông có thể tái giá sau khi ông qua đời; nếu vậy
thì ông vĩnh viễn mất bà! Nếu vợ ông độc thân thì ông lại lo cho bà không
có thể đủ sức để nuôi lớn con cái, cho chúng ăn học thành tài? Rồi điều gì
sẽ xảy ra đối với gia tài và sự nghiệp của ông để lại một cách bất đắc
dĩ? Còn nhiều điều suy nghĩ miên man khác trong khi ông đang nằm trên
giường bệnh chờ tử thần đến rước!
Là một người vợ
đảm đang, thông minh và chung thuỷ, mẹ của Nakula như hiểu được tất cả
những suy nghĩ thầm kín của chồng, lại càng thầm thương ông hơn bao giờ
hết. Vốn là người tin vào Tam Bảo, bà hiểu rõ tầm quan trọng của những giờ
phút trước khi chết, có thể có khả năng dẫn người vừa qua đời tái sanh vào
những cảnh giới tốt hay xấu, tuỳ theo khuynh hướng của dòng tâm thức lúc
đó. Bà đã khuyên chồng mình không nên quyến luyến cuộc đời. Mọi vật có
thịnh phải có suy. Thời gian có ngày phải có đêm. Người có sanh thì có tử.
Sum hợp, thương yêu phải có lúc chịu cảnh âm dương đôi ngã, đau khổ vô
cùng! Bà đã mạnh dạn khuyên ông không nên để cho tâm niệm ái luyến về vợ
con, tài sản, gia đình chi phối, để có thể ra đi một cách nhẹ nhàng. Không
những thế, bà còn khẳng định với ông về lòng chung thuỷ của bà. Bà sẽ
không bước thêm bước nữa. Bà sẽ nỗ lực gánh vác toàn bộ công việc của gia
đình, thay ông chăm sóc và dưỡng nuôi con cái. Bà không những duy trì mà
còn phát triển tài sản và truyền thống gia đình. Và bà tuyên thệ sẽ đi
trọn con đường phụng sự Ba Ngôi Báu, sống an lạc trong chánh pháp của đức
Phật như khi ông còn khoẻ mạnh. Tất cả những điều đó đã làm cho ông cảm
động tột bực, truyền thêm sức sống cho ông. Nhờ đó, ông đã thoát chết một
cách mầu nhiệm và sống hạnh phúc bên vợ con trong tinh thần lời Phật dạy
thêm nhiều năm nữa.
Bài kinh cho thấy
lòng chung thuỷ, đảm đang và vững tiến trong lý tưởng chân chánh của người
bạn đời có công năng không chỉ giáo dục hay khích lệ người kia, mà còn như
thuốc thần giúp cho người kia vượt qua những khúc ngoặc ngặt nghèo, hiểm
nguy trong cuộc sống.
14. Kinh Giáo Hóa
Người Bệnh
Bài kinh này được HT. Thích Nhất Hạnh dịch từ Tăng Nhất A-hàm, phẩm
Thi Thường, thứ 51, kinh số 8, có tham khảo và phối dịch với kinh
Anathapindikovada Sutta, kinh thứ 143 thuộc Trung Bộ Kinh,
và Giáo Hoá Bệnh Kinh, kinh thứ 26 thuộc Trung A-hàm.
Bài kinh kể lại cuộc thăm bệnh của tôn giả Xá-lợi-phất và A-nan-đa đối với
cư sĩ Cấp Cô Độc. Trước sự đau đớn về thể xác của Cấp Cô Độc, tôn giả
Xá-lợi-phất đã hướng dẫn ông tu pháp quán Tam Bảo, để khẳng định niềm tin
chân chánh đối với Phật, Pháp và Tăng. Niềm tin này nhằm xác quyết cuộc
đời phụng sự Tam Bảo và cứu giúp người cơ hàn, nghèo khó của ông là đúng
và có quả báo thiện to lớn. Kế đến tôn giả Xá-lợi-phất đã dạy ông quán
sát: (1) sáu giác quan, (2) sáu đối tượng của giác quan, (3) sáu thức, (4)
sáu yếu tố hình thành nên thế giới vật chất, (5) năm hợp thể tạo nên con
người, (6) chuỗi thời gian ba đời. Tất cả những thứ này không phải là ta,
ta không bị giới hạn trong chúng. Tất cả nương vào nhân duyên mà hình
thành, phát triển và hoại diệt để tiếp tục hình thành nên cái khác. Bản
chất của các pháp không đến không đi, không sanh không diệt, không có tự
tánh riêng biệt. Đó là pháp quán tính "không" của các pháp. Một khi hành
giả nhận chân được rằng không có một ngã thể bất biến trong con người và
thế giới thì đâu là chủ thể của cảm thọ?
Cấp Cô Độc vừa
thực hành, vừa cảm động rơi nước mắt vì tính hiệu năng của phương pháp.
Khi thực hành pháp quán này, Cấp Cô Độc cảm thấy an lạc, nhẹ nhàng. Ngay
khi hai tôn giả Xá-lợi-phất và A-nan-đa từ giã ra về thì Cấp Cô Độc qua
đời và sanh về cõi trời Đao-lợi.
15. Kinh Mười
Pháp Quán Niệm
Đây là bản dịch
tiếng Việt theo thể văn vần của HT. Hộ Tông từ Kinh Tăng Chi bộ, (A.V.108-60;
KS. V. 74-77), trích từ Kinh Nhật Tụng, hệ Nam Tông, trang
107-124. Soạn giả đã tỉnh lược những đoạn trùng lập và điều chỉnh một số
câu thơ cho sát ý. Bản dịch này tương ứng với bản dịch của HT. Thích Minh
Châu ở Kinh Tăng Chi III, 401-405.
Kinh này kể lại
bệnh tình đau đớn của Tỳ-kheo Gi-ri-ma-nan-đa. Tôn giả A-nan-đa thương xót
mới bạch Phật, xin Phật chỉ bày cách khắc chế các cảm thọ đau khổ của thân
xác. Đức Phật đã dạy mười pháp quán niệm, đó là: (1) quán vô ngã, (2) quán
vô thường, (3) quán bất tịnh, (4) quán bệnh khổ, (5) quán từ bỏ, (6) quán
ly tham, (7) quán tịch tịnh, (8) quán yểm ly, (9) quán các hành, (10) quán
hơi thở ra vào.
Tôn giả A-nan-đa đã vâng lời Phật dạy trùng tuyên lại mười pháp quán niệm
trên cho Thầy Gi-ri-ma-nan-đa. Quả thật, khi Thầy này chuyên tâm thực tập
các pháp quán niệm và an trú trong niềm an lạc của tâm thức, quên đi các
cảm giác đau khổ của thân xác.
16. Kinh Quy Luật
Cái Chết
Bài kinh có xuất
xứ từ A. III. 56, được soạn giả tóm lược từ bản dịch của HT. Thích
Minh Châu trong Kinh Tăng Chi (II, 60-63, ấn bản năm 1988), có tham
khảo bản tiếng Anh The Book of Gradual Sayings (III. 47-8) của hội
Thánh Điển Pāli.
Bài kinh này kể
lại câu chuyện thương tâm về sự qua đời đột ngột của hoàng hậu Mallika, vợ
của vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) trong khi vua đang nghe đức Phật thuyết pháp.
Trước hung tin đó, đức vua bất giác sững sờ, mất hết thần sắc. Đức Phật
liền dạy rằng có 4 sự kiện như một quy luật không từ một ai, đó là, già,
bệnh, chết và hoại diệt. Ngoài ra, đức Phật còn dạy cách khắc phục cơn đau
sanh ly, tử biệt này với một nhận thức như sau:
"Không phải chỉ
riêng ta lâm vào cảnh âm dương chia cách này, phàm các loài hữu tình có
đến phải có đi, có sanh tất có diệt, có hợp phải có tan. Quy luật này
không loại trừ một ai."
Bài kinh này như
một tuyên ngôn về quy luật sống chết mà không ai có thể tránh khỏi. Người
Phật tử khi đứng trước cảnh đau thương đó phải biết phát khởi chánh tín,
không nên khóc lóc, than thở, mà trái lại nên bình tĩnh, niệm Phật trợ
tiến hương linh, giúp hương linh không còn vướng bận, nhờ đó, vãng sanh
một cách nhẹ nhàng.
17. Kinh Nhổ Mũi
Tên Sầu Muộn
Bài kinh có xuất
xứ từ A. III. 57-9, được cư sĩ Phan Khắc Nhượng dịch từ bản tiếng
Anh The Book of Gradual Sayings (III. 48-91), có tham khảo bản dịch
của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng Chi II, 63-8, ấn bản năm
1988.
Duyên khởi của
kinh này cũng gần giống với Kinh Quy Luật Cái Chết. Khi hay tin
hoàng hậu Bhaddā thăng hà, đức vua Munđa (Muṇḍa)
sửng sốt, bỏ bê việc triều chính, đau khổ tột cùng. Vua tẩm liệm hoàng hậu
bằng một loại quan tài đặc biệt, được bao bọc bằng nhiều lớp, những mong
giữ thi thể của hoàng hậu được lâu. Nhờ có đại thần Piyaka hướng dẫn, đức
vua đã đến gặp tôn giả Nan-đa để cầu mong ngài cứu giúp. Tôn giả đã từ tốn
giảng dạy về quy luật của cái chết, và khuyên đức vua:
"An lòng gác chuyện sầu bi,
Tử sinh sinh tử có chi bận lòng!"
Với pháp thoại
gần gũi nhưng sâu xa, đức vua đã giác ngộ được quy luật vô thường sanh tử,
trở nên trầm tĩnh và an lạc. Sau thời pháp thoại, đức vua từ giã tôn giả
ra về, làm lễ hỏa táng hoàng hậu và bắt đầu mọi việc triều chính trở lại.
Câu chuyện này
cho chúng ta thấy con người thường chỉ đau thương trước sự tử biệt của
người thân mình trong khi dửng dưng trước hàng trăm triệu ngàn cảnh âm
dương cách biệt của người khác. Bài kinh nhắn nhủ chúng ta nên bình tĩnh
trước cơn sống chết, lo tang lễ một cách giản đơn nhưng chu đáo, đúng với
tinh thần chánh pháp, để cho người qua đời và người còn sống đều được lợi
lạc.
18. Kinh Nhận
Thức Vô Thường và Đau Khổ
Kinh này do HT.
Hộ Tông dịch, in trong Kinh Nhật Tụng, hệ Nam Tông, (Thành hội Phật
giáo HCM xuất bản năm 1990, trang 55-78). Bài kinh được chuyển ngữ theo
thể thơ song thất lục bát. Soạn giả đặt lại tựa Kinh, hiệu chỉnh một số từ
cần thiết cho các vần thơ thêm mạch lạc.
Nội dung kinh
nhằm phân tích về thuộc tính của mọi sự vật hiện tượng trên đời là không
thường còn, không có thực thể và dẫn đến đau khổ. Nguyên lý vô thường của
mọi sự vật được ghi nhận trên chiều thời gian, trong khi nguyên lý vô ngã
được đánh dấu về mặt không gian của sự vật. Nói cách khác, thuộc tính đôi
này không tách rời nhau: mọi sự vật hiện tượng không phải là ngã, không có
thực thể và do đó trở nên vô thường, mong manh, giả tạm, có đó rồi mất đó.
Hiện tượng sanh diệt, chóng vánh này thường dẫn đến cảm giác đau khổ ở con
người.
Thông qua ba
nguyên lý này, bài kinh dạy chúng ta nên sống an trú trong từng phút giây
hiện tại, không để cho các kinh nghiệm đau khổ hay hạnh phúc của quá khứ
lôi kéo và chi phối, cũng như không hướng vọng và mơ tưởng về tương lai
không thật. Lối sống an trú trong hiện tại, một mặt giúp chúng ta xả bỏ
được tất cả thế giới kinh nghiệm, mặt khác giúp chúng ta sống an nhiên tự
tại trong mọi thăng trầm và biến cố của cuộc đời. Nhờ đó, chúng ta vĩnh
viễn xa lìa được các nghiệp ác, bất thiện, an trú trong cảnh giới an lạc
và hạnh phúc.
19. Kinh Cúng Thí
Người Mất
Kinh này được soạn giả tóm lược từ bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong
Kinh Tăng Chi III, ấn bản năm 1988, có tham khảo bản tiếng Anh của
Hội Thánh Điển Pāli. Tựa đề do soạn giả đặt.
Bài kinh giới thiệu cuộc pháp thoại giữa đức Phật và Bà-la-môn Janussoni,
một người chuyên làm lễ hiến tế người chết. Bà-la-môn này hỏi đức Phật
rằng sự cúng kiến cho người đã qua đời có lợi ích hay không? Người chết có
nhận được sự cúng dường đó hay không? Đức Phật trả lời rằng chỉ khi nào có
sự “tương xứng” thì người chết mới nhận được những gì người thân nhân cúng
cho họ.
Theo đức Phật chỉ
có một trường hợp tương xứng duy nhất là nếu người chết tái sanh vào loài
ngạ quỷ, loại chúng sanh sống bằng sự cúng kiến của người còn sống, thì họ
sẽ nhận được sự cúng đó. Chúng sanh nào khi sống làm nhiều điều ác độc,
chết bị đọa vào ngạ quỷ hoặc các loài động vật. Tại đây, các chúng sanh đó
không thể nhận được sự cúng của người thân, vì họ có sự sống riêng. Tương
tự, chúng sanh nào khi sống do làm điều thiện, lúc chết được tái sanh làm
người hay chư thiên thì cũng không nhận được sự cúng của người thân, vì
tại thế giới loài người và loài trời, họ có sự sống khác biệt, được cha mẹ
của họ nuôi nấng.
Khi cúng kiến cho
người thân như vậy, dù trong trường hợp người thân quyến của người cúng
không bị đọa vào ngạ quỷ, người phát tâm cúng kiến đó cũng gặt hái nhiều
lợi ích. Nhân đây, đức Phật dạy về lợi ích của bố thí và cúng dường. Người
tu hạnh bố thí dù cho có làm ác khi chết bị tái sanh vào các loài thú, như
voi, ngựa, v.v… cũng được phước báu hơn các loài thú khác. Do quả báo của
bố thí, chúng sẽ được chủ nhân chăm sóc, cho ăn uống và trang phục đầy đủ
hơn các con thú khi làm kiếp người không biết bố thí và cúng dường. Tương
tự, nếu người sống biết bố thí và cúng dường lại còn tu tập nhiều hạnh
lành, xa lánh điều tội lỗi, thì khi còn sống được mọi người kính nể,
thương yêu, khi qua đời thì được tái sanh làm chư thiên để hưởng quả
phước. Nói chung trong mọi trường hợp, hạnh bố thí cúng dường mang lại
nhiều giá trị đạo đức cho người thực hành.
20. Kinh Nghiệp
Báo Tái Sanh
Kinh này được
soạn giả tóm tắt từ Kinh Trường A-hàm (I, kinh thứ 7, tr
329- 364, Đại Tạng Kinh Việt Nam), bản dịch của Viện Cao Đẳng Phật
Học Huệ Nghiêm. Tựa kinh trong nguyên tác bản dịch là Kinh Tệ-túc.
Soạn giả đổi thành Kinh Nghiệp Báo Tái Sanh để phù hợp với chủ đề
của Kinh.
Bài kinh này là
một cuộc đối thoại đầy triết lý, diễn ra sau khi đức Phật Niết-bàn chẳng
bao lâu, giữa tôn giả Đồng-nữ Ca-diếp và Bà-la-môn Tệ-túc, về các bằng
chứng của tái sanh. Bà-la-môn Tệ-túc là người chủ trương không có đời sau,
không có quả báo thiện ác. Ông vận dụng "chủ nghĩa kinh nghiệm" để phủ bác
không có nghiệp báo và tái sanh. Trong suốt cuộc đời của ông, ông chưa
từng chứng kiến cảnh một người nào, ngay cả người thân của ông, làm nhiều
điều tội lỗi, sau khi chết bị đọa vào địa ngục rồi trở về mách bảo ông
rằng họ bị đọa đày trong ngục khổ. Ông cũng biện luận rằng cũng chưa từng
gặp một người nào làm nhiều thiện và đạo đức khi chết được tái sanh vào
cõi trời, trở về báo cho ông rằng phước báo làm lành là có thật. Và còn
nhiều cách lý luận khác nữa để phủ định nhân quả báo ứng.
Tôn giả Đồng-nữ Ca-diếp đã vận dụng nhiều phương tiện để chứng minh ngược
lại. Đối với trường hợp thứ nhất tôn giả cho rằng người bị đọa địa ngục do
vì nghiệp báo nên không thể có dịp trở về báo với người thân trên dương
thế. Đối với trường hợp thứ hai, người sanh cõi trời do hưởng các an lạc
và hạnh phúc cõi trời, không còn thiết tha với cõi Ta-bà đầy đau khổ nên
không muốn trở về mách bảo. Đó là chưa nói đến sự khác nhau về thời gian
và không gian giữa các hành tinh và cõi sống, do đó khó mà trở về trái đất
để mách bảo được. Sau khi đưa ra nhiều bằng chứng cụ thể và sinh động, tôn
giả Ca-diếp đã thuyết phục được Bà-la-môn Tệ-túc tin vào nhân quả báo ứng
và khuyến khích vị Bà-la-môn này làm nhiều điều bố thí và tế lễ không có
máu thịt của chúng sanh, để gặt hái các quả báo hạnh phúc và an vui ngay
hiện đời và đời sau.
21. Kinh Na-tiên
Đàm Đạo
Kinh này do cư sĩ
Cao Hữu Đính dịch từ bản chữ Hán. Tựa của kinh được soạn giả đổi lại cho
phù hợp với thể thức của bài Kinh. Bài kinh được ghi lại theo thể vấn đáp
đàm đạo giữa đức vua Di-lan-đà và đại đức Na-tiên, tóm thâu gần như toàn
bộ các lời dạy của Phật trong kinh tạng Pāli. Kinh được phân theo nhiều
chủ đề, mỗi chủ đề chứa đựng một giáo lý nền tảng của Phật giáo. Ở đây,
soạn giả chọn lọc 11 chủ đề liên hệ đến các vấn đề nhân quả, nghiệp báo,
tái sanh và niết-bàn. Trật tự và tên của các chủ đề trong kinh được soạn
giả thay đổi để ý tưởng của chúng được liên kết. Soạn giả cũng hiệu chỉnh
và nhuận văn để cho bản dịch được mạch lạc và thuần Việt hơn.
Bài kinh khẳng định
rằng không có tính thực thể, thường hằng bất biến trong con người và mọi
sự vật. Danh xưng tên gọi chỉ là các mặc ước để giao tế trong đời, không
có gì có thể gọi là bản ngã. Mối tương quan “không phải đồng nhất nhưng
cũng không phải khác nhau” giữa đời trước và đời sau của một hiện hữu đã
được đại đức Na-tiên trình bày bằng nhiều hình ảnh rất ấn tượng. Con người
sinh ra với nghiệp lực, rồi lớn lên, già, và chết. Chết rồi lại mang một
thân mới mà sinh trở lại. Mất thân trước, liền thọ thân sau. Chuỗi thời
gian là vô cùng tận, không thể phanh ra sự khởi thuỷ và sự tận cùng. Trong
đó, chúng sanh trôi lăn trong ba cõi sáu đường theo ba chiều thời gian là
quá khứ, hiện tại và vị lai với một quy trình gồm mười hai mắc xích: vô
minh, hành, thức, danh sắc, sáu giác quan, cảm thọ, tham ái, chấp thủ,
hiện hữu, tái sanh, già và chết. Chỉ có những bậc tu tập chứng được giải
thoát, chuỗi thời gian trong không gian ba cõi mới bị chặt đứt hoàn toàn.
Tất cả con người, thế giới và mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này đều
sanh ra, tồn tại và hoại diệt theo định luật nhân duyên, cái này tuỳ thuộc
vào cái khác, và cái khác đó lại tuỳ thuộc vào cái khác nữa. Không có
nguyên nhân khởi thuỷ. Không có Thượng Đế, không có sự tạo dựng. Chỉ có
các hiện tượng diễn ra theo nhân duyên, vô thường và vô ngã. Dù các chúng
sanh có đi đầu thai từ đời này sang đời khác, biết bao nhiêu lần sự chết
chóc đã diễn ra, thân thể trở về với cát bụi, nhưng những hành vi đã tạo
tác sẽ không bao giờ mất. Đó là lý do dẫn đến sự thiên sai vạn biệt trong
thế giới hữu tình như là kết quả của tất cả các hành vi tạo tác có ý thức
của chúng sanh trong chuỗi kiếp sống dài vô tận. Sự chấm dứt mạng sống ở
nơi này là lúc kết thành một mầm sống mới ở nơi khác. Thời gian chuyển
tiếp giữa cõi chết ở đời này và cõi sống ở đời sau chỉ là các tích tắc.
Các phiền não như tham ái và chấp thủ là hai nguyên nhân đưa đẩy chúng
sanh trôi lăn trong ba cõi sáu đường, trong khi sự chuyên tâm tu tập thiền
định và phát triển trí tuệ là hai cửa ngõ dẫn đến sự giải thoát, chứng đạt
niết-bàn tại thế gian này. Cuối cùng, bài kinh nói về bản chất siêu việt
của niết-bàn, vắng mặt hoàn toàn các khổ đau, phiền não và nhiễm ô.
Niết-bàn chỉ thực chứng được khi mọi hành vi bất thiện và các phiền não đã
được nhổ sạch gốc rễ ở thân tâm của hành giả. Đó là trạng thái an lạc
nhất, có thể cảm nhận được qua quá trình kinh nghiệm thực chứng hay cảm
nhận.
22. Kinh Sống và
Tu trong Hoà Hợp
Kinh này do
Tỳ-kheo Đệ Tử Phật diễn thơ ngũ ngôn từ bài Tiểu Kinh Sừng Bò,
thuộc Trung Bộ Kinh (I. 449-61, bản dịch của HT. Thích Minh Châu,
ấn bản Đại Tạng Kinh Việt Nam). Soạn giả đã sửa lại tựa kinh theo
nội dung của bài Kinh.
Bài kinh kể lại kinh nghiệm chung sống và tu tập trong hoà hợp của ba vị
huynh đệ Tỳ-kheo, tên là Anurudha,
Nandiya, và Kimbila. Nhờ vào sự tu học trong hoà hợp, như nước hoà với
sữa, giúp đỡ nhau như những người anh em ruột thịt, và hỗ trợ nhau cùng
chứng đạt bốn thiền sắc giới (thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba,
thiền thứ tư) và năm định vô sắc giới (định không vô biên, định thức vô
biên, định vô sở hữu, định phi phi tưởng và định không còn tri giác và cảm
thọ), và cuối cùng chứng đắc thánh quả, giải thoát.
Bài kinh không chỉ mang ý nghĩa giáo dục về đời sống lục hoà trong cộng
đồng Tăng mà Tăng Ni và Phật tử cần phải noi gương, còn nhằm khẳng định
rằng chỉ khi nào những người con Phật, dù khác hệ phái và ý thức hệ, biết
bỏ đi các dị biệt, không còn chống trái nhau, hỗ trợ nhau cùng tu tập và
truyền bá giáo pháp của đức Phật thì đạo Phật sẽ mãi mãi hưng thịnh trên
đời này.
23. Kinh Tôn
Trọng các Pháp Môn
Tựa kinh nguyên
tác là Mahācunda Sutta (A. III. 355-7). Kinh này được soạn
giả tóm lược từ bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng Chi
(II. 347-8, ấn bản năm 1988), có tham khảo bản tiếng Anh The Book
of Gradual Sayings (III.252-3, Hội Thánh Điển Pāli ấn hành năm 1988).
Nội dung kinh phản ánh: những thái độ cho rằng con đường và pháp môn mình
thực hành là hay, là đúng trong khi con đường và pháp môn của người khác
là dở hoặc sai, cần phải được loại ra khỏi tâm tưởng và cách ứng xử của
những người con Phật lấy mục tiêu giải thoát làm trọng tâm. Mặc dù bài
kinh chỉ đưa ra cặp trường hợp điển hình chống trái và phê bình nhau là
người chuyên về thiền định và người chuyên về phân tích và luận giải kinh
điển. Nội dung của kinh này còn nhằm khuyên tất cả những người con Phật
không những không nên chê bai, phỉ báng người tu pháp môn khác mà còn tôn
trọng và học hỏi ở những người đó để bổ sung, hỗ trợ và hoàn thiện lẫn
nhau.
Tán đồng người
cùng sở hành, sở tu với mình; phê bình và phủ nhận người khác sở hành, sở
tu với mình, thỉnh thoảng đã trở thành khuynh hướng ứng xử của một số
người tu học Phật. Người đệ tử Phật cần phải tôn trọng tất cả các pháp môn
khác. Không những thế, người học Phật còn tôn trọng và học hỏi các pháp
môn đó, vì mình thiếu chuyên môn trong lý thuyết cũng như thực hành các
môn đó. Thái độ bao dung, hiểu biết, cảm thông và cùng hoàn thiện cho nhau
như nước hoà với sữa, trong chánh pháp Phật-đà, sẽ giúp cho tất cả những
người con Phật cùng lớn mạnh trong tu tập và giải thoát.
24. Kinh Bốn Mươi
Hai Bài
Kinh này được cư
sĩ Phan Khắc Nhượng diễn thơ từ bản dịch tiếng Việt trong tác phẩm Tìm
Hiểu Kinh Tứ Thập Nhi Chương (bản cảo, dịch và diễn giảng phổ biến
nội bộ năm 1989) của soạn giả. Toàn bộ các tiêu đề chương được soạn giả
đặt, để giúp người đọc hiểu được đại ý của các bài Kinh.
Giống như Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp (Kinh Pháp Cú), kinh này
là một tuyển tập về các lời dạy tiêu biểu của đức Phật trong truyền thống
kinh điển Đại thừa và kinh điển A-hàm, và được xem là kinh cẩm nang của
tất cả những người mới tu theo Bắc tông. Bài kinh còn có giá trị lịch sử
truyền bá Phật giáo ở Trung Quốc, khi hai tôn giả Ca-diếp-ma-đằng và
Trúc-pháp-lan mang sang Trung Hoa và là bản kinh được dịch và phổ biến đầu
tiên ở nước này.
Bài kinh trình bày một cách ngắn gọn nhiều chủ đề như thế giới quan, nhân
sinh quan, đạo đức học, phép xử thế, các quan niệm sống tốt đạo đẹp đời,
tại ngay thế gian này. Nhiều triết lý được trình bày trong kinh này rất
tương ứng với những điều Phật dạy trong kinh điển Pāli, nhưng cũng có một
số khác lại phản ánh tư tưởng tiêu biểu của Đại thừa. Hành trì kinh này,
chúng ta sẽ thấy giáo pháp của Phật trong hai truyền thống đan quyện vào
nhau trong một mạng lưới, để cùng xiển dương một chân lý duy nhất, đó là,
tất cả giáo pháp của Phật chỉ thuần một hương vị giải thoát.
25. Kinh Chủ
Trương của Như Lai
Bài kinh này được
soạn giả tóm lược từ bản dịch của HT. Thích Minh Châu trong Kinh Tăng
Chi (III. 29-32, ấn bản năm 1988), có tham khảo bản tiếng Anh The
Book of Gradual Sayings (IV. 171-8, Hội Thánh Điển Pāli ấn hành năm
1988).
Kinh ghi lại cuộc
đối đáp của đức Phật và Bà-la-môn Veranja về sáu học thuyết / chủ nghĩa /
chủ trương mà vị Bà-la-môn này đã hiểu sai hay cố tình gán cho đức Phật.
Sáu chủ nghĩa / học thuyết đó là: thiếu ý vị, thiếu tài sản, không hành
động, đoạn diệt, yếm thế và hư vô.
Cái tuyệt vời của đức Phật ở đây là Ngài không hề phủ
nhận những gì người ta đã cố tình gán hay chụp mũ Ngài, trái lại, Ngài đã
vận dụng tinh thần “bầu cũ rượu mới” vào trong các chủ nghĩa và học thuyết
khô khan và vô dụng đó. Nói cách khác, cũng dùng chung một khái niệm, một
ngôn từ, nhưng nội dung và triết lý mà đức Phật sử dụng hoàn toàn khác và
vượt lên trên các cách thức mà các truyền thống tôn giáo và triết học bấy
giờ đã hiểu và sử dụng. Chúng ta thấy, thường đức Phật ít khi dùng đến
những khái niệm mới, ngoại trừ không thể tìm ra trong các truyền thống
trước đó các khái niệm có thể vay mượn để diễn tả triết lý cao siêu huyền
diệu của ngài, ví dụ như Bồ-tát, Bồ-đề tâm, Phật và Phật tánh v.v...
Kể từ thế kỷ 19
trở lại đây, Phật pháp đã trở thành đối tượng nghiên cứu và thực hành nở
rộ ở phương Tây. Nhiều học giả đã xem đạo Phật như là một nền triết học,
một tôn giáo, một hệ thống đạo đức. Các học giả khác thì cho rằng đạo Phật
là khoa học, là xã hội học, là tâm lý học trị liệu v.v... Tuỳ theo cái
nhìn và cách thế tiếp cận, đạo Phật đã trở thành và hiệp nhất với các quan
điểm của người đánh giá. Nhiều Tăng Ni và Phật tử đã không hài lòng về
cách lý giải đạo Phật qua các môn học hiện đại, và cho rằng làm như vậy sẽ
thế tục hoá đạo Phật, v.v... Theo tinh thần của kinh này, việc làm đó
không có gì là sai cả, nếu nội dung mà người ta hiểu và định nghĩa cho đạo
Phật trong các chủ nghĩa học thuyết đó không đi ngược lại với tinh thần
giáo pháp. Nói cách khác, điều quan trọng không phải là tên gọi của học
thuyết mà người ta đặt cho đạo Phật, mà chính là nội dung chứa đựng trong
tên gọi của học thuyết đó. Quan trọng hơn là sự thực hành nội dung chánh
pháp được chứa tải trong các danh xưng và học thuyết để đem lại an lạc và
hạnh phúc cho mình và người, chứ không phải danh xưng và bản thân của các
học thuyết.
26. Kinh Quan
Niệm về Như Lai
Bản dịch của HT. Thích Nhất Hạnh từ Samyutta Nikāya, 22, 6. Bài
kinh tường thuật lại câu hỏi của một vị Bà-la-môn về bản chất của Như Lai
sau khi chết, dưới hình thức bốn mệnh đề (tứ cú). Bốn mệnh đề đó là Như
Lai tồn tại sau khi chết, Như Lai không tồn tại sau khi chết, Như Lai vừa
còn vừa không còn tồn tại sau khi chết và Như Lai vừa chẳng còn vừa chẳng
phải chẳng còn tồn tại sau khi chết. Được hỏi vậy, tôn giả Anuradha đã trả
lời rằng đức Phật chưa bao giờ giảng dạy hay tuyên bố liên hệ đến hình
thái của bốn mệnh đề: có, không có, vừa có vừa không có; chẳng phải có
chẳng phải không có. Mệnh đề đầu rơi vào chủ nghĩa thường còn. Mệnh đề thứ
hai rơi vào chủ nghĩa đoạn diệt. Mệnh đề thứ ba tổng hợp hai mệnh đề một
và hai, trở nên mâu thuẫn vì tính cách loại trừ nhau. Mệnh đề thứ tư đối
lập với mệnh đề thứ ba, do đó cũng trở nên vô nghĩa vì tính cách mâu thuẫn
và loại trừ với mệnh đề thứ ba. Cả bốn mệnh đề đều rơi vào hai chủ nghĩa
hoặc thường kiến hoặc đoạn kiến. Giáo pháp của Phật phủ định hai loại kiến
chấp này. Do đó, sẽ trở nên vô nghĩa nếu áp đặt sự kiện Như Lai sau khi
chết vào trong khuôn khổ của bốn mệnh đề này.
Không thoả mãn
với câu trả lời ngắn gọn của tôn giả Anuradha, các du sĩ ngoại đạo đã
khinh chê tôn giả là người kém học ít biết hoặc chỉ là người mới tu tập
nên không có kiến thức chuyên sâu về vấn đề. Tôn giả không buồn đính
chính, đến bên Phật trình bày lại sự kiện và thỉnh cầu đức Phật giảng
giải.
Đức Phật dạy rằng
không thể tìm kiếm Như Lai trong hay ngoài năm tổ hợp nhân tính (thân thể,
cảm giác, suy luận, tâm tư và ý thức). Tìm kiếm Như Lai khi Ngài còn sống
còn không được huống hồ là sau khi Ngài chết! Cuối cùng đức Phật lưu ý
rằng giáo pháp của Ngài không đ