Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

 



Lá đã đâm chồi

Viết để tặng một người đã nằm xuống
Thích Như Điển

 

---o0o---

Sáng nay, một buổi sáng như mọi ngày. Nghĩa là sau thời công phu khuya tại chùa Trúc Lâm mới, nơi Thượng Toạ Thích Hạnh Tuấn đang hướng dẫn và lãnh đạo tinh thần, thuộc thành phố Chicago, tiểu bang Illinois, Bắc Hoa Kỳ, Tôi và quý Thầy điểm tâm với nhiều món ăn khác nhau. Nào Tây, nào Tàu, nào Việt …Tôi cùng quý Thầy, quý Cô nói một vài câu chuyện về cuộc đời cũng như nẽo đạo, sau mấy mươi năm ở xứ người, để chia xẻ với nhau và đồng thời cũng để chiêm nghiệm lại những gì đã diễn ra trong cuộc đời xả thân hành đạo của mỗi người.

Trở lại căn phòng mới được tân trang, qua khung cửa sổ tôi nhìn ra con đường Wilson và con đường Ashland, những cành cây đang nặng trĩu những chiếc lá non phất phơ trước gió như có ý chào ánh thái dương và khoe xuân sắc với đất trời. Nhìn cảnh vật rồi tôi trở lại nhìn mình, không biết sau một thời kinh Lăng Nghiêm và Thiền Toạ như thế, thật sự nội tâm của mình đã tỉnh thức được bao nhiêu, ý niệm vươn cao lên như những chồi non ấy đang trổ lộc ở ngoài kia chăng? hoặc những ý niệm vẫn còn như chiếc lá đang chuẩn bị đón nhận một thử thách cam go nào đó sẽ đến. Bởi vì đằng sau những thành tựu tốt đẹp bao giờ cũng chứa đựng những thử thách sắp đến. Nếu con người không cam đảm vượt qua, chẳng khác nào những chiếc lá non kia có thể sẽ tiếp tục chịu đựng tuyết lạnh khi tiết trời thay đổi đột ngột và gió đông có thể trở về lần nữa, dù cho mùa xuân đã đến đây rồi. Tục ngữ Đức có câu rằng: “April, April er macht was er will“. Nghĩa là: “Tháng tư, tháng tư, Trời làm những gì trời muốn“ Điều ấy có nghĩa là tháng tư tuy đẹp đó, nhưng sóng gió cũng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Tôi ở Nhật vào những đầu thập niên 70. Ở đó, mỗi năm vào tháng tư bắt đầu từ ngày mồng 8 đến ngày 15, là những ngày hoa Anh Đào nở. Đây là biểu tượng của quốc gia Nhật Bản. Ngày mồng 8 tháng 4 cũng là ngày Hanamatsuri, ngày lễ hội Hoa Đăng nữa. Đúng như tên gọi của xứ Nhật, đâu đâu cũng tưng bừng náo nhiệt với người đẹp, với hoa, với rượu Sake. Người Nhật quý hoa Anh Đào như quý linh hồn của họ. Vì “Sakura no hana“ tượng trưng cho những gì thanh cao nhất của Nhật Bản. Sau một mùa đông dài 5 hay 6 tháng là một mùa xuân của cây cỏ lá hoa. Trong đó hoa Anh Đào là một loài hoa chúa. Tuy hoa đẹp có sắc nhưng chẳng có mùi hương, nhưng khi hoa nở trên cây chỉ toàn là hoa và nụ, không chen vào đó một lá non nào cả. Khi rụng, tất cả mọi cánh hoa cùng lúc rơi lả tả trên mặt đất, tạo thành một tấm nhung nhiều màu sắc được dệt nên gấm hoa bởi đất trời và vạn vật. Từ xa, đứng nhìn hoa rơi, ai đó cũng sẽ chạnh lòng. Vì lẽ tại sao hoa đẹp như thế mà không nán lại lâu hơn trên cành một thời gian nữa; vội vàng chi để phải ra đi, bỏ lại sau lưng không biết bao nhiêu sự chia ly với nhân thế. Ai đó xem hoa, thưởng nguyệt không khỏi chạnh lòng thương tiếc khi đón nhận những cánh hoa rơi như thế.

Thầy Đồng Văn và Thầy Hạnh Đức cùng tháp tùng với phái đoàn của chúng tôi, đi hoằng pháp Hoa Kỳ lần nầy cũng rất vui, vì quý Thầy ấy có cơ hội để đi chỗ nầy, chỗ nọ. Sau khi qua thăm chùa Quang Minh của Thầy Minh Hạnh. Thầy Đồng Văn điện thoại về báo cho biết một tin không vui, từ trang email do Hạnh Tấn và Hạnh Giả từ Đức gửi qua. Đó là Đạo Hữu Tâm Lượng đã ra đi vào sáng ngày hôm qua, nhằm ngày 4 tháng 4 năm 2006 tại Đức, với tuổi đời 66 mà mùa xuân qua thu lại, trong một kiếp luân hồi. Từ cái nhìn qua cửa sổ nơi mấy hàng cây và từ niềm suy tư và hoa Anh Đào của Nhật Bản, tôi đã trở lại thực tại trên chiếc máy điện thoại cầm tay của Thầy Đồng Văn đã báo tin. Tôi ngỡ rằng đó không phải là chuyện dễ tin. Nhớ mới ngày nào khi Hạnh Bảo còn đi du học tại Đài Loan, đã có lần viết một bài thật dài đăng báo Viên Giác, nhan đề là: “Ba Thế Hệ, một đời tu“. Đó là thế hệ của Bà, của Mẹ và của Hạnh Hoà. Cả ba đều xuất gia với tôi và cùng sống dưới mái chùa Viên Giác thân thương ấy. Ngày hôm nay mọi người đang sống và đang thực hiện lý tưởng giải thoát của mình, nhưng bỗng dưng Đạo Hữu Tâm Lượng lại ra đi. Đạo Hữu là thân phụ của Hạnh Hoà, nhơn phu của cô Hạnh Bình và là nghĩa tế của cô Hạnh Châu. Đạo Hữu hy sinh hạnh phúc của riêng mình, để cho những người thân trong gia đình mình được yên ổn tu hành. Mỗi lần lễ lớn Đạo Hữu thường hay về chùa trước một hay hai tuần giúp chùa, chuẩn bị trong nhiều khâu khác nhau, đa phần cùng với Đạo Hữu Quảng Ngộ phụ trách việc giải xăm cho những người đi lễ tại bàn Quan Âm Linh Xăm.

Cô Hạnh Châu tuổi đã 86 nhưng vẫn còn minh mẫn, niệm Phật suốt ngày, chắc cô cũng buồn lắm khi một người rễ hiền hoà dễ mến đi trước vô thường. Cô Hạnh Châu vẫn cầu nguyện là khi cô ra đi phải có mặt tôi ở Đức. Tôi có bảo rằng nếu quý vị nào trăm tuổi mà ra đi từ Phật Đản đến Vu Lan thì sẽ có mặt tôi tại chùa. Cô vẫn hy vọng như thế, nhưng giờ đây anh Tâm Lượng ra đi lại chẳng có mặt tôi. Đang hoằng pháp tại Hoa Kỳ, tôi không thể bỏ dỡ chương trình đã định sẵn để bay về Đức được. Tại đây, nơi chùa Trúc Lâm nầy tôi chỉ thầm cầu nguyện cho Hương Linh Đạo Hữu Tâm Lượng sớm cao đăng Phật Quốc. Ngoài sân lá mùa xuân đã đâm chồi, tôi hy vọng một đoá hoa bạch liên đã nở để đưa người con Phật về cõi Tịnh.

Cô Hạnh Bình tuy xuất gia ở tuổi trung niên nhưng cũng cố gắng hết mình cho việc tu cũng như việc học. Kỳ thi “Tuyển Phật Trường“ tại chùa Viên Giác năm 2005 vừa qua, cô đã đỗ đầu trong hàng giới tử thọ giới Tỳ Kheo Ni, được nhiều Thầy Giáo Thọ khen tặng. Ở chùa Viên Giác, Cô cùng với cô Hạnh Ngộ và Hạnh Thông gánh vác những công việc khó nhọc của chùa. Những ngày lễ lớn, số người về tham dự có khi lên đến hơn 10.000 người. Những lúc như thế mới thấy rằng quý sư cô đã xem việc đạo nặng hơn việc gia đình. Bây giờ là những người “xuất trần thượng sĩ“, quý cô đang bước đi trên con đường giải thoát của một người xuất gia thênh thang rộng mở.

Hạnh Hoà con trai duy nhất của Đạo Hữu Tâm Lượng được phép gia đình cho theo tôi xuất gia từ năm 1995 đến nay. Lúc ấy Hạnh Hoà mới vừa xong tú tài ở tuổi 19, một tâm hồn còn non trẻ với ý chí xuất trần, tìm cho mình một hướng đi đích thực trong cuộc sống, nên đã vào chùa. Tôi xuống tóc và cho theo học tại Đại Học Hannover ngành Tôn Giáo Học cùng Anh Ngữ Học. Sau bốn năm học ở Đại Học và sau 5 năm ở chùa, tôi cho Hạnh Hoà, Hạnh Sa và Hạnh Hảo sang Úc thọ giới Tỳ Kheo tại chùa Phổ Quang, thuộc thành phố Perth, nơi Thượng Toạ Thích Phước Nhơn trụ trì. Về lại Đức, năm 2001 Hạnh Hoà tự chọn cho mình một chân trời tu học khác nơi Trung Quốc xa xôi kia và mới đây, sau 5 năm mới trở lại chùa Viên Giác ở Hannover để thăm và đảnh lễ tôi cũng như Đại Chúng, nhân ngày Tết Nguyên Đán Bính Tuất vừa qua (29 tháng 1 năm 2006). Có lẽ với cái tang mất cha, lần nầy Hạnh Hoà trở lại xứ Đức thăm cha lần cuối và đặt lên quan tài của cha mình một cánh hoa tâm, để tưởng nhớ đến công đức sanh thành của một người cha hiền suốt đời hy sinh cho con, đã vĩnh viễn ra đi, không bao giờ trở lại nữa.

Bây giờ chùa Viên Giác tại Hannover mất đi một hình dáng hiền hoà mỗi khi Tết đến, xuân về, hay những ngày lễ lớn. Chi Hội Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn tại Frankfurt mất đi một cư sĩ đắc lực từng cộng tác một cách miệt mài suốt mười mấy năm qua trong phần Nghi Lễ cũng như tổ chức những khoá tu. Gia đình mất đi một người con, một người cha lý tưởng, thuần tín Tam Bảo chấp nhận hy sinh cho mọi người được sống với lý tưởng của mình.

Khi tôi nghe một tin vui, hay đón nhận một tin buồn, lòng mình bỗng dưng tự nhiên se lại. Không biết là mình có nên vui theo với những gì mà người khác gặt hái được như đậu bằng Tiến Sĩ Y Khoa, tạo nhà mới, lấy vợ v.v... Không biết là có nên buồn với sự hụt hẩng nội tâm khi người thân ra đi và nằm xuống như bao nhiêu người khác đã ra đi. Hay là chỉ chấp nhận thái độ dửng dưng như “xúc sự vô tâm“ mà đã có lần tôi giảng đến. Thật ra thái độ nào ở trong lúc nầy cũng chẳng cần thiết mấy, chỉ có một điều là liệu mình có đầy đủ bản lãnh để đón nhận những thuận duyên và nghịch cảnh như thế chăng? Và lòng mình liệu có thể dửng dưng được với những sự kiện xảy ra như thế hằng ngày trên thế gian nầy mà khi ta còn sống, vì dầu muốn dầu không cũng phải chấp nhận nó.

Tôi cũng phải chuẩn bị một ngày ra đi như thế, không biết thiên hạ sẽ nghĩ gì về mình, lúc mình xuôi tay đi về bên kia cửa tử. Có lẽ cũng có lắm người buồn, thương tiếc, nhưng đồng thời cũng có lắm người vui. Vì lẽ không còn nghe những lời nhắc nhở hằng ngày, trông đến nhàm tai. Ngày xưa Phật cũng thế. Khi Ngài vào Đại Niết Bàn, có lắm người thương tiếc nhưng đồng thời cũng có một số đệ tử vui và la lên rằng: “Sung sướng thay! từ đây không còn ai quở phạt mình nữa“ Khi nghe lời ấy, Ngài Ca Diếp lo lắng lạ thường và đó cũng là động cơ chính để sau 100 ngày Nhập Diệt của đức Phật, Ngài Ca Diếp triệu tập việc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại Động Thất Diệp, gần Trúc Lâm Tịnh Xá. Ngày ấy, đã có người như thế, ngày nay tránh sao không có những sự trùng lập như vậy được?

Khi chúng ta nhắm mắt vĩnh viễn ra đi bỏ lại tất cả những gì có được ở cõi đời ô trược nầy, thì cỏ cây, nhà cửa và người thân v.v... vẫn còn ở lại, để rồi cũng có một ngày sẽ phải ra đi như chúng ta mà thôi. Chỉ có một điều là đi sớm hay muộn trên chuyến đò đưa dọc qua lộ trình sanh tử của một kiếp nhân sinh mà thôi. Cũng chẳng phải vì ta ra đi mà mọi vật phải mất theo ta, đồng thời cũng chẳng phải vì ta tồn tại mà mọi cảnh vật chung quanh ta lại thay đổi đẹp hơn chăng? Thật sự ra có ta hay không có ta, đối với vũ trụ nầy nó cũng chẳng phải nặng ký hơn. Vì lẽ ta chẳng là gì cả. Nếu có cũng chỉ là một cái không to tướng mà thôi. Đã biết vậy nhưng sao ta vẫn thương tiếc thân nầy và người thân khi đã ra đi? Vốn biết đời là vô thường nhưng sao ta vẫn mãi bi luỵ? Ai sẽ làm chủ cho mình khi việc sanh tử trong kiếp luân hồi nầy lúc đến cũng như khi đi?

Đó là những câu hỏi mà sự trả lời tuỳ theo sự hiểu biết, việc cảm nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau, để kẻ ra đi và người ở lại được nhẹ bước đường trần, nhằm trang bị cho tâm thức của mình được siêu thoát và hội nhập vào thế giới Tây Phương của Đức Phật A Di Đà.

Có nhiều người không nghĩ đến việc chết và cho rằng sự chết là của ai kia chứ không phải của mình. Do vậy mà an nhiên tạo ra không biết bao nhiêu ác nghiệp, chẳng sợ nhân quả là gì, nhưng họ có biết đâu rồi một mai đây họ cũng phải nằm xuống như cỏ cây sỏi đá sau một hành trình dài của mùa hạ. Rồi đông sang, xuân đến họ mới trở mình, như những cuốn lá non đã trổi dậy trên những chùm lá nhiều màu xanh lục trên những cành cây mang nặng một sự hy vọng cho mùa xuân. Đó là sự luân hồi của cây cỏ và đất trời. Còn riêng ta phải có một chốn để đi về, nếu ta biết chọn con đường thoát khổ, như Đạo Hữu Tâm Lượng Huỳnh Công Cử, thân phụ của Hạnh Hoà ra đi ở tuổi 66 như thế.

Ngày xuân vẫn là những ngày đẹp nhất trong năm tại Đức, đặc biệt là cộng đồng Phật Tử tại vùng Frankfurt cũng như Hannover. Chắc chắn nhiều người thân quen của Đạo Hữu Tâm Lượng như Đạo Hữu Nguyên Biên, Đạo Hữu Nguyên Ngọc, Đạo Hữu Quảng Đạo, Đạo Hữu Tâm Khương, Đạo Hữu Quảng Ngộ, Đạo Hữu Thiện Giáo, Đạo Hữu Thiện Căn, v.v..đang chìm trong nỗi buồn trước sự ra đi đột ngột của một người bạn đạo thân yêu. Đạo Hữu Tâm Lượng về với Phật là một mất mát không nhỏ, đối với Chùa, với các Chi Hội Phật Tử, với Liên Chúng Bồ Tát, với tất cả những người Phật Tử Việt Nam thuần thành, thuần tín Tam Bảo tại Đức.

Riêng tôi cũng mất đi một người cận sự với chùa, dù trực tiếp hay gián tiếp ở nhiều phương diện khác nhau. Do vậy, từ Hoa Kỳ xa xôi, tôi đốt nén tâm hương nguyện cầu đức Từ Phụ A Di Đà Phật tiếp dẫn hương linh Đạo Hữu Tâm Lượng về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc, nơi đó sẽ là nơi:

“........   Không ân, không oán không sầu

Không già không chết có đâu luân hồi

Tánh xưa nay đã tỏ rồi

Gương xưa nay đã lau chùi trần ô

Tu hành phải đợi kiếp mô

Nguồn tình bể ái đã khô bao giờ

Lựa là phải đợi thiền cơ

Mà đèn trí tuệ để lờ đi đâu

Mấy lời hộ niệm trước sau

Nguyện cho thành Phật mau mau đó mà

Phân thân ra khỏi Ta Bà

Từ Bi tế độ những là chúng sanh.......“

 

Mọi việc đã được tuần tự diễn ra như thế và Thầy Hạnh Tấn cũng như Tăng chúng chùa Viên Giác dưới sự hướng dẫn của Hoà Thượng Kiến Tánh, tất cả sẽ chung sức cầu nguyện trong khi tiếp dẫn thân trung ấm ấy cho đến 49 ngày, để được sinh về Thế giới Cực Lạc của đức Từ Phụ A Di Đà. Biết đâu về Tịnh Độ, Đạo Hữu Tâm Lượng được gặp những vị Thầy của mình như Cố Thượng Toạ Thích Thiện Thông và những người thân quen khác.

Trên cành những lá cây đang nhởn nhơ phô sắc cùng gió xuân, nhưng trong lòng tôi có một cái gì đó đang hướng về xứ Đức và mong rằng thần hồn của Đạo Hữu hãy nhẹ bước phiêu du lên cao hơn nữa để ra đi và đừng quyến luyến một việc gì cả, nơi trần gian giả tạm nầy nữa.

Mong tâm thức của Đạo Hữu sẽ được như vậy

Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật

Viết vào một sáng mùa xuân năm 2006 tại chùa Trúc Lâm Chicago Hoa Kỳ
TK.Thích Như Điển

 

 

(xem hình ảnh)

---o0o---

Vi tính: Thích Đồng Văn
Trình bày: Phổ Trí
Cập nhật: 09-4-2006

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Nếp Sống Đạo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com