Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

Vài Chuyện

Bạn và Tôi học Phật

 

Thích Phổ Huân

 

---o0o---

 

Mười hai nhân duyên, một vòng dây không đầu mối 

 Chúng ta đã chuyện trò lạm bàn khá tạm một vài vấn đề giáo lý pháp tu giải thoát; giờ có một pháp học nữa cũng thật quan trọng. Thật ra nói pháp quan trọng là nói về sự hành, nếu chẳng hành, pháp có thế nào cũng thành vô nghĩa, hay được lắm là gieo duyên thôi. Tuy nhiên cũng phải biết học pháp giải thoát, là nhắc lại lời Thế Tôn dạy, để có thể khởi sáng thêm tâm, điều đó dù chưa hành, nhưng vẫn có công đức, nên bạn và tôi chẳng ngại đôi lời thô thiển, kiến thức sơ căn, sám hối cầu mong cùng nhau học hỏi.

 Thưa bạn, điều bạn và tôi tìm hiểu đây là pháp tu mười hai nhân duyên, pháp này quan trọng cho tất cả các hàng đệ tử của Phật, vì đó là một khám phá sinh tử, tìm ra được đầu mối của cuộc luân hồi bất tận mà ngày xưa Bồ Tát Tất Đạt Đa đã tìm ra để chứng đắc thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trong thời kiếp Phật Thích Ca hiện nay.

 Mười hai nhân duyên này đối với một vị chuyên cần học Phật, nỗ lực gia công quán chiếu có thể chứng đắc quả vị Duyên Giác; và có thể chứng đắc cả trước hoặc sau thời Phật. Tuy nhiên không phải dễ hiểu dễ biết dễ thực hành, chính ngay thời Phật, pháp này đã có Phật giải bày nhưng không phải ai cũng chứng được. Đa số đệ tử Thế Tôn thời bấy giờ với quả vị A La Hán đã là quá cao nhưng chắc chắn chư vị phải tiếp tục quán chiếu pháp tu mười hai nhân duyên để chóng đạt quả Chánh Giác.

 Nhà Phật thường nói quả vị Thanh Văn là do tu chứng Tứ Đế, Duyên Giác nhờ Thập nhị nhân duyên và Bồ Tát do tu Lục độ vạn hạnh. Dù vậy trên bước đường đạt đến quả Phật tất cả quý Ngài trong ba hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát chắc chắn phải tiếp tục dụng công hành trì Thập nhị nhân duyên sâu hơn mới có thể toàn giác. Đó là tính chất quan trọng của mười hai nhân duyên như vậy.

 Đối với người học Phật thời nay hầu hết là sơ cơ hành đạo, dù tu pháp môn gì cũng không thể không tìm hiểu mười hai nhân duyên; như đã thưa cả chư Bồ Tát còn tu, vậy chúng ta, nói là đang học Phật phải vui mừng học hỏi chứ. Thưa bạn đương nhiên ở đây bạn và tôi chỉ là tìm hiểu, chứ không thể nào dám gọi là thực hành quán chiếu thành tựu pháp tu này. Nhưng dù sao được tìm hiểu cũng là thắng duyên, và thắng duyên sẽ thành tựu trong tương lai.

 Nào bây giờ thử tìm hiểu, thế nào là cái vòng quay mười hai nhân duyên, là vòng mắc xích cột người từ vô thỉ đến nay.

 Mười hai nhân duyên gồm có: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Aùi, Thủ, Hữu, Sanh, Lão tử.

 Vô minh: Là một đầu mối phát xuất từ bao giờ không ai biết, nhưng nó phải thật sự là có phát xuất và khởi động; sự khởi động của nó hiện lên như sóng biển, cứ lượn sóng này vào thì lượn sóng khác tiếp theo, nhưng thật ra sự khởi động của nó chưa từng ra khỏi đại dương. Nghĩa là có vô minh, nhưng cũng có trí huệ giải thoát. Và vô minh, trí huệ giải thoát là hai hiện tượng nhưng chỉ cùng một bản thể; bản thể nhứt như vô ngại. Cũng như biển động sóng khởi là vô minh, biển êm phẳng lờ là giải thoát, nhưng cả hai chỉ nằm trong đại dương là nhứt thể. Thế thì tìm hiểu vô minh là tìm hiểu quay lại con người chúng ta; và ngay lúc quay về tìm hiểu là bắt đầu phát khởi sự hiểu biết giải thoát. Nhưng chỉ mới phát được hiểu biết, chứ tất nhiên tuyệt đối chưa thể giải thoát được. Bởi có người vẫn tìm hiểu vô minh, nhưng chẳng tu giải thoát, thành ra chỉ là phát khởi, và vô minh vẫn còn nguyên vẹn.

 Phải thật tu thật chứng, vô minh mới chấm dứt, cho nên người phá được vô minh, người đó không còn bàn luận như chúng ta nữa, bởi vì trí huệ giải thoát của người đó đã thật có, và trí huệ đó bấy giờ lại không phải trí huệ như chúng ta hiểu là đối lại với vô minh. Còn đối chiếu còn phân chia không phải là tuyệt đối, cho nên không thể dùng ngôn ngữ thế gian để giải thích, và chúng ta có hiểu được rốt ráo, tức phải chứng đạo như các Ngài mới rõ được.

 Thế thì trước hết, một người học Phật, một hành giả công phu muốn giải thoát, phải thiết lập một sự hiểu biết tương đối trước khi đi đến tuyệt đối. Vậy tạm hiểu vô minh là sự đối lại với trí huệ giải thoát, và đối lại với trí huệ nghĩa là còn trong vòng luân hồi; còn trong vòng luân hồi là còn đầy đủ phiền não tham, sân, si. Nếu muốn dứt trừ vô minh tức phải dứt trừ phiền não, nhưng lại muốn dứt được phiền não, người này bắt buộc phải hiểu và tu theo giáo lý của Như Lai. Không hiểu giáo lý Như Lai, tức còn phiền não, vậy thì vô minh có nghĩa là không hiểu giáo lý của Như Lai.

 Chúng ta có định nghĩa vô minh là sự mê mờ, sự tối tăm, sự ngây dại khởi đi từ bao giờ nữa, thì đó cũng chỉ là sự không thấy chân lý giải thoát mà thôi. Chân lý giải thoát căn bản nhất mà kinh dạy đó là Tứ Diệu Đế, bài pháp đầu tiên Phật dạy cho nhân loại mà chúng ta đã có bàn qua.

 Vậy thì theo định nghĩa trên vô minh đã hình thành rồi một hình thể phàm nhân, tức đã kết mắc đầy đủ mười hai mắc xích nhân duyên, và ta đã là nạn nhân đang bàn thảo đây. Như thế ta mới biết và ý thức cần giải thoát. Và việc vô minh khởi đi từ bao giờ, đó là câu hỏi không thể giải quyết được vì hiện tại ta đang vô minh; nếu nói rằng từ vô thỉ thì cũng tiếp theo câu hỏi chừng nào nó mới dứt và rồi trả lời là vô chung!

 Nhưng nó có vô thỉ hay vô chung, chẳng cần phải quan tâm, chỉ quan tâm hiện tại phải biết vô minh là luân hồi và dứt luân hồi là thực hành thành tựu đạo giải thoát vậy.

 Bây giờ hãy tạm suy diễn tìm hiểu theo từng mắc xích lúc mà vô minh dưới một dạng thể mê mờ, động niệm, khởi lìa thân xác ngũ uẩn đã hư hoại, rồi duyên tạo thế nào mười một mắc xích kia.

 Khi vô minh khởi đi, cũng tức là vọng niệm khởi sinh, nơi đây sinh ra Hành, tức sự khởi động bằng một lực, và lực này hẳn nhiên chìu theo cái mê muội không sáng suốt. Hành nhà Phật dạy là hành động, tức là nghiệp, là những tác nghiệp từ vô minh. Thật khó mà biết lúc ban sơ của vô minh, hành nghiệp khởi động thế nào? Nhưng cũng không ra ngoài vô minh, cho nên vẫn là Hành trong cái tính bất thiện và si mê.

 Nếu căn cứ vào thân nghiệp chưa giải thoát, tức nói về một con người chưa tu chưa đắc pháp vừa chết đi, điều này dễ giải thích hơn. Vậy thì Hành ở đây là cả một nghiệp lực từ nhân quả của nhiều đời trước còn vướng mắc, hoặc ngay trong kiếp sống vừa qua. Hành nghiệp này sẽ lưu lại những hành động vi tế đã tạo, và hiện lên, duyên thành Thức, đó là một tâm thức hay gọi là một tâm niệm phân biệt trong tham ái, hay trong ý tưởng cao thượng. Đến phần Thức đây là vấn đề bắt đầu trở lại của một dòng sống. Thức vừa lưu chuyển vừa tích tụ chủng tử làm nhân thiện ác tạo thành quả báo tương lai; cho nên bao nhiêu hành động tâm niệm bấy giờ được lưu giữ mà chúng ta nghe gọi là Tạng thức vậy. Như thế khi một thân mạng mất đi, thì chính thức này còn gọi là tâm thức hay thần thức chuyển di ra khỏi ngũ uẩn, và từ đây lại tiếp tục đầu thai, hay tái sanh tùy vào dòng sống thiện ác của nghiệp, và bấy giờ ta lại gọi nó là nghiệp thức dẫn dắt tái sanh vậy.

 Xin được trở lại theo tuần tự khi thức bắt đầu đi vào thai sau khi có sự giao hợp giữa cha mẹ với nhau; chính nơi đây một sinh linh bắt đầu khởi tác; và tất nhiên nếu thức không vào thai, thai không thể thành hình được. Nếu nghiệp thức đi vào thai có một quá khứ thiện, sự khởi tác tiếp theo sẽ được tốt đẹp cho đến khi ra thai, ngược lại sẽ bị chặn đứng nơi đây; hay khi thành hình sẽ có vấn đề, hoặc khi ra thai chẳng tránh được rắc rối. Tuy nhiên cũng còn cơ hội nhân duyên, nếu người mẹ tạo thiện phước, quả báo sẽ chuyển đổi đi.

 Thức đã vào thai, tức duyên với Danh Sắc, là thời kỳ tượng hình của một chúng sanh bắt đầu. Tuy nhiên vẫn chưa thể rõ ràng, mà chỉ bắt đầu tạo ra một tinh thần, và một hình thể tương đối. Tinh thần ở đây được hiểu là Danh, và Sắc là phần hình tướng bắt đầu khởi tạo từ tinh cha huyết mẹ. Đến giai đoạn tiếp theo, Danh Sắc duyên Lục Nhập, bấy giờ mới đầy đủ các căn, tức sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; nhưng vẫn còn trong bụng mẹ.

 Rồi Lục Nhaäp duyên với Xúc, đó là lúc rời khỏi thế giới tối ngòm từ trong lòng mẹ, để đón chào một thế giới khác, thế giới đau khổ hay sung sướng tùy vào quá khứ nhân quả, nghiệp thức của chúng sanh này. Nhưng phải nói một trăm phần trăm là khổ; bởi vì thân sinh ra từ luyến ái của cha mẹ, thì làm sao thanh tịnh; mà không thanh tịnh, tức phiền não, phiền não thì có lớn lên làm ông gì cũng khổ. Cả làm tu sĩ cũng khổ, khổ trước khi được giải thoát. Như vậy chỉ có các bậc Bồ Tát thị hiện nhập thai mới không khổ theo, vì do nguyện lực sanh trở lại, chứ không bị nghiệp lực như chúng ta.

 Thật tội cho đứa bé, tưởng thoát khỏi nơi chật chội hôi tanh, ra được ánh sáng trong lành tươi mát nào ngờ cả hai thế giới trong ngoài đều khổ.

 Cái khổ đầu tiên của Xúc, đó là xung đột bất ngờ với thế giới bên ngoài tương phản thế giới bên trong, nên sợ sệt và đau đớn, do đó hầu như đứa bé nào sinh ra cũng khóc chẳng có cười. Và đó tiếp theo gọi là Thoï, tức cảm thọ yêu thương, ghét, muốn với hoàn cảnh qua sinh lý và tâm lý từ thân và tâm để rồi sinh ra Ái.

 Chúng ta thấy Ái thật là ghê gớm, dù tiếp xúc, cảm thọ đời là khổ nhiều hơn vui, nhưng trong sự vui thương yêu của cảm thọ, Ái đã lẫy lừng tạo riêng thành mắc xích. Vậy mới thấy trong vòng luân hồi, bao giờ còn nghiệp ái, chúng sanh chẳng thể thoát khỏi khổ kiếp của thế gian.

 Khi Ái phát sinh không ngừng liền sanh Thuû, đó là tất nhiên, hễ thương yêu luyến ái chừng nào người ta càng lo giữ gìn, bảo thủ chừng nấy. Càng giữ gìn bảo thủ, càng lo sợ lìa xa, tất tạo thành nghiệp lực luân hồi đời sau, đó gọi là Hữu; và đã có đời sau tức phải có Sinh ra. Đến đây một đời sống quá rõ ràng, rồi điểm cuối cuộc đời là Lão Tử vậy. Thế là mười hai mắc xích lại khởi đi trở lại ban đầu là ngây dại vô minh, tạo thành một vòng dây không đầu mối, chạy theo vòng tròn sinh tử đến bất tận.

 Thưa bạn hình ảnh và chi tiết như vậy chỉ là lược giản, mường tượng hiểu được phần nào thôi, chứ chẳng phải đơn giản trình bày đâu; hơn nữa tôi và bạn lại đang chuyện trò học hiểu, chứ đâu phải là học giả, nghiên cứu học Phật, nhất là những vị vừa học vừa tu, thì sự hiểu về vòng quay mười hai nhân duyên sinh tử chắc chắn sáng sủa mạch lạc lắm. Mong rằng bạn và tôi trên đường học Phật, hoặc sẽ tìm ra sách giải, hoặc hội kiến chư vị uyên bác vấn đề này, để chúng ta có nhân duyên rõ ràng hơn. Mong lắm thay!

 

  

Mầu nhiệm lời kinh xưa

 Thưa bạn, ngẫm nghĩ rồi cũng phải thưa, chuyện thật là huyền diệu sự lưu truyền gìn giữ kinh văn cho đến ngày nay. Ngày nay chúng ta biết được Phật pháp, tu được pháp Phật có phải là do kinh văn không? Thưa tuyệt đối là vậy. Biết được điều này ta thật vô cùng kính trọng, ghi ân chư vị Thánh Tăng đã có công hoằng truyền chánh pháp từ xưa cho đến nay. Kính xin được đảnh lễ quý Ngài.

 Rồi lại càng nhớ đến ân đức cao sâu của Ngài A Nan, đã truyền tụng lại bao lời chân ngôn của Phật, để chư Thánh chúng thế hệ sau Ngài tiếp tục kết tập duy trì, cho đến rõ nét cụ thể viết lên bằng văn ngôn thi kệ. Từ đó tiếp tục trãi qua bao thăng trầm thay đổi, biến cố chiến tranh, xung đột từ trong nội bộ Tăng đoàn, đến thế lực bên ngoài hủy hoại tàn phá, mà kinh văn vẫn tiếp tục lưu truyền tồn giữ vượt khỏi không gian thời gian cho đến ngày nay.

 Ngày nay người học Phật chúng ta nếu để tâm suy nghĩ tư duy, hẳn phải xúc động thương kính vui mừng biết bao! Thương kính chư vị tiền nhân đã hy sinh, đã bỏ mình quên thân giữ gìn chánh pháp, và vui mừng khôn tả cho ta ngày nay thật quá đại duyên, không một khó khăn nào phải đánh đổi, khi muốn tìm đọc lời kinh xưa.

 Ngày nay chúng ta có biết bao phương tiện để đọc hiểu kinh Phật. So với ngày xưa thời tượng pháp, thời mà sau Phật tịch hơn năm trăm năm, thời này dù hãy còn nhiều Thánh Tăng; nhưng đối với giáo điển của Như Lai dù đã được kết tập thành văn cũng không phải dễ dàng được đọc, vì bản viết không được nhiều nên trở thành bảo vật, duy chỉ có Tăng sĩ mới được duyên tìm đọc. Nhưng có lẽ chỉ nghe mà thôi, chứ không thể tự cầm gọn trên tay mà nghiền ngẫm.

 Dù vậy kể cả nghe cũng phải chờ nhân duyên Tăng chúng tụ về đọc tụng, hay ít ra cũng trong mùa an cư. Vì những dịp đông Tăng chúng mới đủ duyên chọn người vừa có kiến thức cao, vừa có sức khỏe giọng âm tốt để đọc đúng theo văn ngữ chấm câu, và đủ lớn cho mọi người nghe hiểu. Như thế, nghe đọc cũng là một chuyện chưa phải là dễ, nói gì sở hữu để đọc. Nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ sở hữu được dù vị đó có là trưởng lão trụ trì một ngôi chùa lớn; bởi lý do bảo vật pháp ngữ Như Lai được viết lại thật công phu và ít được phổ biến thời bấy giờ, cho nên chỉ có những bậc Tăng sĩ vừa liễu đạo lại sống nơi an toàn, chịu trách nhiệm gìn giữ nguyên bản hầu không bị sửa sai lệch lạc. Và như vậy muốn xin được mượn xem không phải là điều dễ.

 Trường hợp nữa như thời kỳ đất nước được cai trị do một vì vua là Phật tử cư sĩ thuần thành, thì bảo vật lại được trân quý gìn giữ dưới sự giám sát của triều đình, như vậy cơ hội muốn nghe lại càng khó hơn, nói gì là được mượn xem. Thật ra điều này không phải là điều buồn cho chúng sanh bấy giờ, mà có thể nói rằng đây là một điều mừng, vì nếu không như vậy pháp Phật đâu được gọi là Pháp Bảo!

 Chúng sanh không duyên tận mặt thấy pháp bảo, hoặc ít nghe được, đó là do tự chúng sanh đó chứ không do ai, vấn đề này bạn và tôi phải hiểu. Tất cả là tự nghiệp nhân quả của mình tạo ra; như nhân duyên tạo thiện ít, quả báo cũng tương ứng không thể khác hơn được. Dù vậy cũng chưa tuyệt đối cho rằng, hoàn cảnh những người ít duyên nghe kinh đọc tụng là không được thiện duyên lắm !

 Họ có thể không được duyên tới gần nhìn xem pháp bảo mà chỉ có nghe, nhưng với tâm niệm tha thiết cầu học, lại tự tủi phận sám hối, tự hiểu đời trước vụng tu; thế là lần tu học đời này quyết tâm tinh tấn. Do vậy họ chỉ cần nghe, nghe ít nhưng nhất tâm; nhờ đó đạt được định tâm dễ dàng, và không ít người trong họ đã hóa thành thanh tịnh sống như bậc Thánh.

 Như vậy ta thấy đời nay việc học Phật của chúng ta đã quá thuận duyên, đầy đủ mọi phương tiện; nhưng ngược lại tất cả chỉ biến thành kiến thức học hỏi như thế gian, vì chẳng thấy người đọc kinh, nghe kinh chứng được đạo! Dù có chăng nữa cũng chẳng dễ tìm được người đó để tu học bắt chước theo. Nguyên do thế nào vậy? Có lẽ vì kinh điển quá nhiều chăng? Nhiều quá rồi xem thường! Chẳng bao giờ bạn và tôi dám móng tâm như vậy; nhưng có thể đúng hơn là do ta chưa thật sự tin được sự nhiệm mầu của kinh.

 Chúng ta vừa kể, người chỉ nghe thôi đã đạt định, đó có phải là sự nhiệm mầu? Thật đúng như thế, vì Phật lực gia bị từ nơi kinh mà ra. Chẳng gì thắc mắc nghi ngờ khó hiểu, do kinh là chân ngôn Phật nói, nên từ chân ngôn Phật lưu xuất linh diệu không thể nghĩ bàn, và khi người tụng đọc, trì niệm, tất nhiên pháp ngữ chân lý của Như Lai phát khởi sống lên từ người đó.

 Sự gia bị của thiên thần hộ pháp khiến kinh có một thần lực, điều này mới có thể tồn tại cả đến mấy ngàn năm sau, có phải vậy không?

 Chính vì từ trong kinh là một chân lý, một linh diệu nhiệm mầu, nên người tu học căn cứ theo mới trở thành bậc Thánh được. Điều này giống như định lý công thức toán học phải logic, để đưa vào phương trình thực nghiệm, thì đồ án công trình liên quan với toán học mới được thành công. Cho nên phải tin kinh là một định lý tỏa ra một sự giải thoát, sự linh diệu không thể nghĩ bàn.

 Nhưng bạn và tôi vẫn có thể thắc mắc, tại sao ngay thời Phật kinh văn không được chép ra, mãi đến Phật tịch trải mấy trăm năm sau mới kết tập viết thành văn bản; để rồi khó tránh được dư luận nghi ngờ tất cả kinh Phật có thật là đúng hoàn toàn chân ngôn của Như Lai? Thưa bạn chúng ta có quyền thắc mắc, có quyền nêu ra mọi câu hỏi; tuy nhiên trước hết tạm tìm hiểu vấn đề thật hay không thật lời Như Lai nói, thì bạn và tôi phải xác định rằng, có hay không có người đắc pháp giải thoát từ kinh văn?

 Thưa, tuyệt đối hoàn toàn là có, và hình ảnh sống động đó một lần nữa xin được nhắc đến Đại sư Huệ Năng, một người bằng xương bằng thịt đã chứng đắc quả vị Bồ Tát để lại minh chứng cho đời nhục thân bất hoại trong tư thế thiền tọa từ hơn ngàn năm nay. Bồ Tát Huệ Năng đã thực sự tìm thấy chánh đạo trong kinh Kim Cang, và điều lạ lùng nhất là Ngài chỉ nghe mà thôi chứ chẳng phải là người đọc thẳng vào kinh, bởi vì sự thị hiện tuyệt vời của Ngài là không biết chữ!

 Có phải Bồ Tát Huệ Năng thị hiện hình ảnh như vậy để chúng sanh thời của Ngài cách Phật hơn ngàn năm, và thời chúng ta hôm nay cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm, tin rằng giáo điển Như Lai là một chân lý, một sự mầu nhiệm đúng như lời Đấng Toàn Giác khai thị.

 Bạn và tôi nghĩ sao, chúng ta có còn thắc mắc kinh xưa của Phật nữa không?

 Như thế ta không cần phải tra xét tìm kiếm lời Phật dạy chính xác trong đoạn nào của kinh, và lời của Bồ Tát có bao nhiêu đoạn, hoặc nghi ngờ hơn là lời của Phật chỉ có vài lời, còn tất cả chỉ là thế gian. Điều quan trọng nhất là ta hãy nên tin, kinh văn xuất hiện được đến ngày nay là do sự xuất hiện siêu việt của một vị Phật; nếu không có sự xuất hiện này, ta chẳng có đến một lời pháp ngữ, để đưa ta ra khỏi đau khổ luân hồi.

 Vấn đề trong kinh có nhiều hay ít lời Như Lai, cũng chỉ là giải thích rõ thêm lời Như Lai dạy, và lời Như Lai dạy có ngắn có dài, có khó hiểu hay dễ hiểu, cũng chỉ là phương tiện nói ra ý của Như Lai, và cuối cùng lời Như Lai, là nhằm khai thị chánh pháp, chứ hoàn toàn không đưa người vào mê tín.

 Và tại sao Như Lai khi còn báo thân tại thế, Ngài không dạy đệ tử ghi ra kinh văn để Ngài duyệt xét? Tất nhiên điều này hỏi để mà hỏi, và việc làm của Như Lai chỉ có Như Lai mới rõ, bạn và tôi có thắc mắc, hài lòng hay không, cũng chẳng hiểu được thế nào. Chúng ta nên biết chỉ so với đại đệ tử của Như Lai thôi ta đã mờ mịt tối mù rồi, huống gì hỏi Phật tại sao!

 Nhưng bạn và tôi có quyền đoán! Phật không dạy ghi lại kinh văn trong lúc Ngài còn hiện diện với đệ tử, có lẽ vì Ngài cho rằng đó chỉ là việc làm của thế gian, việc không phải sinh tử gấp rút, việc sẽ chạy theo ngôn từ văn chương, việc sẽ trở thành rắc rối hỏi đi hỏi lại, và nhất là việc sẽ dựa vào đó, bám vào đó, ỷ lại vào đó, để không còn dụng công nỗ lực uống từng lời của Như Lai, và sống với lời Như Lai, sau khi đã nghe Như Lai khai thị. Bởi vì sao? Bởi vì pháp Như Lai là thực hành, là chân lý chứ không phải có bấy nhiêu để viết, rồi chấp vào, rồi sinh ngã mạn tự cao. Quả như vậy mới đúng là Như Lai, đúng là Đấng Toàn Giác, Ngài đã từ bi phương tiện tuyệt vời thị hiện dạy cho chúng sanh như thế.

 Hơn nữa Như Lai còn có A Nan một vị Bồ Tát lớn thị hiện làm thị giả rõ biết được điều này, nên Ngài hoan hỷ để các pháp tự khởi lên theo nhân duyên của nó. Như thế mà khi Thế tôn tịch A Nan đã làm nhiệm vụ nhắc lại hầu hết tất cả bài Pháp của Phật bằng trí nhớ siêu việt của Ngài; nhưng cũng phải cả mấy trăm năm sau mới được ghi lên bản lá, vì trong thời gian này chánh pháp vẫn còn hiển hiện qua sự hiện diện rất nhiều Thánh Tăng. Đến khi bản văn được ghi, đó là lúc chư Thánh Tăng đã thấy thời kỳ sắp chuyển qua tượng pháp, và sẽ dần đến mạt pháp.

 Và khi kinh pháp được chính thức theo chư vị Thánh Tăng rời khỏi Thiên Trúc, ta có thể nói rằng kinh pháp bấy giờ là thần lực đưa các Ngài đi, vì chính kinh pháp là một Phật tích, một bảo vật thần kỳ diệu dụng như chính hình bóng Như Lai. Dù trên thực tế các Ngài đã liễu đạo, nhưng lời kinh vẫn là nơi các Ngài quy hướng về đấng Thế Tôn. Hình bóng Thế Tôn sẽ hiện ra trong kinh rõ hơn nơi tàng thức của chư vị, nhất là chư vị mới vào sơ quả. Chúng ta nên biết, đối với chư Thánh Tăng sống trong giai đoạn Phật vừa tịch chỉ vài trăm năm, thì hình ảnh Phật vẫn còn như sống cạnh các Ngài, rồi bên cạnh còn là những tháp thờ xá lợi Thế Tôn nữa, cho nên Kinh văn bấy giờ đối với quý Ngài chẳng khác xá lợi của Như Lai. Do đó các Ngài hẳn đã kính mộ thương tưởng không gì hơn. Tóm lại lời kinh được ghi lại hoàn toàn từ nơi chư vị Thánh Tăng, và trải thời gian lâu xa như vậy đó là một nhân duyên. Tất nhiên như đã nói, hãy nhìn lại sự việc tu chứng của người thực hành theo kinh văn mới là một điều đáng học của người học Phật.

 Trước khi bạn và tôi có thể tạm dừng đề tài này nơi đây, tôi lại một lần nữa không thể không nhắc đến Ngài Huyền Trang, một hình ảnh thị hiện tuyệt vời, liên hệ đến sự nhiệm mầu lời kinh xưa.

 Nhiệm mầu về kinh giải thoát của Như Lai và nhiệm mầu về Đại sư Huyền Trang có lẽ chỉ là một. Ngài không phải là một phàm nhân, Ngài không phải làm nhiệm vụ đi tìm kinh chỉ vì cho Trung Hoa nơi bản thổ của Ngài, vì ngày nay kinh Ngài mang về đã là của chung cho nhân loại. Ngài phải chính là Bồ Tát đã từng học với Phật, mới có thể thị hiện làm được việc này. Cho nên sự phi thường khiến làm nhiều người thắc mắc, làm sao Đại sư có thể vượt qua đoạn đường dài cả chục ngàn cây số, với bao nguy hiểm của rừng sâu núi thẳm, sa mạc hoang vu, sự kiện đó cho tới giờ đã hơn ngàn năm thế gian chưa hiểu được.

 Và lạ kỳ hơn, chính Ngài người đi tìm Phật tích từ Trung Hoa trở lại là người có công giúp các nhà khảo cổ cận đại, làm sống dậy thêm Thánh Tích Như Lai. Sự kiện là vì trải qua các thời kỳ chiến tranh, Thánh tích Phật giáo bị hủy diệt, người ta bấy giờ đã nhờ vào ký sự chiêm bái thỉnh kinh của Ngài để tìm lại di tích. Như thế Ngài có phải là một hình ảnh mầu nhiệm phát xuất từ việc thỉnh kinh! Chỉ có chân kinh nhiệm mầu mới phát sinh một Thánh Tăng Huyền Trang vĩ đại của Trung Hoa, và là một nhà chiêm bái học Phật thế giới. Nói cho cùng kinh Phật là một thần lực tuyệt vời, một chân lý cụ thể, đã và đang sinh ra bao Thánh Tăng từ xưa đến nay.

 Lại nữa một chuyện phi thường về sự huyền diệu của kinh, được kể qua cuộc đời dịch kinh của Đại sư Cưu Ma La Thập*. Khi qua Trung Hoa hoằng truyền giáo pháp Như Lai bằng việc dịch kinh hoằng đạo; trước khi thị tịch vì muốn xác nhận kinh Ngài dịch chính là chánh pháp Như Lai, Ngài nguyện rằng những kinh mà Ngài dịch xưa nay, nếu quả đúng kinh Phật, thì xin khi thiêu đốt nhục thân của Ngài lưỡi sẽ còn nguyên vẹn, nếu không phải chánh pháp lưỡi sẽ cháy rụi theo thân. Quả thật sau lễ trà tỳ lưỡi của Ngài còn sót lại, để cho hậu thế một niềm tin đúng như chánh pháp.

 Đây là một sự biểu thị huyền diệu của kinh mà tất cả chư vị Thánh Tăng đã được gia bị, và đó đã trả lời tất cả những gì Phật dạy được lưu lại qua sự nhiệm mầu diễn tả trên trang kinh.

______________

* Ngài sanh trưởng tại Dao Tần (Koutcha) xứ Tân Cương, bấy giờ vào thế kỷ thứ tư Tây lịch. Ngài là bậc danh Tăng đức độ, một trong những nhà dịch kinh lớn của Trung Hoa. ( xin xem thêm Phật học Từ Điển Đoàn Trung Còn).

 

Thiền và Niệm Phật 

 Thưa bạn! Lại một đề tài thu hút và tế nhị ! Đó là

Thiền và niệm Phật. Xưa nay đề tài này có tính cách lý giải sôi nổi, đến độ người chưa hiểu rõ Phật pháp cũng có ý kiến phê bình qua lại, và người càng có kiến thức Phật học lại hăng say hơn. Tôi nghĩ có lẽ tất cả chỉ là hiểu lầm!

 Mà hiểu lầm cũng phải, bởi vì chỉ lấy kiến thức mà xét chứ chưa đạt được trí huệ để am tường thấu đáo. Tiếc rằng trí huệ chỉ đạt được là do tu hành, cho nên chưa tu mà đã xét đoán thì càng bàn càng sai thôi.

 Đương nhiên bạn và tôi hiện đang học đang tu, việc có ý kiến về Thiền và Niệm Phật chỉ là mong nói lên tìm được dung hòa mà tu, chứ chẳng phải xét suy luận bàn gì cả! Mong rằng chúng ta xin được thực hành hài hoà trong niềm tin chánh pháp.

 Bây giờ thử hỏi, việc hiểu lầm Thiền với Niệm Phật ra sao, thế nào?

 Theo một số khá đông người, cho rằng hai pháp môn này gần như chống trái nhau; do một bên tự lực và một bên tha lực. Thiền là tự lực, tự thân tu hành, không có tư tưởng cầu cạnh việc gì. Riêng niệm Phật thì đặt nặng việc cầu tha lực Phật A Di Đà, và việc ra công dụng sức niệm Phật thế nào cũng chỉ mong vào Phật tiếp dẫn.

 Hai quan niệm này gần như được nhiều người đồng ý. Không biết bạn sẽ chấp nhận hài lòng theo quan niệm nào?

 Nói đến đây lại nhớ đề tài đã bàn qua là Có và Không. Chủ đề đó cho thấy, chẳng nên khẳng định, hay phủ định, cũng chẳng nên dính mắc bất cứ việc chi, kể cả pháp tu giải thoát.

 Như vậy, nếu thuận theo quan niệm thiền chỉ là tự lực, nghĩ ra cũng đúng nhưng cũng không hoàn toàn; và niệm Phật chỉ có cầu tha lực phó thác chư Phật tiếp dẫn, cũng vừa đúng vừa sai.

 Chúng ta thử tìm hiểu đúng sai thế nào!

 Trước hết xét về Thiền. Thiền là một pháp tu chuyên tự lực điều này là đúng, đúng luôn việc chẳng có tư tưởng cầu cạnh ai.

 Vâng! Vì Phật đã dạy phải tự thân làm nơi nương tựa, không nên nương tựa vào bất cứ ai. Lại nữa Phật dạy Như Lai chỉ là người hướng đạo dẫn đường, đi hay không là quyền của ta quyết định. Vậy Thiền quả là tự lực hoàn toàn, vì toàn thân tâm hành giả từ lúc gia công hành trì, đều trong tiến trình ý thức diệt trừ vọng tưởng đạt được an tâm thanh tịnh. Thế thì vấn đề rõ ràng tự lực như thế đúng theo chánh pháp, phá đi mê tín ngộ nhận gán cho đạo Phật chỉ là nghi thức cúng bái cầu nguyện.

 Tuy nhiên nếu cho rằng Thiền hoàn toàn không nhờ gia bị của chư Phật thì quả là sai; bởi vì không có sự gia bị của chư Phật, thiền sẽ dễ lạc vào tà pháp, nghĩa là hành thiền không Kinh điển, không tu giới. Phải hiểu rằng chỉ có trì giới, chỉ nương vào kinh mới thật đúng với Thiền giải thoát, mới không sanh phiền não vi tế, ngã mạn tự cao.

 Như hiện nay Thiền rất phổ thông, không nhất thiết chỉ dành cho đạo Phật; và nếu không cẩn thận, thiền chẳng thể đúng với pháp hành của Như Lai; tức chẳng giữ giới chẳng dựa theo kinh làm tiêu chuẩn.

 Ngay như Lục Tổ Huệ Năng, duyên đắc đạo của Ngài trở thành Tổ thiền tông là do ban đầu đã nhờ nghe kinh Kim Cang, nếu không làm sao thành Tổ! Và đã nhờ kinh tất gọi là nhờ tha lực; như thế không một pháp tu nào trong đạo giải thoát mà không nhờ tha lực. Chưa nói Thiền đường nơi chuyên tu thiền vẫn còn tôn trí hình tượng Như Lai thế làm sao gọi là hoàn toàn tự lực! Chúng ta nên nghĩ rằng, bao giờ còn hình ảnh Như Lai, dù chỉ còn là ý niệm thì vẫn gọi là còn nhờ tha lực của Như Lai.

 Thiết nghĩ đối với người hiểu đạo, chẳng có tổn hại khúc mắc gì, khi gọi là tha lực hay không tha lực, chỉ có vấn đề là người hành pháp có còn tâm tham chấp ngã mạn hay không.

 Sở dĩ Thiền gọi là tự lực là nói không bị vướng mắc bất cứ hình ảnh nào, và có thể tu bất cứ nơi đâu không qua hình thức. Nghĩa là tự mình quyết định vươn lên, quyết định hành trì mà không phải lệ thuộc thế này thế nọ. Thành ra ta thấy chỉ có những người hạ căn lo xa như chúng ta mới hý luận, tranh cãi về tự lực hay tha lực, chứ xưa nay các thiền sư và đại sư đắc đạo chẳng bao giờ quan tâm đến chuyện này.

 Riêng nói, Thiền chẳng có cầu cạnh việc gì, đó là ý nói đã hiểu lời Phật dạy tất phải lo tu, đừng nên cố chấp ôm giữ mãi lời Ngài, giống như mượn thuyền qua được sông mà vẫn còn trì kéo chiếc thuyền không bỏ.

 Lại thử tìm hiểu quan niệm chỉ nhờ tha lực của pháp tu niệm Phật ra sao?

 Quan sát niệm Phật, rõ ràng đã thấy pháp tu này hẳn nương vào tha lực; vì hành giả chỉ chuyên niệm trong mọi động tác, và hình như bất cứ sinh hoạt nào cũng có thể niệm được.

 Tất nhiên người niệm Phật phải cầu vãng sanh về đất Phật, cầu như vậy là hoàn toàn nhờ vào tha lực; tuy nhiên đất Phật cũng là đất tâm, là chính trong tâm hành giả mà ra. Vì ai niệm Phật đây? Có phải hành giả không? Nếu phải, tức chính hành giả đã tạo nơi sinh ở đất Phật rồi. Thế thì hành giả phải niệm Phật bằng dụng công tha thiết mới tạo được đất Phật trong tâm.

 Nhưng nơi đất Phật, nơi những bậc Bồ Tát, những bậc vô nhiễm, không tham, không sân, không si sinh sống; nếu hành giả đi ngược lại với chư vị Bồ Tát, thì làm sao có thể sinh về được, dù hành giả có gào thét bao nhiêu tiếng niệm Phật cũng vậy. Nói rõ hơn hành giả phải niệm Phật với tâm không tham, không sân, không si, mới có thể sinh ra đất Phật nơi tâm, và khi đất Phật nơi tâm đã sinh, hành giả đã sinh được Tịnh Độ tại thế, trước khi vãng sanh Cực Lạc.

 Niệm Phật được như vậy có còn gọi là tuyệt đối nhờ tha lực của Phật Di Đà không? Tất nhiên là không. Người niệm Phật như thế đã dụng công tự lực đến năm mươi phần trăm. Dụng công niệm được vậy là tự lực chứ còn gì! Như thế pháp tu Niệm Phật đã có tự lực rất nhiều trong đó, chứ nào phải là phó thác cho đức Phật A Di Đà.

 Cõi Phật A Di Đà được thiết lập bằng tâm thanh tịnh vô tham, vô sân, vô si; đương nhiên người sanh vào nước đó ít ra phải được năm mươi hoặc bảy mươi phần trăm không tham, sân, si, chứ có đâu dễ dàng chỉ là niệm Phật trên môi là được. Dù Phật A Di Đà thương xót chúng sanh qua bốn mươi tám lời nguyện, nhưng nếu tâm chúng ta còn tham, sân, si ái, Ngài vẫn phải bó tay, bởi chính nghiệp lực của tham, sân, si kéo trì người đó ở lại chứ đâu phải Ngài không từ bi.

 Nếu Ngài thị hiện trước mặt một người sắp chết, mà người đó vẫn còn tánh tham đắm thế gian, thì hình ảnh Ngài cũng chẳng làm cho họ thấy được.

 Tóm lại hiểu lầm niệm Phật toàn nhờ vào tha lực, phó thác Phật A Di Đà, điều này là sai, cũng như cho rằng tu Thiền chỉ có nhờ vào tự thân, tự lực cũng không đúng.

 Cả hai pháp tu đều nhờ tự lực của ta và tha lực của chư Phật.

 Vũ trụ mênh mông rộng lớn không thể nghĩ bàn, với một chúng sanh chưa đắc đạo, tất phải chao đảo theo chu kỳ của những kiếp sống sinh diệt không ngừng, và trong kiếp sống đó, đâu phải chỉ có cảnh hữu hình chúng ta. Bằng thiên nhãn, huệ nhãn và Phật nhãn, chư Phật, chư Bồ Tát đã chứng kiến biết bao thế giới vô hình, trong đó sướng có khổ có, đang vây bủa khắp vũ trụ không gian này. Cho nên lòng từ bi của quý Ngài, đã thể hiện che chở bằng mọi phương tiện cho chúng sanh, như thế ta mới còn tồn tại kiếp sống hi hữu làm người này; nếu không ta có thể là ma, là quỷ, là súc sanh, mang đủ dạng hình đau khổ, và đau khổ nhất là khó thể biết được đạo giải thoát.

 Như thế thật là đại nhân duyên, vô cùng hữu phước cho những ai tin được đạo giải thoát để được lực gia hộ của quý Ngài. Tất nhiên chư Phật, Bồ Tát không có phân biệt chúng sanh này chúng sanh khác, nhưng mỗi khi mất kiếp người rồi, sự cứu khổ đạt được cảnh người rất khó.

 Thiết nghĩ tu bất cứ pháp môn nào của Phật cũng đều sớm muộn được giải thoát, nhưng phải lấy giới, lấy từ bi trí huệ làm nền tảng mới không khỏi lạc đường sa đọa.

 Người tu Thiền là người lợi căn, chẳng những giúp được mình chóng đạt an lạc an định trong đời này, lại còn giúp được một số người trí thức, nhất là trí thức Tây Phương còn xa lạ với đạo giải thoát. Giúp họ thấy rằng pháp tu thiền chẳng những là phương pháp khoa học dưỡng thân, chữa bệnh, mà còn điều phục theo dõi được tâm là nơi trung ương gây ra phiền não trong đời sống.

 Người tu Thiền khéo léo khi hướng dẫn người Tây Phương không cần phải nhắc đến giáo lý Như Lai, đợi khi nào họ thực tập được kết quả chừng đó tự động họ sẽ tìm hiểu.

 Có thể bạn và tôi nghĩ, hướng dẫn người Tây Phương vào đạo giải thoát không một pháp tu nào qua được Thiền. Do vì xã hội Tây Phương sung mãn hưng thịnh vật chất, người ta thường nghiêng về duy vật; mặc dầu vẫn nghĩ đến tâm linh nhưng nếp sống văn hóa khó thể cãi lại được. Trong khi thiền định còn là phương pháp thực hành cụ thể như các môn học dưỡng sinh, thể thao khoa học, cho nên chẳng khó khăn gì giới thiệu với người Tây phương.

 Phần nữa cuộc sống quá thiên về vật chất, thường hay khích động, nên khi được dạy ngồi thiền dừng lại tâm dao động, khiến họ tìm được cảm giác an bình, từ đó sinh thích thú.

 Như vậy Thiền có thể nói là khởi đầu dẫn người Tây Phương vào đạo giải thoát, rồi tiếp theo là do đương sự tạo duyên nghiên tầm học hỏi kinh điển trước khi thực hành xa hơn bằng các pháp môn hợp căn cơ của họ.

 Với pháp tu niệm Phật đối với người Tây Phương, thật tình mà nói dễ bị ngộ nhận, vì họ xem như chỉ là cầu nguyện không thực tế; như thế chúng ta nên dè dặt giới thiệu. Bao giờ đương sự trải qua thời gian tìm hiểu kinh điển khá lâu, nhất là các kinh theo tư tưởng Đại Thừa, chừng ấy mới đề cập hướng dẫn họ; nhưng nếu cảm thấy họ không duyên, thì thôi chẳng có sao cả, sớm muộn tất cả cũng sẽ quay về con đường giác ngộ giải thoát mà thôi.

 Tóm lại Niệm Phật hay Thiền Định chỉ là những phương pháp thực tập khác nhau, dạy người học Phật hiểu biết đời sống vô thường có sinh tất có diệt, và việc cấp bách là phải được an tâm trong đời sống vô thường trước khi xả bỏ giả thân trở về tánh giác. Và cuối cùng người còn tâm quá chấp, quá phân biệt pháp tu, tất đã thực hành sai lời Phật dạy, như thế dù tu thiền hay niệm Phật cũng chẳng đạt được kết quả mong muốn. 

 

 

Tứ y 

Thưa bạn! Trước khi chúng ta có thể tạm ngưng cuộc chuyện trò nơi đây, và để kết thúc vài chuyện học Phật, thiết nghĩ cũng cần nêu ra vấn đề trọng tâm là việc nhìn lại những gì mình đã học.

 Vấn đề trọng yếu như vậy là trong giáo lý giải thoát còn đưa ra một pháp tu, nhắc nhỡ tế nhị người học Phật có sự nhận định cảm tri, khi phải đối diện vấn đề học và hành trong khi tu niệm, đó là Pháp tứ y; và pháp tu này đến đây sẽ là đề tài kết thúc buổi chuyện bàn cũng là vừa phải.

 Vậy mời bạn và tôi, chúng ta hãy tìm hiểu đề tài này trước khi tạm chia tay dừng chuyện.

 Tứ y: là bốn điều nương theo để ứng dụng tránh việc hiểu lầm sai lời Phật dạy. Bốn điều là: thứ nhất, nương theo pháp để học tuyệt đối không dính mắc nơi người. Thứ hai, nương theo nghĩa lý tuyệt đối không dính mắc nơi ngôn ngữ. Thứ ba, nương theo trí không theo thức phân biệt. Và thứ tư, nương theo kinh liễu nghĩa tức kinh theo tinh thần giải thoát rốt ráo, không theo kinh điển còn dính mắc nhị biên đối đãi.

 Trước hết xin thưa bạn, Đấng Đại Giác thật là Đấng từ bi, Ngài đã thấy rõ việc sẽ xảy ra thế nào cho tương lai, nhằm thức tỉnh tánh phàm phu hay ngộ nhận thiên vị, là điều chướng ngại học Phật cho nên mới ra đời pháp Tứ y.

Y pháp bất y nhân

 Khi La Hầu La được xuất gia theo Phật, Phật chẳng lấy tình thương theo thế gian như là một người cha để dạy con mình; kể cả chẳng lấy tình thầy trò bậc trưởng thượng, bậc thầy của nhân thiên để hướng dẫn La Hầu La học đạo. Không phải Ngài e ngại người đời hiểu lầm, Tăng đoàn dị nghị, rằng Thế Tôn còn thiên vị còn sâu nặng chuyện thế gian. Tuyệt đối là không, vì Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, bậc siêu việt tất cả, mà từ vua quan đến dân giả đều nghe biết, thậm chí các tôn giáo khác phải công nhận. Thế thì Ngài đâu có gì bận tâm khởi niệm các pháp sinh diệt thế gian. Từ khi còn là Bồ Tát Ngài đã có lập trường cương quyết, đeo đuổi chân lý giải thoát vượt qua bất cứ điều gì, huống gì ngày nay Ngài là vua trong muôn loài thì còn gì lo sợ.

 Vậy chỉ có một điều là Ngài dùng cách khai thị cho mọi người thấy, giáo lý Ngài tìm ra là một chân lý bất di bất dịch, để ai thực hành liễu tri, sẽ làm chủ chân lý này mà chẳng kể hoàn cảnh địa vị người thực hành ra sao, do đó Ngài giao La Hầu La cho Tôn giả Xá Lợi Phất.

 La Hầu La khi được học pháp giải thoát nơi tôn giả Xá Lợi Phất, vẫn có thể nương tựa đúng chánh pháp, đó là một cách hiểu thực tế Y Pháp bất y nhân. Đây là một hình ảnh đẹp, và đây nói lên giáo pháp giải thoát không phân biệt bất cứ một con người nào, miễn con người đó hiểu và hành theo giáo lý.

 Ngày nay chúng ta học Phật, không được thắng duyên nên khó tìm được Thánh tăng để vừa học được kinh pháp, vừa chứng kiến thân hành của vị bổn sư dạy đạo, ôi thật là một điều rất tiếc cho ta. Tuy vậy ta hãy nhìn lại giáo lý giải thoát, để làm tâm điểm vượt qua hàng rào chướng ngại theo tư duy định kiến hẹp hòi, mong tìm được pháp học nơi tâm.

 Y Pháp bất y nhân, còn cho ta cái nhìn tổng thể, tất cả chúng sanh đã và đang học Phật đều là con của Như Lai, tức đang làm sống dậy tánh giác bên trong, và tánh giác đó chỉ là một, chỉ có khác nó được chứa đựng trong nhiều hình thức của con người này sắc tộc kia.

 Nhưng bạn và tôi vẫn còn là phàm phu vẫn đang từng bước học Phật, vẫn chưa thể nhìn hết thảy pháp qua cái nhìn nhất thể tất cả duy tâm tạo. Vì không nhìn được nhất thể khó tránh phân biệt, khó sinh được tâm bình đẳng với mọi người.

 Học đạo giải thoát, ta phải tìm cho được một bậc chân nhân thật học thật tu. Ít ra người hướng đạo cho ta phải tối thiểu hình tướng oai nghi dung mạo tươi sáng, nếu không được, thì kiến thức Phật học phải là uyên thâm; đó là mong ước của người học Phật ngày nay.

 Nhưng giả sử, chẳng tìm được thì sao? Không lẽ giận buồn, không học không tu! Không tu vậy ai lỗ! Rốt cuộc ta cũng phải học! Bạn định cho là tự học phải không? Học một mình có lợi chứ, vì không ai gây ta phiền não, nhưng sẽ trở thành bất lợi đó! Vì trốn phiền não cho nên không hiểu rõ phiền não; và nếu bị phải đối phó với phiền não coi chừng phiền não lớn hơn.

 Tuy nhiên phiền não nguy hiểm nhất, không phải cái ta chạy trốn; mà chính là tự cao ngã mạn bên trong. Ta có thể móng tâm cho rằng tự học, chẳng cần tìm ai làm Thầy cho đáng. Ta thiết lập tự ngã hơn người quá cao, và cuối cùng đang sống trong vọng niệm, vọng thức, chẳng thấy được tất cả là nhứt thể, là nhân duyên hòa hợp. Kết quả như vậy đã rõ ràng không cần phải nói ra.

 Phật dạy y pháp bất y nhân, không phải đơn giản chỉ theo pháp bỏ người, hoặc là nhìn người theo tự ngã lầm tưởng là phương tiện tầm thường. Nếu người là phương tiện tầm thường theo cách nghĩ như vậy, thì pháp cũng vậy mà thôi. Tất cả chỉ là phương tiện.

 Không người dạy đạo ta chẳng có cơ hội biết pháp học pháp; và dù có pháp nhưng không người hướng dẫn, chưa chắc ta hiểu được phương tiện tu. Một quyển kinh quyển luận giải thoát để trong hộc tủ, hay cả trên bàn thờ, nó vẫn là một cuốn sách tầm thường không hơn không kém, nếu không có một vị Thầy chỉ dạy, hay một người nói lên giá trị của nó. Ngược lại cũng vậy, một vị tu sĩ chân thiện, trên tay không một cuốn kinh, miệng không nói một bài pháp, nhưng sự đi lại hành động của Thầy, sẽ lần hồi đưa bạn và tôi vào nơi kinh pháp, nơi tâm kinh tự chứng của mình.

 Bạn và tôi còn hiểu thêm, sự xuất hiện của Thế Tôn, là do chúng sanh phiền não, là do có đối tượng, có con người, vậy con người là chính nhân, và pháp chỉ là phương tiện mà thôi.

 Tất nhiên ta vẫn biết giá trị kinh pháp và ý nghĩa giải thoát phải đồng nhất tối thiểu với người tu Phật.

 Thế thì y pháp bất y nhân đương nhiên là nương tựa căn cứ theo giáo pháp giải thoát của Như Lai, chứ không phải đòi hỏi người giảng pháp phải sống y như pháp. Tuy nhiên nếu ta vượt qua sự phân biệt, thấy người hướng dẫn chỉ là người giúp ta hiểu rõ chân lý, chứ họ đâu phải là chân lý, điều này đã quá tốt, ta sẽ bỏ đi được phiền não, đi thẳng mục tiêu hướng đi tìm cầu giải thoát của mình.

 Nếu ta lại hiểu thêm, người đó cũng là một pháp để cho ta nhận định rõ hơn về đối tượng nhân duyên giải thoát; vì cũng chính nghịch đảo này mà Phật mới nói ra chánh pháp phá tan vô minh, và vô minh lại hiện lên nơi người đang dạy ta hay ta đang học. Như thế Y pháp bất y nhân, sẽ được hiểu hai mặt, người không hành, là do người chứ không do pháp; và một mặt người không hành cũng là pháp, để người học thấy rõ giáo pháp Như Lai phải được hành chứ chẳng phải nói.

 Y nghĩa bất y ngữ:

Bạn và tôi dư biết ngôn ngữ chỉ là công cụ phương tiện chuyển tải tâm tư, tư tưởng, mà cứu cánh mục đích làm sao để mưu sinh tồn tại đưa con người ngồi gần lại nhau. Rồi từ đó, ngôn ngữ được hiện đại hóa phù hợp theo trào lưu tư tưởng của mỗi thời đại. Tỉ dụ thực tế ngôn ngữ Trung Hoa ngày xưa từ chữ viết đến âm vận phức tạp, nhưng sau đã được thống nhất, giản lược, để người ta có thể mau hiểu, có thể viết gọn, và nhất là phổ cập quần chúng rộng rãi hơn. Như trên thế giới dù có đến mấy ngàn ngôn ngữ tiếng nói khác nhau, nhưng mục tiêu chỉ là làm sao diễn tả tâm tư đời sống của con người. Cho nên nguyên thủy, nguyên bản của con người là tâm, là ý, và do vậy bất cứ người nào cũng có thể học được ít nhất một ngôn ngữ khác, nếu thật tâm thật ý muốn học.

 Việc học Phật chẳng khác một chút nào; học Phật là học tâm, học ý; vậy bạn có học Phật qua hành động, ngôn từ, hay hình ảnh nào đi nữa, cũng chỉ học điều phục cái tâm không còn phiền não.

 Ngày xưa đức Phật còn tại thế có lẽ Ngài dùng tâm để nói nhiều hơn là dùng ngôn từ, và vì tâm Phật thanh tịnh tuyệt đối, nên người nghe cảm nhận hiểu ngay. Nói bằng tâm, là nói bằng việc làm và hành động chứ không phải văn tự ngôn ngữ; tuy nhiên có những chúng sanh buộc phải dùng ngôn từ. Chẳng hạn các nhà trí thức, các vị học giả với tâm phân biệt, tâm hướng ngoại cố chấp; bấy giờ Phật phải dùng ngôn từ thuận theo sự ham biết của họ. Tất nhiên ngôn từ này, không thể làm cho giai cấp cùng đinh là hàng người hạ tiện khốn khổ nhất có thể hiểu được. Rồi đến ngay các đệ tử xuất gia của Như Lai, thì ngôn từ của Thế Tôn lại có phần khác hơn nữa. Cuối cùng ngay trong hàng Thánh chúng giữa Thanh Văn và Bồ Tát, tức là hàng còn chấp pháp và hàng đã vượt lên khỏi ý niệm ngã pháp, Như Lai lại dùng ngôn từ văn ngữ khác hơn.

 Lấy thực tế trong bối cảnh hiện đại ngày nay, sẽ thấy vấn đề rõ hơn về ý nghĩa giải thoát không phải vin theo văn ngữ. Đó là kinh Phật hiện giờ đã được lưu thông dịch ra nhiều ngôn ngữ; nếu không phải thế, thì lời Phật dạy được ghi lại bằng Phạn ngữ ngày xưa, sẽ không thể chuyển thành văn ngữ Trung Hoa, Tây Tạng, Nhật Bản, Tích Lan, Miến Điện, Đại Hàn, Việt Nam v.v... Và hơn thế nữa là dù được dịch ra thế nào cũng chẳng có người chứng đắc!

 Nhưng rồi thưa bạn cũng là phương tiện, cũng chỉ nói lên Y nghĩa bất y ngữ. Ngữ là ngôn ngữ Như Lai phải xử dụng trong hoàn cảnh và ngữ cảnh, tâm cảnh của từng hạng người; nhưng Nghĩa lại chỉ có một, là làm sao đưa tất cả ra ngoài ba cõi đạt đến giải thoát hoàn toàn. Đương nhiên ra ngoài ba cõi lâu hay mau, là do trình độ của người học Phật, đức Phật chỉ có phương tiện chuyển tâm thành ngữ.

 Từ ý này ta lại suy ra, Tâm là quan trọng để chuyển thành lời; Phật thanh tịnh tâm nên Ngài hiện ra sinh hoạt oai nghi tự tại để diễn ý cho chúng sanh, còn người chưa chứng đạo phải dùng đủ thứ ngôn từ, mà người ta chưa chắc đã hiểu. Đôi khi càng dùng nhiều văn tự, càng bị kẹt quá đà, đi xa thực tại; nhưng cũng khổ, vì không vay mượn ngôn từ tỏ bày cho rõ, cho nhiều, làm sao người ta hiểu được! Đó mới thấy tại ta thiếu dụng công tu hành, thiếu công phu thiền định, nên không thể dùng tâm nói được, đành phải mượn dùng ngôn từ văn ngữ vậy.

 Thời nay người học Phật như chúng ta nhất định phải dùng tâm cầu học, và còn thanh tịnh nữa mới hiểu được nghĩa, mới quên được lời; nếu không ta chẳng hiểu được nghĩa, lại vin vào văn tự, sinh ra phân biệt, trở thành học Phật bằng tính hiếu kỳ nghi ngờ chánh pháp.

 Trí giả Huệ Năng khi xưa cầu tìm chánh pháp, đón nhận dễ dàng thâm ý nghĩa lý của Tổ sư Hoằng Nhẫn, mà quên đi ngôn từ khinh khi thử thách ban đầu của Ngũ Tổ, đó là nhờ tâm cầu đạo thanh tịnh; nếu đổi lại phàm phu chúng ta, bằng tâm ô nhiễm làm sao nhận ra được tâm ý của Hoằng Nhẫn tổ sư.

 Ngày nay chúng ta nghe pháp đọc kinh, đã không đạt được nghĩa, lại còn muốn lược bớt câu văn; đâu ngờ câu văn trùng lập là để chuyển tải thâm lý nhiệm mầu mà kết quả chỉ thấy được bằng tâm đọc tụng thanh tịnh kiên nhẫn mới mong đắc tâm thấy pháp.

 Đại sư Huyền Trang, vị Thánh tăng lưu danh thỉnh kinh phiên dịch Phật điển, đã tôn trọng kinh pháp, trung thành với nguyên bản mà không dám lược giản, đó cũng là mong giữ gìn thâm nghĩa sâu xa trong đó; chúng ta há đã hơn Ngài sao? Tóm lại Y nghĩa bất y ngữ cảnh tỉnh người học Phật rằng nghĩa lý thâm sâu giải thoát của Như Lai chỉ mượn bằng hình ảnh pháp trần qua bóng dáng ngôn ngữ, chứ không phải văn từ thế gian có thể chứa đựng được. Người học Phật hiểu ý này nên tránh chấp vào văn tự, tránh hý luận văn chương mà phí đi một đời học Phật.

Y trí bất y thức:

 Trí thức của thế gian được đánh giá bằng kiến thức hiểu biết trường lớp, học vị, cũng như khả năng ngoại hạng, phi thường được gọi là thần đồng hay thiên tài dị nhân xuất chúng. Kiến thức được đào tạo học hành còn có thể được bình phẩm nhận xét, nhưng kiến thức tự nhiên như thần đồng, thì thật là một chuyện vượt ra ngoài kiến thức thế gian. Tuy vậy kiến thức tự nhiên không học hay học rất ít mà biết, chẳng ngoài cái biết đối đãi thông thường thế gian, như là kiến thức văn chương hay khoa học.

 Tất nhiên nơi đây bạn và tôi sẽ nhận định vấn đề này theo giáo lý giải thoát của Như Lai. Với cả hai loại kiến thức vừa nêu chỉ là vấn đề hiểu biết theo nhân nghiệp chúng sanh hiện tại và quá khứ. Nhân nghiệp hiện tại, là việc học trong đời này tạo ra kiến thức hiểu biết, và nhân nghiệp quá khứ là việc học trong tiền kiếp sanh ra đời này được thông minh xuất chúng. Nhưng kiến thức thế gian chung cuộc vẫn không hài lòng với cuộc sống mong ước của nhân sinh, là hòa bình toàn diện, mang lại hạnh phúc yên vui.

 Tất nhiên trả lời vấn đề này đã quá rõ ràng, mà bạn và tôi đã chuyện bàn qua cũng khá nhiều từ bắt đầu vào chuyện đến nay. Vấn đề chỉ là do con người chưa tìm được nguyên lý nhân sinh là khổ, và khổ là nhân tham, sân, si ái mà ra; đành phải nói rằng kiến thức thế gian sẽ chẳng giải quyết được gì ngoài cơm áo, cũng như tiện nghi hưởng thụ vật chất, nhưng chẳng thể giải quyết được chiến tranh, bạo động đã và đang tiếp diễn.

 Thưa bạn chúng ta đã chuyện bàn đến đây, đã hiểu được một đoạn đường Phật học, nên đâu còn gì chẳng nói thật, nên không có gì gọi là bi quan, hay yếm thế, để xác nhận rằng, kiến thức bao giờ cũng là kiến thức phân biệt mà thôi! Chỉ có kiến thức Phật học, rồi thực hành tu học giới định, mới phát huy được kiến thức không phân biệt gọi là trí huệ vượt khỏi thế gian.

 Như vậy kinh dạy Y trí bất y thức, rõ ràng cho người học Phật thấy, không thể dùng kiến thức phân biệt của thế gian mà tìm vào được chánh pháp. Nhưng kiến thức thế gian vẫn là phương tiện hữu hiệu giúp người học Phật sưu tầm giáo điển trước khi kết duyên tu hành đạt trí vô phân biệt. Chẳng hạn chư đệ tử của Phật, những vị công tôn vương tử đều là những người có trí thức cao thời bấy giờ, cũng như những vị luận gia nổi tiếng, các vị này sau khi xuất gia, đã tiếp thu giáo lý Như Lai, và sớm đạt thành Thánh quả dễ hơn chư đệ tử khác. Tuy nhiên vẫn không tránh được trường hợp ngược lại, bị kiến thức thế gian ngăn chặn con đường giải thoát. Và đây chính là vấn đề mà bạn và tôi đang tìm hiểu.

 Sở dĩ ta không thể dùng thức để tìm hiểu giáo lý nhà Phật, hay để tư duy thực hành, điều đó đã quá rõ ràng vì thức là hiểu biết phân biệt. Nó là một trong ngũ ấm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức hình thành tạo nên thân thể này; sự hình thành đó kết mắc nối duyên với nhau, cho nên sự hiểu biết phân biệt của kiến thức con người hoàn toàn ảnh hưởng xuất phát không ra ngoài cảm thọ y báo và chánh báo của chúng. Bạn và tôi chắc hẳn còn nhớ, Chánh báo là con người, Y báo là hoàn cảnh sống của con người. Như vậy bằng tư duy bằng hiểu biết, theo cảm thọ để lưu xuất sự hiểu biết chẳng ngoài tánh nghiệp của một phàm nhân, đã và đang chịu quả báo vui buồn đau khổ ở thế gian. Trong khi đó pháp học giải thoát mệnh danh là lội ngược dòng đời, không chìu theo dục vọng ham muốn thế gian, vậy thì làm sao dùng cái thức ô nhiễm phân biệt kia để hiểu được Phật đạo!

 Người ta có thể là một tiến sĩ văn chương, cả đến tiến sĩ khoa học chẳng hạn, nhưng người ta vẫn không thể nào hiểu được Phật học nếu chưa bao giờ lưu tâm để ý. Phật học là một môn học dù không khó, nhưng cũng không phải dễ, nếu không muốn nói là khó vô cùng, vì nếu học cho đến tiến sĩ Phật học mà không hành cũng vẫn chưa gọi là hiểu bởi kết quả vẫn là luân hồi. Như vậy thì làm sao người không biết đạo Phật, có thể hiểu được giáo lý Như Lai; thế là kiến thức tiến sĩ văn chương hay khoa học, đó chỉ là dành cho thế gian, chứ đối với pháp giải thoát có gì để nói! Và ngược lại, nếu để tâm học hỏi suy niệm thì kiến thức kia lại là phương tiện trợ duyên đắc lực nhất, để đạt được trí huệ giải thoát.

 Phật dạy phải nương theo trí, trí đây cũng là kiến thức hiểu biết, nhưng nó khác kiến thức thế gian là không thuận theo tánh tham sân si, tánh còn phân biệt tưởng rằng ngã và pháp là có thật. Trí đó là nhìn các pháp trong một sự hiểu biết do duyên sinh duyên khởi, chứ không thật có; và con người này là một vòng mắc xích quay mãi tít mù theo mười hai nhân duyên, mà bạn và tôi đã chuyện bàn qua. Trí đó đúng là trí mà Ngài Xá Lợi Phất tình cờ được nghe lần đầu tiên trong đời của Ngài khi gặp Tôn Giả A Thị Thuyết và rồi chợt nhận ra xưa nay sự uyên bác học thức của Ngài chỉ là đối đãi phân biệt theo tánh nghiệp si mê của thế gian mà thôi. Do đó hiểu được rồi Ngài đã trở thành bậc đại Thánh trí huệ bậc nhất của Như Lai.

 Thưa bạn đó là lý do không nên dùng thức phân biệt, hay cũng gọi là tâm phân biệt mà tìm hiểu giáo lý giải thoát. Nếu ta dùng tâm ô nhiễm phân biệt, thì giáo lý giải thoát cũng được ta hiểu theo tâm lượng hẹp hòi của ta, như thế làm sao ta có thể khiến người hiểu được mình! Cuối cùng việc học Phật mà dùng thức biết phân biệt như vậy, chẳng khác gì học hỏi theo tánh nghiệp tham sân si, và chẳng bao giờ nhận thấy các pháp như thật.

 Nhưng bạn và tôi lại biết, khi đạt được thật trí vô phân biệt, bấy giờ cả đến cái trí không phân biệt cũng không còn, vì nếu còn nếu có, vẫn là vô thường là hữu lậu, không thể tuyệt đối giải thoát được. Đó là trình độ của chư Bồ Tát lớn, đã đi gần đến quả Phật. Nhìn lại chúng ta, chỉ xin mong rằng bỏ bớt tâm phân biệt để bớt đi phiền não, rồi mong dần tiến đến thật trí vô phân biệt vậy.

 Y liễu nghĩa kinh, bất y bất liễu nghĩa Kinh.

 Kinh liễu nghĩa là kinh diễn đúng điều Như Lai nói, kinh vạch ra sự giải thoát tuyệt đối, kinh nói lên sự thật trên sự thật, và kinh nói vượt lên lời kinh nói, tức là kinh vô năng thuyết không thể nghĩ bàn, rốt ráo tuyệt đối đưa người đạt đến chứng quả giải thoát.

 Cần hiểu như thế chúng ta mới hiểu chân kinh giải thoát của Như Lai phải được xiển dương, phải đươc trì tụng. Và hiểu như thế ta sẽ không bị rơi vào việc trì tụng kinh Như Lai để thành chẳng hiểu Như Lai tức không đạt được giải thoát. Tuy nhiên đại khái bạn và tôi cũng phải tìm hiểu thế nào về kinh không liễu nghĩa.

 Kinh không liễu nghĩa tất cũng là kinh, cũng là lời Phật dạy, chứ không phải là tà kinh, tà pháp, nhưng trên tinh thần giải thoát cứu độ chúng sanh, kinh không liễu nghĩa chỉ là phước báo hữu lậu gieo duyên nhân thiên còn trong ba cõi mà thôi. Dù vậy trên đường học Phật, căn bản trước tiên phải học hiểu nhân quả, phải trồng duyên làm thiện gieo phước, rồi sau đó từng bước thể nhập đi vào kinh liễu nghĩa. Nếu không như vậy, đừng nói là người học Phật tại gia, mà chính người xuất gia, mang tiếng là hành trì tụng kinh liễu nghĩa, nhưng trên thực tế vẫn rơi vào quả báo nhân thiên, vẫn chưa thể hành trì đúng như kinh liễu nghĩa.

 Thật ra đã là lời Như Lai, Đấng Đại Giác nói ra, kinh nào cũng là liễu nghĩa, vì một người đã liễu nghĩa nhân quả, sinh tử là khổ, Niết Bàn là an vui, tất nhiên họ sẽ đạt đến giải thoát trong tương lai. Nhưng một điều, học kinh là để đạt đến giải thoát, ngoài mục đích giải thoát, không còn nói kinh liễu nghĩa hay không liễu nghĩa gì cả, bởi nói cũng bằng thừa. Vì ngay cái liễu nghĩa cũng là giả danh, giả thuyết, chỉ tạm phân biệt cái ngược lại mà thôi. Thế thì ta phải hiểu tất cả kinh Phật, đều khiến người phát được tâm bồ đề là tâm làm Phật, tâm cứu độ chúng sanh; nếu không như vậy đó là kinh bất liễu nghĩa, kinh chỉ hướng dẫn cho mình mà không hướng đến tha nhân, mà ta đặt cho là kinh tiểu thừa, tức chiếc xe nhỏ chỉ chở được một người, không thể chở nhiều người, như chiếc xe lớn gọi là đại thừa vậy. Nhưng gọi là xe lớn mà không chở người, thì cũng chẳng khác xe nhỏ, thành ra gọi đại thừa cũng là sáo ngữ.

 Xe thật đúng nghĩa của xe, là xe có thể đón nhận chở được tất cả chúng sanh, chở luôn cả hai hạng người tu Đại thừa và Tiểu thừa; là xe Nhất thừa xe không còn phân biệt bao hết tất cả chúng sanh cho đến hàng Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, xe đó mới là xe Phật, xe mà chẳng phải xe mới là xe.

 Học Phật ngày nay như chúng ta, đã cách xa hơn hai ngàn năm từ thời đức Phật, nên sự ngộ nhận thắc mắc về kinh điển, cũng không gì đáng trách, nhưng may mắn và thắng duyên là vẫn còn rất nhiều người chứng đạo kể từ khi kinh điển được lưu truyền ứng dụng từ thời tượng pháp đến nay. Điều này minh chứng cho thấy, kinh Phật vẫn là chân pháp, mà thế gian không thể trước tác chế đặt ra được; tuy nhiên lời Phật được ghi lại sau khi Ngài tịch hơn vài trăm năm, do đó không thể tránh được việc diễn ý họa lời; tuy nhiên ta vẫn thấy ý kinh nội dung chỉ là nhất quán. Vẫn phải giữ giới tu định, trừ diệt tham, sân, si, mạn, nghi là năm độn sử kết tập từ vô thỉ kiếp đến nay, đó là nền tảng không thể sai khác. Vậy thì trước sau từ lúc còn Phật, cho đến ngày nay nội dung Phật dạy chẳng có gì sai; như thế điều diễn tả trong kinh cũng chỉ là những lời chư Thánh đại Tăng đã sám hối mà nêu rõ nghĩa lý Phật dạy, điều đó cũng là thâm ý Phật mà ra. Rõ ràng cụ thể nhất là xưa nay bất cứ chư Thánh Tăng nào khi chứng đạo, rồi tuyên thuyết chánh pháp, đều vẫn nương vào lời dạy của Thế Tôn, chứ các Ngài chưa bao giờ bảo mình hiểu chánh Pháp ngoài lời Thế Tôn dạy. Cho nên nhà Phật thường nghe câu: Y kinh diễn nghĩa tam thế Phật oan, ly kinh nhứt tự tức đồng ma thuyết. Có nghĩa, bám víu sát nghĩa kinh điển mà giảng điều này là nói oan cho ba đời chư Phật, nhưng lại lìa kinh dù một chữ thì chẳng khác gì lời ma nói.

 Vì sao? Vì như bạn và tôi hiểu, cũng đã bàn qua; Phật diễn pháp giải thoát tùy theo hoàn cảnh, căn tánh của chúng sanh, như trong năm hạng cầu học: Nhân, Thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát; Phật phải diễn nói phương tiện khác nhau; và dù trăm sông cũng chảy xuôi ra biển, nhưng không thể lấy pháp Bồ Tát, Duyên Giác mà dạy cho hàng sơ cơ vừa thọ trì năm giới. Cũng như không thể thuyết giảng Trì giới là huyễn không, cho người mới bước chân vào nhân thừa tu phước.

 Như thế pháp là tùy người khởi, duyên là tùy theo căn tánh của mỗi người, chứ không thể cố chấp đặt định, bắt tất cả mọi trình độ căn tánh phải y như người liễu đạo. Thế thì nói theo lời Phật nói, mà không hiểu Phật nói trong nhân duyên nào, hoàn cảnh chi, như vậy có phải nói oan cho Phật không! Nhất là thời nay thời nguyên tử, thế kỷ 21, nếu bắt buộc cố định vào lời Phật mà chấp hành, thì quả càng oan cho ba đời chư Phật nữa.

 Riêng việc ly kinh nhứt tự tức đồng ma thuyết, đây quả tuyệt đối là vậy, bởi vì tôi và bạn có biết gì mà nói, mà thuyết, nếu thế gian này không có Phật! Không có Phật thì đúng là ma nói chứ còn gì! Cho nên không thể lìa khỏi chân lý giải thoát của Như Lai; nếu không chúng ta lại quên mất, tất cả ngôn ngữ kiến thức thế gian đều là vọng niệm phân biệt có gì chân thật. Thế thì mặc dù câu nói đầu, không nên y bám vào kinh, sẽ oan cho Phật nhưng câu sau cảnh tỉnh cho ta, chớ dùng kiến thức phàm phu mà lìa trí vô phân biệt là tánh giác, tức chân kinh của Như Lai, điều này lại càng sai chánh pháp. Cho nên nhất định không được lìa kinh dù là một chữ; một chữ đây là chữ tâm chữ trí, chữ Phật, chữ không chấp, không dính, không lìa xa tánh giác vậy.

 Tóm lại chúng ta đã hiểu thế nào là kinh liễu nghĩa, và không liễu nghĩa. Điều này căn bản giúp người vào đạo phân biệt được việc học Phật phải hướng đến giải thoát là cứu cánh, là liễu nghĩa của Như Lai, để rồi sẽ không còn phân biệt trong phân biệt.

 Thưa bạn, vậy chúng ta đã tạm xong phần tứ y, phần quan trọng có thể tóm lược, kết ý lại chuyện học Phật của chúng ta. Vì đây là vấn đề nhìn lại việc học và pháp học chính mình, cũng như đối tượng nhân duyên tiếp xúc. Như thế mọi sự tác động chung quanh với người học Phật, cần phải hiểu rằng tất cả là những pháp duyên mang nhiều hình thức, hoặc thuận hoặc nghịch, nhưng thế nào cũng đều giúp ta liễu tri được con đường chánh pháp hiện ta đã và đang đi. Như thế pháp Tứ Y là pháp mà người học Phật cần phải quán sát nhiều hơn để sinh ra năng lực phát sanh trí tuệ nơi tâm.

 

Đôi lời tạm biệt 

Thưa bạn vài chuyện học Phật đến đây tạm có thể kết thúc, đó cũng là một số món ăn tinh thần như ban đầu đã giới thiệu cùng bạn. Tất nhiên chỉ là một vài món căn bản, trước khi bạn và tôi tự tìm hiểu thêm, hay tự có thể tạo ra phương pháp, phương tiện để đời sống chúng ta được quân bình, được trong sáng hơn.

 Tôi thật không dám hẹn trước, khi nào chúng ta có duyên một lần nữa mạn đàm thêm vài chuyện cho vui. Thật ra chúng ta phải nghiêm chỉnh, nào đâu dám mượn việc học Phật mà chuyện trò, có chăng chỉ vì ham thích giáo lý Như Lai thôi!

 Ngày xưa người vui với đạo giải thoát, nhìn mọi người mọi cảnh đều tỏa ra hương thơm giải thoát, điều đó chứng tỏ định lực tu trì của người xưa đã thâm sâu; chúng ta ngày nay học Phật chưa thể hòa đồng cảnh tâm cùng một, cũng là do công phu nội lực không bằng. Bù lại chúng ta mượn vui qua ngôn ngữ qua mạn đàm trà đạo, chia xẻ ưu tư học Phật trong thế giới cực kỳ thịnh đạt vật chất ngày nay, đó vẫn là lực dụng thầm nhắc còn giữ được tâm thiết tha hướng cầu giải thoát.

 Ít ra chúng ta cũng thực hiện được phần nào, là đệ tử Phật phải thường xuyên nhắc nhở bàn bạc thảo luận về pháp giải thoát về việc tu học với nhau. Biết rằng chỉ là thảo luận chuyện bàn, nhưng đó vẫn là chất liệu chánh pháp được ươm dần trong tâm niệm chúng ta.

 Bạn và tôi hãy xem, sinh hoạt đời sống thế gian cứ mãi đà quay như chong chóng, thoáng qua đã chóng già, già rồi chuẩn bị chết, chết rồi nối tiếp một đời sau không chủ đích. Khi bạn và tôi gặp một người già tuổi trên bảy mươi hay đã tám mươi, nếu các vị này trông còn khoẻ mạnh thì chẳng nói chi, nhưng nếu thân thể lão suy, đi đứng không còn tự tại, thì hình ảnh gì hiện lên trong tâm bạn và tôi? Bấy giờ sự thật không thể chối cãi, không thể không buồn, đó là hình ảnh ngày chết hiện lên thật rõ. Điều đó là gì, nếu không phải là một vở kịch thế gian sắp sửa kéo màn, để chọn vai khác!

 Tưởng rằng học Phật là những luận kinh thậm thâm uyên áo trong thuyết Duyên Sinh, Tánh Không, Bát Nhã, nào ngờ thực tế là việc tử sinh. Việc hiện thân hư hoại thực tế trước mắt mọi người, mà ta xem thường chẳng học. Bạn và tôi dư biết Bồ Tát Tất Đạt Đa đã thấy gì trước khi phát tâm tìm đạo? Có phải là việc sinh lão bệnh tử chăng? Nếu chúng ta thấy một đứa bé mới sinh, điều đó nói lên một hình ảnh, một bóng hình già nua vừa mất! Nếu chúng ta cảm nhận thấy mình trưởng thành hiểu biết, điều đó có khác gì làm sống lại một cuộc luân hồi!

 Suy ra tất cả hiểu biết của ta hôm nay, chỉ là cuộc hành trình từ kiếp quá khứ diễn đi diễn lại. Ta có thể cho rằng văn minh ngày nay là hiện đại tân kỳ, mà thời cổ xưa không có được, điều đó vẫn đúng; vì có thể là khởi một hình ảnh mới trong chu kỳ tại hành tinh này; nhưng ta nào biết các hành tinh đang hiện hữu khắp nơi trong vũ trụ, lại nhìn văn minh chúng ta chỉ là một hình ảnh củ trong chu kỳ văn minh của họ. Và hơn nữa sự đi lại của thần thức trong những thế giới, chỉ là việc bình thường như du lịch thế gian mà thôi; như thế họ nào khác với ta vẫn trong luân hồi dục giới. Bao giờ văn minh con người chinh phục được tâm, chinh phục được ngã, chừng ấy mới vượt ra khỏi chu kỳ lập đi lập lại, và chừng ấy mới thật là nền văn minh mang đến an lành hạnh phúc bất diệt của Như Lai.

 Thật ra việc học Phật là một thực tế chẳng phải dài dòng, chẳng phải xa xôi tìm kiếm, vì tất cả những hình ảnh vật thể vô thường, con người sinh tử, hiện rõ mồn một trước mặt chúng ta; nhưng vì tình ái luân hồi của nhiều kiếp quá sâu, và thiện duyên tu đạo quá ít, nên đời nay nhìn vật nhìn người vẫn còn mến ưa chứ không nhàm chán.

 Ngày nay chuyện bàn, ý thức được như vậy, bạn và tôi phải hiểu rằng chúng ta đã có khá nhiều thiện duyên, phải nên mừng cho mình đang còn sống trong chánh pháp, đó là chánh pháp tự tâm. Chính pháp tự tâm mới là thật pháp, vì hướng đến giác ngộ thành đạo là do tâm, chứ không thể do bên ngoài tìm được. Tuy nhiên muốn giữ được tâm sống hoài với chánh pháp, ta phải tự tạo hoàn cảnh thuận theo tâm giác ngộ của mình.

 Bạn và tôi những người đang trên đường học Phật, phải biết lấy nhân duyên thù thắng này, phải luôn nhắc nhở nhau, để người này quỵ ngã có người kia nâng đỡ. Không có duyên với nhau ta không thể gặp nhau được; nhưng duyên gặp người học Phật còn khó gặp hơn nữa. Bạn đừng cho rằng điều đó là tự nhiên! Thưa, không như vậy đâu, nếu lúc này giờ đây bạn và tôi hài lòng thỏa mãn với những gì đã học, và ngừng lại chuyên cần tinh tấn, thì nhân giác ngộ sẽ thành trì trệ. Ngược lại nếu tiếp tục tìm hiểu thì nhân giác ngộ sẽ được khởi đi; như vậy sự việc xảy ra chung quanh sẽ thuận theo duyên tiếp diễn, cho đến thành nhân đầy đủ, đó là lúc thực hành tu đạo không mấy khó khăn.

 Người học Phật ngày nay như muốn giữ tâm Phật, thiết nghĩ không gì hơn qua việc trì niệm kinh văn thường xuyên. Ngày nào còn đọc tụng kinh văn, ngày đó bạn còn được sự gia trì của chư hộ pháp. Vì chẳng ngạc nhiên gì, do kinh văn là lời giải thoát của đấng Đại giác Thế Tôn, cho nên chư thiện thần nghe được lại không kính ngưỡng sao! Và chúng ta là người trì tụng chẳng lẽ thiện thần chẳng đoái hoài nhìn ngó. Tất nhiên ta vẫn hiểu, người trì tụng phải với lòng kính mộ, phải sống ít ra như một đệ tử của Thế Tôn, là không mê tín, không dị đoan không xu hướng thần quyền huyễn hoặc. Như vậy thiện thần mới nghe được lời kinh đọc ra từ tâm tha thiết học hiểu của ta, bằng không thiện thần chẳng nghe gì được.

 Nếu bạn nghĩ kinh là tâm, tâm kinh mới đúng lời Phật dạy, nên tụng hay không chẳng sao, miễn tâm thanh tịnh là được. Vâng thật đúng, nhưng liệu ta có sống được như tâm kinh, bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, như là Bát Nhã Tâm Kinh chăng? Nhưng nếu ta có sống được như tâm kinh Bát Nhã đi nữa, thì việc trì tụng kinh lại càng tăng thêm công đức, đó là công đức biết mà không chấp, biết mà vẫn làm, để tạo hình ảnh phương tiện tác động giúp người khác thực hành trì tụng theo. Công đức này mới thật cao thâm; mới chung thủy với ý của Kinh Kim Cang, là được mà không cho mình được, như vậy tương lai mới đạt thành được!

 Thật ra chuyện bạn và tôi học Phật, có tiếp tục dài hơn nữa cũng chẳng nói gì khác hơn, là hy hữu giáo lý giải thoát vẫn còn ở thế gian, hy hữu bạn và tôi đã có duyên gặp được, và hy hữu hơn nếu gặp được mà tin và thực hành tu học. Đó là cốt yếu của vấn đề học Phật chúng ta. Như thế vấn đề còn lại và những chuyện mà tôi hẹn gặp lại bạn cũng chỉ nhắc nhau vững tâm bồ đề hơn thôi.

 Thôi thì trước khi dứt lời, tôi xin được chúc bạn, bao giờ bạn chưa rời khỏi thế gian này, bạn sẽ là hình ảnh thiện trí thức, sống theo lời Phật dạy và khi xả báo thân sẽ được sanh về đất Thánh, và từ đất Thánh bạn sẽ tùy nguyện trở lại hiện ra phương tiện cứu độ chúng sanh.

 Vài lời đến đây, xin được chấm dứt, nguyện mong tất cả chúng sanh trước sau tùy theo duyên nghiệp đều sanh về Tịnh Độ 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

 

Thích Phổ Huân

22/11/2005

 

 

---o0o---

 

Mục Lục > Phần 1 > Phần 2 > Phần 3 > Phần 4

 

---o0o---

 

Vi tính: Giác Anh - Nguyên Thanh
Trình bày: Phổ Trí

Cập nhật: 01-05-2006


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục Nếp Sống Đạo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544