Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nghi Lễ Phật Giáo


...... ... .

 

 KINH TỤNG HẰNG NGÀY

TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
biên soạn

---o0o---

Phụ Lục 2

CHÚ THÍCH

MỘT SỐ THUẬT NGỮ VÀ DANH TỪ RIÊNG

Thích Giác Hoàng

(Đọc bằng phông chữ Arial Unicode MS)

 

Mặc dầu trong Kinh Tụng Hằng Ngày này, soạn giả đã nỗ lực Việt hoá tối đa các thuật ngữ Phật học Hán Việt, nhưng do vì bộ Kinh được nhiều vị Tôn đức phiên dịch, nên vẫn còn một số các thuật ngữ có nguồn gốc từ Sanskrit, Pāli hoặc Hán Việt, được chuyển sang tiếng Việt bằng nhiều từ khác nhau. Do đó, chúng tôi cũng chọn một số thuật ngữ và danh từ riêng tiêu biểu thường lập đi lập lại trong Kinh Tụng Hàng Ngày  này để giải thích sơ bộ, đồng thời đối chiếu với  từ nguyên của nó vốn xuất thân từ Sanskrit hoặc Pāli hoặc các từ đã Hán hoá mà người Việt mình quen dịch và đọc tụng.  

Phần chú thích này chủ yếu giúp cho người đọc tụng có thể hiểu được ý nghĩa của các thuật ngữ Phật học một cách nhanh chóng, nhất là đáp ứng tạm thời cho quý Phật tử nào không có nhiều thời gian tra khảo các thuật ngữ Phật học trong các bộ từ điển Phật học chuyên ngành. Do vậy, các mục từ được giải thích ngắn gọn, không chú trọng đến nội dung chuyên sâu.

Ngôn ngữ Pāli, Sanskrit và hai ký hiệu khác trong phần phụ chú này được mặc ước như sau:

(P) : Pāli;    (S):  Sanskrit;     (S=P): Sanskrit và Pāli giống nhau;  

®:  tham khảo thêm mục từ;   = các hình thức viết khác của một mục từ.


A-hàm   phiên âm của Āgama (S), có nghĩa là bộ kinh hay là tuyển tập các lời dạy của Đức Phật. Giải thích theo quan điểm của ngài Đại sư Trí Khải thì Đức Phật đã tuyên thuyết Kinh A-hàm suốt 22 năm, gồm bốn bộ: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và Tạp A-hàm.  Từ A-hàm (Āgama ) được các nhà Đại thừa sử dụng chỉ cho Kinh bộ, tương  đương với chữ  kinh bộ (Nikāya) trong văn học Pāli.

A-la-hán phiên âm của Arhat, Arhant (S) hoặc Arahat, Arahant (P), còn một phiên âm không chuẩn xác khác là La-hán. A-la-hán có nghĩa là bậc đáng cúng dường, nên người  Hoa dịch là Ứng Cúng    .  Do vì bậc A-la-hán không còn bị đoạ lạc vào cõi này nữa nên cũng gọi là bậc "Vô Sanh."    .

A-lan-nhã phiên âm của araṇya (S) hoặc arañña (P),   Hán dịch là “nhàn tịch” (nơi thanh tịnh) hay “viễn ly xứ” (nơi xa lánh ồn ào), "Tinh xá" (nơi trong sạch, trang nghiêm) hay "Tự" (chùa), "Viện." (các trung tâm tu học lớn). Tên gọi chung nơi các vị tu sĩ Phật giáo trú ngụ.

A-la-ra phiên âm vắn tắt người Việt của từ Āḷāra-kalāma (P) hoặc Ārāḍa-kālāma (S),Trung Hoa phiên âm là A-la-ma . Ông là vị Thầy đầu tiên của Bồ-tát Tất-đạt-đa đã dạy “Vô sở hữu xứ định” cho Bồ-tát. Đến khi Đức Phật thành đạo thì A-la-ra đã mất.

A-na-hàm phiên âm của từ Anāgāmi (S=P).  Vị chứng đắc quả vị này đoạn trừ hoàn toàn năm kiết sử đầu. Khi bỏ báo thân, vị ấy không còn trở lại cõi đời này mà được hoá sanh lên cõi trời Tịnh Cư thuộc Sắc giới, nên còn gọi là "bất lai" hoặc bất hoàn    . Ở đó, hành giả chứng quả vị A-la-hán, giải   thoát  vòng luân hồi.

A-na-luật-đà =A-nậu-lâu-đà.

A-nan còn viết là A-nan-đà   phiên âm của Ānanda (S=P). Một số Kinh trong Kinh Tụng Hằng Ngày phiên âm là A-nan-đa, đây là cách phiên âm của người Việt. Ānanda là vị thị giả cần mẫn suốt 25 năm cuối của Đức Phật. Tôn giả Ānanda cũng là vị trùng tuyên Pháp tạng trong kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ nhất tại hang Thất Diệp thuộc thành Vương Xá vào mùa hạ thứ nhất sau khi Đức Phật vừa Vô dư Niết-bàn. Trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ suy cử tôn giả là vị đệ nhị Tổ Sư. Phật giáo Thiền tông Ấn - Hoa cũng suy tôn Ngài là vị Tổ Sư thứ hai.

A-nan-đa = A-nan.

A-na-ru-đa phiên âm của Anaruddha (P), tên của một vị Tỳ-kheo sống rất hoà hợp với hai vị Tỳ-kheo khác trong Kinh Sống và Tu trong Hoà Hợp.

A-nậu viết đủ là A-nậu-đạt , phiên âm của Anavatapta (S), Hán dịch là Vô Nhiệt   , tên của ao A-nậu-đạt  trong Hi-mã-lạp sơn, nơi phát nguyên tám con sông lớn của Ấn Độ. Ao này thường được xuất hiện trong Kinh điển Đại thừa dụ cho giáo lý Đại thừa là pháp cao tột, là nơi phát nguyên của vô số pháp môn khác.

A-nậu-lâu-đà phiên âm của Aniruddha (S) hoặc Anuruddha (P), còn được phiên âm là A-na-luật  hoặc A-na-luật-đà .  Tên của một vị đại đệ tử trong thập đại đệ tử của Đức Phật.  Tôn giả được Đức Phật khen ngợi là bậc đạt được Thiên nhãn đệ nhất. Chính tôn giả đã theo dõi các trạng thái thiền định khi Đức Phật xả bỏ báo thân.

Anh em Ca-diếp  chỉ cho ba anh em ruột có  họ là Ca-diếp (S. Kāśyapa), trong Kinh thường gọi là ba anh em tôn giả Ca-diếp, gồm có Ưu-lâu-tần-loa-ca-diếp (S. Uruvilvā-kāśyapa), Na-đề Ca-diếp   (S. Nadī-kāśyapa) và Dà-da Ca-diếp (S. Gayā-kāśyapa).

A-nhã Kiều-trần-như phiên âm từ Ājñāta Koṇḍañña. Từ A-nhã là từ phiên âm của Ājñāta (S) hoặc Añña (P) để suy tôn cho tôn giả Kiều-trần-như (Koṇḍañña) khi tôn giả nghe xong bài pháp đầu tiên của Đức Phật tại Vườn Nai chứng được  pháp nhãn ly trần cấu, nghĩa là chứng được quả vị Tu-đà-hoàn.

A-nu-ra-đa phiên âm của từ Anurādha (P), tên của một vị Tỳ-kheo.

A-ri-tha phiên âm của từ Arittha (P), tên của một vị Tỳ-kheo.

A-tư-đà phiên âm của từ Atisa  (S=P). Tên của vị tiên tri, tu trên Hy-mã-lạp sơn. Người xem tướng thái tử Tất-đạt-đa và đoán rằng thái tử sẽ thành Chuyển Luân Thánh Vương, nếu xuất gia thì thái tử sẽ trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác.

A-tu-la   phiên âm của từ Asura (S=P), đôi khi được phiên âm thành A-tu-luân   . Hạng chúng sanh này phước báu hơn người, nhưng đức trí kém hơn người. Họ cũng có thần thông và thường gây gỗ đánh nhau với chư thiên. Người nam của cảnh giới này cực kỳ xấu và người nữ cực kỳ đẹp. Đây cũng là một cảnh giới được Đức Phật xếp vào bốn cõi tối tăm, đau khổ.

A-xà-thế phiên âm của từ Ajātaśatru (S) hoặc Ajātasattu (P). Ông là con của vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra) và hoàng hậu Vi-đề-hi (Vidhehi) ở thành Vương Xá thuộc vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha). Ông đã từng nghe lời Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) thả voi dữ hại Phật và đã giết chết cha mình để cướp ngôi vua. Sau ông nghe lời cận thần ngự y Kỳ-bà (Jīvaka) đến Đức Phật đảnh lễ sám hối tội lỗi của mình.Đức Phật xác nhận với hội chúng Tỳ-kheo rằng nếu vua A-xà-thế không phạm tội giết cha thì đã chứng được sơ quả khi  nghe xong bài pháp Ngài thuyết. Ông cũng là đại tín chủ ngoại hộ đắc lực nhất cho kỳ kiết tập kinh điển lần thứ nhất.

ba cánh cửa giải thoát dịch từ cụm từ "tam giải thoát môn"   , gồm có: Không, Vô Tướng và Vô Tác.

ba cõi dịch nghĩa của từ “tam giới”   , gồm có cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.

ba hữu dịch nghĩa của từ "tam hữu"   , nghĩa là 3 cõi dục, sắc và vô sắc.

ba mươi bảy yếu tố giác ngộ  hay  Ba mươi bảy phẩm trợ đạo dịch nghĩa của cụm từ “tam thập thất trợ đạo phẩm”          , gồm có Tứ  niệm xứ,  Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ-đề phần, Bát chánh đạo.

ba mươi hai thể trược: tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thần kinh, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương và nước tiểu.

ba sắc thái còn được viết là "Ba luân." Thuật ngữ Pāli là Tiparivaṭṭa, tiếng Hoa dịch là “tam chuyển”      bao gồm: 1. Thị chuyển: Đây là Khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là trạng thái vắng mặt khổ, đây là con đường chấm dứt đau khổ; 2. Khuyến chuyển: Khổ nên biết, nguyên nhân của khổ nên chấm dứt, niết-bàn nên chứng, con đường diệt khổ nên tu; 3. Chứng chuyển: Khổ ta đã biết, nguyên nhân của khổ ta đã dứt, niết-bàn ta đã  chứng và con đường diệt khổ ta đã tu. Chính vì vậy, nên trong các sách Hán thường viết là tam chuyển pháp luân     .

ba thừa giáo dịch nghĩa của thuật ngữ “tam thừa giáo” nghĩa   là giáo lý của ba thừa, đó là Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ-tát thừa.

Ba Viên Ngọc Quý dịch sát nghĩa của thuật ngữ Tam Bảo , xuất phát từ Tri-ratana, Ratna-traya (S),  hoặc Ti-ratana hoặc Ratanattaya (P). Ratana có nghĩa là Viên Ngọc, nên vài nơi dịch danh từ "Tam Bảo"       Ba Viên Ngọc Quý, hoặc dịch thoát là Ba Ngôi Báu.

ba y, một bát  dịch nghĩa của cụm từ "tam y nhất bát"         . Ba y nghĩa là ba bộ y phục che thân của một vị Tỳ-kheo, gồm:  1. Tăng-già-lê còn gọi là Thượng y (S. Saṅghāṭī): y  khoát bên ngoài, chỉ đắp khi lễ Phật, tụng kinh, Bố-tát hoặc khi đi ra đường; 2. Uất-đa-la-tăng  hay còn gọi là trung y (S. Uttarāsaṅga):  giống như cái áo; 3. An-đà-hội hay còn gọi là hạ y (S. Antarvāsa):  như cái quần. Bát là dụng cụ chứa đựng thực phẩm trong khi khất thực.

Bậc Giác Ngộ  dịch nghĩa của thuật ngữ Buddha, Trung Hoa phiên âm là Phật-đà   , gọi tắt là Phật Việt Nam còn phiên âm khác là Bụt. Về sau, danh từ này chỉ chung cho những vị giác ngộ như Phật.

Bạch y   nghĩa là áo trắng, chỉ chung cho hàng cư sĩ tại gia. Áo trắng tượng trưng cho sự tinh khiết.

Ba-ga  phiên âm của Bhaggā (P), tên một bộ tộc và cũng là tên một quốc gia nhỏ nằm giữa Vesāli (P) và Sāvatthi (P).

ba-la-mật phiên âm của Pāramitā (S) hoặc Pāramī, Pāramitā (P), Trung Hoa dịch là "đáo bỉ ngạn" , nghĩa là "qua / đến bờ bên kia". Dịch chính xác là "hoàn hảo" "tối thắng". Cách dịch "đáo bỉ ngạn" chỉ là cách dịch ý, dùng hình tượng để biểu đạt sự  giải thoát, giác ngộ, qua được sông mê bể khổ. Một vị tu tập 6 pháp hay 10 pháp ba-la-mật theo quan điểm của Phật giáo Đại thừa hoặc 10 pháp ba-la-mật theo quan điểm của Phật giáo Nam truyền có thể qua được sông mê đến bờ giải thoát.

Bà-la-môn phiên âm của Brāhmaṇa (S=P), giai cấp đứng đầu trong bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ, có trách nhiệm về việc nghi lễ tôn giáo. Những người trong giai cấp này không hẳn là giới tu sĩ, nhưng họ được đặc ân của thế tập cha truyền con nối. Thuật ngữ Bà-la-môn còn được dịch là Phạm Chí .

bàng sanh   chỉ chung cho các loài động vật có mặt trong thế giới này, thỉnh thoảng còn được dùng đồng nghĩa với từ súc sanh  .  Đây là cảnh giới khổ thứ 3 trong 4 cảnh giới: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la.

bánh xe pháp (S. dhammacakra, P. dhammacakka) hay còn gọi là Pháp luân    . Đây là hình ảnh tượng trưng cho toàn thể giáo pháp của Đức Phật.

bất hoàn = A-na-hàm.

Bát-đà  phiên âm của   Bhaddhā (P). Tên của hoàng hậu  của vua  Muṇḍa.   

Bạt-đà-bà-la phiên âm của Bhadrapāla, dịch nghĩa là Hiền Hộ, tên của một vị Bồ-tát trong Kinh điển Đại thừa.

bát-nhã = Trí tuệ tối thắng.

Ba-tư-nặc     phiên âm của  Prasenajit (S)  hoặc Pasenadi (P). Ông là vua nước Kiều-tát-la (Kosalā), một trong những  vị vua hùng mạnh nhất thời Đức Phật và cũng là một trong những vị ủng hộ  Phật pháp đắc lực thời  bấy giờ.

bảy bậc đang còn tu học nghĩa là: người đang hướng đến quả Tu-đà-hoàn, người đã chứng quả Tu-đà-hoàn, người đang hướng đến quả Tư-đà-hàm, người đã chứng quả Tư-đà-hàm, người đang hướng đến quả A-na-hàm, người đã chứng quả A-na-hàm và người đang hướng đến quả A-la-hán.

bảy đại  dịch nghĩa của thuật ngữ thất đại nghĩa là bảy yếu tố cấu tạo nên con người và thế giới địa: (thể rắn), thuỷ (thể lỏng), hoả (thể nóng), phong (thể khí), không (hư không, khoảng cách), kiến (tính thấy của nhãn căn=các tế bào thần kinh bên trong), và thức (sự phân biệt do căn tiếp xúc với trần). Thuyết bảy đại được giới thiệu trong các Kinh điển Đại thừa, trong khi trong kinh điển Nikāya chỉ đề cập đến bốn yếu tố đầu.

bảy yếu tố giác ngộ dịch nghĩa của Saptabdhyaṅgāni (S), thuật ngữ Hán Việt là thất bồ-đề phần 分, thất đẳng giác chi , thất biến giác chi      , thất giác phần , thất giác chi pháp , thất giác ý pháp   . Bảy yếu tố giác ngộ này thuộc Đạo đế, bao gồm: trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, niệm, định, xả.

Bích-chi Phật   phiên âm của Pratyeka-buddha (S), hoặc Pacceka-buddha (P) vị chứng quả giác ngộ nhờ nhờ quán sát lý duyên khởi, vì thế còn có được gọi là "Duyên Giác Phật" . Bậc Giác Ngộ này tuy chứng được đạo quả nhưng không phát nguyện hoằng hoá độ sanh, mà nhập Niết-bàn nên cũng gọi là "Độc Giác Phật"  .  

bồ-đề   phiên âmcủa từ Bodhi (S=P) Trung Hoa, dịch là "giác" , có nghĩa là sự giác ngộ. Tâm bồ-đề có nghĩa là tâm giác ngộ.

Bồ-lân-nại cách phiên âm khác của “Ba-la-nại” .  Hai cách phiên âm trên đều xuất phát từ  Vārāṇasī, Varaṇasī (S); hoặc Bārāṇasī (P). Ba-la-nại   được dùng dung thông cho cả thành Ba-la-nại, và quốc gia Ba-la-nại thời cổ Ấn Độ. Đây là nơi Đức Phật chuyền pháp luân lần đầu tiên cho năm anh em tôn giả Kiều-trần-như. Nay người ta vẫn giữ tên cũ là Vārāṇasī, thuộc bang Uttar Pradesh.

bốn câu nghĩa lý  trong Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp số  273 có  nghĩa là Tứ Đế (P. saccanaṃ caturo).

bốn chân lý thánh dịch nghĩa của Tứ Diệu Đế        hay Tứ Thánh Đế . Trong bản Kinh này nhiều chỗ dịch là: bốn chân lý vi diệu, hay bốn chân lý nhiệm mầu. Bao gồm: chân lý về Khổ (khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (tập đế), chân lý về sự tịch tịnh-trạng thái chấm dứt về khổ (diệt đế) và chân lý về con đường dẫn đến sự chấm dứt về khổ (đạo đế) --> Bốn chân lý vi diệu.

bốn chúng gồm có chúng Tỳ-kheo, chúng Tỳ-kheo-ni, chúng Cư sĩ nam và chúng Cư sĩ nữ. Chúng ở đây có nghĩa là cộng đồng hay tập thể gồm bốn người trở lên.

bốn đại  dịch nghĩa của Tứ đại 1. địa (thể rắn); 2. Thuỷ (chất lỏng); 3. phong (khí); 4. hoả (hơi nóng).

bốn đường ác  gồm có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và a-tu-la.

bốn không sợ sệt thuật ngữ Hán viết là "Tứ vô sở uý"        , dịch nghĩa của cụm từ catvāri vaiśāradyāni (S) hoặc cattāri vesārajjāni (P). Có hai loại Tứ vô sở uý, một loại "Tứ vô sở uý" của Đức Phật và một loại của hàng Bồ-tát. Tứ vô sở uý trong Kinh Hạnh Bồ-tát  chỉ cho “tứ vô sở uý” của Đức Phật.  Tứ vô sở uý của Đức Phật: 1) Nhất thiết trí vô sở uý