Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

Lìa Tướng Tịch Diệt

 

Thích Như Điển

 

 

          Chúng ta có nhiều cơ hội tham cứu, trì tụng hoặc bình giải kinh Kim Cang. Hôm nay chúng ta đi vào phần “Ly Tướng Tịch Diệt”  nghĩa là “lìa tướng Tịch Diệt” đoạn thứ 14 kinh Kim Cang, để thấy rõ được phần nào sự uyên nguyên, tuyệt diệu trong thế giới của Hoa Tạng.

          “Lúc bấy giờ Ngài Tu Bồ Đề nghe giảng kinh nầy, hiểu rõ nghĩa sâu xa, liền rơi nước mắt, bạch Phật rằng: Thật hy hữu! Bạch Thế Tôn! Nếu ai nghe kinh nầy, niềm tin thanh tịnh tức thấy thật tướng, người ấy thành tựu công đức thứ nhất vô cùng hy hữu”

          Ngài Tu Bồ Đề được xưng tán là bậc trí tuệ, bậc giải không đệ nhất, nhưng trước đó, vẫn chưa được nghe Phật giảng kinh, như kinh Kim Cang nầy, bây giờ được nghe, quá cảm động, mừng vui lẫn lộn khiến rơi nước mắt. Ngài cho rằng ai được nghe kinh nầy với tâm hoàn toàn thanh tịnh và có lòng tin, sẽ nhận thức rõ thật tướng. Thật tướng ấy là gì? Đó là tướng “không” của vạn pháp. Thấy được tướng “không” mới là công đức lớn nhất trong bao nhiêu công đức khó thành tựu.

          “Bạch Đức Thế Tôn! nếu tướng là thật, thì tướng ấy không phải tướng, cho nên Như Lai mới gọi là thật tướng”

          Điểm nầy rất quan trọng, đã gọi là thật, thế thì không còn thấy tướng nữa, mà còn thấy tướng, thế thì không thể gọi là thật được. Nhưng tướng thật ở đây là tướng chơn như vạn hữu vốn hiện hữu trong mọi chúng sanh. Vì vô minh phiền não và chấp trước cho nên nhận lầm tướng giả là thật. Do vậy, tướng thật mà Đức Thế Tôn muốn nói là thật không trải qua chấp trước, qua sự thấy nghe của con người.

          “Kính Bạch Đức Thế Tôn! Với con thật không có gì là khó khi nghe kinh nầy, tin tưởng giải rõ và thọ trì. Nhưng 500 năm sau, vô cùng khó khăn cho những ai nghe kinh nầy, tin tưởng và thọ trì. Vì sao? Vì phải không chấp mình, không chấp người, không chấp chúng sanh và không chấp thọ giả”

          Thời chánh pháp, chư Bồ Tát, Thanh Văn, A La Hán nghe Phật thuyết pháp, giảng nói tin tưởng và hành trì, nhưng sau 500 năm, chánh pháp chuyển sang đời tượng pháp, còn có người nghe tin tưởng thọ trì, phải biết rằng thật là hiếm có. Vì đòi hỏi người nghe không chấp vào mình, không chấp vào tướng người, không chấp vào tướng chúng sanh và không chấp vào tướng thọ giả. Thời tượng pháp như thế. Còn thời mạt pháp thì sao? Ở đoạn kinh nầy thấy không đề cập đến, nhưng chúng sanh càng ngày căn trí càng chậm lụt, lại thêm chấp tướng. Do vậy, đời mạt pháp nầy; nếu có ai hiểu rõ và thọ trì kinh nầy, quả là càng hy hữu hơn.

          “Cho nên tướng ngã tức là phi tướng, tướng người, tướng chúng sanh tướng thọ giả đều là phi tướng Vì sao? Vì ai lìa tất cả tướng gọi là Phật”

          Ở đây chúng ta thấy rõ ràng là ai còn chấp tướng của mình là sai. Vì lẽ mình không có tướng, thậm chí người, chúng sanh và thọ giả. Tất cả đều không có tướng. Ai lìa tất cả những tướng nầy gọi là Phật. Phật nghĩa là không chấp tướng  nầy tướng kia, mà lìa tất cả những giả tướng ấy. Do vậy Như Lai còn được định nghĩa rằng: “không từ nơi nào đến và cũng không đi về đâu, gọi là Như Lai” Chẳng phải vì có chúng sanh, chư Phật mới thị hiện. Vì Phật hiện hữu như như bất động ở mọi thế giới trong cõi tam thiên nầy rồi. Chúng ta chỉ là một sự hiện hữu trong bao nhiêu sự hiện hữu khác mà thôi.

          “Phật bảo rằng: Tu Bồ Đề! như thế đó, như thế đó. Nếu ai nghe kinh nầy chẳng kinh, chẳng sợ, chẳng lo,  phải biết người ấy thật là khó có. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất Ba La Mật tức chẳng phải đệ nhất Ba La Mật, tức là đệ nhất Ba La Mật. Tu Bồ Đề! Nhẫn nhục Ba La Mật, Như Lai nói chẳng phải nhẫn nhục Ba La Mật, nên gọi  là Nhẫn nhục Ba La Mật”

          Chữ “như thế đó, như thế đó” nhấn mạnh cho chúng ta thấy rằng đây là chân lý đúng như vậy không sai chút nào. Tại sao nghe kinh mà lại lo sợ? Vì lẽ lâu nay mình chấp vào chỗ nghe, chỗ thấy của mình là đúng, nhưng trên thật tế không đúng. Vì sao? Vì lẽ ngay cả đệ nhất Ba La Mật cho đến nhẫn nhục Ba La Mật đều chẳng phải như thế. Vì làm phước bố thí, cúng dường, nhẫn nhục mà còn biết mình làm và đối tượng để làm thì đó chính thật chẳng phải rốt ráo. Ba La Mật phải là qua bên kia bờ giải thoát kia, mà đã qua bên kia bờ giải thoát rồi thì không còn có tên gọi nữa.

          “Vì sao vậy? Tu Bồ Đề! như ta ngày xưa vì Vua Ca Lợi mà cắt hết thân thể, bởi vì lúc ấy trong ta chẳng có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh và chẳng có tướng thọ giả. Vì sao vậy? Ta nhớ lại lúc xưa ta đã từng cắt bỏ thân thể của ta. Nếu lúc ấy ta có tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả chắc chắn sân hận vô cùng”

          Vua Ca Lợi là hiện thân của Đế Thích. Vị vua nầy luôn luôn thể hiện nghịch hạnh để thử thách và hộ trì Đức Thích Ca trong khi thực hành Bồ Tát Hạnh. Song vị trời Đế Thích cũng phát nguyện rằng lúc nào cũng ở bên cạnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni để hộ trì chánh pháp.

          Khi Đức Thích Ca vì vua Ca Lợi cắt hết tứ chi của mình, lúc ấy Ngài không trụ vào tướng của mình, của Người, của chúng sanh, của thọ giả. Nếu Đức Thích Ca trụ vào những tướng nầy tâm sẽ sanh sân hận. Một khi tâm sân nổi lên không chế ngự được, tức là chấp vào các tướng thật có bên trên. Do vậy đức Thích Ca không trụ vào những tướng ấy, vì nghĩ rằng dẫu cho cắt hết chân tay của mình đi nữa, đó cũng chỉ là giả tướng chứ không phải là tướng thật.

          “Tu Bồ Đề! lại nữa ta nhớ ở quá khứ, 500 đời về trước khi ta còn là một tiên nhơn tu hạnh nhẫn nhục. Ta không còn chấp tướng ta, không chấp tướng người, không chấp tướng chúng sanh và không chấp tướng thọ giả. Cho nên Tu Bồ Đề! Bồ Tát nên lìa tất cả tướng, phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, chẳng nên trụ vào sắc để sanh tâm, chẳng nên trụ vào thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, mà tâm nên ở chỗ không trụ. Nếu tâm có trụ tức là chẳng trụ. Cho nên Phật dạy tâm của Bồ Tát chẳng nên trụ vào sắc để bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh vậy. Nên như thế mà bố thí. Như Lai nói tất cả các tướng tức là chẳng phải tướng. Lại nói tất cả chúng sanh, chẳng phải là chúng sanh”

          Bất cứ lúc nào khi còn thực hành hạnh Bồ Tát, Đức Thích Ca cũng chẳng trụ vào tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Do vậy, tất cả các Bồ Tát nên lìa tất cả các Tướng để phát tâm tu thành Phật quả. Quả thật quả Phật không có tướng. Nên Niết Bàn được gọi là vô tướng vô tác, vô nguyện và không. Rõ ràng Niết Bàn không phải là nơi chốn, mà Bồ Tát muốn sanh về đó, phải lìa tất cả tướng. Chẳng nên trụ vào hình tướng để sanh tâm, vì như thế còn sự đối đãi chấp tướng. Cũng chẳng nên trụ vào âm thanh, mùi vị, sự va chạm nơi các pháp để sanh tâm. Vì khi phát ra cái tâm chấp trước vào những hình tướng ấy dầu thấy hay không thấy, dầu nghe hay không nghe, cũng đều là chấp tướng cả. Tâm không trụ vào đó, chẳng phải là cái trụ đúng nghĩa. Cái trụ đúng nghĩa là vượt lên trên cái trụ đối đãi như Niết Bàn vô trụ, đó mới chính là chỗ trụ. Cho nên Phật nói tâm của các vị Bồ Tát chẳng nên trụ vào hình tướng để bố thí là vậy. Vì tất cả Bồ Tát muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, nên phải bố thí như chỗ không bố thí ấy mới là bố thí thật đúng nghĩa. Như Lai bảo rằng tất cả các tướng đều là phi tướng. Vì các tướng hiện hữu mà ta thấy hoặc không thấy đó, tất cả chỉ là giả danh chứ không phải là một thật tướng. Lại cũng nói tất cả chúng sanh là đối tượng ấy cũng chẳng phải là chẳng sanh.

          “Tu Bồ Đề! Như Lai luôn luôn nói lời chân thật. Lời nói chân thật như thế chẳng cuồng ngông, chẳng sai trái. Tu Bồ Đề! Như Lai chứng ngộ pháp mà pháp đó lại không thật, không hư. Tu Bồ Đề! nếu tâm Bồ Tát trụ vào nơi pháp đó mà thực hành hạnh bố thí, như người vào tối, chẳng thể thấy được. Còn nếu tâm Bồ Tát chẳng trụ nơi pháp đó mà thực hành bố thí, như người có mắt đi dưới ánh mặt trời chiếu sáng, thấy được nhiều loại màu sắc khác”

          Đức Phật bao giờ cũng nói lời chân thật, chẳng hư dối. Nói như thế để xác định rằng tất cả các pháp mà Ngài nói ra chẳng sai chân lý. Pháp đó là pháp như thật mà Ngài đã chứng đắc. Song Pháp ấy cũng nên thấy chẳng phải thật. Vì nếu còn thấy Pháp là thật, nghĩa là còn chấp vào tướng người, tướng ta, tướng chúng sanh và tướng thọ giả. Tướng ấy cũng chẳng phải là tướng hư dối. Vì nếu hư dối thì không thể có nơi thật tướng, mà tướng ấy lìa hư dối. Tuy nhiên, nếu khi Bồ Tát phát tâm, trụ nơi tướng ấy để phát tâm bố thí, Bồ Tát cũng còn chấp Ngã, chấp Nhân, chấp Chúng Sanh và chấp Thọ Giả. Quả thật kẻ ấy không khác gì người đi vào chỗ tối, chẳng thấy gì cả. Chỉ có Bồ Tát nào khi phát tâm mà chẳng trụ vào pháp để bố thí, giống như người có mắt mà còn có thêm ánh sáng mặt trời nữa. Đây là chơn như, là bản thể, là trạm nhiên của Phật Tánh. Cái tánh ấy vốn có sẵn không cần tìm luôn luôn, tịch diệt, nhưng phải lìa cái tướng tịch diệt nầy nữa đó mới là chân tướng.

          “Tu Bồ Đề! ở đời vị lai. Nếu có người con trai tốt, con gái ngoan nào thường đọc tụng kinh nầy tức là vì Như Lai thực hành trí huệ Phật, phải biết người nầy, phải thấy người nầy thành tựu vô lượng vô biên công đức”

          Làm phước bố thí là một trong sáu hạnh Ba La Mật của Bồ Tát, thế nhưng vẫn chưa quan trọng bằng kẻ thọ trì đọc tụng kinh nầy, vì Như Lai thực hành trí tuệ. Vì sự giải thoát sanh tử, lìa vô biên phiền não vào trí tuệ của Như Lai, phải biết rằng những người như thế thành tựu một công đức không thể nghĩ bàn được.

          Công đức ấy là gì? Đó là những việc làm của Bồ Tát, không trụ vào bất cứ một cái gì cả, chính cái ấy sinh ra phước đức. Ví dụ như bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ. Tất cả những việc làm nầy nếu Bồ Tát trụ tâm vào đó để làm tức khó sinh được công đức và phước đức. Nhưng nếu có sanh được thì những công đức là những công đức hữu lậu, chứ không phải là những công đức vô lậu. Hữu lậu là có đối đãi. Có người cho và có kẻ nhận. Còn ở đây “đẳng tam luân không tịch” nghĩa là người cho, kẻ nhận và vật được cho đều không có đối tượng, không có sự phân biệt bỉ, thử, sự bố thí ấy mới sinh phước đức.

          Tướng tịch diệt ấy là tướng không có chỗ trụ. Nếu ta dùng tâm mình để trụ vào việc làm nầy việc làm kia, công đức nầy, công đức nọ, vẫn bị phiền não và sân hận chi phối. Khi thực hành một việc làm, những cái tương đối chi phối cái tuyệt đối, dĩ nhiên là không thể chi phối được, nhưng nó chỉ mới mang lại cái nghĩa tương đối mà thôi. Đã là tướng tương đối thì có tướng sanh diệt, mà tướng sanh diệt có nghĩa là tướng đối đãi, đã là có đối đãi nghĩa là vẫn còn tướng ta, tướng người, tướng chúng sanh và tướng thọ giả.

          Một vị được gọi là Bồ Tát chẳng trụ vào tất cả những hành vi của mình làm. Sở dĩ mình làm vì việc làm chứ chẳng phải để cầu phước đức. Khi việc làm mà không trụ vào chỗ làm ấy, phước đức nhiều gấp trăm ngàn lần, trụ vào một nơi nào đó, để thể hiện lòng từ bi hay ban bố cho ai đó một cái gì. Thông thường, chúng ta làm cái gì cũng hay bị nhân, ngã, bỉ, thử chi phối. Vì lẽ làm mà ta vẫn còn đứng chỗ đối đãi, ta làm vì biết rằng ta đang làm. Nếu ta làm mà không nghĩ rằng đang làm, việc làm ấy lìa tướng sanh diệt, tướng còn mất, có, không. Đó mới chính là việc làm ý nghĩa.

          Ví dụ như ta thấy có kẻ phá giới. Vì lẽ ta biết rằng ta đang giữ giới. Cái biết ấy là cái biết chấp trước. Vì lẽ mình lấy cái tự ngã của mình là có giữ giới, nên mới thấy được người khác là không giữ giới, rồi mình mới đem ra phân tích, chia chẻ để thấy rằng mình đúng và kẻ khác sai. Khi nào người giữ giới còn làm như thế, tức chưa khỏi sự đối đãi và còn chấp vào thực tướng của sự giữ giới.

          Nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ cũng như vậy. Tất cả những hạnh Ba La Mật trong lục độ thật bất khả tư nghì, nhưng khi thực hành những hạnh ấy phải lìa tất cả các tướng, sự thực hành ấy mới có ý nghĩa chân thật của nó. Ngay cả màu sắc, âm thanh, mùi vị, sự va chạm với các pháp v.v..tất cả cũng chỉ là giả tướng. Vì lẽ ta còn đứng trên sự phân biệt, để thấy rằng đẹp, xấu, trắng, đen v.v.. như thế thì cái màu sắc ấy có đối tượng, có nhận biết, có phân tích. Như vậy đây là giả tướng, chứ không thật tướng. Âm thanh khi ta nghe, mùi vị khi ta nếm, mền, cứng khi ta đụng phải một vật v. v…tất cả chỉ vì ta đứng trên cái tự ngã, để phê phán và đi đến kết luận là thế nầy hay thế nọ v.v..Nhưng dẫu là thế nào đi chăng nữa, đó mới chỉ là sự nhận thức của Ngã chứ chưa phải là Vô Ngã chân thật, trước các đối tượng. Riêng Đức Phật khi đứng trước các đối tượng, thường không thấy có kẻ được độ và người độ cho đối tượng đó. Nếu Phật còn thấy kẻ được độ tức chẳng phải là Như Lai chân thật, mà Như Lai ấy cũng chỉ là giả danh, chứ chẳng phải là một thật tướng. Vì vậy Đức Phật khuyên rằng tất cả chư vị Bồ Tát khi phát tâm chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác, phải lìa tất cả tướng. Đó là Bồ Tát đúng nghĩa. Bồ Tát đúng nghĩa là Bồ Tát lìa tướng, song lìa không có nghĩa là không còn tướng gì cả, mà đó chính mới là cái tướng chân thật, không hư dối, không bị sự đối đãi làm cho chơn như bị biến tướng.

          Ngài Bạch Ẩn Huệ Hạc (Hakuin) gọi đây là “Chân nhân” hay là “bổn lai vốn là Phật”. Cái “bổn lai” ấy không tu cũng có sẵn Phật rồi. Nếu tu, vị Phật ấy sẽ hiện rõ hơn, chứ không phải vì chúng sanh phát tâm tu mà vị Phật ấy mới có. Cũng như cái “Chân nhân” ấy vốn là một con người thật có khả năng thành Phật, vậy thì bây giờ chúng ta nói năng, cựa quậy, diễn thuyết, tụng kinh v.v…chỉ là những ngoại duyên chứ chưa phải tướng chơn thật của nó. Nhiều lúc chúng ta không nương vào cái ngoại duyên nầy quá nhiều, bị cái ngoại cảnh chi phối và dẫn dắt chúng ta đi lệch cái “chân ngã” của mình, để rồi vĩnh viễn chúng ta xa lìa cái “bản giác thanh tịnh” vốn tự có nơi mỗi con người.

          Do vậy, tu tức chẳng tu, hành tức chẳng hành, chứng tức chẳng chứng. Ấy mới là chân lý của đạo. Nếu ta còn thấy mình tu, còn thấy chính mình thực hành giáo lý của Đức Phật, thấy mình chứng thực được giáo lý ấy, quả là tương đối và đều có đối đãi. Như trên đã nói phải lìa đối đãi đó mới chính là Niết Bàn an lạc, cũng chính ở điểm nầy mà Đức Phật dạy trong kinh Kim Cang rằng: “Pháp còn nên bỏ huống là phi pháp”  Pháp là pháp không trên, không dưới, không có đối đãi, thế nhưng người tu phải lìa tướng ấy. Còn phi pháp tức là những pháp còn đối đãi, mang tính chất phân biệt, nên gọi tất cả các pháp nầy là phi pháp. Tuy nhiên, Phật cũng dạy rằng: “Tất cả pháp đều là Phật Pháp” Cái tương đối để ứng dụng cho người chỉ hiểu đến tương đối và cần sự đối đãi. Còn cái tuyệt đối vượt lên trên khỏi sự đối đãi ấy mới chính là sự an trụ lâu dài, để dành cho những vị thượng căn, thượng trí, không còn phải trụ tâm vào bất cứ một hình thức nào của tương đối, để thành tựu.

          Phật, Bồ Tát và chúng sanh giống nhau và gần nhau rất nhiều, nhưng cũng xa nhau trong muôn vạn dặm. Gần nhau vì có tánh Phật, tánh ấy có khả năng thành Phật. Phật và chư vị Bồ Tát có tánh ấy nhưng không trụ vào tánh ấy. Còn chúng ta cứ khư khư chấp chặt vào tánh ấy nên mãi trầm luân trong sanh tử luân hồi. Vậy thì, khác nhau ở chỗ chúng sanh vẫn còn trụ vào tướng sanh diệt ấy. Khi nào chúng ta lìa được tướng sanh diệt và chứng pháp tịch diệt và lìa tánh tịch diệt ấy nữa, tức chúng ta đã vào chỗ như như bất động, thật tánh trạm nhiên, Niết Bàn an lạc, chẳng phải khổ công đi tìm kiếm đâu xa nữa. Vì Phật đang ở trong nhà của mình.

          Mong rằng tất cả chúng ta sẽ tự tìm được Đức Phật của chúng ta vậy.

Núi đồi Đa Bảo Sydney Úc Đại Lợi

Nhân kỳ nhập thất lần thứ 3 năm 2005
Thích Như Điển

 

---o0o---

Vi tính: Thích Đồng Văn
Trình bày: Phổ Trí
Cập nhật: 01-4-2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Nếp Sống Đạo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com