Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

 

CHIẾC

GIỮA GIÒNG

TK. Thích Thích Như Điển
---o0o---

 

LTS. Trong chuyến đi Úc năm nay, Thượng Toạ Phương Trượng không chỉ ghé thăm Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng mà còn đến Chaing Mai, một thành phố ở miền Bắc Thái Lan, nơi đó, Đại Đức Thích Hạnh Nguyện đang xây dựng Cực Lạc Cảnh Giới Tự, dự tính sang năm sẽ khánh thành. Đặc biệt, Thượng Toạ dành chút thời gian quý báu của mình quang lâm chùa Bàng Long, một ngôi chùa Việt Nam trên xứ Lào dễ thương, do Cố Hoà Thượng Thích Trung Quán, xây dựng và phát triển, hiện tại hai sư cô hiền hoà Đàm Ngọc và Đàm Quy trụ trì. Thường sau mỗi chuyến đi, Thượng Toạ chia sẽ đến quý độc giả gần xa những bài tuỳ bút giá trị dưới ngòi bút dung dị của Thượng Toạ.

                Sau một năm, Thầy trò chúng tôi lại khăn gói lên đường để trở về lại núi đồi Đa Bảo tại Úc Đại Lợi. Nơi đây chúng tôi biết rằng có rất nhiều chúng sanh đang trông đợi, như thú rừng, chim chóc và nhất là những chú kiến lưu trú dưới những tổ kiến khổng lồ đó đây.


Thiền Thất Đa Bảo, Úc Đại Lợi

                Sau khi lễ Phật và trở về thất của mình, tôi vội vã ra vườn để xem những động tĩnh của núi đồi và cây cỏ. Quan sát một hồi, tôi nhận ra chung quanh không có mấy đổi thay. Chỉ có cây bạch đàn phía sau hè đã chết vì những chú kiến và chú mối con con đục thủng thân cây khi còn xanh. Có thể một trận cuồng phong nào đó đã thổi đến núi đồi nầy xô ngã cây bạch đàn. Ấy thế dù cành cây tuy to lớn, thân cây rất vạm vỡ, nhưng trước gió sương cũng không chống chọi nổi, nhất là với những mũi nhọn của côn trùng đục khoét từ bên trong thân thể. Do vậy mà Phật bảo: “Sư tử trùng thực sư tử nhục“ là thế. Chỉ có con vi trùng bên trong con sư tử mới ăn thịt được con sư tử thôi. Còn bên ngoài, dầu cho mãnh thú nào có mạnh đi chăng nữa cũng không thể ăn thịt được sư tử.

                Tôi bước thêm mấy bước nữa, thấy có một tổ kiến bị vỡ làm đôi, những con kiến càng đang ra sức xây luỹ đắp thành để tạo một dinh cơ mới, đồ sộ hơn xưa. Thấy tôi đứng ngắm nhìn, chúng tỏ vẻ ngơ ngác và có lẽ nghĩ rằng: “Người ấy từ hành tinh nào đến đây chăng?“ Vả lại một đời kiến so với đời người thì dài lắm phải mấy độ luân hồi quanh đi quẩn lại để chúng hiện hữu được ngày hôm nay. Nhưng chúng vẫn là kiến.

                Tôi và Thầy Đồng Văn mang những thức ăn thừa ra rừng và gỡ tấm bảng “good bye“ bằng những ngôn ngữ khác nhau, mà chúng tôi đã từ giã chúng năm rồi. Năm nay, trong ba tháng ở đây, chúng tôi sẽ săn sóc chúng kỹ hơn, mặc dầu Hoà Thượng Bảo Lạc và Thầy Phổ Huân vẫn thỉnh thoảng có đem thức ăn cho chúng. Thú vật nó cũng có cảm nhận của nó khi mình gần nó, nhưng không có ý hại, thì chúng sẽ lân la kề cận. Vì vậy, cho nên ngày xưa chư Tổ tu trên núi đã có nhiều lần chim chóc và ngay cả khỉ, cọp, voi rừng cũng chầu chực, quỳ lạy các Ngài, cũng là điều không lạ lắm. Vì lẽ các Ngài chỉ có tình thương cho chúng chứ không mang một ý nghĩ hận thù nào và chẳng cố sát hại chúng bao giờ, nên chúng luôn gần gũi bên các Ngài.

                Thả bộ ra bìa rừng, tôi thấy các đường đi được dọn sạch sẽ hơn và có lô đất bên cạnh đang treo bảng để bán. Hai bên đường vào rừng các tổ kiến lại được xây cao hơn. Đang đi, tôi bắt gặp hai con kiến đang cắn lộn với nhau, có lẽ đang có một ý trung nhân nào đó chăng? Cho nên hai cậu cử mới thư hùng?

                Cảnh vật vẫn yên tĩnh. Thỉnh thoảng tôi ngất mặt lên nhìn những cành cây cao chót vót, thấy vài chú chim chào mào, chim sẻ, chim khách, đang líu lít hát ca và chuyền từ cành nọ đến cành kia, như để mừng người xưa đã  trở lại. Tuy những con két rừng chưa xuất hiện, nhưng ở đây nhiều sự sống đã trở mình khi có sự hiện diện của chúng tôi.

                Công việc của tôi mỗi chiều và mỗi sáng, sau khi công phu xong là tưới cây và tập thể dục. Những giọt nước mưa chứa trong bồn với dung tích lớn, đã giúp chúng tôi trong việc tắm giặt, tưới cây, rửa chén v.v...vì ở đây nước máy chưa bắt vào tới, nên chúng tôi thận trọng trong từng giọt nước khi sử dụng. Vả lại chính phủ Úc cũng báo tin năm nay trời sẽ nắng hơn năm ngoái nữa. Do vậy mà giọt nước vốn vô tình nhưng cũng góp phần quan trọng vào trong sự sinh hoạt của chúng tôi ở nơi đây.

                Rừng toàn cây bạch đàn, cây khuynh diệp. Nắng gắt lên chúng toả mùi hương thơm khắp cả cánh rừng. Nhưng chỉ cần một ngọn lửa nhỏ là có thể phựt cháy. Vì thế ai sống trong rừng cũng phải thận trọng với lửa. Cây cối vốn vô tình, nhưng tôi thấy nó xanh hơn khi có sự hiện hữu của chúng tôi ở đây. Do vậy mà cụ Nguyễn Du đã nói trong truyện Kiều rằng

                                Cảnh nào cảnh chẳng eo sầu

                                Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

                Chúng tôi đến đây không phải để buồn vui mà chúng tôi đến đây để tìm lại chính mình. Có nhiều thời giờ hơn để nhìn lại nội tâm, khi những giòng chữ của Kinh Kim Cang lướt qua dưới đôi mắt và thâm nhập vào tâm khảm của chính mình


 Nhược dĩ sắc kiến ngã
 Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai

                Đúng là thế! Nếu ai đến đây, ở núi đồi nầy chỉ để chờ đón một niềm vui, hay một cái gì đó từ bên ngoài đến, thì kẻ ấy sẽ buồn lắm. Buồn vì lẽ chính mình không làm chủ lấy mình và sẽ trống vắng thê lương khi chính mình không có đầy đủ khả năng nội tại, để chiến đấu với ngoại cảnh, mà lúc ấy là lúc ngoại cảnh đã làm chủ chính thân và tâm của mình rồi.

                Thật ra kẻ hiểu đạo không cần đi vào rừng mới hiểu rõ lý chân như. Lý thuyết và thực hành là hai việc hoàn toàn trái ngược nhau. Do vậy, trước khi muốn cứu người, chính mình phải biết bơi trước đã. Đó là điều cần yếu. Nếu chính ta chưa tự độ được mình, thì thử hỏi ai có thể độ cho mình được? Việc tu học nhờ ở khả năng nội tại là chính yếu, sau đó mới nương tựa vào những trợ duyên bên ngoài. Những năm tháng còn lại trong đời, tôi muốn làm một cái gì đó thật có ý nghĩa, để rồi chính mình ngày lìa khỏi thế giới nầy, không còn gì để ân hận nữa. Nhất là vấn đề sống mà chẳng tận dụng thời giờ để tu học, để thực hiện những gì thật ý nghĩa cho Đạo như ý của mình muốn. Mong rằng ngày tôi theo Phật, tất cả đã làm xong để tròn bổn phận của một kiếp người.

                Mỗi năm như thế, tôi có đem theo một số quý Thầy và quý chú để trợ duyên cho việc tu học và dịch thuật, trong đó Thầy Đồng Văn đã phụ lực cho tôi suốt 3 năm qua. Vì vậy, cho nên một số các tác phẩm và dịch phẩm của tôi đã được hình thành và đã được các độc giả khắp nơi đón đọc một cách chân tình như các quyển: Đại Đường Tây Vức Ký, Làm Thế Nào Để Trở Thành Một Người Tốt, Đại Thừa Tập Bồ Tát Học Luận; Dưới Cội Bồ Đề v.v...và năm nay (2005) tôi sẽ dịch tác phẩm Thiền Lâm Tế của Nhật Bản bằng tiếng Nhựt sang tiếng Việt cũng như tác phẩm tiểu thuyết “Giai Nhân Và Hoà Thượng“. Cả hai tác phẩm nầy và tác phẩm “Phật nói Luận A Tỳ Đàm trong việc thành lập thế giới“ cũng sẽ được tổ chức từ thiện giáo dục Sariputtra của Thầy Hạnh Nguyện xuất bản vào năm 2006 tại Hoa Kỳ.

                Năm nay sẽ có thêm Hạnh Bảo, Hạnh Hảo và Hạnh Bổn đến ở tại núi đồi Đa Bảo nầy trong thời gian dài, để cùng tu tập và dịch thuật. Cũng như cô Hạnh Trì đến từ Mỹ sẽ ở nơi Pháp Bảo để hướng dẫn các anh em thanh thiếu niên không rành tiếng Việt trong Khoá Tu Học thường niên của Giáo Hội tại Úc tổ chức vào đầu năm 2006 nầy tại Camberra thủ đô của nước Úc.

                Tôi nghĩ rằng mỗi lần đi như thế có nhiều người hổ trợ và năng động, thì công việc viết lách và dịch thuật mới sớm thành tựu. Nếu chỉ thui thủi một mình thì chắc rằng công việc sẽ không tiến bộ được mấy. 

                Trước khi đi Úc, tôi có ghé thăm Ấn Độ và Thái Lan cũng như Lào, nên cũng có một vài ý tưởng nên muốn ghi lại nơi đây để gửi đến quý độc giả xa gần.

                Tôi cầm một chiếc lá thả xuống giữa giòng nước, một Đạo Hữu chuyên môn quay phim chụp lấy cơ hội nầy đã quay và phóng đại lên màn hình, giống như tôi đang đứng giữa một dòng sông và đang cúi rạp mình xuống để thả một chiếc lá vào giòng. Đây chỉ là một hình ảnh nhỏ và dễ thương nơi con suối chảy từ đỉnh cao của núi đồi vùng Chiang Mai của xứ Thái, nơi mà Thầy Hạnh Nguyện đã và đang xây Cực Lạc Cảnh Giới Tự trong vùng cao nguyên thung lũng nới núi đồi hùng vĩ nầy, để sang năm 2006 sẽ làm lễ Khánh Thành vào ngày 10 đến 12 tháng 11 gồm có các lễ Chẩn Tế, Thuyết Pháp v.v...Đó sẽ là kết quả của bao nhiêu năm tháng mà Thầy ấy vận động và được Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ nhiệt liệt hổ trợ.

 


Thầy Hạnh Nguyện và Sư Phụ Thích Như Điển

 

                Tôi nhìn chiếc lá trôi giữa dòng nước để thấy thân phận của người Việt Nam mình, vì vận nước nổi trôi mà có mặt khắp các phương trời đây đó trên quả địa cầu nầy. Đi đến đâu người ta cũng tạo dựng nhà cửa, chùa chiền, và đi đâu họ cũng mang một hương vị quê hương theo như trồng rau răm, rau thơm đâu đó quanh vườn nhà, như để tô điểm cho cái hồn quê ấy. Dẫu cho có xây chùa to Phật lớn thì cũng chỉ để báo Phật ân đức và cũng chỉ để làm đẹp quê hương trong muôn trùng cách trở.

                Nhìn cánh hoa và chiếc lá trôi trên giòng sông Mekong tại xứ Lào vào đêm lễ hội hoa đăng hôm tối ngày 19 tháng 10 năm 2005 nhân lễ mãn hạ tự tứ của chư Tăng ở đây, tôi liên tưởng về một Việt Nam trong muôn thưở. Lễ hội Hoa Đăng là truyền thống có từ lâu đời nhân ngày mãn hạ của chư Tăng, nhưng lại là một ngày lễ của Dân Tộc. Mỗi người đốt lên một ngọn nến và cắm lên những cánh hoa trên một tàu lá, khấn vái với đất trời và hồn thiêng sông núi chứng minh cho lòng thành sám hối những gì hoặc vô tình hoặc cố ý đã gây tạo trong thời gian suốt 365 ngày ấy. Thả chiếc lá xuống giòng sông, họ mong rằng chiếc lá sẽ chuyên chở đi những khổ đau và những tội lỗi trong thời gian suốt một năm qua về tận biển khơi.

                Tôi lấy tay mình khoát nước của giòng sông Mekong để rửa cũng có ý mong rằng nước sông Mekong sẽ chuyên chở những nỗi niềm xa xứ của tôi gần 35 năm rời xa đất mẹ và gởi về tận đáy nguồn ấy một tấm chân tình của bao kẻ ly hương, trong đó có chính mình. Nước dĩ nhiên không rửa sạch được tội lỗi của cuộc đời, nhưng nước sẽ chuyên chở được đục trong của cuộc sống. Nước vô tình và không thiên vị một ai cả. Khi nước chảy đến chỗ đất bùn thì nước đục. Khi nước chảy đến chỗ cát, sỏi thì nước trong. Thật ra, trong hay đục nước vẫn là nước, chỉ có hoàn cảnh làm cho nước đục hay trong, chứ bản chất tuỳ duyên của nước thì không trong mà cũng chẳng đục.

                Khi thân dơ thì có thể lấy nước để rửa, nhưng tâm dơ thì chắc chắn không thể dùng nước được, mà chỉ có thể dùng sự sám hối ăn năn mới có thể tẩy sạch được mọi nổi khổ trên cuộc đời nầy. Sau bao nhiêu năm làm việc Đạo, tôi thấy mình còn phải học hỏi nhiều hơn nữa, nên mới phát nguyện rằng:

                “Tôi nguyện mình trở thành một giòng sông sẽ chuyên chở những trong sạch của cuộc đời và nguyện mình là mặt đất để hứng chịu những sạch dơ của nhân thế“

                Giòng sông thì không chê trong mà cũng chẳng mến sạch. Dầu cho trong hay sạch vẫn là một chuyện thực tế của cuộc đời, mà vốn dĩ sự thực ấy chỉ có tính cách tương đối, đã là tương đối thì không có thực tướng. Thực tướng đã không có thì việc ấy vốn xây dựng nơi không tưởng. Đã là không tưởng thì không gì để nói cả. Hãy và chỉ im lặng như cư sĩ Duy Ma Cật trước những câu hỏi của ngài Văn Thù Sư Lợi mà thôi.

                Đã là mặt đất thì không chối từ vật sạch hay dơ. Dẫu cho có dơ hay sạch thì nó vẫn là hai mặt tương đối của cuộc đời. Đã là tương đối thì không có tính nhất định. Đã không nhất định thì đều bị luật vô thường chi phối. Vì vô thường nên chẳng có thật. Vậy tất cả đều là không. Đã là không thì nương vào đó để chấp trước làm gì khiến luỵ đến chơn tâm. Do vậy mà mọi việc đến, đi, còn, mất v.v...dưới mắt tôi bây giờ chỉ còn là hai chữ “Như Thị“ mà thôi. Nghĩa là như thế ấy, “Như Thế ấy“ là vững cả một tấm lòng để đi vào chỗ Không và Chân Thật nhất.

                Chiếc lá giữa giòng trôi, rồi cũng có ngày phải dừng lại. Nó cũng phải bị chi phối bởi luật vô thường thành, trụ, hoại, không của sanh, diệt, diệt, sanh. Điều ấy biểu thị rõ ràng là giòng đời vốn lẩn quẩn. Ai đó muốn thoát ra khỏi bể khổ trần ai, phải nhận chân được mặt thật của cuộc đời sẽ thoát khổ nơi tâm. Là người hiểu đạo, họ không phải chạy trốn cuộc đời mà chấp nhận cuộc đời một cách tự nhiên như không khí để thở, mẹ cha để tôn thờ.... Đó là điều đáng tán dương và ca ngợi. 

                Tôi đã đến và tôi cũng sẽ ra đi như bao nhiêu người khác đã ra đi. Nói như Nguyễn Công Trứ đã nói

                Ngã kim nhật tại toạ chi địa

                Cổ chi nhơn tằng tiên ngoã toạ chi

Nghĩa là

                Chỗ đất ta ở ngày nay đây

                Ngàn xưa đã có người ở rồi...

                Đâu phải ngày hôm nay có ta là có tất cả, mà không ta là vũ trụ nầy đều không đâu. Có hay không, đối với một cá thể so với 6 tỉ chúng sanh chỉ trong quả địa cầu nầy thôi, mà nó quả thật đã là vô nghĩa. Đấy là chưa nói đến những chúng sanh hữu hình và vô hình khác nữa. Do vậy, ta là gì chẳng có nghĩa là gì cả. Nếu cái Ta của Ta bằng con trâu, thì đi đâu cái Ngã ấy nó cũng sẽ bị đụng chạm mạnh, vì con trâu lớn quá. Nếu cái Ngã ấy là con kiến, đi đâu ta cũng sẽ tránh né dễ dàng. Tuy là con kiến, ta vẫn còn có cái Ngã. Tu làm sao cho đừng còn cái Ngã và Ngã Sở nữa. Đó mới là điều đáng nói. Do vậy mà đã có lần đức Đạt Lai Lạt Ma nói: “Càng tu bao nhiêu, phải thấy mình không là gì cả. Ấy mới là việc tu đúng nghĩa“ Điều ấy rõ ràng rất chí lý. Nếu càng tu mà càng thấy cái Ngã của mình thật lớn, quả là ta đã tu sai rồi.

 



TT Như Điển ghé thăm Chùa Bàng Long,
một ngôi chùa Việt Nam trên xứ Lào, do Cố Hoà Thượng Thích Trung Quán, xây dựng và phát triển,
 hiện tại hai sư cô hiền hoà Đàm Ngọc và Đàm Quy trụ trì.
 

                Cố Hoà Thượng Thích Đức Niệm, Giám Đốc Phật Học Viện Quốc Tế ở North Hills, California, Mỹ Quốc đã có lần dạy cho đệ tử của mình rằng:

                “Ở trong đời nầy ai cũng muốn hơn cả, nhưng riêng con, con hãy chấp nhận mình thua đi. Vì khi con đã chấp nhận mình thua tức con đã chiến thắng với con rồi“ Đó là một lời dạy thật chí lý. Nếu ta cố gắng thực hành thì ta sẽ được lợi lạc vô cùng.

                Tục ngữ Nga cũng có câu: “Khi hai người chửi lộn, người không chửi vẫn là người khôn hơn“ Vì có chửi thì có sai, có đúng, còn không chửi chưa hẳn đã hoàn toàn đúng, nhưng ít ra mình cũng đã tự làm chủ được chính mình trong cơn nóng giận vô lý ấy.


Thiền Thất Đa Bảo, Úc Đại Lợi

 

                Tôi ngồi đây giữa núi đồi Đa Bảo đang độ hè sang tại xứ Úc, trong khi đó tại Đức và Âu Châu mọi người đang phải trùm khăn, mặc áo ấm khi đi ra ngoài và ở đây cây cối đang độ xuân sang hè đến, thì ở trời Âu lá vàng đang rơi lả tả để đón chào một mùa Đông giá buốt quạnh hiu. Cũng là thân người, cũng là thân cây, nhưng ở mỗi nơi và mỗi hoàn cảnh lại khác nhau. Vả chăng do nhân duyên và nghiệp lực tạo tác từ bao đời trước nên mới có những kết quả như vậy.

                Nhưng dẫu cho đúng hay sai, còn hay mất, tốt hay xấu, vốn nó cũng chỉ là “chiếc lá giữa giòng“ thôi so với cuộc đời tương đối nầy.

                Mong rằng ai đó khi đọc bài nầy rồi, nên ý niệm một ít về vô thường để tấn tu đạo nghiệp, thì quý hoá biết dường bao.

Viết xong vào ngày 24 tháng 10 năm 2005

tại núi đồi Đa Bảo, Úc Đại Lợi.

TK.Thích Như Điển

 

---o0o---

Vi tính: Thích Đồng Văn
Trình bày: Phổ Trí
Cập nhật: 01-4-2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Nếp Sống Đạo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com