Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

Vài Chuyện

Bạn và Tôi học Phật

 

Thích Phổ Huân

 

---o0o---

 

Sống chết theo thế gian và xuất thế gian

 

Thưa bạn, lại một chuyện tế nhị nữa rồi!

 Nhưng làm sao hơn, bởi đó là sự thật, sự thật con người sanh ra rồi chết đi, chết đi rồi sanh lại. Sự thật này bạn và tôi dư biết. Dư biết nhưng chưa chắc đã biết! Có khi biết đã muộn, hay chỉ biết có người chết, chứ mình thì chưa chết, nên chưa biết vậy!

 Trong đạo Phật, Phật giáo Tây Tạng rất thực tế vấn đề chết sống này; cho nên hầu như sách luận viết về Phật pháp các vị Đại sư nào cũng đều đề cập đến việc chết. Đề cập nhiều đến nổi Chết gần như là một pháp môn; pháp môn chuẩn bị cho con đường tái sanh, hay cho con đường vãng sanh vào đất Thánh.

 Phật giáo Trung Hoa, Việt Nam, Tích Lan, Thái Lan, Nhật Bổn cũng đề cập nhưng không nhiều, nếu có chỉ nhắc đến bằng cách hồi hướng nguyện đời sau, hay hãy thực tập đời này để có đời sau tốt hơn. Đó là cách tế nhị nói về cái chết, hay nói đúng hơn tế nhị này là phương tiện cho người sơ cơ vào đạo.

 Nhưng thưa bạn, thế nào đi nữa việc tế nhị này cũng phải bàn đến, và thay vì nói sanh tử, ta lại nói sống chết cũng vậy thôi.

 Bây giờ ta hãy bàn về quan niệm sống chết của thế gian trước, rồi sau sẽ đến xuất thế gian, tức là quan niệm theo giáo lý nhà Phật.

 Thế gian rất ngại và kiêng kỵ nhắc đến vấn đề sống chết, bởi nó đau thương quá; nó làm con người phải ngừng lại cuộc vui đang hưởng; nó tang tóc chia ly và tàn nhẫn nữa; nhất là khi người ra đi còn quá trẻ, còn đầy nhiệt huyết. Cho nên không ai thích nhắc đến nó, kể cả việc nó sắp đến trên thân thể một người bệnh đang chờ giờ ra đi. Sự thật này đâu phải bây giờ, mà từ xưa đến nay, từ khi con người biết ý thức xa nhau là đau khổ. Rồi vì quá sợ, người ta còn nghĩ ra đặt cho nó nhiều tên, để bớt gọi thẳng từ ngữ “chết” được chừng nào tốt chừng ấy; như là qua đời, khuất bóng, quá vãng, ra đi, nhắm mắt, lìa trần v.v... Lại theo niềm tin phong tục tập quán vài nơi, người ta còn sợ người chết trở về kéo lôi người sống đi theo nữa. Như thế bất kể thế nào, không ai lại không sợ chết, vì đó là một sự đau đớn một sự chia ly, không bao giờ gặp lại. Cho nên có người dù thật già, dư biết mình sắp chết cũng không muốn tin là mình sắp chết, chỉ muốn chết khi không còn cách nào cứu chữa, hay phải thấy hài lòng một cái gì để lại, và giải quyết được cái gì. Nhưng thưa bạn làm gì được hài lòng, làm gì giải quyết hết được những gì mình muốn; vì đó là tánh tham sống hưởng lạc chẳng bao giờ thấy đủ của con người.

 Tuy thế vẫn có trường hợp người ta thật sự muốn chết, muốn một cách tha thiết, đến nổi van xin; đó là lúc bệnh nặng hành hạ thân xác, đau đớn không còn chịu đựng được. Nhưng nếu cơn bệnh thuyên giảm có phần hồi phục, thì lập tức ý nghĩ muốn sống bắt đầu trở lại và không còn muốn chết nữa.

 Xét cho cùng trong mọi tình huống, chia ly chết chóc là một biến cố lớn nhất trong đời sống thế gian; bởi vì thế gian là đối tượng của ý thức sống từ khi một chúng sanh ra đời, và ý thức rằng mình đang hiện hữu. Nên khi chết đi là biệt ly thế gian, mất đi tất cả, như thế ai không sợ. Thường chúng ta tưởng người già hiếm khi sợ chết, điều này chưa chắc, nếu người già này con cái đầy đủ, của cải thật nhiều; như vậy sự chết đi có nghĩa là vĩnh viễn không còn sum vầy hưởng thụ được nữa. Do nghĩ như thế dù già thế nào họ vẫn ham sống. Việc này cũng chẳng lạ, vì già trẻ đều tham muốn, sân, si như nhau, có khác chăng chỉ là cường độ nặng nhẹ thôi.

 Vậy thì bạn và tôi thấy rằng, thế gian quan niệm về chết là một điều không nên bàn luận, vì không thể không đau buồn, vì tất cả đã mất đi trong thương tiếc, trong vô vọng đợi chờ. Nếu thế gian có bàn luận chăng, đó chỉ vì tình cảnh liên hệ đến cái chết hay đến người thân của kẻ ra đi, ngoài ra không nên nhắc đến tất cả chỉ làm buồn thêm.

 Đến đây thử nói về quan niệm chết của người học Phật theo giáo lý giải thoát; và hy vọng rằng khi tìm hiểu sống chết theo nhà Phật, bạn và tôi sẽ thấy rõ vấn đề của thế gian hơn.

 Giáo lý giải thoát từ buổi ban đầu trước khi Bồ Tát thành đạo, đã hiện rõ cảnh sanh, già, bệnh, chết là động cơ xuất thế cho Bồ Tát Tất Đạt Đa, điều này chẳng phải gì lạ; cho nên sau khi thành đạo chánh giác đề tài sinh tử luôn được Thế Tôn nhắc nhở cảnh tỉnh chúng sanh.

 Học đạo giải thoát mà quên sinh tử, xem như quên đi tất cả giáo lý của Như Lai, vì sinh tử có nghĩa là vô thường, cho nên hiểu vô thường là hiểu sinh tử, rồi hiểu luôn giáo lý Như Lai chỉ là phương tiện, chẳng khác vô thường sinh diệt. Bởi vì chấp vào bất cứ điều gì, điều đó sẽ không còn là chân lý nữa. Dù rằng chân lý là chân lý không sinh không diệt, nhưng hiểu sai sẽ thành chấp chân lý. Ngược lại sinh tử là điều không quên, để nhắc nhở rằng tất cả sự vật thế gian, và cả ý niệm sinh khởi trong tâm đều là sinh tử. Bao giờ đạt được tự tại vấn đề không tham, sân, si, đạt được Giới, Định, Huệ Ba La Mật, chừng ấy mới vượt lên sinh tử, vượt lên tất cả cái vô thường của thế gian; và chẳng còn dính mắc bất cứ điều chi kể cả Niết Bàn.

 Sống chết được nhìn theo giáo lý giải thoát, là một vòng luân hồi, một định lý vô thường theo hành nghiệp thay đổi chẳng ngừng của một chúng sanh chưa chứng đạo. Người chết nơi đây sẽ sanh về nơi kia, hay trở lại đây, điều đó chẳng khác gì nước bốc hơi rồi trở lại, lại tiếp tục bốc hơi, hoặc vượt xa hơn một tí. Nhưng dù trở lại có xa gần và biến dạng trong đục thế nào, nước vẫn mang tánh ướt.

 Chúng sanh chết sống đủ mọi hình thức, chết già, chết trẻ, chết vui, chết buồn, chết không tiên liệu trước..., cũng chỉ là tiếp tục thay đổi theo hành nghiệp nhân quả thọ dụng mà thôi. Có điều đã chết bao nhiêu lần, quả thật không ai biết được, kể cả chư Bồ Tát lớn cũng không biết. Phải nói là thật nhiều, nhiều đến nổi Phật dạy, giả sử trong cuộc luân hồi, xương của một chúng sanh còn giữ nguyên lại từ vô thỉ kiếp đến nay, thì nó sẽ chất đống thành ngọn núi lớn. Và chắc rằng ngọn núi đó cứ mãi lớn ra nếu chưa biết đạo giải thoát.

 Đạo giải thoát còn dạy cho ta biết, đâu phải chỉ cái chết của con người mới là quan trọng; đã là chết thì cái chết của bất cứ loài chúng sanh nào cũng đều quan trọng và đau thương. Có một loài chim hạc lớn, thường đi cặp với nhau, hễ một con bị nạn hay bệnh chết đi, thì chẳng bao lâu con kia cũng chết theo. Việc này cho thấy niềm đau sanh ly tử biệt của con vật đâu thua con người. Nhưng con người cứ lại nghĩ chỉ có mình là loài thông minh nhất mới cảm được niềm đau tử biệt. Trí thông minh của con người đành rằng quá siêu việt so với tất cả loài vật, nhưng nói về đau thương vui sướng, thiết nghĩ cảm thọ của tất cả phải là như nhau. Nếu ta cảm thấy khoái lạc với cảm thọ được an ủi vỗ về, được cảm giác ấm êm, thì con vật nó cũng y như ta vậy, và nếu ta sợ hãi mất mạng, con vật cũng sợ hãi không thua gì ta.

 Giáo lý giải thoát nhìn rõ vấn đề này với tất cả chúng sanh, nên nói ngay đến vấn đề tham ái; trong tham ái gồm cả yêu thương và hưởng thụ. Hưởng thụ tình thương và hưởng thụ qua cảm giác, giác quan tiếp xúc từ mọi thứ. Sự hưởng thụ cảm nhận quay trở lại chính con người, là gìn giữ thân thể giác quan của mình, cho nên mình thương mình hơn hết. Thế thì mất cái hưởng thụ, là mất con người mình, điều này quả là khủng khiếp chứ còn gì? Cho nên càng tham, càng xác lập sự hưởng thụ trên thân thể và vật cảnh một cách kiên cố; từ đó ý nghĩ chết, là sự cướp đi tàn bạo thân thể vật chất của mình. Như thế vòng sinh tử bắt đầu di chuyển theo ý thức, bám víu, lo sợ mất người mất của khởi lên.

 Nhưng chớ hiểu lầm, giáo pháp giải thoát là bi quan, cứ nghĩ về chết không màng việc sống. Chẳng phải vậy đâu! Bạn và tôi không thấy sao, đức Phật đâu có chết, đâu có vào Niết Bàn, Ngài vẫn còn mà; hiện Ngài đang có mặt gần hơn nửa quả địa cầu. Đó là ảnh tượng của Ngài được mọi người sáng tạo để chiêm ngưỡng. Có lẽ tượng ảnh kia còn kéo dài đến cả mấy chục ngàn năm nữa không chừng. Vì người ta kính mộ mong muốn cho nhiều thế hệ sau biết đến, để sống được như Ngài chứ không chết sớm như chúng ta, chỉ cao lắm là trăm tuổi, rồi không còn một ai nhắc đến. Cho nên người ta đã tạo tượng Ngài sừng sững lộ thiên hiện lên từ vách núi cao, chứ không phải chỉ là tác phẩm nhỏ nhoi tầm thường.

 Quả thật người xưa đã diễn tả được điều sống chết thật cụ thể, qua cái nhìn theo giáo lý giải thoát của Như Lai, nghĩa là phải sống như Ngài và chết như Ngài. Sống tự tại vượt lên, chết tự tại vượt lên hơn nữa. Nhưng điều đó chẳng phải là của Ngài, mà nó là chân lý sống chết. Nhưng nói sống chết cũng là phương tiện theo thế gian, chứ đối với Như Lai, đối với bậc toàn giác đâu phải vậy!

 Như Lai có nghĩa đến đi tự tại không lưu dấu, không vướng bận, và đúng nhất là không thể nghĩ bàn. Phật xuất hiện vì nơi thế giới Ta Bà, nơi hành tinh xanh này, nơi thái dương hệ đây không có giáo lý giải thoát, không ai có thể biết được chân lý cuộc đời, chân lý vô thường và tuyệt đối thanh tịnh bất sinh bất diệt. Ngài xuất hiện để chỉ bày cho chúng sanh vậy thôi, ngoài ra chẳng còn gì khác; và đương nhiên chân lý mà Như Lai chỉ bày lại là chân lý mà chúng sanh đang sống cũng như đang chết.

 Thế nói sống chết là nói chân lý khổ, chân lý thế gian và cũng xuất thế gian, chứ nào đâu là bi quan, nào đâu là tiêu cực. Chỉ có không dám nhìn nhận sự thật mới là tiêu cực, điều đó được che đậy bằng cách tích cực hưởng thụ đời sống quên đi chân lý sống chết này. Nhưng thế gian cũng có nhiều người lạc quan vượt qua sống chết, đó là những chiến sĩ anh hùng hy sinh vì chánh nghĩa, vị quốc vong thân; những người như vậy đã xem sống chết là lẽ thường, nên chọn cho mình hành động chết sống đúng với lương tâm, với thiện chân nhân loại.

 Thế gian pháp còn vậy, chẳng lạ gì xuất thế gian; cho nên bạn và tôi hiểu vì sao chư vị Bồ Tát lớn vào đời hành đạo không bị trở ngại; tất cả là vì chư vị rõ ràng vấn đề sống chết đến đi, chỉ là xoay vòng đổi hình thay lớp. Chỉ buồn cho ta, chưa thể nhận rõ vấn đề, nên nghiệp tánh tham ái vẫn còn, khó thể dứt khoát, để ảnh hưởng việc tu chứa đầy phiền não.

 Dù vậy thời nay vẫn còn duyên lớn, được biết một số vị Lạt Ma Tây Tạng, mang lớp hình phàm nhưng bên trong là bậc Thánh tái sinh hoằng đạo. Các Ngài khi lâm bệnh chết đi, tuyệt đối phải tự tại, nếu không chẳng thể để lại điềm báo cho đệ tử biết sẽ tái sinh trở lại; và sự lâm bệnh này cũng là phương tiện pháp duyên độ người. Điều này không phải thuận lời, thuận ý mà đoán nói như vậy, bởi vì không phải cảnh tỉnh người, không phải lấy đó nhắc nhở, huấn thị bằng thân vô thường lão bệnh, các Ngài dư sức tọa thiền bỏ xác chứ nào phải để đệ tử chạy lo chữa bệnh. Việc nhắc nhỡ cảnh tỉnh của các Ngài, thứ nhất là thân thể vô thường, có thân tức có khổ; thứ hai ngay như người đang tu pháp giải thoát cũng không khỏi hệ quả này, cho nên phải dụng công tinh tấn tu đạo, trước khi rủ bỏ xác thân. Biết được thế gian còn có chư vị Bồ Tát âm thầm thị hiện như vậy, ta mới thấy rõ sinh tử là một điều tối yếu, và là một pháp tu đánh động tâm thức hơn bất cứ pháp tu nào.

 Thật thế thử xem có pháp tu nào thúc giục con người, khiến phải lập tức suy nghĩ bằng pháp tu niệm chết! Đã biết bao lần ta tinh tấn, suy nghĩ đến việc tu vì cảm nhận trong người nhuốm bịnh, sợ hãi đến chết. Giá như ngày nào ta cũng nghĩ về chết, sợ hãi chết đã kề bên, thì chắc chắn việc công phu tu niệm thật dễ dàng có kết quả. Cũng cần nói sợ hãi ở đây, là sợ chưa đủ công phu hành trang diệu lực để đổi lớp hình khác, chứ ta đã biết bao lần chết đi nào phải mới lần này.

 Vâng, chết thật đúng là pháp tu, cũng có thể nói như là bậc Thầy cảnh tỉnh ta tu; bậc Thầy này chỉ sau đức Phật, nói sau đức Phật, vì Phật là người dạy ta pháp tu này.

 Nhưng rồi thế nào cũng có người đặt câu hỏi, như ai cũng chuẩn bị việc chết, chuẩn bị việc tu hành, để gấp rút được sanh về nơi cảnh Thánh, như vậy đời sống văn minh nhân loại đành phải lùi lại lạc hậu như xưa sao?

 Xin thưa, tất cả không như ý ta đâu. Trước nhất không phải là việc dễ tin, sống chết là một nguyên lý luân hồi đau khổ từ vô thỉ kiếp, làm cho người sợ hãi khiến phải tu hành dứt vòng sinh tử. Thứ hai nếu quả thật tất cả đều tin, đều cùng nhau sợ hãi sinh tử, nên tinh tấn nỗ lực tu hành, thì thật là đại duyên cho quả địa cầu chúng ta, nó sẽ trở thành cõi Thánh. Bởi đã không còn ai tham, sân, si, không còn sống theo ý thức phân biệt, vọng tưởng vốn là nguyên nhân của mầm móng hủy diệt hành tinh xanh này. Đổi lại bây giờ ý thức trở thành trí vô phân biệt, trí siêu thoát, và như thế thuận theo tâm nào cảnh đó, tức y báo chánh báo sẽ thay đổi toàn cảnh quả đất này. Thế thì làm sao lạc hậu được. Lạc hậu là dốt, mù chữ, quê mùa, chẳng có văn minh. Nhưng văn minh là thế nào? Có phải văn minh là thực hiện được cái đẹp nhất cho nhân loại; và còn cái đẹp nào hơn khi tất cả anh em trên thế giới cùng nhau sống yêu thương hòa bình, để triệt để bảo vệ môi trường sinh thái cho trái đất.

 Nói một cách cụ thể khoa học, thì một hành tinh một tinh cầu nào nếu toàn những con người thánh thiện sống trên đó, hành tinh này chỉ có đẹp ra, và dù theo luật sinh diệt Thành, Trụ, Hoại, Không, hành tinh đó chắc chắn phải trải qua tuổi thọ thật lâu, chẳng hạn đến một vạn tỉ năm (mười ngàn tỉ). Nhưng nếu hành tinh nào toàn chứa những con người luôn tranh đấu, luôn bạo động, cạnh tranh nhau mọi phương diện triệt để khai thác tài nguyên hưởng thụ, như vậy chắc chắn rằng, hành tinh này sẽ có một tuổi thọ thật ngắn, có thể chỉ thọ vài triệu năm thôi.

 Vậy ta chẳng nghi ngờ gì việc sinh tử là việc cấp bách cho đời sống tương lai. Thật ra chuẩn bị trong việc ý thức sinh tử chết sống cho tương lai cũng chính là cho hiện tại. Vì người muốn tương lai tốt tất nhiên phải hành động ngay hiện tại. Tỉ như để tránh hay giảm được phần nào việc thiên tai đột ngột xảy ra, người ta đã nghiên cứu, sáng chế phát minh phương tiện ra-đa nhạy bén tiếp sóng, có thể báo trước khi biến động xảy đến. Cũng vậy ý thức việc chết sống, người học Phật phải chuẩn bị cho mình bằng nhiều phương tiện pháp tu, mà pháp tu cụ thể hiệu quả nhất là luôn nghĩ đến sự chết vậy.

 Tưởng có thể ngưng đề tài sống chết tại đây, bạn và tôi thử tìm hiểu xa hơn ý nghĩa cảnh giới bất từ nghì, mà người học Phật thường nghe qua với tên gọi là Niết Bàn.

 

Niết Bàn không có nơi chốn, không thể luận bàn! 

 Lại một chuyện vượt tầm tay, vượt ý thức, còn hơn cả gọi là tế nhị bàn về sống chết! Đúng như vậy! Thật là ngây ngô, khi nói những gì mình chưa biết chưa hiểu. Vì ít ra, cũng phải tin hiểu hơn năm mươi phần trăm mới dám luận bàn, đằng này còn chưa chắc đã có được mười phần trăm, lại dám bàn ư!

 Khi lạm bàn về sống chết, bạn và tôi còn thấy còn hiểu, bởi sự chết của người khác đã thường xảy ra, xảy ra ngay trong gia đình mình. Khi nói chết là pháp tu, ít ra đó là phần nào hiểu lời Phật dạy về sinh lão bệnh tử xưa nay không sai. Nhưng nói về Niết Bàn một cảnh giới của Phật, làm sao tưởng tượng nổi, mà có tưởng tượng nổi cũng chỉ là tưởng tượng thôi, làm sao diễn bày cụ thể được! Đừng nói gì phàm phu như tôi đầy vô minh, ngu si ngờ ngạc, ngay cả Bồ Tát lớn cũng chẳng thể đến được Niết Bàn của chư Phật, để kể rõ cho chúng ta nghe; vậy đây là chuyện vui để lạm bàn cho có chuyện ư?

 Vâng, thưa đúng vậy, nhưng không dám nói là chuyện vui, muốn nói sao thì nói; bởi bạn và tôi đã chọn đề tài: Niết Bàn không có nơi chốn, không thể luận bàn, đề tài như vậy đâu có khẳng định Niết Bàn là thế nọ thế kia? Hơn nữa chúng ta phải thật là nghiêm chỉnh, khi chuyện trò vấn đề tu học Phật pháp, nên không bao giờ móng tâm cho đây là chuyện vui, nói sao cũng được. Nhất là luật nhân quả chúng ta dư biết, nên nói những điều cần nói, không thôi lại làm người hiểu sai chánh pháp, đó thật là ngu dại, tự mình tạo nghiệp báo cho mình.

 Sở dĩ tôi muốn bạn cùng tôi dám nói về Niết Bàn chỉ vì muốn có một khái niệm một nhận thức tối thiểu, dù việc muốn này cũng chỉ là muốn thôi. Nhưng không! Nói vậy chứ hễ muốn là được, và chắc chắn thế nào rồi tất cả chúng ta cũng đi tới con đường này, vì kim ngôn Phật dạy, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều thành Phật trong tương lai; chỉ có việc sớm muộn chứ hoàn toàn không sai khác.

 Trước hết, theo đề tài, chúng ta hãy nghĩ về một cảnh giới, nơi mà không có biên tế, địa hình, nơi không thể thấy cũng không thể biết!

 Nơi đó có phải là nơi không? Hỏi vậy nghe thật vô lý, vì đã không phải là nơi, thì làm sao nói là nơi?

 Vậy thì làm sao nói đây? Nhưng thưa bạn đó chính là nơi, nơi vô chấp vô ngại, kể cả ngôn ngữ vô chấp vô ngại cũng chỉ mượn dùng gượng ép mà thôi. Nhưng thưa bạn nó vẫn là một nơi, một nơi thật sự của chư Phật, nhưng chỉ là của chư Phật chứ không phải của bạn và tôi đang bàn đây. Dù nó khó hiểu, cả đến không thể nghĩ bàn, nhưng các đệ tử của Ngài vẫn thường tán thán ca tụng luận bàn về nơi siêu việt ấy. Rồi chính Phật vì thương đệ tử nên cũng tạm mượn ngôn ngữ thế gian nói ra phần nào; và thưa bạn, nơi ấy chính là ở ngay trong tâm chúng ta.

 Ta đọa lạc, ta thành Phật có phải là do tâm? Chắc chắn vậy, như thế tâm là nơi sinh ra Niết Bàn. Hiểu lầm đi tìm Niết Bàn ngoài tâm, tất không bao giờ được! Vậy mà bấy lâu cứ đi tìm, trong khi nó lúc nào cũng ở ngay ta. Vấn đề là sao tin được nó ở trong tâm, và vấn đề ta chết rồi nó còn ở trong tâm hay không, vì có tâm là do thân sắc, thân sắc tàn rụi tâm phải ở đâu?

 Đến đây chúng ta không cần phải nói dài dòng chi nhiều, vì đã bàn qua chuyện luân hồi nhân quả, cũng như vừa rồi không lâu, nhắc về sự tái sanh của chư vị Thánh Tăng Lạt Ma Tây Tạng, đó chính là Niết Bàn và Địa Ngục tự dẫn chính ta.

 Cái gì làm các vị Thánh Tăng tái sanh, đó là tánh Niết Bàn, tánh giác; cái gì làm đọa lạc đó là tánh mê, tánh tham, sân, si vậy. Cho nên chẳng thể tìm bất cứ một cảnh giới nào ngoài tâm cả. Vậy ta có còn không tin cảnh Niết Bàn của chư Phật? Ngay cả cái tánh mê tánh tham, đã còn hiển hiện không mất để tái sanh làm con thú, thử hỏi tánh giác tánh chân thiện tuyệt đối lại biến mất giữa hư không sao? Nếu thật biến mất, thì làm sao có chư Phật ba đời, như Đấng Thế Tôn đã dạy! Nếu chẳng có cảnh giới Niết Bàn của chư Phật, làm sao Phật thường dạy, thế giới Phật là hằng hà sa số, và điều gì, cái chi khiến Phật xuất hiện khai thị đạo vàng tại nhân gian?

 Nhưng thế giới Phật vẫn là thế giới tâm, thế giới tâm siêu việt chứ không phải tâm phiền não của chúng ta. Như thế mà nghe chư Phật dùng thần thông tự tại vân du đến khắp cõi Phật nào cũng được, vì chỉ là vân du tự tâm mà ra. Cũng như thế, nếu bạn và tôi ngày nào còn tâm chúng sanh, tâm phiền não, ngày ấy chúng ta chỉ sống ở thế giới nhỏ hẹp, thế giới tâm phiền não của mình mà thôi. Cũng vì nhỏ hẹp nên ta không thể hiểu được các thế giới khác ngoài thế giới tham, sân, si của mình; kể cả thế giới súc sanh, ngạ quỹ cùng một quỹ đạo tham, sân, si mà ta cũng không thấy, nói gì thấy được thế giới chư Thiên, Bồ Tát.

 Chư Bồ Tát lớn theo tâm từ bi trí tuệ rộng lớn của các Ngài, bao trùm khắp cái tâm tham, sân, si của chúng sanh, nên dễ dàng nhận thấy tâm chúng sanh là chuyện đương nhiên. Bồ Tát thấy chúng sanh thật rõ nên dễ độ chúng sanh, riêng ta tự mình đã không thấy được mình, không thấy mình, nên còn phiền não, vậy làm sao độ chúng sanh!

 Lại có thể hiểu Niết Bàn là một trạng thái tỉnh, trạng thái chánh niệm thanh tịnh lúc nào cũng có thể tìm được; chẳng hạn ngay lúc này bạn và tôi thử đếm một hai ba, để bắt giữ Niết Bàn nơi tâm, tất nhiên Niết Bàn sẽ có; nhưng sẽ hiện không lâu, vì chúng ta đã tự gượng ép cố tìm cho được. Sự cố tìm vẫn là một sự dụng tâm, nhưng phải biết dụng tâm bằng từ bi bằng trí huệ phát Bồ Đề Tâm, đó mới thật rõ Niết Bàn. Và rồi phải luôn luôn giữ tâm như vậy, mới giữ được Niết Bàn trong ngoài không còn phân biệt.

 Bạn và tôi có thể tập gượng ép tạo ra Niết Bàn, tức tạo ra bình tâm chánh niệm, hỷ, xả, khinh an, tập như vậy dù hình bóng Niết Bàn ban đầu là mờ nhạt, nhưng lâu dần cho đến phát được Bồ Đề Tâm, Niết Bàn sẽ rõ hơn.

 Các vị A La Hán Thánh Tăng thời Phật, đã đạt được Hữu Dư Y Niết Bàn, cũng gần nghĩa như vậy; nhưng điều phi thường là, trạng thái khinh an, hỷ, xả, niệm, định, của các Ngài không còn bị lung lạc thay đổi, nên mới gọi đắc quả Niết Bàn khi thân xác còn tại thế. Đến khi bỏ thân xác bấy giờ đạt được Vô Dư Y Niết Bàn tức tự tại không còn lệ thuộc xác thân sinh lý nữa. Riêng đối với đấng Thế Tôn, Ngài đã trọn vẹn đạt được cả hai trạng thái Niết Bàn, có thể tự tại bất cứ hoàn cảnh không gian nào; tuy nhiên phương tiện độ sanh là thù thắng, nên Phật phải tùy thuận hiện tướng phàm nhân xả bỏ nhục thân như thế gian pháp. Tuy nhiên nói như vậy chứ Niết Bàn của chư Phật, dù là còn tại thế gian, ta cũng không thể hiểu, chỉ lấy chư đệ tử Thánh Tăng đắc quả A La Hán thôi cũng khó nghĩ bàn. Vì làm sao biết được trạng thái của chư vị để mà nói, nhưng dù biết đi nữa cũng không nói được, bởi ngôn ngữ làm sao diễn nói hết được trạng thái, huống là trạng thái chứng đạo! Và ngay cả chư vị A La Hán có từ bi kể cho chúng ta nghe, chúng ta cũng không cảm nhận được hết, vì đơn giản rằng ta chưa bao giờ kinh nghiệm qua.

 Vậy Niết Bàn là một sự an lạc tuyệt đối, tuyệt đối chính đương sự biết mà thôi! Những gì ta cố gắng giải bày tưởng tượng để tìm hiểu cũng chỉ là khuây khỏa sự ước muốn của người học Phật. Đức Phật từ bi biết được điều này nên dùng nhiều phương tiện, và chính thân giáo của Ngài hiện ra để cho ta thấy Niết Bàn là như thế, như thế đó.

 Niết Bàn không có ngôn ngữ để diễn tả, dù ngôn ngữ đó được ghi lại từ Phạn văn, một cổ văn được tin tưởng rất gần với chánh pháp; hay nói đúng hơn Niết Bàn cũng chẳng có cả trong kinh. Kinh chỉ là nhắc nhở lời Phật dạy dù là kinh Niết Bàn.

 Đi tìm Niết Bàn, là đi tìm thân ngũ uẩn này, không hơn không kém, vì chính nơi thân sinh ra được chân tâm diệu hữu, và chân tâm diệu hữu là thế giới lìa ngôn ngữ thế giới của Niết Bàn vậy.

 Người học Phật chúng ta thường nghe nói, hãy tạo cho mình một hành trang đi vào Niết Bàn, đó chính nghĩa là tạo cho ta tự thành Niết Bàn, tự thành hành trang, chứ không một hành trang nào bên ngoài có thể đi vào một nơi không nơi, một chỗ không chỗ, và một ý niệm lìa tất cả ý niệm.

 Nhưng nếu bạn và tôi cho Tâm là Niết Bàn, vì tâm sinh ra Niết Bàn, như vậy tâm đó là tâm tham chấp, vì Niết Bàn không phải có đối tượng làm ra, mà nó là lìa chấp lìa ý niệm; còn cho tâm là còn chấp vào tâm thì làm sao gọi là Niết Bàn được!

 Thế thì nếu nói đời sống của người học Phật là đi tìm Niết Bàn, đi tìm giải thoát, đó cũng có nghĩa đi tìm tự tâm thanh tịnh; nhưng nếu lại sống ngoài tâm thanh tịnh, sống chấp trước vấn đề, dù vấn đề Phật pháp, tất nhiên sẽ càng xa Niết Bàn mà tưởng rằng đang đi tìm Niết Bàn giải thoát.

 Bấy nhiêu lời để tạm hiểu một vấn đề khó hiểu nhất, thiết nghĩ chúng ta tạm ngừng nơi đây, e bàn mãi sợ lạc mất vấn đề.

 Tôi cũng vừa phát ý, xin thưa với bạn có lẽ hãy lấy đời sống sinh hoạt của chư vị Thánh tăng tìm hiểu thêm về pháp giải thoát, và không chừng ta lại hiểu thêm Niết Bàn cũng nên!

 

Chuyện giải thoát của chư vị Thánh Tăng.

 

 Nếu tính ngay thời đức Phật, tiêu biểu nhất là mười đại đệ tử của Ngài, như: Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên, Ma Ha Ca Diếp, A Na Luật, Ưu Bà Ly, A Nan Đà và La Hầu La; thật biết vị nào cũng đều là bậc thị hiện sát cánh Như Lai làm rạng ngời giáo lý giải thoát. Nghĩ cũng nên nhắc lại toát yếu hành hoạt của từng vị để bạn và tôi hiểu thêm; và đó cũng là niệm nghĩ ghi ân chư vị Thánh Tăng đệ tử, đã cùng Phật hoằng truyền giáo pháp giải thoát, tạo nhân duyên nối dòng chánh pháp đến bây giờ.

 Thật vậy nếu không nhờ chư vị đệ tử tiếp nối ra công hoằng truyền chánh pháp, ngày nay làm gì chúng ta hiểu biết được thế gian này có Đấng Toàn Giác đản sanh ở Aán Độ. Hay có biết cũng chỉ là lịch sử lờ mờ, và chắc chắn Đức Phật ngày nay chỉ được biết là một trong những vị thần theo quan niệm Aán Độ giáo; và điều quan trọng hơn hết, giáo lý của Ngài sẽ không phải như Ngài dạy, vì thời gian không có người tiếp nối.

 Chúng ta nhất định phải ghi ân đê đầu đảnh lễ chư vị Thánh Tăng đệ tử của Như Lai có công hoằng truyền chánh pháp đến ngày nay. Trong những vị như thế vừa là người Thiên Trúc (Aán Độ) vừa là người Trung Hoa, và dĩ nhiên gần nhất còn là chư vị tôn túc người Việt chúng ta, để có thể phổ cập rộng rãi qua ngôn ngữ tiếng Việt cho đất nước Việt Nam.

 Bây giờ bạn và tôi hãy tìm lại hình bóng chư Đại đệ tử trong thời đại Thế Tôn, để kính lễ tri ân quý Ngài đã làm hình ảnh nối truyền dòng pháp giải thoát; nhờ vậy từ đó, sinh ra hàng hàng lớp lớp đệ tử của Đấng Đại Giác nối tiếp nhau mãi đến bây giờ.

 

Xá Lợi Phất: trí huệ đệ nhất

 Xá Lợi Phất được danh hiệu trí huệ đệ nhất, đây là lời tán thán khen tặng của Thế Tôn. Có thể so sánh hiện nay, người giỏi nhất thế nào Ngài phải giỏi như thế đó. Nhưng cái giỏi nhất của Ngài là chẳng bao giờ thấy mình giỏi, đó mới thật là giỏi; hay nói đúng hơn tất cả mười đại đệ tử của Thế Tôn, chẳng bao giờ thấy mình có gì hơn chư đệ tử khác của Phật. Nhưng điều Phật tán thán ngợi khen Ngài Xá Lợi Phất vẫn là một sự thật, điều đó được Thế Tôn dạy Xá Lợi Phất thay Ngài làm giáo thọ sư hướng đạo cho những người mới nhập môn.

 Về nhân duyên vào đạo giải thoát của Xá Lợi Phất cũng thật kỳ đặc. Đó là việc nhận ra hình dáng thoát trần tự tại của Ngài A Thị Thuyết, vị đệ tử chứng quả Thánh của Phật; rồi thưa hỏi vài câu, trở thành nhân duyên cho Ngài khởi đầu niềm vui chân đạo, mà chưa đợi diện kiến Thế Tôn. Quả thật kiến thức thông minh của Ngài đã quá viên mãn, chỉ đợi thêm vài giọt nước giải thoát trở thành trí huệ. Câu kệ mà Ngài nghe nội dung như vầy: Các pháp đều do duyên sinh rồi cũng do duyên diệt. Đối với người bấy giờ câu nói ấy thật không phải dễ hiểu, nhưng nếu hiểu phải mất thời gian suy niệm, quán xét mới trân quý được, và chỉ quý mà thôi, lại cần được giảng giải, hoặc gặp Thế Tôn mới có thể vào đạo. Nhưng Ngài Xá Lợi Phất liền tức khắc liễu tri khi nghe kệ này. Nỗi mừng của Ngài còn được chia xẻ với người bạn thân là Mục Kiền Liên, thế là cả hai cùng vui như một. Mục Kiền Liên chẳng khác Xá Lợi Phất, cảm nhận tức thì khi nghe bạn kể.

 Tìm hiểu ta thấy, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên chính là hai nhà thức giả lỗi lạc thời bấy giờ, nên trí căn lanh lợi, sớm muộn tất phải giác ngộ đạo vàng. Điều này nói lên chỉ có giáo pháp giải thoát mới vượt lên tất cả, giải tỏa hết thảy những trăn trở của thế gian. Nếu con người thời nay hay mượn kiến thức thế gian vào đạo giải thoát, hoặc đòi hỏi biện minh giáo nghĩa Như Lai phải phù hợp với văn minh nhân loại, thì hãy tìm hiểu về hình ảnh Thánh Tăng Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.

 Chỉ một bài kệ nhỏ mà Ngài Xá Lợi Phất nghe, đủ chứng minh chân lý bất sinh bất diệt của đạo giải thoát, và chính người nghe là Xá Lợi Phất càng nói lên sự hợp lý của đối tượng khi quán sát giáo lý Như Lai. Bạn và tôi nghĩ sao về bài kệ đó? Vâng, đó là một chân lý, duy chỉ có bậc đại trí mới thấy thật rõ giá trị của nó; đó là sự thành lập giả tạm hư diệt của thế gian; để từ đó đưa người vượt qua sự giả tạm, tiến tới tuyệt đối hạnh phúc, mà thế gian chẳng thể nào tìm được nếu không hiểu biết điều này.

 Nếu bạn và tôi hãy còn thắc mắc, bài kệ đã nói gì với nền văn minh khoa học của đời sống hôm nay? Thưa, bài kệ nói rằng tất cả sản phẩm của con người, kể cả con người đều là do vô số nhân duyên tạo thành, chứ không phải thật có, và nếu cái gì do nhân duyên tạo, tất phải giả tạm, hoài công gìn giữ! Không cần nói thêm nữa, vì nhớ lại chuyện từ ban đầu chúng ta đã bàn qua rồi về nhân quả luân hồi, cũng từ nghĩa này ra.

 Cho nên phải nói, Xá Lợi Phất thật đúng biểu trưng cho kiến thức ngày nay; ngày nay người học Phật đã và đang được duyên nhập thế một cách phóng khoáng và tích cực, nên tạo được nhân duyên cho mọi người thấy, giáo lý Như Lai luôn luôn giữ được nền tảng chân lý Phật Đà trong mọi phạm trù kiến thức thế gian. Điều này há chẳng phải là việc mừng? Vâng phải như vậy; do đó người đến với đạo Phật càng có kiến thức càng có công đức thiện báo nhiều hơn, vì tự thân đã hoằng truyền được Phật pháp đến tầng lớp trí thức thế gian. Và nhất là phá đi sự mê tín dị đoan, mà thế gian thường lầm phải. Chúng ta nên tri ân sự thị hiện tuyệt đẹp của Ngài Xá Lợi Phất.

 

Mục Kiền Liên: thần thông đệ nhất.

 Vâng đúng vậy, nhưng cũng như Ngài Xá Lợi Phất, cái đệ nhất của Mục Kiền Liên là chẳng thấy mình đệ nhất thần thông, đó chính mới là đệ nhất! Thật ra tất cả huynh đệ cùng là đệ tử Thế Tôn, khi đắc quả Thánh đều có thần thông, đều như Ngài Mục Kiền Liên không khác. Tuy nhiên Mục Kiền Liên được tôn xưng là thần thông vĩ đại, xuất chúng, vì Ngài ứng dụng được thần thông thành tựu hoằng pháp lợi sanh. Chính Đấng Điều Ngự cũng tán thán ngợi khen Ngài, và còn khuyến khích phương tiện độ sanh như vậy; ngược lại với chư vị đệ tử khác đức Phật rất hiếm đề cập việc thi triển thần thông, nếu không nói, còn quở trách những ai hiếu kỳ thi thố, dù là thi thố để xiển dương chánh pháp. Chính ngay bản thân Như Lai, Ngài cũng chẳng mấy nghĩ đến việc này, đó có phải mới là thần thông?

 Vâng, thần thông thật đúng với đạo giải thoát là biến hóa được tam độc tham, sân, si; là diệt trừ được vô minh đạt đến giải thoát. Nghĩa đó mới thấy, trong thời Thế Tôn các đạo sĩ không theo Thế Tôn bấy giờ rất nhiều, họ có đủ thần thông, nhưng tuyệt đối không có lậu tận thông, tức là không thể phá được tam độc tham, sân, si, nên còn phiền não, còn sinh tử chìm mãi trong luân hồi đau khổ.

 Riêng các đệ tử Như Lai, từ lúc vào đạo đến khi chứng quả, vẫn sống như người bình thường, chẳng hiện tướng gì thần bí, nhưng bình thường của các Ngài không phải là bình thường của thế gian, vì thân ở Ta Bà mà tâm nhập Niết Bàn tự tại.

 Thần thông của Ngài Mục Kiền Liên hoàn toàn có nghĩa như vậy; nhưng bạn và tôi vẫn phải tin rằng, Ngài đã từng ứng hiện thần thông lên trời, xuống địa ngục, hay hóa hiện đủ thân, cả đến tiếp xúc độ loài ma quỷ. Như đã nói, việc làm của Ngài chỉ là chánh pháp, và còn có thể thay cho Thế Tôn, xiển dương chánh pháp bằng phương tiện cảm hóa người, trong việc hiển hiện thần thông nhiệm mầu huyền diệu của đạo xuất thế.

 Ngày nay chúng ta so sánh nền khoa học kỹ thuật thế gian chẳng khác thần thông của Đại Thánh Mục Kiền Liên! Mục Kiền Liên có thể vân du không ngại khoảng cách, không ngại thời gian, bây giờ nghĩ ra cũng gần giống vậy. Ngày xưa cách đây vài trăm năm, không ai tưởng tượng người có thể bay, nhưng bây giờ khoa học đã làm tất cả mọi người biết bay, đến nổi em bé mới sinh cũng biết bay! Bạn không thấy mỗi ngày có hàng ngàn phi cơ cất cánh, hạ cánh sao. Trên phi cơ có đủ hạng người, thế là ai cũng biết bay. Bay mà còn được, thì còn biết bao nhiêu chuyện thần thông khác của ngày nay kể sao cho hết. Cho nên khoa học hôm nay chính là thần thông, nhưng nếu không biết dùng thần thông để sống như chánh pháp, thì thần thông có thế nào cũng chẳng mang lại giải thoát khổ đau. Việc rõ ràng như vậy, nên bạn thấy, người ta đã dùng thần thông gây tạo chiến tranh giết hại biết bao người. Lẽ này tại sao đức Phật đã ngăn cấm dùng thần thông, và chỉ dùng khi có lợi cho tha nhân chứ không phải cho mình. Nhưng tha nhân phải là số đông, hoặc thuận duyên chứ chẳng phải lúc nào cũng làm được, nếu không sẽ sai đi lý nhân quả nghiệp báo.

 Nhắc đến nhân quả bạn và tôi liền nhớ, ngày ra đi vào Niết Bàn của Đại Thánh Mục Kiền Liên thật sự chứng minh nghiệp nhân quả báo là điều mà thần thông cũng phải bó tay. Đó là lẽ đương nhiên của chân lý, lại là bài pháp giải thoát cho hàng học Phật, phải tinh tấn trong việc đạt được thần thông tự tại nơi tâm, chứ không phải ngoài thân hướng đến các pháp sinh diệt.

 Với chúng ta, những phàm nhân còn đầy cảm xúc luyến ái thế gian, nghe chuyện xả thân của Đại Thánh Mục Kiền Liên, ai lại không động lòng thương kính; nhưng dù thế nào nghiệp nhân quả báo vẫn là chân lý; chính cả Thế Tôn là Thầy Bổn Sư của Mục Kiền Liên không thương tưởng bằng chúng ta sao? Nhưng Thế Tôn dạy rằng Mục Kiền Liên vẫn đi vào Niết Bàn, chỉ khác hơn bằng hình thức ra đi phải chịu quả báo đền trả từ ác nghiệp kiếp xưa.

 Như thế hiển ảnh của thần thông là biểu trưng cho nền văn minh khoa học thế gian của con người ngày nay, và những phương tiện của người học Phật hôm nay, đã đạt được một phần thần thông phước báo đó. Và tất nhiên phước báo đó cũng còn tùy vào nhân nghiệp hành động của ta hôm nay, để khi rời khỏi phước báo kia, vẫn hướng về con đường giải thoát.

 

Phú Lâu Na: thuyết pháp đệ nhất.

 Lại cũng không khác chư vị Đại đệ tử lớn của Phật, và tất cả danh xưng đều do Đức Phật tán thán ngợi khen tạo phương tiện sách tấn cho hàng đệ tử sơ cơ vào đạo. Phú Lâu Na được Phật ngợi khen không ai có thể thuyết pháp độ sanh hơn Ngài. Điều đó tuyệt đối như vậy, vì lời Phật dạy không thể nghĩ bàn được, tuy nhiên quả vị cao nhất con đường giải thoát vẫn là quả Phật; do đó tất cả đệ tử của Như Lai mỗi người mỗi hạnh, mỗi phương tiện độ sanh rồi cũng quy về nhất quán. Thế thì phương tiện độ sanh dù thế nào cũng chỉ là phương tiện, để cứu cánh là làm sao tạo được chánh pháp lan xa cho chúng sanh học hiểu. Bậc đại Thánh như Ngài Phú Lâu Na tất nhiên hiểu điều này nên không bao giờ tự cho mình là đệ nhất, nếu không sẽ ngược lại lời Phật dạy.

 Ý nghĩa thuyết pháp đệ nhất của Ngài, còn có nghĩa là giáo pháp Như Lai hiện đã và đang được thuyết giảng quảng bá khắp nơi. Người học Phật nào có công phát huy đạo giải thoát mà không chấp pháp, chấp tướng, không sanh tâm tự mãn, người đó đã làm sống dậy hình ảnh của Phú Lâu Na. Nhưng thế gian không phải đơn giản như chúng ta tưởng; ngay cả thời chánh pháp, thuyết pháp thành tựu như Ngài Phú Lâu Na, cũng đâu phải dễ dàng nhiếp phục người tin, nếu không nỗ lực dấn thân.

 Ngày nay phương tiện hoằng pháp bằng nhiều cách truyền hình, truyền thanh, điện toán, cũng phải gặp biết bao trở ngại. Không phải cứ gom góp lời Phật, lời Thánh rồi tung rải giới thiệu cho mọi người, thì gọi là xiển dương chánh pháp! Ngày xưa bằng hình ảnh, bằng giới tướng trang nghiêm của chư vị Thánh Tăng, nên pháp ngữ có nơi y cứ chứng minh. Hơn nữa lại còn nhân duyên thù thắng, là hình bóng Thế Tôn luôn từ bi che chở, nếu không lại chẳng thể còn đến ngày nay. Cho nên hình ảnh Ngài Phú Lâu Na khi tuyên dương chánh pháp cũng là hình ảnh của Thế Tôn không khác; Phú Lâu Na không thể thuyết pháp đệ nhất mà không hiện tướng giống như Thế Tôn, nghĩa là phải thực hành sinh hoạt của một vị Thánh, mới có thể độ được kẻ sơ cơ và người trí thức. Người học Phật chúng ta thời nay cũng phải học theo hình ảnh Đại Thánh Phú Lâu Na, dùng tất cả phương tiện của thời đại, nhưng tinh thần tâm niệm hướng đến thanh tịnh trang nghiêm phải nên đặt hàng đầu. Phương tiện khoa học vận chuyển được tam tạng giáo điển Như Lai vào đời, đó là ý nghĩa thuyết pháp đệ nhất của Ngài Phú Lâu Na; nhưng phải biết phương tiện chỉ là phương tiện chứ không thể trở thành cứu cánh, khi thiếu hành động thể hiện từ phương tiện đó.

 Có lẽ hình bóng Đại Thánh Phú Lâu Na sẽ đẹp mãi trong mười đại đệ tử Phật nói riêng, và tất cả những người con Phật nói chung. Và hiện nay cũng không phải ít, xuất hiện đâu đó chư vị Thánh Tăng cận đại, như là đệ tử của Ngài, đã và đang nỗ lực sống như chánh pháp, và ban những lời chánh pháp đến khắp thế gian.

 

Tu Bồ Đề: giải không đệ nhất.

 Giải không, ý nghĩa là tự tại với các pháp, không một ý niệm dính mắc, kể cả ý niệm không dính mắc.

 Hiểu về Đại Thánh Tu Bồ Đề không phải là chuyện dễ. Vì làm sao hiểu Ngài, khi danh xưng của Ngài là tuyệt đối Không! Tuy nhiên đó cũng chỉ là hình ảnh đẹp nhất trong các đệ tử của Phật; và như chúng ta biết, dù sao đi nữa cũng chỉ lấy hình ảnh Thế Tôn là chính yếu. Nhưng cũng lại nói, chính nơi Thế Tôn đã hiện ra những đệ tử tuyệt vời, để trực tiếp cho thế gian hiểu giáo pháp giải thoát của Như Lai nhiệm mầu và ứng hiện nơi chư đại đệ tử của Ngài.

 Tích xưa kể khi Ngài Tu Bồ Đề sanh ra, đồ đạc vật chất trong nhà tự nhiên biến mất, hiện tượng như vậy kéo dài trong ba ngày mới hoàn lại. Sự kiện lạ này, đó là biểu hiện tánh không của Ngài khi lớn lên; và tánh không như vậy, đã được đức Phật làm sáng tỏ hơn để Ngài có thể đắc quả Giải không rốt ráo. Điều này chẳng lạ gì với pháp Như Lai, nhưng nếu chỉ dùng ngôn từ diễn nói vẫn chưa đủ ý nghĩa Không, như thế mà hình ảnh ra đời của Ngài Tu Bồ Đề hiện ra cảnh lạ vậy. Tuy nhiên nếu đời nay người học Phật cho chuyện đồ vật trong nhà biến mất trong ba ngày khi Tu Bồ Đề sanh ra, là chuyện khó tin, như thần thoại. Vậy có thể hiểu đồ đạc biến mất trong nhà, là ý nói người thân của Ngài lúc này, tự nhiên thấy rổng rang an lạc, nhẹ nhàng, trong tâm sinh ra hoan hỷ không có chấp trước người vật chung quanh.

 Khi Tu Bồ Đề chính thức vào đạo giải thoát, Ngài được phát huy triệt để lý tánh về không, theo hạnh không của Ngài từ nhỏ. Từ đây là đại duyên cho chúng sanh để Phật thuyết giảng bộ kinh siêu tuyệt Kim Cang Bát Nhã, phá đi hết thảy mọi hý luận ngã pháp của thế gian, rốt ráo đưa người đi vào giải thoát tuyệt đối.

 Vậy hình ảnh Tu Bồ Đề nhắc nhở người học Phật, trở về bản thể nhất như vô ngại, không sanh không diệt; và thế giới ngày nay chỉ là hoa đốm hư không, bóng trăng dưới nước, chẳng có gì chân thật. Hiểu biết tánh không để không nô lệ bám víu, không vô lý đấu tranh giành giựt vì những hình ảnh giả tạm kia. Cuối cùng hiểu tánh không để đạt được quả vị cao nhất là quả vị vượt lên phạm vi ngôn ngữ thế gian lẫn xuất thế gian, đó tạm gọi là quả giác ngộ toàn vẹn vậy.

 

Ca Diếp: đầu đà đệ nhất

 Là vị đệ tử lớn của đức Phật, gọi đệ tử lớn ở đây không mang ý nghĩa tuổi tác ngang hàng Như Lai, mà lớn vì tánh hạnh lo cho Tăng đoàn, cho huynh đệ, bằng cách sống đúng như ý nghĩa đầu đà khất sĩ; giữ được tính thoát tục ly dục tuyệt đối. Trong giáo đoàn Như Lai thật sự cần có Ngài làm điển hình mô phạm đầu đà khổ hạnh, như thế mà Ngài được Thế Tôn tán thán là đầu đà đệ nhất. Hạnh đầu đà của Ngài chỉ có Thế Tôn hiểu rõ, vì ngoài hạnh tinh tấn dụng công cầu tu giải thoát, Ngài còn thể hiện thân giáo cho những vị mới gia nhập tăng đoàn, cũng như phương tiện nhắc nhở chư huynh đệ, chớ quên mục đích ly dục là mục tiêu chính của người xuất gia cầu giải thoát. Và hạnh đầu đà của Ngài còn để thay cho Thế Tôn thầm dạy bảo chư vị huynh đệ nào, có tâm giải đãi móng niệm hưởng thú an nhàn quên đi dụng công tu hành. Vì Thế Tôn bấy giờ khó thể thực hiện hạnh đầu đà, đó là do sự ngăn cản của hai hàng đệ tử không thể đành lòng để Thế Tôn khổ hạnh; hơn nữa tất cả một lòng mong muốn kim thân Ngài trụ thế càng lâu càng lợi cho chúng sanh. Như vậy trưởng lão Ca Diếp mặc nhiên buộc phải thay Ngài.

 Việc khổ hạnh như bạn và tôi đã bàn qua, chính là phương pháp giữ được giới hạnh, giữ được nguyện lực của người tu. Và tất nhiên Ngài Ca Diếp trước và sau đắc quả, vẫn khổ hạnh như một; cho đến khi Thế Tôn vào Niết Bàn bấy giờ Ngài mới phương tiện hướng ngoại tiếp cận với Tăng đoàn một cách tích cực, để triệu tập trùng tuyên pháp ngữ Như Lai.

 Như thế hình ảnh Đại Ca Diếp cho người học Phật thấy rằng, thời nào hạnh đầu đà (khổ hạnh) cũng cần phải được lưu tâm, để hạnh nguyện giới đức của người tu sĩ xuất thế còn mãi với thời gian. Ngược lại dù làu thông kinh điển, dù kiến thức Phật học cao đến thế nào, mà không cảm nhận được nỗi khổ của người, và thể hiện phần nào chia xẻ bằng sự thực hiện khổ tu chính mình, thì cả cuộc đời tu cũng chỉ như một học giả thế gian không hơn không kém. Vậy ta phải nên đảnh lễ ghi ân Đại Thánh Tăng Ca Diếp.

 

Ca Chiên Diên: luận nghị đệ nhất.

 Trước khi Đại Thánh Ca Chiên Diên quay về Chánh đạo, Ngài là vị thức giả Bà La Môn với biện tài tranh luận không ai có thể qua được. Kiến văn thông bác của Ngài đến nổi có thể tra cứu đọc được cả một bản văn, được tin rằng đây là ngôn từ của phạm thiên, chứ không phải người thế gian viết. Nhưng Ngài chỉ đọc được mà không thể hiểu, từ nhân duyên này đã đưa Ngài gặp một người thông minh, thông bác, trí huệ hơn gấp vạn lần Ngài, đó là đức Phật; để giảng giải bài văn khó hiểu đó, và thế là Ngài phải chịu quy y xin được làm đệ tử. Đó là nhân duyên trở thành đại thánh.

 Với sức học và sự hiểu biết uyên bác lại gặp đạo vàng, Ngài sớm đắc quả và được Phật tán thán là vị đệ tử luận nghị đệ nhất trong tăng đoàn. Con người của Ngài là hình ảnh dùng pháp xuất thế gian, chuyển hóa hết thảy pháp thế gian. Trước khi gặp Thế Tôn, Ngài giỏi về lý luận theo tôn giáo hướng ngoại cầu cạnh bên ngoài, bấy giờ sau khi giác ngộ giải thoát, Ngài lại giỏi hơn xưa gấp vạn lần, và điều giỏi đó tất cả đúng theo chánh pháp; nhưng giỏi nhất là có thể thuyết phục mọi người không phân biệt nếu được duyên gặp Ngài.

 Thế giới ngày nay thường sống trong biện luận đấu tranh, từ trong gia đình đến xã hội, quốc gia thế giới, đó là vì chưa hiểu được chánh pháp Như Lai; nếu lấy hình ảnh Ca Chiên Diên, là lấy sự công bằng khách quan nhìn nhận giáo lý duyên sinh, nhân quả để quay lại soi sáng chính mình, thì sự nghị luận chẳng cần tranh cãi, vẫn có thể giải quyết được hòa bình, nói gì phải đổ máu hy sinh.

 Hình ảnh của Ngài cũng nhắc nhở người học Phật phải tự khiêm hạ, luôn luôn nương tựa hình bóng Thế Tôn qua giáo lý giải thoát, để phá đi bản ngã chấp thủ định kiến của mình. Và tự rèn luyện cho chính mình sự nghị luận đúng với tinh thần từ bi và trí huệ.

 

A Na Luật: thiên nhãn đệ nhất.

 Nghe qua danh xưng của Ngài, người chưa rõ câu chuyện sẽ không ngờ Đại Thánh là người khiếm thị, là vị Tỳ Kheo được chư huynh đệ thương lo vì không thể đi lại khất thực được. Chính đức Phật có lần đích thân khâu vá y áo cho Ngài, tình thầy trò ở đây khó thể diễn tả được; vì cương vị và tình thương của Phật, lại là Thầy chung của ba cõi, bốn loài. Cho nên khi biết Thế Tôn tự tay vá áo cho mình, Ngài đã xúc động không cầm được nước mắt. Việc này đối với đức Phật, tuyệt đối là tình thương không phân biệt, Ngài thương mến A Na Luật bao nhiêu, lại đối với tất cả chúng sanh khác cũng bấy nhiêu. Nghiệp quả mù lòa của Ngài đến từ nguyên do, khi Phật thuyết pháp Ngài đã lơ đãng rơi vào mê ngủ. Và khi bị Phật nhắc nhở ý thức, Ngài tự sám hối hứa rằng, sẽ không bao giờ ngủ nữa cho đến cuối cuộc đời.

 Thế Tôn và các huynh đệ an ủi dạy Ngài không nên cố chấp lời hứa đó, vì biết lỗi sám hối là quý rồi, nhưng Ngài bạch thưa Thế Tôn, không thể mất lời khi đã hứa trước bậc tôn sư.

 Bù lại, Thế Tôn thương xót Ngài, chỉ dạy pháp tu để có cái nhìn thấy xa hơn mà không qua nhục nhãn, thế là Ngài đạt được thiên nhãn thông. Từ đó được danh xưng là thiên nhãn đệ nhất, vì không cần phải dùng mắt thịt mà vẫn thấy xa vô ngại.

 Qua hình ảnh A Na Luật, là một sự vươn lên từ lỗi lầm đổi lại được quả vị an định trong chánh pháp. Đây là hình ảnh cho người học Phật chúng ta nhận định, dù đang sống với niềm tin chánh pháp, đang chọn đi trên con đường giải thoát, chúng ta vẫn phải lầm lỗi thật nhiều. Ngài A Na Luật có phải vì chúng sanh mà thị hiện phạm lỗi ngờ ngạc này chăng? Bởi làm sao pháp âm của đức Phật cùng với số Thánh chúng đông đảo đang nhiếp tâm nghe pháp, mà A Na Luật có thể buồn ngủ được! Đây là một hành động, cảnh tỉnh người học Phật ngày nay, hãy cẩn trọng thức tỉnh trước muôn vàn cám dỗ của đời sống dục lạc, để không thôi giấc ngủ vô minh của ta sẽ không còn ai đánh thức được. 

 

Ưu Bà Ly: Vị đại đệ tử trì giới đệ nhất

 Tôn giả Ưu Bà Ly người nổi tiếng là trì giới đệ nhất, chứng minh điều này, chính Ngài đã được Tăng đoàn cử làm luật sư trùng tuyên lại tất cả giới luật Phật chế.

 Dù vậy cuộc đời Ngài lại phải trải qua những thử thách của dư luận với sự dèm pha dò xét, đôi khi còn bị miệt thị, cũng vì Ngài sinh trưởng trong giai cấp Thủ Đà La, được xem là thấp hèn của xã hội Ấn Độ bấy giờ. Tuy nhiên sự chứng Thánh quả của Ngài đã tạo được ấn tượng tốt cho một số người quá khích, và hơn hết nói lên giáo pháp giải thoát siêu việt của Thế Tôn là chân lý muôn thuở.

 Ngày nay khi nhắc đến Phật ngôn, ‘Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, và giọt nước mắt cùng mặn’, chúng ta phải nhớ về Tôn giả Ưu Ba Ly, người đã thật chứng lời dạy của Như Lai. Cuộc đời của Ngài nếu không gặp giáo pháp giải thoát, sẽ phải về đâu? Điều này hẳn ai cũng biết, và đừng nói là người của giai cấp nghèo hèn, mà bất cứ giai cấp nào, con người nào, nếu không gặp Phật pháp, sẽ trôi lăn mãi trong vòng sinh tử; chừng ấy sáu nẻo luân hồi được sanh thân người đâu phải việc dễ, nói chi chọn lựa giai cấp này giai cấp nọ.

 Như vậy sự xuất hiện hình ảnh của tôn giả Ưu Bà Ly trong Tăng đoàn Như Lai, nói lên giáo pháp giải thoát bình đẳng một cách tuyệt đối; hơn nữa địa vị chứng đạo và giới hạnh đệ nhất của Ngài, càng nâng cao tinh thần trong sáng của đạo giải thoát cho tất cả mọi người, mà không phải mặc cảm giai cấp dân tộc lãnh thổ nào.

 Thật như thế, trải qua hơn hai thiên niên kỷ, giáo lý giải thoát bình đẳng vẫn hằng hữu vững bền không bị chướng ngại bởi một sắc thái dân tộc nào; như nếu có sự bất như ý đó là sự từ chối phủ nhận chân lý mà thôi. Và người học Phật đời nay hay mãi đến đời sau, bao giờ còn người học tu giới luật, thì hình ảnh Ưu Bà Ly đại biểu cho giới luật Như Lai sẽ sống mãi; ngược lại nếu không còn hành trì giới luật, không còn trì tụng lời Đại Thánh Ưu Bà Ly đã từng kết tập, thì Phật pháp chỉ còn là bóng dáng chết mang đầy tính chất mê tín dị đoan. Nhất là trong thời mạt pháp ngày nay, hình ảnh tôn danh của Ngài lại càng được nhắc đến, có nghĩa nhắc đến giới luật của người học Phật, nếu không Phật học sẽ bị đồng hóa trở thành kiến thức thế gian.

 Chúng ta nên kính nguyện đảnh lễ tôn giả Ưu Bà Ly với công đức không thể nghĩ bàn này.

 

A Nan: đa văn đệ nhất.

 Tôn giả A Nan Đà, chúng ta thường hay gọi tắc là A Nan, vị tôn giả có công vĩ đại nhất trong việc lưu truyền giáo lý Như Lai. Đúng như vậy nếu không có Ngài, thì ai lại có thể nhớ tất cả những lời Phật dạy. Chỉ có Đại Thánh A Nan mới làm được việc này. Đọc kinh Phật bạn hãy để ý, luôn luôn bắt đầu bằng câu ‘Tôi nghe như vầy...’. Và đại danh từ xưng hô Tôi, chính là của Ngài A Nan.

 Nếu Ngài Ưu Ba Ly có công trùng tuyên giới luật, thì A Nan có công trùng tuyên tất cả nhân duyên pháp ngữ của Phật, trước và sau khi có giới luật. Thiết nghĩ dù luật giới là quan trọng, nhưng Ngài A Nan có phần quan trọng hơn. Vì nếu chỉ kết tập luật giới, chúng sanh sẽ không hiểu, sẽ khó tin, cho nên phải có kết tập lời dạy của Thế Tôn, lời khởi dẫn tại sao có luật giới. Hay nói tóm lại hai Ngài, A Nan và Ưu Ba Ly là hai vị đại Thánh, mà người học Phật khó thể nào trả ơn được; duy chỉ có hành trì theo lời Phật dạy mới xứng đáng với ân nghĩa của hai Ngài.

 Thế kỷ hôm nay đã đi qua hơn hai mươi lăm lần thế kỷ, vậy mà pháp ngữ Thế Tôn vẫn còn đọc tụng, điều này không thể nghĩ bàn được, và điều này lại khiến người học Phật phải nghĩ đến Đại Thánh A Nan; Ngài không phải là một vị thị giả ngẫu nhiên, một vị thị giả chỉ có kiếp này!. Ngài phải là một vị Bồ Tát lớn, từng theo Phật đến vô số kiếp như Phật thường dạy, cho nên sự xuất hiện đời này của Ngài, chỉ là tiếp tục cùng Phật hoằng dương chánh pháp. Lẽ như vậy Ngài mới có một trí nhớ phi thường, trí nhớ của một vị Bồ Tát lớn, được che đậy bằng lớp hình của một thị giả khiêm cung cận kề đức Phật đến cuối cuộc đời.

 Điều nữa cũng chẳng ngạc nhiên, khi A Nan có một tuổi thọ đến trên trăm tuổi, đó chỉ là lý do nán lại thế gian, để củng cố lời trùng tuyên giáo pháp Như Lai. Ngày nay pháp ngữ, luận ngữ, và giới luật của Thế Tôn cũng như của chư vị Bồ Tát Thánh Tăng đã được hệ thống hóa thành Tam Tạng kinh điển, và được đưa vào hệ thống điện toán lưu giữ, phổ biến phát hành một cách quy mô. Phương tiện kỹ thuật được tận dụng bằng tất cả khoa học, mong sao giáo lý giải thoát được phổ cập trong quần chúng. Tuy nhiên người học Phật ngày nay phải công nhận rằng dù thế nào đi nữa, vẫn không thể kéo lui được những ngày của thời Chánh pháp, Tượng pháp. Ngày đó dù lời Phật dạy rất giới hạn trong việc lưu truyền qua kinh sách, nhưng pháp ngữ của chư vị Đại sư truyền bá đến đâu, người nghe thấm nhuần đến đó, bởi họ trân quý kính tưởng thiết tha. Họ không được nghe nhiều nên ít phân tâm, ít so đo phân biệt. Ngày nay nói là kinh sách phổ cập quần chúng Phật tử rất nhiều, nhưng nhiều lại hóa thành nghiên cứu tìm hiểu phân biệt, có khi lại bình phẩm người dịch, thậm chí đến pháp tu. Như thế học Phật đã không đem lại thanh tịnh còn gây tạo thêm vọng ngôn đến chánh pháp. Do đó mạt pháp là mạt pháp lòng người ngày nay, chứ nội dung kinh điển giải thoát xưa nay vẫn là nhất quán.

 Nhớ về Đại Thánh A Nan, chúng ta lại thấy Ngài vẫn còn xuất hiện qua phương tiện truyền tải pháp ngữ Như Lai đến ngày nay. Nhưng hình ảnh của Ngài lại dạy cho người học Phật ý thức rằng, kiến thức Phật học chỉ giúp chúng ta mới bước đầu gieo duyên, chứ chưa thể hưởng được pháp lạc. Thực tế việc này khi thời gian sưu tầm nghiên cứu kinh điển, ta cảm được hỷ lạc sinh ra nơi tâm, nhưng rồi biến mất vài giờ sau đó, nếu kéo dài lâu lắm chỉ đến hôm sau là cùng; bởi vì đây chưa phải là việc hành, nên chỉ cảm được bấy nhiêu.

 Ngài A Nan suốt thời gian thị giả Phật, nghe không biết bao nhiêu pháp, và cảm nhận cũng không biết bao nhiêu hỷ lạc, nhưng vẫn chưa đắc Thánh quả, đó cũng là lý do đây. Do đó khi nghe Đại Thánh Ca Diếp nhắc nhở, chưa thể cùng chư Thánh Tăng kết tập kinh điển, vì A Nan chưa chứng quả, bấy giờ Ngài mới hiểu và ý thức, Thánh quả phải đến từ việc làm, từ hành đạo mà ra. Thế là chỉ có hôm sau Ngài đã đầy đủ dung nghi của một bậc chứng pháp Vô Sanh. Vậy hình ảnh Tôn giả A Nan, nhắc nhở chúng ta phải hành nhiều hơn là học .

 

La Hầu La: mật hạnh đệ nhất.

 Theo truyện sử kể lại, Tôn giả La Hầu La là một trong mười đại đệ tử Phật, nhưng lại không thấy có gì kỳ đặc khác thường so với chín vị đệ tử lớn thường được xưng tán nêu danh. Tuy nhiên Ngài lại được đức Phật tán thán là vị tỳ kheo mật hạnh đệ nhất, điều này tuyệt đối La Hầu La đã thật chứng mật hạnh này, chúng ta phải tin lời của Thế Tôn muôn đời vẫn là chân ngữ. Không phải vì Thế Tôn trước khi thành đạo là cha của La Hầu La, nên La Hầu La được ân huệ này! Xin thưa, không bao giờ như thế; người thế gian chưa hiểu biết pháp giải thoát chỉ tu nhân đạo, còn biết xem trọng tính vô tư chân xác, như là quân pháp bất vị thân, mới có thể được nhân quần thiên hạ nể phục danh tiếng ngàn thu, huống gì là đấng Đại Giác vượt lên ba cõi.

 Vậy thì Đại Thánh La Hầu La nhất định có mật hạnh, và mật hạnh này Thế Tôn biết rõ hơn ai hết! Vì chính Ngài đã tán thán. Ta lại suy nghĩ thêm, đối với chư vị Tỳ Kheo bấy giờ, quả vị A La Hán là điểm đích cuối cùng cam go thử thách của người tu đã được giải quyết. Và sự tiếp tục con đường thành Phật là những bước hành Bồ Tát đạo thành tựu cho kiếp tương lai. Do đó ngay lúc này quả A La Hán là một điều tuyệt đối hoan hỷ an lạc và an trụ. Thế có còn gì vui hơn nữa, và cũng chẳng có gì màng vui hay không vui, vì các Ngài bắt đầu vượt lên những dụng công vi tế, buông bỏ tất cả, chuẩn bị đi vào con đường khác mong đạt đến quả vị Như Lai. Thế thì như vậy, dù Phật có tán thán hay không tán thán, quả vị A La Hán đã nói lên sự thành tựu việc hành đạo của chư vị rồi; hơn nữa điều này còn làm Thế Tôn hài lòng hơn nữa. Bằng như không đắc quả, sự tán thán của Phật cũng chẳng đem lại một quả chứng nào cho chư vị, nếu chư vị không dụng công hành đạo.

 Ta lại hiểu đã đắc quả A La Hán, thì vị nào cũng có niềm an lạc như nhau. Và mười đại đệ tử của đức Phật được quả A La Hán, cũng chẳng có gì hơn sự an lạc của các vị A La Hán khác. Như vậy sự đề cập đến công hạnh hành đạo, và hình ảnh dụng công kỳ đặc của chư vị nào đó, chỉ là nhắc nhở và phương tiện để sách tấn cho những hàng sơ cơ ghi nhớ, mà cuối cùng là làm sao rút ngắn đoạn đường tu, chứng quả mau hơn.

 Như trường hợp Ngài A Nan được tán thán là Đa văn đệ nhất, được liệt vào mười đại đệ tử của Phật, tuy vậy Ngài chỉ đắc quả A La Hán sau khi Phật nhập Niết Bàn. Và việc này Phật có tán thán Ngài cũng chỉ là mong Ngài tu chứng quả cho mau, chứ chẳng ngoài gì cả!

 Trở lại Tôn giả La Hầu La, thời gian khi vào đạo, tuổi còn quá trẻ lại bị ảnh hưởng sự nuông chìu kính thương của bậc vương giả, nên chẳng những khó tu cho mình, còn gây phiền não đến người không ít. Nhưng khi Ngài được Phật dạy, ý thức được việc tu hành lợi ích quan trọng cho mình và người thế nào, thì Ngài đã đổi tính hoàn toàn, cho đến dụng công thành tựu chứng quả A La Hán. Khi đã thành bậc Thánh giả, Ngài lại tiếp tục công phu, và có lẽ để đổi lại những hình ảnh không hay của ban đầu vào đạo, nên thường lặng thinh mặc niệm dụng công, khiêm hạ tuyệt đối; như ít giao tế với người, ít để duyên trần vào đời sống hành trì tu niệm. Và dù được hay không được hài lòng phương tiện hoằng hóa lợi sanh, Ngài chẳng thay đổi trầm tịch tu hành; nhưng đúng hơn hết, vẫn lấy việc hoằng pháp bằng thân giáo trong lối hành trì khiêm hạ tế nhị của Ngài nhiều hơn; cho nên Phật đã khen là mật hạnh, nghĩa là luôn hành trì tinh tấn mà không bao giờ để người khác biết; ngay cả chẳng chấp vào việc thầm lặng tinh tấn tu niệm.

 Thiết nghĩ hình ảnh của Ngài quả thật được ca ngợi và hành theo. Sự trở ngại tu đạo lớn nhất là phô trương, tự cho mình hơn người, xem người khác thấp kém, cho nên Tôn giả La Hầu La, dù không phải có những tài hạnh nổi bật khi hoằng pháp lợi sanh, nhưng chính sự thầm lặng khiêm hạ trầm tư của Ngài, lại là bài pháp khó học và đáng ca ngợi tán thán.

 Xã hội ngày nay hình thức sắc màu đa dạng, việc hoằng dương chánh pháp thầm lặng tiêu cực, lại chẳng phải là việc dễ độ sanh; vì đời sống khoa học văn minh, phương tiện học pháp đã khác rất nhiều, cho nên chư vị chứng quả, hay chân tu thạc đức, muốn độ sanh cũng đành xuất hiện mượn vào hình ảnh tiếng danh làm phương tiện. Dù thế người học Phật như chúng ta đôi khi lại hiểu lầm, nên chẳng hài lòng một ai. Người thầm lặng tịnh tu, ta cho là tiểu thừa, người phóng khoáng hướng ngoại trong tinh thần Đại Thừa Bồ Tát, ta cho quá đà sai pháp! Không biết người sai hay ta sai! Thôi thì tốt nhất, phải nói rằng ta sai! Chỉ có ta sai mới là đúng, vì xem ta đã tu thế nào rồi, mới quán xét người ta. Vậy còn cách là học hạnh Đại Thánh La Hầu La là đúng nhất.

 Cuối cùng bạn và tôi phải thấy, nếu đây là sự sắp đặt thứ tự mười vị Đại Thánh chấm dứt bằng Ngài La Hầu La là người nhỏ tuổi nhất. Nhỏ nhất để kết thúc tất cả phẩm hạnh hiện ra trong mười vị Thánh nhân, và cũng rất hợp lý kết thúc chọn mật hạnh như Ngài La Hầu La bao gồm hết tất cả chín hạnh. Do vì chỉ có mật hạnh mới thật đúng ý nghĩa và tinh thần hành đạo vô chấp vô ngã vậy.

 Thưa bạn đó là một vài hình ảnh sống thật và giải thoát của mười vị đại đệ tử tiêu biểu của Thế Tôn; tất nhiên câu chuyện kể về các Ngài chắc chắn không thể chính xác, vì lý do chỉ là truyền tụng trải qua nhiều thế kỷ, cũng như ảnh hưởng vào niềm tin, quan niệm của người thuật chuyện, và nhất là chẳng thể tránh được việc quá kính mộ quý Ngài, nên có thể thần thánh hóa vượt khỏi nhân cách bình dị của các Ngài. Thành ra vấn đề là hãy đón nhận những gì thực tế, những gì là bài học có thể hành xử được trong bối cảnh thời đại ngày nay. Việc nữa để hiểu mười vị đại đệ tử chỉ là tiêu biểu nổi bật, và tất cả đệ tử của Thế Tôn đều là những bậc tu hành mô phạm không sai khác, nhất là quả vị vô sanh (A La Hán) là điểm chứng đạo mà tất cả chư Thánh thể hiện xứng đáng nhất như lời Thế Tôn dạy bấy giờ.

 À! Chúng ta lại quên mất trong Tăng đoàn Thế Tôn, chư vị Thánh Ni, vẫn đạt được quả vị giải thoát vô sanh không khác Thánh Tăng vậy, đó là chư Thánh Ni: Ma Ha Ba Xà Ba Đề, Kế Ma, Liên Hoa Sắc v.v... Và tất nhiên chư vị Thánh Ni cũng có những hạnh tu tiêu biểu nổi bật như bên Tăng. Thật ra điều này bạn và tôi phải biết, tánh giác chỉ là một; khi chưa ngộ đạo còn mang lớp vỏ vô minh, dù nam hay nữ, nghèo hoặc giàu tất cả đều đau khổ; nhưng khi giác ngộ khơi dậy Phật tánh, thì bức tường hình tướng, kể cả bức tường kiên cố của ý thức chấp ngã cũng phải phá tiêu. Chỉ còn lại là sự chứng đắc thể tánh thanh tịnh tuyệt đối đi vào thế giới nhất như của chư Phật, và bấy giờ vượt khỏi sự hý luận thường tình. Cho nên một cách tương đối để hiểu về danh xưng hình ảnh của chư vị Tôn giả thời Phật, làm niềm tin gần gũi với những đệ tử Phật ngày nay đã cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm.

 Như vậy lượt qua tìm hiểu mười vị đại đệ tử Thánh Tăng chứng đạo thời Phật, giúp bạn và tôi thấy được giáo lý giải thoát của Đấng Thế Tôn càng thêm rực rỡ sinh động, qua hình ảnh hành hoạt đa dạng ly kỳ của mười đại tử Phật nói riêng, và tất cả đệ tử Phật nói chung cho đến thời nay. Lại nữa dù hình ảnh mười vị Thánh Tăng chứng quả với trong những hoàn cảnh nhân duyên khác nhau, nhưng không tách rời sự hài hòa sống chung trong biển pháp; đó là điểm đẹp nhất mà người học Phật chúng ta cần suy niệm học hỏi. Như vậy ta có thể đoán biết chư vị Thánh Tăng được như thế, thứ nhất là vì chư vị đều là bậc Vô Sanh (A La Hán), và thứ hai đã thể hiện sống lục hòa như lời Phật dạy.

 Vậy thì nhân đây tiếp theo mời bạn, chúng ta thử bàn về sáu pháp lục hòa xem sao. 

 

Lục Hòa 

 Lục hòa là sáu pháp hòa kính mà Thế Tôn luôn ân cần nhắc nhở cho hàng đệ tử Phật, nhất là đệ tử xuất gia. Sáu pháp Lục Hòa là: Thân hòa đồng trụ, Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng duyệt, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải và Lợi hòa đồng quân.

Thân hòa đồng trụ

 Hình ảnh Thế Tôn hiện hữu sống động, đi lại hoằng pháp bấy giờ, là một thời kỳ chánh pháp rực rỡ khiến cả Phạm Thiên Đế Thích ở những cảnh trời sung sướng khoái lạc, còn phải ao ước được gần gũi với Ngài. Những vị trời như vậy đã gieo duyên Phật pháp từ lâu, nhưng chưa chứng đạo, đành phải hưởng quả báo cõi thiên, nay nhờ chút duyên lành tìm lại gặp Thế Tôn quả là đại phước. Thế thì chư đệ tử trong hình tướng cõi người đang sống và thực hành gần Đấng Đại Giác phải sung sướng thế nào?

 Câu trả lời là Thánh quả A La Hán đã đến với chư vị như một tặng phẩm tất nhiên, sau khi được Thế Tôn chấp nhận cho vào hàng đệ tử. Niềm vui an lạc, an định, tịch tỉnh của quả vị A La Hán, thiết nghĩ không còn gì để nói! Và có muốn nói cũng chẳng biết sao, bởi chẳng lẽ bằng ý thức phiền não phân biệt mà có thể giải thích được niềm vui giải thoát? Thế chẳng lạ gì Phạm thiên cõi trời còn mơ ước là phải rồi.

 Thân hòa đồng trụ trong thời Thế Tôn, không nói cũng tất thành, bởi ai lại chẳng muốn nương theo hình bóng Thế Tôn mà sống, dù chính ngay chư vị đệ tử đã đắc quả vị A La Hán vẫn còn thích sống gần Ngài. Nhưng tại sao đã là điều tất nhiên mà Thế Tôn phải nhắc nhở, dạy bảo Thân Hòa Đồng Trụ?

 Vì đó là lực chúng, lực Tam Bảo tồn tại cho mai sau. Cái nhìn của Đấng Đại Giác không phải hoàn toàn chỉ cho thời bấy giờ; điều đó chỉ làm phát điểm cho thời tượng pháp, mạt pháp ngày sau.

 Nếu cứ mỗi một Tăng, Ni sống riêng rẽ, vậy ai có thể chứng minh giới luật của Phật đang còn hiện hữu, ít ra hiện hữu theo hình tướng bên ngoài. Cho nên Tăng Bảo thật đúng với ý nghĩa và danh từ, buộc phải từ bốn người trở lên. Phật lại dạy, ngày nào các đệ tử ta còn hội họp, còn ngồi chung nhau bàn về chánh pháp, ngày đó Phật pháp còn hiện hữu ở thế gian, điều này chính là Thân Hòa Đồng Trụ. Vì sống chung nhau mới có nhiều cơ hội ngồi chung nhau, lo Phật pháp với nhau.

 Ngày nay chúng ta những người xuất gia tại gia, những người đã và đang học Phật còn hiểu thêm, Thân Hòa Đồng Trụ vẫn có thể áp dụng cho những vị học Phật tu một mình dù tu sĩ hay cư sĩ. Tất nhiên tu sĩ, là điều bất đắc dĩ mới tu một mình; hoặc vì hạnh duyên, hạnh tu phương tiện có thể độ chúng bằng lối cách ly chúng; nhưng không thể khuyến khích người tu một mình, cho những vị hạ căn, những vị Phật pháp chỉ hiểu căn bản.

 Nếu có thể hiểu Thân Hòa Đồng Trụ, là thân tiếp xúc với trần cảnh vẫn an nhiên hài hòa mà trụ định trong chánh pháp, chẳng sanh vọng động, chẳng mất hạnh tu giải thoát, nghĩa là vẫn đủ oai nghi, tế hạnh của người học Phật, vậy vẫn được gọi thực hành Thân Hòa Đồng Trụ dù chỉ sống một mình. Đương nhiên đây không phải chuyện dễ cho người học Phật ngày nay. Nhưng ít ra cũng hiểu để chuẩn bị cho những hoàn cảnh mà người tu sĩ phải lâm vào.

 Trong giáo đoàn Thế Tôn, Thánh Tăng Ca Diếp nổi danh đầu đà đệ nhất, Ngài có thể an nhiên thân hòa đồng trụ, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, điều đó cho thấy Ngài đã giữ được thân trụ, tâm hòa trong mọi tình huống, do đó sinh hoạt thường cách ly Tăng chúng của Ngài vẫn được Thế Tôn ca ngợi.

 Trải hơn ngàn năm sau cho đến bây giờ, các vị tu sĩ nhập thất nơi rừng sâu, núi cao, hang động từ Tây tạng đến Trung Hoa cũng nói lên được ý nghĩa thân cảnh hòa nhau như một. Các Ngài nhập thất, an thân một mình, nhưng tâm lại hòa nhập vào tâm chúng sanh không khác, tức là khởi đại bi tâm sống chịu đựng và hoan hỷ như hiện cảnh chúng sanh sống. Nghĩa là không khởi vọng khi tâm chúng sanh móng lên, và không động tâm khi tâm giác ngộ hiện khởi; sống như lời Phật dạy mà chẳng tiếp một bóng hình nào; và sống như bỏ lại thế gian mà không bao giờ quên thế gian đang phiền não. Những cảnh giới và tâm cảnh của chư vị như vậy, ta không thể cho là tiểu thừa, hay ly chúng được.

 Với người học Phật không phải là xuất gia, tuy hình tướng Pháp Lục Hòa không giống như tu sĩ, nhưng trên thâm nghĩa giải thoát, người tại gia có thể thực hiện được con đường Bồ Tát, là sống trong sự dung hòa với mọi người để thực hiện phần nào chánh pháp đã học.

Khẩu hòa vô tránh

 Từ thân sống với đại chúng, sống gần Thế Tôn nên chư vị Đại Thánh không thể lìa khỏi chánh ngôn pháp ngữ. Có lẽ chư Thánh không có thời gian hý luận, hay đúng hơn là không bao giờ có hý luận xảy ra với bậc La Hán. Ngôn ngữ các Ngài là ngôn ngữ xuất thế gian, chỉ nhất quán với ngôn từ giải thoát.

 Sinh hoạt đại chúng bấy giờ lại được che chở bằng bóng mát giải thoát của Như Lai, nên chỉ có thiền tọa, quán niệm tư duy, tư duy làm thế nào để đưa pháp giải thoát vào thế gian đang đau khổ. Nhưng bạn và tôi vẫn nghe, chuyện đệ tử Như Lai vẫn không tránh được bất đồng quan điểm, bất hòa vài chuyện không đáng xảy ra. Nghĩ ra, đây là việc đương nhiên trong một Tăng đoàn nhiều người sống cùng nhau một chỗ, và người sai kẻ đúng đó cũng là cách học, việc tu, chỉnh đốn Tăng đoàn hoàn hảo hơn.

 Việc tranh cãi bất hòa nhau, hầu hết sinh ra từ những người mới học, Thế Tôn hẳn từ bi đón nhận việc này; điều này cho thấy khẩu hòa chỉ có thể làm được bao giờ quả Thánh được xong; bằng chưa được, thì đây là điều tu nhẫn mà ai cũng phải nỗ lực hành trì. Cho nên Thế Tôn dạy, nên im lặng như chánh pháp, nói năng như chánh pháp. Lời dạy này, trong thập đại đệ tử của Phật, Ngài La Hầu La phải là người làm mô phạm cho tất cả học theo; tiếc rằng tuổi thọ của Ngài không được sống lâu trong chúng, nên mật hạnh thể hiện im lặng nói năng như chánh pháp của Ngài đã không được truyền tụng nhiều hơn.

 Ngược với Thánh Tăng, người học Phật ngày nay, khó thể im lặng như chánh pháp, nên đã xảy ra không ít việc nói năng ra ngoài chánh pháp. Nói năng ra ngoài chánh pháp là nói không đoàn kết, không hài hòa thông cảm tha thứ. Phật dạy khẩu hòa vô tránh, nhắm vào đời sống cộng đồng Tăng lữ, vì nơi đông người là nhân dễ gây tranh cãi; nhất là những vị chưa đạt quả Thánh, khó thể kiềm chế ngữ hòa chân thiện được. Ngày nay người học Phật thấy rõ việc này là chân lý; và đến cả thế gian không học Phật, cũng phải dè dặt lo sợ hậu quả phản ứng từ ngôn từ ác khẩu mà ra. Hay nói một cách thực tế rằng, bao giờ chưa thể đạt được giới định huệ, chưa liễu đạo chứng quả, tất khó thể tránh được ít nhiều ngôn từ xúc phạm đến người khác. Kết luận rằng, đời nào, nơi đâu con người cũng phải giữ gìn ngôn ngữ lời nói.

Ý hòa đồng duyệt

 Thân đã hòa cùng sống, khẩu không phiền tranh cãi, điều đó bắt buộc thể hiện sự hoan hỷ bằng cách nuôi dưỡng ý tưởng vui vẻ, vậy mới thật điều phục được ba nghiệp thân khẩu ý.

 Bạn và tôi tuyệt đối tin rằng, một vị toàn giác sống tuyệt đối hỷ lạc như Thế Tôn, thì những người sống chung nơi Ngài nhất định phải hoan hỷ. Có lẽ trong hàng đệ tử, người hoan hỷ nhất là Ngài A Nan thị giả cho Phật. Nhưng niềm hoan hỷ nào bằng niềm hoan hỷ chứng đắc Thánh quả; điểm này khiến không ít người ngoại đạo ngạc nhiên, tại sao cuộc sống của đức Phật và các vị đệ tử của Ngài có thể hỷ lạc an vui được, khi đời sống thật buồn tẻ, ngày ngày thọ trai một bửa, ăn uống trong im lặng, sinh hoạt chẳng có gì vui quyến rũ!

 Chúng ta dùng tiếng ngoại đạo ở đây, có nghĩa những đạo giáo hướng về bên ngoài chỉ lo cầu nguyện, ngược với đạo giải thoát hướng vào bên trong nỗ lực tu hành dung hòa cả ngoài lẫn trong. Chúng ta không có ý phân biệt thương ghét với người, chỉ nói khác biệt phương pháp hành trì tu đạo mà thôi; và rồi tương lai xa, tùy thuộc vào hành nghiệp của mỗi người, để rồi tất cả đồng nhất trở về giải thoát.

 Trở lại việc hỷ lạc phát sinh từ ý, đó là điều phải có của một người học Phật. Thật là nhân duyên thù thắng cho những chúng sanh sống thời chánh pháp được gần gũi Như Lai. Niềm hỷ lạc của Thế Tôn khiến ai lại chẳng ảnh hưởng vui mừng hoan hỷ. Trừ người nghiệp nặng trong quá khứ, do đó xa lạ hoảng sợ với chánh pháp, khó cảm xúc được nét hỷ lạc Như Lai.

 Học Phật ngày nay hay tương lai bao xa chẳng khác, phải sinh tâm hoan hỷ, phải sống với ý lạc niềm vui; niềm vui đó là niềm vui từ thân hòa đồng trú và khẩu hòa vô tranh. Nếu thân không cùng nhau hòa sống, nếu những lời khiếm nhã chẳng dứt trừ, thì niềm vui từ ý chẳng bao giờ có được, hay chỉ là những ý vui ác tâm làm nhân cho luân hồi đau khổ.

 Chư Thánh Bồ Tát đời nào cũng tạo cho mình ý hòa đồng duyệt; thậm chí sống nơi thâm sơn cùng cốc các Ngài cũng vui; vui hồi hướng muôn loài chúng sanh sẽ được sống hòa vui vẻ. Đọc chuyện Tế Điên Tăng bên Trung Hoa dù dựa theo truyện sử của một vị tăng hư thật thế nào không rõ, nhưng ít ra câu chuyện cũng cho người học Phật thấy, Tế Điên Hòa thượng là hình ảnh mang đầy sự hoan hỷ đến mọi người; tuy rằng thân Hòa Thượng không đồng trụ với chúng, và khẩu Hòa Thượng là những ngôn ngữ dị kỳ, nhưng niềm vui qua ý của Ngài phải là đại hoan hỷ, đại xả ly. Gặp ai Ngài cũng ý hòa cùng vui, gặp ai Ngài cũng lấy cái vui để đưa người về chánh pháp. Thế giới hôm nay, có Ngài Đạt Lai Lạt Ma người Tây Tạng đang sống lưu vong, Ngài chính là hình ảnh ý hòa đồng duyệt, luôn luôn hiện lên khuôn mặt Ngài.

 Như vậy trong đạo tràng, trong đại chúng, ý hòa đồng duyệt phải là quan trọng nhất, mới thể hiện được cùng vui cùng sống cùng học cùng tu.

 Giới hòa đồng tu

 Trong một Tăng đoàn hơn ngàn người sống chung nhau không tranh cãi, không bạo động, đó có phải là nhờ Giới Hòa Đồng Tu.

 Không phải chỉ có một hình ảnh Thế Tôn trang nghiêm thanh tịnh, mà chư vị Thánh Tăng đệ tử Ngài chẳng khác Như Lai. Đạo giải thoát có vậy mới thuyết phục được các vị vua háo chiến háo thắng thời bấy giờ.

 Vua phải dùng vũ khí, uy quyền, hình phạt... mới mong người tuân thủ nể sợ; nhưng nếu hà khắc cưỡng bức bóc lột người dân quá đáng, thì uy vũ gươm đao thế nào, cũng khó khiến người quy phục.

 Với Đấng Đại Giác, không có gì anh dũng anh hùng khi thắng được chính mình, thắng được tự tâm, đó chính là chiến công oanh liệt nhất. Vị vua cai trị được dân, khiến dân kính phục nể vì, là vị vua chánh trực anh minh, sống vì dân hơn vì mình, lo cho dân hơn lo cho triều nội. Làm vua được vậy đã thắng được tham vọng, tham lam xứng đáng được lưu danh muôn thuở; và điều đó cũng là điều Đức Phật dạy nên sống vị tha hơn vị kỷ.

 Các vị Thánh Tăng phải tự mình tu, tự mình luôn luôn nghiêm túc hành trì mới có thể hòa nhau an lạc được. Thế Tôn chỉ là người dẫn đường, chứ không thể là mắc xích kéo được những người trầm trệ giải đãi không phấn đấu vươn lên. Như vậy mỗi vị hành giả dù đã là Thánh Tăng, cũng phải tuân thủ giới luật, sống đúng quy luật Tăng đoàn, đúng theo đoàn thể giải thoát của Như Lai. Phải nói rằng sự hòa hợp là sự giữ giới vĩ đại, và sự vĩ đại của Tăng đoàn lại đến từ mỗi cá nhân. Ngay ở thế gian cũng vậy, sự đoàn kết của mọi người có được thành công, thành tựu là do đồng tình nhất trí, tán thành luật lệ, giữ gìn quy ước quốc gia. Một công trình tác phẩm vĩ đại lại càng có sự thống nhất ý chí, giữ theo quy tắc, và tất cả phải cùng nhau nhất trí chung lo, thì tác phẩm đó mới trở thành kỳ quan thế giới được.

 Nhưng bạn và tôi cũng phải biết, dù sống một mình độc lập, giới tu của người học Phật vẫn phải được tuân thủ tôn trọng mới có thể giữ được tính chất giải thoát, cho dù việc giữ giới như thế hoặc khó, hoặc dễ, hoặc bị người hiểu lầm hay chính hành giả nghi ngại. Hiểu lầm ngộ nhận, nghi ngờ, đúng giới hay không đúng giới, dù sao vẫn phải giữ được giới, đó mới là cách cụ thể hành trì tu niệm. Và tất nhiên sống độc lập một mình vẫn khó hơn cùng chung hòa hợp.

 Chư vị Thánh Tăng Bồ Tát khi nhập thất tránh xa phố thị, hạn chế tiếp xúc thế gian, nên giữ giới có thể không bị ngộ nhận; nhưng phàm Tăng ngay giữa hoàn cảnh chung đụng mọi người, lại sống cô lập một mình thì sự giữ giới nơi đây không đúng với tinh thần giới hòa đồng tu. Giới hòa đồng tu, chỉ thành tựu là sống trong một tập thể của người xuất gia. Đối với chư vị sống một mình thanh tịnh lánh xa phố thị, dù hình thức không hòa hợp tăng, cùng giới đồng tu, nhưng đã đề cập trên, chư vị là những vị hiểu được điều này, và nhất định đã chuẩn bị cho mình một đời sống đúng chánh pháp; hay nói đúng hơn hầu hết chư vị phải là Thánh Tăng mới có thể làm được.

Kiến hòa đồng giải

 Kiến thức của chư vị đắc quả A La Hán, là kiến thức vượt ngoài hiểu biết của thế gian; các Ngài cũng còn gọi là bậc vô học, nghĩa là không còn phải chạy theo vọng động pháp trần thế gian, bất kể là pháp gì. Không còn vọng động coi như không màng, không có gì để học. Tuy nhiên các Ngài vẫn có cái học, học trong vô học, học trong nguyện thành Đại Bồ Tát, bước lên con đường Phật quả. Nói một cách khác, các Ngài vẫn chưa thể xem mình đã xong, vì Phật quả chưa thành. Tất nhiên đối với kẻ đang học đang tu, thì quả vị A La Hán của các Ngài được xem hoàn mãn trên bước đường tu ở tại thế giới này, và cũng tất nhiên không thể thành Phật được trong khi giáo pháp giải thoát của Thế Tôn, và hình bóng của Ngài đang còn hiện hữu. Và chẳng những các Ngài A La Hán không được, mà chư vị Bồ Tát lớn cũng vậy. Nguyên vì một chu kỳ Phật chưa chấm dứt, phải đợi không còn một kinh pháp nào của Phật, kể cả danh từ Phật cũng không còn, chừng ấy một sự đản sanh khác của một Bồ Tát sẽ bắt đầu vòng quay mới, khởi lên đón mừng một vị Phật tương lai.

 Trở lại việc tu học của chư vị A La Hán, đối với thế gian sự học các Ngài xem như đã xong, tuy nhiên việc hành hoạt vẫn như một tu sĩ bình thường. Các Ngài phải chia xẻ những kiến giải, dù hiểu biết kiến giải bấy giờ đối với quý Ngài chẳng làm lay động, chẳng làm dính mắc, hoặc tăng hoặc giảm trong sự chứng đắc. Tuy vậy các Ngài vẫn giảng giải để giữ chánh pháp, và nhất là gây cho hàng sơ cơ chưa đạt quả A La Hán có nhân duyên học hỏi thực hành.

 Nhưng nếu ta hỏi, vậy chư vị A La Hán khi nghe Phật dạy thì các Ngài vẫn gọi là học chứ? Vâng chắc chắn là vậy, Bồ Tát lớn đối với Phật còn học huống gì chư vị A La Hán, nhưng sự thành tựu tại thế của chư vị vẫn đã viên mãn với quả vị A La Hán này. Và việc học hiểu chỉ tiếp tục theo lời nguyện trong tâm để được thành tựu ở thế giới tương lai, chẳng hạn thực hiện hạnh Bồ Tát tương lai, và sẽ được thọ ký thành Phật tương lai. Nhưng nếu chư vị A La Hán muốn hành Bồ Tát đạo giải thoát ngay hiện thế; điều đó vẫn được, không khó đối với quý Ngài, tuy nhiên chỉ chứng đạo thành Bồ Tát lớn, chứ không thể thành được quả Phật hiện tiền.

 Thế thì kiến thức của chư vị A La Hán vẫn phải được san sẻ, và ít ra tạo được nhân duyên cho lời lập nguyện thành Phật của chư vị; lại lấy đó tạo duyên học Phật cho người sơ cơ tu học.

 Ngày nay người học Phật như chúng ta, lại càng nên phát huy cùng nhau học hỏi kiến giải giáo lý của Như Lai hơn lúc nào hết. Với nền văn minh khoa học vật chất ngày càng rầm rộ không ngừng, việc chia xẻ học hỏi áp dụng giáo lý giải thoát, nhằm quân bình đời sống vật chất, tâm linh quả thật là cấp thiết. Dù vậy, điều có lợi cho việc kiến giải là giải để hành, chứ không giải để thỏa mãn; nếu giải để thỏa mãn chỉ tạo tánh tham sân, vậy thà không giải còn hơn, chứ đừng hý luận bàn thảo hóa thành tạo nghiệp.

 Người giải đúng nhất là người phải hành, vì ngôn từ phải được ứng dụng mới thật là chân ngôn, không thôi chỉ là ngôn từ sáo ngữ. Bạn và tôi vẫn luôn hy vọng tất cả người học Phật chúng ta ngày nay sẽ nỗ lực duy trì và phát huy giáo lý giải thoát, bằng sự tha thiết kiến hòa đồng giải, để giáo lý Như Lai vừa có thể giúp được chính mình, vừa đi vào đời sống nhân gian, để giúp được vô số người đang không duyên học Phật.

 Lợi hòa đồng quân

 Chư vị đệ tử của Như Lai sống trong thời chánh pháp, hầu hết là những bậc Ứng Cúng, đã đắc quả A La Hán, xứng đáng thọ nhận cúng dường của trời người đúng như danh hiệu Ứng Cúng. Dù biết như vậy các Ngài vẫn điềm nhiên tự tại, xem sự thọ nhận là thể hiện từ bi, tạo gây nhân duyên phước điền cho người cung dưỡng. Các Ngài vẫn bình đẳng thực hành khất thực gieo duyên từng nhà, chứ không chỉ ở một nơi thọ nhận cho người mang đến, ngoại trừ mùa an cư hay duyên sự khác.

 Thật ra các Ngài khi chứng quả A La Hán, sự thọ nhận phẩm thực, ăn uống chỉ vì muốn nán giữ uẩn thân hoằng pháp lợi sanh, chứ chẳng còn gì tha thiết, so với niềm an định lạc pháp chứng đạo Niết Bàn. Vậy việc lợi hòa đồng quân, phải là tuyệt đối nhắm dạy cho người học Phật ngày sau. Tuy nhiên vẫn có trường hợp răn dạy cho những vị sơ cơ mới vào đạo. Chẳng hạn một nơi không có Thế Tôn, nơi chư vị chưa đắc quả cùng sống với nhau, thì Lợi Hòa Đồng Quân, sẽ được lưu tâm thực hiện. Phải được chia xẻ nghĩ tưởng đến đồng đạo của mình. Và dù sao, trong thời chánh pháp sự thọ nhận chỉ bằng phương tiện khất thực đơn sơ, trong một dung lượng không gian của một bình bát, nên sự chứa giữ cũng chẳng thể qua một ngày. Nên phải hiểu rằng, điều Phật dạy, Lợi Hòa Đồng Quân là cho thế hệ sau này nhiều hơn, nhất là thời kỳ vắng bóng Thế Tôn quá xa.

 Nhưng ta lại nghĩ thêm, lợi phẩm không phải đơn giản ý nghĩa ẩm thực, tứ sự cúng dường, mà lợi còn là những hạnh phúc thấy đạo và sống đạo, cần phải chia sớt đồng đều đến tất cả; đó là đời sống giải thoát an lạc của một tu sĩ được ban rải đến khắp chúng sanh. Đó là việc hoằng pháp lợi sanh vậy; nhưng việc lợi sanh này chỉ có được bằng sự tu hành mà ra, chứ không phải là kiến thức sách vở.

 Ngày nay người học Phật thực hành Lợi Hòa Đồng Quân, tất nhiên trước tiên ít nhiều thể hiện bằng vật chất, sau phải đem cái lợi quan trọng nhất, là việc học Phật để chia xẻ san sớt cho người. Chỉ có Phật học mới là cái lợi nhất trong mọi cái lợi; vì thực tế người học Phật làm gì có vật chất hơn người khác được, nhưng dù có nhiều cũng chẳng thể chia xẻ cho người hết khổ.

 Thế gian chìm đắm say mê với vật chất, lại đem vật chất chồng chất lên, càng làm con người sinh tham hưởng thụ. Đời sống đã cho ta thấy người càng tham càng thêm đau khổ, chỉ có tham sống đời tâm linh hòa ái, biết sống vừa phải với vật chất hiện thời, đó mới an được tâm, mới vui với hạnh phúc như lời Phật dạy. Cho nên lợi ở đây cần phải lấy bằng tình thương, nhất là chân lý giải thoát của Như Lai, và nếu được cộng vào một ít vật chất mà người nghèo khổ đang cần, điều này càng đầy đủ ý nghĩa nghĩ tưởng thương nhớ đến tất cả chúng sanh. Tinh thần và việc làm như vậy là tối thiểu của người học đạo xuất thế, không phân biệt tại gia hay xuất gia.

 Đối với tu sĩ xuất gia, lợi hòa đồng quân, lại còn hiện rõ lên tâm không phân biệt, tâm bình đẳng, tâm vô ngã, vô chấp, thành tựu pháp Như Lai.

*

 Đó là sáu pháp Lục hòa Phật dạy cho người học Phật xuất gia, cũng như khéo nhắc chừng mực nào đó người tại gia cũng nên học hỏi và thực hành theo. Và chư Thánh, chư Tổ từ thời Phật đến nay và mãi ngàn sau vẫn không thay đổi chân lý Lục hòa muôn thuở.

 

Khổ và nguyên nhân khổ

 

 Thưa bạn chuyện học Phật của chúng ta cũng tạm được một đoạn đường, từ căn bản hiểu về nhân quả luân hồi, đến vài ý tưởng học Phật trong ba thời Chánh pháp, Tượng pháp và thời nay. Riêng trong phần nói chuyện về giáo lý của Như Lai, có giới thiệu đến bạn 37 phẩm trợ đạo, là 37 pháp học được chia thành bảy nhóm: Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bôà Đề Phần và Bát Chánh Đạo, tất cả nhóm này chỉ là hệ thống sắp xếp lại từ một pháp gọi là Đạo đế trong Tứ Diệu Đế, mà người Phật tử thường nghe. Bài pháp Tứ Diệu Đế, là bài pháp nổi tiếng nhất trong giáo lý Như Lai, do vì là nền tảng trước khi đi sâu vào biển pháp. Tứ Diệu Đế lại được ghi nhận là bài pháp đầu tiên cho nhân loại khi Đấng Giác Ngộ vừa thành đạo không bao lâu, cho nên nói đến Tứ Diệu Đế Phật tử ai cũng biết. Nhưng theo thiển ý, dù Phật có nói thật nhiều