Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

Vài Chuyện

Bạn và Tôi học Phật

 

Thích Phổ Huân

 

---o0o---

Chuyện giáo lý của Như Lai 

 Từ khi vào chuyện đến giờ, tất cả vẫn là Phật pháp, chẳng có gì ra ngoài giáo lý Như Lai, vì giáo lý của Đấng Giác Ngộ từ thế gian mà xuất hiện cho nên có bàn thêm cũng chỉ là bổ túc rõ nghĩa hơn.

 Bạn nghĩ xem chúng ta phải bắt đầu nói gì trước tiên, với đề tài Giáo Lý của Như Lai?

 Quả thật là khó!

 Thật tình với bạn, câu chuyện học Phật của bạn và tôi ở đây, tuyệt đối là căn bản, thật căn bản. Chúng ta chỉ toàn nói chuyện thế gian rồi lồng vào giáo lý giải thoát của Như Lai mà tìm hiểu tu học, chứ nào có đủ sức lý giải nổi yếu nghĩa giải thoát. Hơn nữa có muốn nói cũng chẳng được, và có làm được lại thành dư thừa, một sự dư thừa dở tệ!

 Vì sao? Vì đã có thật nhiều sách luận nói về giáo lý của Như Lai. Các vị đó là tu sĩ, cư sĩ, học giả, thật tu, thật học, ham say giáo điển, đã lo lắng chuyện này lâu rồi, do đó bạn nghĩ xem chúng ta phải nên mừng là phải.

 Vậy thì bạn và tôi phải nói những điều thực tế nhất, những điều mà đôi khi chúng ta học nhiều lại dễ quên.

 Thường bạn nghe người ta nói cuộc đời là phù du, là huyễn mộng, là hư giả, là chiêm bao, mới thấy đó rồi mất đó. Lời than thở, lời chán ngán này có đúng như vậy không?

 Thưa bạn quả là đúng, và nhà Phật tóm gọn những lời bình phẩm trên bằng hai tiếng Vô Thường.

 Nào chúng ta sẽ nói về vô thường.

 Chắc bạn còn nhớ khi bắt đầu vào chuyện chúng ta cũng có đề cập đến vô thường; giờ ta thử đi vào chi tiết tìm hiểu thực tiển trong đời sống chúng ta ra sao.

*

 Định nghĩa về vô thường ai cũng biết, nghĩa là không cố định, không thể giữ mãi tính chất ban đầu của nó, và luôn luôn thay đổi không tồn tại dài lâu.

 Định nghĩa dễ như vậy, nhưng cảm nhận lại không phải dễ. Người không hiểu đạo Phật vẫn có thể định nghĩa được, như là sự vật nào cũng bị xoáy mòn hư hoại theo thời gian, kể cả con người. Nhưng rồi định nghĩa, để mà định nghĩa, rồi xem chuyện đó là đương nhiên chẳng gì màng đến.

 Người hiểu đạo Phật khá hơn, bác học hơn, sẽ định nghĩa rõ hơn, sâu hơn, và đúng giáo lý hơn một tí, chẳng hạn: là sự biến đổi qua bốn thời kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không; là sinh diệt từng sát na, từng tâm niệm, và chẳng có gì tự tại tự chủ được; vì không có chủ tể, mà chỉ là nhân duyên kết nối, nên gọi là vô thường.

 Nhưng rồi tất cả định nghĩa như thế có làm ta thức tỉnh không? Đó mới là vấn đề.

 Khi Thái Tử Tất Đạt Đa còn ở hoàng cung, Ngài đã nhận ra vô thường mà không cần định nghĩa nhiều như chúng ta; Ngài thấy vô thường bằng hình ảnh hoa héo, cây khô, người già, người bệnh, thây chết.

 Ngày nay cũng có người cảm được điều này, nhưng rất ít. Vậy tại sao? Không lẽ cho rằng ta không hiểu vô thường!

 Ta mới vừa định nghĩa đó, định nghĩa một cách sâu sắc nữa mà!

Thôi! Ta hãy lấy cuộc đời của ta mà định nghĩa vô thường vậy.

 Bạn còn nhớ, tôi cũng còn nhớ, và tất cả người khác cũng nhớ; thời niên thiếu một thời thơ ngây, dễ thương, mơ mộng. Thời ấy ta chẳng biết quá khứ tương lai là gì, chỉ biết có hiện tại, biết hiện tại theo lối không biết lo, chứ không phải như các vị Thiền sư biết hiện tại trong tự tại định tâm chánh niệm.

 Còn tương lai thời niên thiếu chỉ biết tìm cách tiếp tục chơi đùa giởn phá. Việc học hành tới đâu hay tới đó, học cho Ba cho Má vui, học để khỏi dốt, học để có đi học với bạn bè, chứ chẳng lo, chẳng nghĩ, học là cho mình, cho tương lai. Thời gian cứ thế mà trôi, lại may mắn không bệnh không chết sớm, để oan tiếc một đời sống quý báu làm người. Rồi lớn lên, theo cuộc đời trôi nổi, ý thức được thời gian ngựa chạy như bay, nghĩ mình đã trưởng thành, nhìn lại tất cả bạn bè trở thành cha mẹ; các đứa con mình lại giống mình ngày xưa không khác, chúng cũng đùa giởn thơ ngây chẳng biết suy nghĩ cuộc đời.

 Lại nhìn lên cha mẹ mình thì sao? Đã không còn nữa, hoặc còn cha mất mẹ, hay còn mẹ mất cha. Lần nữa thời gian trôi đi, bây giờ mình đã già, và rồi con mình lại giống mình, trưởng thành làm cha làm mẹ; cuối cùng là ngày ra đi của mình chẳng khác cha mẹ vậy.

 Bạn có biết rằng, bạn bao nhiêu tuổi thì vô thường cũng bao nhiêu năm không?. Tôi thử tính vô thường theo khoảng thời gian một năm. Một năm cũng khá lâu chứ, tới hơn ba trăm sáu chục ngày, vậy mà giờ đây bạn đã ba chục tuổi, hay bốn năm chục tuổi rồi. Nếu cho cuộc đời bạn thọ được bảy mươi, như vậy hoặc ba mươi, hay hai mươi cái vô thường nữa, bạn sẽ ra đi.

 Nhưng vô thường theo định nghĩa trên, có thể thay đổi bất cứ lúc nào, do đó tuổi thọ của bạn cũng có thể thay đổi, hoặc thọ tới tám mươi, hoặc chỉ có năm mươi. Nếu tuổi thọ là năm mươi, bạn chỉ còn mười năm hoặc hai ba năm nữa; nhưng nếu tuổi thọ chỉ có bốn mươi lăm, hay còn có bốn mươi tuổi. Thế là bạn sẽ chắc chắn ra đi ngay trong năm tuổi này.

 Bạn và tôi thử nhớ lại, trong gia đình chúng ta, những người thân mất đi có giống tuổi nhau không? Chắc chắn là không! Già trẻ đủ thành phần. Lại còn cảnh mới ba bốn tuổi đã sớm đi rồi. Bệnh gì mà tội nghiệp quá!

 Thật may, bạn với tôi vẫn còn sống đến ngày hôm nay, và nhìn lại gia đình cũng còn một số người khả dĩ; nhưng cứ một năm trôi qua, lại tính vô thường trừ đi tuổi sống của mình, thì rồi ngày đó cũng phải đến; chính như vậy nên một đại sư đã nói rằng, khi sinh ra là bắt đầu đi đến mộ phần của mình rồi.

 Vậy thời niên thiếu vừa kể, nghĩ thật đẹp, và cũng thật mau, mau như vậy là do vô thường từng năm tuổi. May mắn rằng trong số những đứa thiếu niên vô tư đó, giờ đây bạn và tôi vẫn còn; không biết các bạn của chúng ta có còn hay không? Tôi nhớ một chuyện buồn lúc thiếu niên, khi còn là học sinh tiểu học, tôi đã một lần đưa đám tang đứa bạn chung lớp; tôi không nhớ là nó chết vì bệnh hay tai nạn. Có lẽ là tai nạn. À đúng rồi, tôi nhớ là tai nạn.

 Gia đình nó làm nghề nông, thường hay phát đất cấy bừa; tuổi thơ còn nhỏ, hay ưa tinh nghịch gặp chi cũng tò mò táy máy. Chẳng may nó dọc phá một vật hình kim loại cũ sét, nào ngờ đó là quả mìn thời chiến sót lại, mìn phát nổ, nó chết đi một cách đột ngột oan uổng.

 Ngày đưa đám ma nó người dự khá đông, vì gia đình tốt ai cũng thương, nó lại ngoan học giỏi, nên cả lớp học cùng Thầy cô đều xúc động thương cảnh ra đi quá sớm này.

 Tất nhiên ngày đó tôi chả biết cuộc đời giả dối, phù du là gì vì còn quá nhỏ. Nhưng thưa bạn, không phải vì chúng ta ngây thơ vô tư không hiểu vô thường, thì vô thường tha thứ cho. Thành ra phải nói giờ đây bạn và tôi quả thật là phước báo, khi hiểu được việc này.

 Nói về tuổi thơ lại nói cảnh vô thường chết chóc, như vậy có buồn quá không, có bi quan không?

 Tuyệt đối là không! Bởi đó là một sự thật, một sự thật cần phải biết để đối phó. Đức Phật dạy rằng đối với giáo pháp Như Lai, phải đến để xem, để trắc nghiệm, để học, rồi mới tin, mới thực hành theo.

 Vậy thì đây đúng là chuyện chúng ta đang bàn về giáo lý Như Lai, để học để tin và sẽ thực hành theo.

 Tôi xin được thưa tiếp. Cái khoảng thời gian vô thường phải đến, mà tôi tỉ dụ một năm là quá dài đó bạn, thật ra vô thường thay đổi chỉ trong một phút một giây thôi. Nó thay đổi nhanh đến nổi ta tưởng nó ung dung từ tốn vậy. Không phải đâu thưa bạn! Bạn nhìn xem thác nước đổ là vô thường đó, nghĩa là nhìn vậy chứ không phải vậy. Đó là hàng hàng giọt nước đổ xuống liên tục, chẳng giọt nước nào giữ được một giây cho bạn nhìn, vậy mà bạn cứ tưởng hình ảnh thác nước là trơ trơ ra đó. Do vì chúng nối tiếp quá nhanh quá nhiều nên nhìn chúng chẳng khác, chứ thật ra không có giây phút nào giữ được giọt nước bạn nhìn cả. Nếu ta có thần thông làm thác nước đứng lại một giây, rồi tính một tuổi thọ, thì số lần thác nước đó chết đi sẽ chẳng thể nghĩ bàn, bởi vì bao nhiêu tiếng đồng hồ đều nhân lên cho sáu mươi phút, rồi lại nhân lên sáu mươi giây, và ngày này qua ngày nọ, thác nước đó đã chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần mà kể.

 Cũng vậy bất cứ vật gì bạn đang có, đều đã và đang chết đi từng giây. Có điều có vật thay đổi nhanh, có vật thay đổi chậm mà ta chẳng biết. Nhưng thật ra chậm hay nhanh, nó vẫn theo duyên thay đổi, cứ thế sinh diệt vô thường.

 Trước đó đã nói tuổi thọ được tăng, hoặc giảm theo vô thường giả tính là một năm; bây giờ ta phải hiểu sự thật hơn, vô thường từng sát na đó bạn, sát na là khoảng thời gian thật nhanh, nhanh hơn cả một giây nữa. Nhưng thôi để nói một giây cho dễ hiểu.

 Vậy thì nếu vô thường xảy ra thay đổi từng giây như vậy, thì có ai biết ta sẽ sống thọ được bao lâu? Đến đây bạn phải biết, con người chết đi không chỉ toàn là bệnh, mà còn nhiều hoạn họa, như thiên tai và nhân tai nữa; đó chính là vô thường thay đổi hết sức nhanh mà ta không đoán được.

 Quan sát để xem không thấy một vật gì một hình ảnh chi mà không phải vô thường. Thật nghĩa đó là thay đổi luôn luôn, luôn luôn sinh diệt.

 Nhưng nghịch đảo của nguyên lý sinh diệt là phát sinh và hiện hữu, nghĩa là nhờ sinh diệt nên tất cả đều làm mới. Có phải vậy chăng? Bạn và tôi đã bàn qua về Luân hồi, đó là ý nghĩa này; thế là chẳng có gì để mất, vì diệt rồi sinh, sinh rồi diệt.

 Tôi lại xin được kể một số hình ảnh vô thường nữa xem sao!

 Vô thường nên ngôi nhà bạn cũ, vì ngôi nhà bạn cũ nên bạn phải tìm mua hay xây cất ngôi nhà mới. Rồi các máy móc thiết bị trong nhà còn lại đã lỗi thời, thành ra bạn phải mua sắm máy tối tân khác. Và bất cứ cái gì hễ bạn thấy lỗi thời bạn đều làm mới. Ngay cả con người của bạn cũng vậy; chẳng hạn mấy năm trước vì lo học lo làm, ít ra ngoài giao thiệp người quen, nên ngôn ngữ xã giao của bạn chỉ vài trăm từ lập đi lập lại, nay đã bắt đầu tiếp xúc gặp gỡ nhiều người, cho nên bạn phải tự học xử dụng trau giồi văn tự ngữ vựng mình dùng, để người ta khỏi cười mình nhà quê, và để mình được người xem hiện lên một ít trí thức. Như vậy làm mới là thay đổi theo luật vô thường chẳng thể dừng chân một chỗ. Nhưng thưa bạn có thể dừng chân một chỗ không? Tuyệt đối là không rồi! Đã nói vô thường thì làm gì có chuyện dậm chân một chỗ. Nếu ta dậm chân một chỗ, bấy giờ vô thường vẫn tiếp tục đi, nhưng đi ngược lại, và đằng nào vô thường cũng vẫn đi.

 Ngày xưa bạn trẻ, ngày nay bạn già, nói như vậy có nghĩa đi tới hay đi lui? Trả lời đúng nhứt là tất cả đều đi, và lui hay tới là ta gán đặt cho thôi, chỉ có kết quả không sai là người này sẽ già và sẽ chết, đó là vô thường vậy.

 Ta hãy nhìn vô thường bằng góc độ tích cực khách quan, trên tinh thần người học Phật, ta sẽ không những không buồn mà còn thấy vui nữa.

 Trước hết thử nói về xã hội, đời sống thế gian bên ngoài.

 Bạn thấy đó nhờ vô thường thay đổi, nên những công trình kiến trúc của ngày nay học được rất nhiều từ ngàn xưa. Bao nhiêu tòa lâu đài ngày xưa còn lại, đã được các nhà kiến trúc khảo cổ, nghiên cứu tìm học. Họ học được từ dạng thể thế nào để được tồn tại với gió mưa, họ giảo nghiệm chất liệu xây cất ra sao để được tuổi thọ mãi đến ngày nay, và chỗ nào hư mòn là chỗ họ quan tâm nhất. Cho nên ngày nay họ định liệu được phẩm chất, hình dáng thế nào để đối phó với vô thường, khi thế hệ họ trở thành quá khứ của ngàn năm sau. Chừng đó có thể họ sẽ để lại dấu hiệu cần nên tái thiết xây dựng, sau khi vật liệu đã trải qua một thời gian dài và điều đó tránh được tai nạn sụp đổ đột ngột.

 Bạn và tôi có thể giả thuyết tưởng tượng rằng, các khoa học gia thế nào cũng nghĩ đến một ngày, một ngày mà con người có thể lánh nạn đến một hành tinh khác, nếu như trái đất đến lúc vô thường. Khoa học gia có quyền nghĩ như vậy, vì ngành khoa học không gian ngày nay, càng lúc càng phát triển khó thể tưởng tượng được.

 Quả thật vô thường sinh diệt đã làm con người tinh khôn hơn, khoa học hơn. Tóm lại mọi sinh hoạt đời sống trong tất cả ngành, con người đều tính toán dự lo hậu sự, vì biết rằng khó đoán biết được sự kiện không may xảy ra. Do đó những hoạt động nào có xác suất nguy hiểm cao, người ta thường chế tạo thêm hệ thống báo hiệu, và các động cơ vận hành phụ, như là vấn đề bảo hiểm xe, bảo hiểm nhân thọ, hay tất cả loại bảo hiểm, đều là ý thức cảnh giác việc xảy ra đột ngột khó xử. Như thế khó thể kể cho hết được có bao nhiêu việc tương tự phòng ngừa trên.

 Thế thì phải nói rằng, thế gian đã hiểu vô thường tường tận lắm.

 Bây giờ thử nói về cách nhìn vô thường của người tu học Phật pháp thì sao?

 Có thể nói ngay rằng, bởi vì con người chúng ta vô thường, cho nên các thứ chung quanh ta đều vô thường. Đây là điểm mà người học Phật phải thấy. Bạn có đồng ý không?

 Bạn nghĩ xem, tất cả những gì vừa kể trong sinh hoạt thế gian, có phải đó là sản phẩm của con người ? Vâng chính vậy. Và những sản phẩm đó lại khởi từ tâm con người mà ra, như thế nơi đây, người học Phật phải nhận định, quán chiếu từ cội gốc của vô thường là từ tâm, chứ không phải từ vật.

 Chắc bạn khó tránh nghi ngờ rằng, làm sao tâm con người là việc trừu tượng vô hình, lại làm chủ được vật, để nói rằng nên quan sát tâm vô thường hơn là xem vật vô thường?.

 Thưa bạn, điều bạn nghĩ cũng như tôi nghĩ không khác; nhưng giáo lý giải thoát đã cho ta thấy tất cả đều do tâm (vạn pháp duy tâm tạo).

 Bạn biết không, căn cứ theo giáo điển Như Lai để hiểu, thì không những vật chất hay sinh hoạt nhân loại trên thế gian là do tâm, mà ngay cả địa cầu chúng ta sinh sống, đến cả vũ trụ không gian cũng đều do tâm.

 Kinh dạy vạn pháp do tâm tạo, thì tất nhiên cái gì mà không phải pháp!

 Định nghĩa về pháp, e lại quá dài dòng, nhưng đại khái là, bất cứ cái gì từ có hình tướng đến không hình tướng như hư không, không khí, cho đến tư tưởng, tư tưởng việc có, việc không, tất cả đều gọi là pháp. Vậy thì vũ trụ là cái gì? Ngân hà, tinh vân, hoa tạng là cái chi? Huống gì các thứ ấy còn thấy được, còn tưởng tượng được, thế có phải là pháp không? Và hễ là pháp tức đều do tâm tạo.

 Tôi sợ lại đi quá xa, xa đến dãi ngân hà, rồi lạc đề mất. Thôi! Nên quay lại việc gần, gần nhất là thành phố ta đang sống đây. Bạn nghĩ sao, thành phố đó tự nhiên xuất hiện hay do con người? Nếu do con người, vậy con người trước khi xây cất họ phải có suy nghĩ, có quy hoạch, lập định thiết kế v.v... thế là họ đã xây cất từ trong tâm trước tiên vậy.

 Bấy nhiêu đấy cho thấy tất cả mọi thứ trên đời cũng vậy thôi. Nếu bạn muốn tiếp tục đi lùi lại gần nữa, gần đến thời sơ khai, thì cũng bấy nhiêu do tâm mà ra. Nhưng lúc đó tâm người chưa tinh tế, điều này chúng ta phải nói thêm là do nghiệp lực sinh vào thời đó. Tuy vậy họ đã chuyển nghiệp dần, họ biết tu sửa, và cái tu sửa là tư duy, suy nghĩ thay đổi cải tiến cuộc sống, cho đến trải qua nhiều đời thành nền văn minh tinh xảo như thời nay. Thế là từ cái tâm hiếu kỳ hay muốn câàu tiến nên đã sản chế mọi thứ vật phẩm, để hôm nay mọi thứ tiện nghi thật là tuyệt diệu.

 Đó bạn thấy không, tất cả do tâm là vậy. Nhưng tôi biết, bạn vẫn còn chưa hết nghi ngờ rằng, tâm chuyển ra vật nhỏ thì được, chứ làm sao vật lớn như trái đất, mặt trăng, mặt trời mà được?

 Thưa bạn, việc này cũng vậy thôi, đã nói là ‘vạn pháp duy tâm tạo’, thì mặt trời hay trái đất, kể cả dãy ngân hà cũng vậy đều do tâm.

 Tôi cũng ráng cùng bạn bổ nghĩa rõ hơn.

 Thưa bạn sở dĩ chúng ta có mặt ở thế giới này là do tâm chúng ta hợp với cảnh giới nơi đây, điều này có nói qua việc chánh báo thế nào, y báo thế đó.

 Khi chúng ta mang nghiệp sanh vào thế giới này, tức cũng đồng nghĩa chúng ta tự tạo ra. Và trong lúc thọ nghiệp sinh sống trên thế giới thọ dụng nghiệp báo, thì tất cả những gì ta thấy, ta biết đều do nghiệp lực của ta đón nhận mà thôi, thành ra ta mới thấy như vậy. Cho nên việc này đối với ta là có, có trái đất có mặt trăng, mặt trời, có ngân hà v.v... Nhưng đối với chư vị Bồ tát chứng đạo, việc này là không, vì dưới mắt các Ngài tất cả chỉ là giả, là duyên hợp, do đó các Ngài không bao giờ thọ nhận những thứ này, thành ra thế giới của các Ngài không có những thứ mà chúng ta có. Các Ngài chỉ có ở thế giới phù hợp với chánh báo của các Ngài. Nói như thế không phải mâu thuẩn với cách nhìn sáu cõi chúng sanh mà chư Phật từng dạy. Sở dĩ Phật dạy có sáu cõi, là vì nghiệp lực của chúng sinh hiện ra quả báo khổ, nên chư Phật căn cứ đó phương tiện dạy ta, chứ đối với các Ngài đó cũng chỉ do tâm mà thôi. Và cuối cùng nếu tâm thanh tịnh chứng đạo, thì ngay người ở trái đất vẫn thấy rằng, mình chẳng bao giờ chịu khổ sống ở trái đất. Đó là quả báo thành đạo tại đây, như Bôà Đề Đạt Ma, hay Lục Tổ Huệ Năng chẳng hạn.

 Như thế người học Phật phải thấy vô thường nơi tâm, và khi dừng được tâm vô thường, tất các pháp tự nó được sáng ra. Nhưng thế nào là dừng được tâm vô thường?

 Tạm có thể kết luận rằng, đã biết tâm vô thường, nên ta lại dùng cái vô thường mà đối trị, nghĩa là phải làm cho nó vô thường thường xuyên nghĩ vêà Phật pháp, đừng để nó thường xuyên vô thường nhớ nghĩ niệm ác, niệm tham lam, ái dục.

 Thường tư duy tu niệm chánh pháp như vậy, tất nhiên đời sống của chúng ta sẽ thành thói quen hay nghĩ Phật pháp. Đó là cách ta dùng cái vô thường lăng xăng của tâm để đối trị ngược lại.

 Thiết nghĩ ta có thể tạm ngưng đề tài vô thường nơi đây; bây giờ xin mời bạn chúng ta tiếp theo chuyện khác. 

 

Tứ niệm xứ

 Trong giáo lý Như Lai có bốn pháp quán niệm (Tứ niệm xứ), nhân đây bạn và tôi sẽ lấy pháp này làm đề tài nói về Giáo lý của Như Lai, vì trong này có nói tâm vô thường.

 Xin được ưu tiên bàn về tâm vô thường trước, để tiếp theo câu chuyện vô thường mà bạn với tôi đang bàn đây.

 Đã hiểu vô thường tất phải kinh khủng khi biết Phật dạy rằng, Tâm cũng vô thường. Vậy thì nó, cái tâm đó sẽ chẳng thể đứng yên, ngủ nghỉ một chỗ, mà lăng xăng động niệm hoài chăng?

 Đúng vậy, người thế gian cũng đã ví nó như là con khỉ; hết nghĩ chuyện này đến nghĩ chuyện khác, hết lo chuyện kia đến lo chuyện nọ. Cái nghĩ lăng xăng của tâm thật bất tận, khiến hoàn cảnh nào nó cũng làm việc; nó chẳng bao giờ sợ bị thất nghiệp, có chăng chỉ có tạm ngừng một tí khi ngủ mà thôi. Nhưng có khi cũng chẳng chịu ngừng, nếu lúc thức quá lo, sinh ra giấc ngủ mộng mị đủ thứ; mộng mị cũng là hoạt động của tâm, nhưng chỉ là cường độ nhẹ, không rõ lắm.

 Như vậy bạn và tôi có thể tìm hiểu, đoán biết được tâm của mẫu người nào lo nghĩ nhiều, và tâm của ai ít lo nghĩ nhất. Đương nhiên người bương chải vào đời, người mang địa vị cao phải là người có tâm lo nghĩ nhất. Các vị đó là thủ lãnh quốc gia, người có quyền lực an ninh lo cho tương lai đất nước. Còn người ít lo nhất phải là các vị tu sĩ, và tu sĩ phải chứng đạo, nếu không họ cũng lo nghĩ chẳng khác thế gian. Chứng đạo ở đây muốn nói, phải là đạo giải thoát chứ không phải đạo hướng vọng thế lực bên ngoài, vì còn hướng còn cầu tất chưa ra khỏi lo nghĩ. Tuy nhiên cũng có khi chư vị Thánh Tăng chứng đạo vẫn còn lo, lo còn hơn người đời nữa. Chư vị lo cho chúng sanh đang đắm chìm trong biển khổ, lo tìm cách nào cứu vớt chúng sanh, nên chư vị cũng lăng xăng nghĩ lo mọi cách. Cái lo như thế chỉ có an lạc chứ không có khổ. Và hình ảnh lăng xăng của chư vị Thánh Tăng như vậy, không nên hiểu lầm giống như thế gian. Trường hợp hoàn cảnh thời đại vật chất ngày nay, một vị Thánh Tăng xuất hiện muốn độ chúng sanh, nhất định phải có hoạt động phù hợp với hoàn cảnh, mới dễ độ chúng sanh được.

 Nói vậy cũng còn tương đối, vì mỗi vị Bồ Tát độ sanh đều có hạnh nguyện riêng, cho nên chư vị phải hiện đủ hình tướng, chứ không thể nhất thiết giống nhau được; và phải nói rằng phần lớn chư vị Bồ Tát phải hiện thân lìa nơi ồn náo, đánh thức kẻ sơ cơ, nương bắt chước theo để điều tâm thanh tịnh.

 Đó là hai hạng người ở thế gian, trong hai trạng thái khởi tâm tỉnh và tâm động. Nhưng bạn có tin rằng, có người đang trong trạng thái động nhất lại có tâm thật tỉnh không? Người đó đang làm vua một cõi, mà vẫn an nhiên tự tại mọi công việc, vẫn hướng tâm giải thoát!

 Đó là vị Phật tử hoàng đế A Dục, sống vào thế kỷ thứ ba trước công nguyên. Sự phát tâm hoằng truyền giáo pháp của ông chứng tỏ ông đã trở về với tỉnh tâm thanh tịnh. Ở Việt Nam chúng ta cũng có Vua Trần Thái Tông (1218 -1277), sanh thân là Đế vương mà tâm xuất ly tham dục; chư vị như vậy còn có thể điều khiển được tâm vô thường, thiết nghĩ chúng ta chẳng phải là vua, chẳng lo cho thiên hạ, chỉ có một mình, hay một gia đình, vậy mà để tâm dong ruổi toàn sanh phiền não thì thật đáng thương lắm.

 Đồng ý rằng điều khiển được tâm là việc khó nhất trên thế gian này, nhưng không điều khiển được tâm, lại biến thành việc khổ nhất của trần gian.

 Ngày xưa bên Trung Hoa, đại sư Huệ Khả quên mình cầu pháp, quỳ giữa trời tuyết lạnh đến mấy ngày đêm; khi được Tổ sư cảm động tra hỏi muốn gì, Đại sư cũng chỉ than rằng, xin được an tâm. Điều đó chẳng cho ta thấy tâm là giềng mối mở cửa giác ngộ hay sao!

 Ngày nay ta được nhân duyên học kinh nghe pháp không biết bao nhiêu mà kể, nhưng tâm ta có an đâu! Có lẽ ta chẳng thấy cái vô thường của tâm, và cả cái vô thường của hết thảy pháp, cho nên học đạo với tâm bám víu, tâm chấp ngã, tự cho có học, tự cho có tu, rồi biến thành phân biệt, đối đãi, chấp trước, như vậy mà chẳng thể an được tâm. Thế thì ta cần phải quán tâm vô thường hơn nữa, để nhìn thấy tất cả hiện tượng bản chất nãy sinh nơi tâm chỉ là vô thường thôi. Ngay cả cái ý thức tâm là vô thường mà Phật dạy, cũng chỉ là phương tiện không nên chấp vào, vì nó cũng xuất phát từ tâm. Và cho đến khi nào tâm phàm phu trở thành chân tâm, Phật tâm, bấy giờ ta mới rõ được hết thảy.

 Đã hiểu tâm vô thường, tất pháp phải vô ngã, vì đầu mối của pháp là do tâm. Đến đây bạn và tôi xem pháp vô ngã thế nào? 

-Pháp vô ngã:

 Như đã định nghĩa qua, Pháp là tất cả, là mọi thứ, hiểu được hay không hiểu được, cho đến vọng niệm, chân niệm, giả, thật v.v...

 Những điều định nghĩa như thế, giải thích rằng tất cả không có thật thể, không có tự tính độc lập, tự tồn, tự sinh nên gọi là vô ngã.

 Bạn thử tìm có cái gì độc lập tự sinh không?

Cái áo bạn mặc đó, cái gì làm thành ra nó?

 - Thì bằng sợi chỉ, bằng tơ.

Bạn trả lời như vậy có chính xác không ? Chắc bạn đùa với tôi rồi! Bạn còn giấu không nói, là có nhiều thứ khác nữa mới làm nên cái áo, chứ đâu phải chỉ có tơ tằm, chỉ sợi. Nếu cái áo chỉ có tơ sợi mà thành, vậy có thể gọi là độc lập rồi, và bản thể nó sẽ là tơ, chẳng thể thay đổi được, cũng chẳng thể mất đi; nó sẽ còn hoài, còn mãi, nếu giả sử bị diệt, nó tự diệt chứ chẳng ai diệt được nó.

 Đó là vậy, bạn có tin được cái áo có ngã không? Nghĩa là có tính độc lập, tự sinh, tự tồn, tự chủ?

 Thưa bạn chắc chắn không bao giờ có được chuyện này!

 Vì hàng loạt những nguyên lý sau đây, chứng minh rằng nó không thể tự sinh, tự thành được:

 Ngay khi đặt tên cái áo đã có vấn đề. Vấn đề nếu người ta không biết hay không thèm mặc nó, thì nó có tự hào gọi mình là cái áo không? Hay chỉ là danh xưng để gọi mà thôi! Vậy thì nó phải được người mặc, mới đúng tên gọi là áo.

 Đó bạn thấy không, sơ sơ đã phải cần một điều kiện là có người mặc, nó mới tồn tại theo ý nghĩa của áo, không thôi nó trở thành vải lau mất.

 Giờ xin nói rõ hơn.

 Chúng ta thử nhìn lại, nguyên lai và sự hình thành cái áo, xem nó phải cần bao nhiêu điều kiện nhân duyên mới thành. Thưa bạn có lẽ câu chuyện sẽ dài ra, vì phải đi ngược lại từ thời sơ khai. Cái áo bắt nguồn từ khi người tiền sử, vì một trận lạnh rét người mới tìm vật để che, thế là lần hồi tiến bộ trải qua hàng ngàn năm đến nay, người ta mới tìm tơ chỉ dệt tạo, và kết quả đó là những lô vải đủ màu, đủ cở xuất hiện thời nay.

 Nhưng vải không chưa đủ, lại phải cần thợ may, thợ may chưa đủ, phải cần máy may; máy may làm sao có! Lại phải cần kỷ sư thợ máy chế tạo; nhưng lấy gì chế tạo, lại phải nhờ sắt thép, gỗ cây, đinh ốc, vân vân và vân vân. Thế là đẻ ra không biết bao nhiêu vấn đề. Chưa nói là còn phải nhờ người nông phu trồng trọt lúa gạo để nuôi anh công nhân, anh kỹ sư và cuối cùng là anh thợ may.

 Trải qua bao nhiêu đó cái áo mới thành. Và cuối cùng hết, bạn phải móc tiền ra để mua, chứ không ai lại cho bạn; nhưng tiền ở đâu mà có, lại đẻ ra thêm nữa, và tóm lại hiện cái áo bạn mặc trên người, nó còn là của vũ trụ, của triết lý nhân sinh nữa kìa, chứ chẳng phải tuyệt đối chỉ có việc kể ra ở trên đâu.

 Thế là cái áo không thể nào thành được nếu thiếu bao nhân duyên vừa kể; và như vậy, nếu tất cả sự vật hay hình ảnh nào mà không phải trải qua các điều kiện nhân duyên mà tự nhiên thành, thì vật đó mới có ngã, tức là tự sinh, tự thành.

 Có lẽ bạn và tôi sẽ nghĩ, có một việc không nhờ nhân duyên, đó là hư không!

 Thưa bạn hư không cũng vẫn nhờ nhân duyên, nhân duyên là bạn và tôi bàn đến đó, nếu chúng ta không bàn đến thì hư không cũng chẳng ai biết đến, cũng chẳng phải bàn; lại nữa hư không cũng như nhờ có vật chất có hình tượng, hư không mới hiện ra không gian, nếu không cũng chẳng ai đặt vấn đề hư không. Như vậy có cái gì làm đối tượng cho hư không, hư không mới được khám phá đặt tên, nếu không ta chẳng biết là hư không, và nếu ta chẳng biết thì ta không có vấn đề để nói. Như cảnh Niết Bàn của chư Phật, giống như hư không vậy, vì Niết Bàn là sự thật chứng, sự thật chứng đó chỉ có Phật mới biết, nhưng sao ta biết? Vì có đối tượng là vô minh, ngu si, phiền não, khổ sở nên ta mới nói Niết Bàn, và thêm nữa nhờ Phật phương tiện nói Niết Bàn ta mới tin như vậy. Như thế không có một thứ gì mà không phải nhờ nhân duyên, và nếu còn nhờ nhân duyên thì các pháp phải là vô ngã, nghĩa là chẳng thể một mình nó làm ra nó được.

 Như vậy hiểu được các pháp vô ngã giúp người tu Phật tiến bộ rất mau. Ngay cả người không tin Phật cũng có thể học pháp vô ngã mà xây dựng được đời sống tốt đẹp hơn.

 Trước hết xin nói về thế gian học pháp vô ngã ích lợi thế nào, rồi sau sẽ bàn về việc tu Phật trong sự lợi ích thực hành pháp vô ngã.

 Thế gian xưa nay trải qua biết bao đời bao kiếp thường phải chịu nạn chiến tranh, giết chóc; hành động việc làm như thế là do dục ái tham vọng cố hữu của con người gây ra. Từ việc tham sanh ra sân giận đưa đến giết hại lẫn nhau. Biết rằng, đã là người không ai lại không biết hưởng thụ, biết thưởng thức tặng phẩm của đất trời, của thiên nhiên nhân loại. Nhưng con người lại không chấp nhận rằng mọi thứ mà con người tranh đoạt để sở hữu chẳng thể tồn tại theo ta. Chính như ta là chủ nhân tạo ra sự vật, ta còn không tồn tại, thì sự vật có đáng để phải tranh giành ấu đả nhau!

 Vấn đề đáng tiếc rằng, vì ta không đặt ra câu hỏi tại sao ta không tồn tại và những sản phẩm, vật tạo do con người do thiên nhiên cũng không tồn tại?

 Đó là thực tại vấn đề, các pháp là vô ngã. Và nếu là vô ngã, tất phải nhờ vào vô số nhân duyên. Khi hiểu biết tất cả là nhân duyên tạo thành, lẽ nào ta lại không nghĩ đến người khác!

 Nếu ta có thể tự cho mình độc lập, ta có dám tách riêng gia đình, xã hội để tìm một nơi sinh sống, mà không nhờ bất cứ vật gì, bất cứ ai? Thật được như vậy ta mới tự hào ta độc lập, tự ngã, tự tồn, tự sinh.

 Nhưng không, và mãi mãi là không. Như vậy phải biết rằng, sự sống của ta đều nhờ vào các pháp cộng sinh cộng thành, từ vô số điều kiện ràng buộc liên quan nhau. Hiểu được như thế ta phải là vui, ta mới có trách nhiệm bổn phận tốt cho gia đình, xã hội và tất cả. Như thế ta sẽ không cố bám vào mọi thứ, để trở thành ích kỷ, hẹp hòi ngay trong đời sống, đó là cách tránh đi mầm mống chiến tranh nhỏ nẩy sinh từ đơn vị trong gia đình cho đến to lớn thành chiến tranh thế giới.

 Cho nên nếu các vị lãnh tụ quốc gia trên thế giới thẩm xét hiểu được các pháp là vô ngã, là do nhân duyên sinh, thì chiến tranh sẽ không có; hơn nữa các vị còn chung sức tìm kiếm phương pháp bảo tồn nền hòa bình thế giới dài lâu hơn. Bởi vì các vị thấy rằng, thế giới địa cầu là chung của nhân loại, nếu một quốc gia đau khổ, sẽ ảnh hưởng đến quốc gia láng giềng; nếu nhiều quốc gia đau khổ thì làm sao một hai quốc gia giàu có lại có thể yên ổn làm ngơ được! Và nếu có một cuộc xâm chiếm từ những loại hình bên ngoài trái đất, hay thiên tai như thiên thạch khổng lồ va chạm hành tinh chúng ta, thì chuyện không hay này là chuyện chung của nhân loại. Như vậy tất cả phải đều hòa hợp nương nhau để sống, chứ không thể nào gọi là độc lập, tự tồn, tự sinh được. Đó là lợi ích pháp vô ngã mà thế gian nên học.

 Riêng người học Phật thật quá rõ ràng về pháp vô ngã; chính pháp vô ngã đã đưa hành giả chứng đạo nhanh hơn bất cứ các pháp nào.

 Vì hiểu pháp vô ngã, cho nên hiểu hết tất cả sự việc: vô thường, khổ, không, nhân duyên, quả báo.

 Chính hiểu vô ngã, nên hành giả tự tại, vô ngại bất cứ mọi vấn đề, và chính hiểu vô ngã nên hành giả đắc được quả vị vô sở đắc. Nghĩa là đắc mà chẳng thấy đắc, đó chính là đắc vậy.

 Trong nhà Phật, người tu thường nghe câu chuyện đại ý như vầy. Khi mới nhập môn tu hành, đứng trước cảnh núi sông, hành giả thấy núi là núi, thấy sông là sông. Thời gian tu được khá lâu, hành giả bấy giờ nhìn cảnh núi sông của ngày xưa đã không còn thấy núi là núi, sông là sông nữa. Rồi một thời gian công phu tu hành lâu hơn, hành giả bấy giờ nhìn lại sông núi; và lúc này lại thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông!

 Qua câu chuyện trên ta thấy, tiến trình của người tu đã thành tựu, vì đã thấy được các pháp là vô ngã.

 Thời gian đầu, cái thấy tượng trưng cho phàm nhân chưa hiểu đạo giải thoát, nên nhìn sự vật, theo cái nhìn thế gian, nghĩa là theo giả danh, giả tướng, mà không biết rằng nó chỉ là nhân duyên sinh.

 Thời gian sau cái thấy tượng trưng cho người liễu đạo, vì hiểu rõ các pháp chỉ do nhân duyên sinh; cho nên sự vật đã không phải như ban đầu nữa. Do đó tất cả chỉ tạm gọi mà thôi, chứ nào đâu phải núi, phải sông. Nếu thật là núi, thì phải tìm ra cái gì là núi? Chẳng lẽ cây là núi, hay gò đất là núi, hay đá là núi, hay vì nhiều thú chạy, chim bay gọi là núi? Đương nhiên tất cả vừa kể, không phải là núi, nhưng vì nhiều thứ gom lại dựng lên nên có tên là núi.

 Còn sông thì sao? Chỉ là vô số phân tử nước mà ra, và nó lại chẳng đứng yên một chỗ để ta gọi là sông, hơn nữa việc này kinh có dạy, đối với loài người thì cho là sông, nhưng đối với loài thủy tộc lại là cung điện nhà cửa; còn đối với loài ngạ quỷ sông là máu lửa ghê gớm không thể dùng được.

 Do đó cái thấy lúc này của vị hành giả là đúng theo chánh pháp, tuy vậy, phải chờ thời gian sau nữa hành giả này mới triệt ngộ chứng đạo hoàn toàn, đó là lúc cái thấy đã tự tại.

 Tự tại với pháp giả, pháp thật (chánh pháp), mà không chấp bất cứ một mảy may nào, cho nên nói như Kinh Kim Cương đắc mà không đắc mới thật là đắc, lẽ đó lần cuối cùng, vị tu sĩ trở lại nhìn thấy như thuở ban đầu, nhưng tự tại giải thoát.

 Pháp vô ngã thật là một bài học sống động mang đến hòa bình cho nhân loại, và mang đến pháp giải thoát cho người tu sĩ.

*

 Qua hai pháp Tâm vô thường, Pháp vô ngã, bạn và tôi thấy rằng, quả thật nhiệm mầu, vì nơi hai pháp này chính là nguyên nhân khám phá được việc giả dối không thật của thân thể chúng sanh. Tại sao? Vì nó vô thường, vô ngã, nên mọi hình thái sinh hoạt phải chịu luật thành trụ hoại không (sinh, trụ, dị, diệt). Bốn giai đoạn thay đổi này khiến tạo ra hình ảnh bất như ý, và như thế phải đau khổ với nó. Và việc tiếp cận đau khổ nhất là hình hài thân thể, đó cũng là bài pháp tiếp theo về thân bất tịnh. 

Thân bất tịnh

 Khi ý thức con người bắt đầu ý thức, bắt đầu nhận định, xét nghiệm, tư duy, thì không có một vật gì, việc gì quý báu hơn thân thể con người. Thưa bạn có phải vậy không? Hỏi để mà khẳng định, tất nhiên là vậy.

 Từ khi con người mới vừa xuất hiện trên hành tinh này, cho đến ngày nay chân lý đó vẫn sống mãi; và đó phải là chân lý mà bạn và tôi đã bàn qua, về tính tham sống sợ chết của chúng sanh.

 Điều đó cho thấy tất cả chúng sanh đều quý trọng thân thể của mình, quý trọng đến sợ hãi, sợ nghĩ đến một ngày già nua bệnh hoạn chết đi. Cho nên con người đã trân quý nó, đã tìm đủ phương cách có thể làm được, để nó khỏi bệnh khỏi chết. Nhưng rồi nó vẫn chết. Và thật buồn thay khi nó chết, con người liền xua đuổi tống khứ nó đi một cách nhanh chóng, bởi vì nó đã trở thành vật thể ghê tởm nhất trần gian.

 Bạn có thấy nói như vậy là quá đáng không?

 Thưa bạn có lẽ là không, không bao giờ!

 Nếu không tin bạn thử tìm vật gì ghê tởm hơn đi! Thật ra nếu chúng ta cố làm ra những vật ghê tởm thì chỉ là hình ảnh ghê tởm, chứ mức độ vệ sinh truyền nhiễm của một xác người chết rửa, dòi tủa, hôi thối vẫn chỉ ngang nhau. Nhưng tôi vẫn gọi thân người là ghê tởm, vì ấn tượng hình ảnh đó quá phủ phàng, không thể ngờ được!

 Bạn xem một thân hình mỹ nhân tuyệt sắc, khi còn sống ai cũng mê cũng thích; lại được ca ngợi là một tác phẩm của trần gian, hay của thiên nhiên, thiên tạo; vậy mà chỉ có một tuần lễ chết đi, đã thành một đống thịt hôi thối chẳng ai dám đến gần. Nếu bạn và tôi không muốn đến gần một con chuột chết sình, thì làm sao lại dám đến gần một con người chết sình, lớn gấp mấy chục lần con chuột!

 Tuy mức độ hôi thối giữa hai bên con vật và con người chẳng có khác nhau lắm; nhưng có thể mùi hôi của con người thối hơn, nếu như con vật chết kia là con bò con ngựa, vì món ăn của chúng chỉ là cỏ, nên dù thịt có rửa, xác có ươn cũng không đến nổi như con người. Bằng chứng như vậy, ta thấy phân dãi của chúng chẳng hôi gì lắm. Vậy chắc chắn rằng cái hôi của một người chết sình phải là khủng khiếp, và cho dù người đó ăn chay cũng vậy, vì ăn chay vẫn còn rất tạp so với trâu bò.

 Ngoại trừ một điều đặc biệt, vượt khỏi kiến thức thế gian, đó là các bậc tu sĩ chứng đạo; chư vị đã chứng được một diệu lực nhiệm mầu mà phàm nhân như chúng ta không thể hiểu được.

 Khi chư vị mất đi, hiện tượng xuất hiện mùi thơm tỏa ra không gian nơi vị đó, và xác chết của các vị có thể để đôi ba ngày thậm chí đến cả tuần vẫn không thấy hôi.

 Trường hợp như vậy xảy ra chẳng lạ gì đối với chư vị Thánh tăng Lạt ma Tây Tạng. Như Ngài Jamyang Khientse (1) khi chết đi xác Ngài vì được thỉnh cầu, thăm viếng lễ lạy, mà phải quàng lại đến một tuần, rồi hai tuần, ba tuần, cuối cùng kéo dài đến gần sáu tháng mới được hỏa táng, như vậy mà xác vẫn không thối rữa gì cả.

 Gần hơn sự kiện trên là Ngài Lama Yeshe viên tịch tại Hoa Kỳ năm 1984 (2). Trước khi nhắm mắt thân thể Ngài đã được điều trị tận tình theo y học hiện nay, nhưng chắc chắn đây là một sự thị hiện làm bệnh của Ngài, cho nên khi cơn bệnh hoành hành ói mửa, người chung quanh đã kinh ngạc, vì chẳng thấy khó chịu hay buồn nôn khi thấy Ngài khạc nhổ. Lại nữa dù nhiều ngày không súc miệng nhưng hơi thở Ngài chẳng có mùi hôi. Và khi Ngài chính thức ra đi, thân thể lại tiết ra mùi thơm lạ, người thuật lại chuyện này còn cho biết quan tài đựng xác Ngài vẫn còn lưu lại mùi thơm thật lâu.

 Đó là những trường hợp ngoại lệ, mà chư vị chứng đạo thị hiện đạo lực nhiệm mầu, thông qua cơ thể vật chất, làm phương tiện hiển đạo giải thoát tự tại liễu sinh thoát tử. Mà trường hợp phi thường kỳ diệu hơn nữa đó là Lục Tổ Huệ Năng, mãi cho đến bây giờ nhục thân của Ngài vẫn không hư hoại dù đã trải qua hơn một ngàn năm.

 Với tất cả chúng sanh hữu tình vô tình, chưa chứng đạo giải thoát, tất phải chịu luật thành trụ hoại không một cách đương nhiên vậy.

 Như thế bạn và tôi đã đồng ý, chúng ta đã đam mê thái quá với thân thể mình, mà chẳng bao giờ suy nghĩ rồi có một ngày phải bỏ chúng ra đi.

 Như vài câu chuyện kể thật phi thường linh diệu, nhưng nhục thân giả tạm của các Ngài dù thanh tịnh giải thoát như vậy, cũng phải được hỏa táng bỏ đi đúng với luật vô thường, huống gì thân thể bất tịnh đầy phiền não như chúng ta.

Thọ thị khổ

 Hiểu thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngã, đến đây còn lại là Thọ thị khổ thật đúng quả không sai!

 Bạn thấy không, làm sao con người không khổ, khi phải đối diện với Thân bất tịnh, Tâm vô thường, Pháp vô ngã; không hiểu hay không muốn hiểu nên mới Thọ nhận là khổ. Và xin thưa bạn cho dù bạn có hiểu, bạn cũng còn vất vả khổ vì thọ nhận huống gì không hiểu.

 Chúng ta thử tìm hiểu, thọ nhận gây ra phiền não khổ sở thế nào?

 Mỗi ngày mỗi lúc, mỗi giờ mỗi phút mỗi giây, ta đều thọ nhận; thọ nhận thức ăn, thọ nhận thức uống, thọ nhận cảnh trí, thọ nhận âm thanh, thọ nhận con người, thọ nhận tất cả các pháp để nuôi sống thân này.

 Các pháp mà ta thọ nhận giúp ta thật nhiều, nhưng cũng hại ta chẳng ít. Thật ra các pháp chẳng thể hại ta mà ta hại ta do vì các pháp! Nói như vậy có vẻ huề vốn, vì cuối cùng cũng do các pháp. Thưa bạn, nhất định là không, tất cả vẫn do ta, là vì ta sanh ra pháp, rồi để pháp bó buộc; nếu ta không sanh pháp, pháp đâu bó buộc ta!

 Đời sống ngày xưa tuy không đầy đủ tiện nghi như hôm nay, nhưng ta vẫn sống; ngày nay đời sống tiện nghi thoải mái dư thừa, nhưng ta cũng chẳng thể vì đó mà tuổi thọ tăng thêm. Đồng ý thời đại y học ngày nay vượt bực, có thể chữa trị phòng ngừa nhiều bệnh nguy hiểm, nhưng rồi cũng chẳng thiếu gì con người yểu thọ ra đi, vì những bệnh quái lạ của thời đại. Điều này là thọ nhận quá dư thừa chứ còn chi khác!

 Một người sống cảnh an phận ít giao tiếp ai, có thể ta cho tội nghiệp vì buồn tẻ. Nhưng không! Chính người giao thiệp nhiều có thể tội nghiệp hơn; vì sẽ lụy thân phiền não, đây là ý trong Kinh Di Giáo dạy - Như các giống cây to lớn thường bị các chim chóc làm ổ sinh sống trên đó, nên dễ bị hư cây và khô gảy.

 Thế thì người giao tế hoạt náo, nhiệt tình sốt sắng với người, giống như đã tự làm mình lớn ra, quan trọng hơn; từ đó có nhiều người chiếu cố đến gần, và rồi càng nhiều người đến thì chuyện tốt, chuyện xấu tất nhiên phải xảy ra. Cuối cùng mới thấy, người ít giao thiệp, ít bị kích động, nghĩa là ít thọ nhận, nên mới có cái vui nhàn hạ. Tất nhiên người ít giao thiệp vẫn phải đi làm, mới có tiện nghi mà ở.

 Thọ nhận bất cứ điều gì thường trở thành nô lệ cái mình thọ nhận. Người chưa biết hút thuốc, đời sống họ chỉ thọ nhận trước giờ như vậy, nay tập hút thuốc, thế là trở thành nô lệ thuốc và phải tốn tiền, rồi tốn luôn sức khỏe.

 Bạn thử tưởng tượng, hôm nay có niềm vui, vì nhận món quà, kèm theo lá thư của đứa cháu bên Mỹ. Mở quà, thư, xem có gì bên trong! A thì ra một album hình, kỷ niệm từ lúc gia đình bạn còn ở Việt Nam. Trong đó có bạn, có ba má của cháu bạn, còn nhiều thân quyến mà bấy lâu nay chưa liên lạc được. Bạn thật vui khi nhận được món quà vô giá này, vì nó gợi lại hình ảnh mà tưởng đã đánh mất bấy lâu nay, từ khi rời khỏi đất nước. Món quà này còn giải quyết, giải tỏa nhiều chuyện riêng tư của bạn nữa. Bạn mừng lắm!

 Tiếp mở lá thư xem sao! Đọc thư xong bạn im lặng một phút; thì ra cháu bạn nó xin mượn bạn một số tiền cũng kha khá. Thế là bạn không thể từ chối, vì cháu nó đã đem lại cho mình một niềm vui đáng kể. Tất nhiên nó không có dụng ý lấy đó làm cớ để mượn tiền chú nó. Bạn biết tánh đứa cháu này. Nhưng bạn hiện cũng đang cần tiền để lo một công việc sắp tới đây; nếu cho nó mượn, cơ hội của bạn phải chờ lại năm sau, và năm sau thì chưa chắc đã đúng dự tính của bạn, cho dù lúc đó bạn đã có tiền.

 Bạn thật phân vân! Lại nữa lá thư mượn tiền của cháu làm bạn nhớ lại một người mà bạn đã giúp đở cũng mượn tiền qua thư, nhưng lại chưa bao giờ trả cho bạn. Nỗi buồn này tưởng đã quên lãng, không ngờ sống lại như mới ngày nào.

 Thôi! Tưởng tượng bấy nhiêu đó đủ rồi, càng nói càng buồn thêm.

 Đó bạn thấy! Sự thọ nhận nào cũng thường có hậu quả hay dư âm của nó. Và theo tính cách xả giao công bằng trao đổi, người ta lại phải xử lý chạy theo cái đáp nghĩa đền ân, đền ân đáp nghĩa.

 Thọ nhận vật vô tri vô tình, như tập sự đánh cờ, hút thuốc, xem phim, đọc sách, cũng đã có vấn đề, huống gì những vật thọ nhận là hữu tình, tri giác, như kết bạn nhiều, giao thiệp rộng, thế thì phải giải quyết thế nào cho êm đẹp đây?

 Tuy nhiên thưa bạn, người học Phật chẳng bao giờ bi quan vấn đề này, vì sinh ra đời là chấp nhận sự thọ dụng rồi; thọ cái thân tứ đại của chúng ta đây là thực tế. Ta phải thọ nhận mọi thứ để cho nó tồn tại; và đôi khi có những cái buộc nó thọ nhận để cho người khác tồn tại! Đó là tình thương của cha mẹ; vì thương con cho nên cha mẹ phải thọ nhận lao động vất vả khổ sở, mong được nuôi con thành người. Nhưng, thật ra cha mẹ có tình thương như vậy, cũng vì cha mẹ đã tự thọ nhận tạo ra con cái, cho nên buộc phải trả lại tình thương đó.

 Tóm lại tất cả đều thọ nhận, đều chịu ảnh hưởng sự thọ dụng của mình, và sự thọ nhận nào hầu như cũng đều đau khổ. Như vậy dù việc này ta có thật hiểu đi nữa, vẫn khó tránh được, vì như đã nói sanh ra buộc phải thọ dụng, và nếu người không hiểu, khổ càng chồng chất thêm.

 Vậy phải hiểu thế nào về thọ?

 Phải trả lời ngay rằng, phải hiểu thân bất tịnh, tâm vô thường, pháp vô ngã. Phải nói rằng đây là chân lý muôn thuở, không thể chối cãi được, như thế mới thấy ngoài giáo pháp Như Lai không có bất cứ phương thuốc gì để cứu chúng ta được.

 Duyệt lại từ đầu của bốn pháp Tứ Niệm Xứ thấy rằng; nếu quán được tâm vô thường, chúng ta sẽ dè dặt suy xét mà không vội thọ nhận, một khi tâm đòi hỏi điều chi. Và người nào đạt tới trình độ quán sát được tâm vô thường luôn luôn, hằng dụng trong tâm, người này sẽ có chánh niệm ngay lúc tâm vừa phát khởi sân giận, tham lam, như thế là kết quả an lạc thiền định ngay trong đời sống.

 Người này lại tiếp tục quán sát tri nhận về pháp vô ngã cho đến thuần thục, như thế chắc chắn sẽ không dễ bị các pháp thế gian lôi kéo, vì biết rằng chúng vô ngã. Và nếu đạt được trình độ cao hơn, quán ngay các pháp đang tu cũng là vô ngã, thế là từ đây người này không còn là một phàm nhân nữa.

 Khi quán được hai pháp tâm vô thường, pháp vô ngã, người này hẳn nhiên hiểu thân bất tịnh là điều tất nhiên, cho nên người này thành tựu an lạc tất cả các pháp thế gian, và tất cả sự thọ dụng bấy giờ lại chuyển thành pháp tu của hành giả đó.

 Đó là bốn điều cần thiết để quán niệm trong đời sống của người học Phật mà tôi và bạn nhất định phải ghi nhớ.

 Trước khi qua đề tài khác mời bạn hãy nghỉ một chút, thư thả tâm hồn, rồi sẽ tiếp tục vậy.

*

 Vừa rồi chúng ta sơ lược bàn qua pháp tu Tứ Niệm Xứ trong đề tài Giáo Lý của Như Lai, khiến làm tôi phải suy nghĩ, nghĩ về Ba Mươi Bảy Phẩm Trợ Đạo, đó là phần quan trọng được lấy ra từ một pháp của bốn bài pháp tối quan trọng là Khổ Tập Diệt Đạo hay còn gọi là Bốn Sự Thật Nhiệm Mầu, mà đấng Đại Giác đã từ bi khai thị đầu tiên cho chúng sanh ở cõi Ta Bà này. Vậy nếu bạn và tôi chỉ bàn về Tứ Niệm Xứ, hóa ra chẳng đáng kể gì trong phần Đạo đế của bốn sự thật nhiệm mầu vi diệu kia, vì thiếu đi ba mươi ba phẩm trợ đạo còn lại. Thiếu đi nhiều như vậy, sao dám gọi là nói chuyện về giáo lý Như Lai!

 Thế thì không còn cách nào khác hơn, bạn và tôi cũng phải cố gắng tìm hiểu để thấy chẳng có pháp nào mà đấng Thế Tôn nói ra thừa thải. Sở dĩ Ngài phải nói nhiều như vậy vì chúng sanh căn tánh quá nhiều. Nhiều tham, nhiều sân, nhiều si; nhiều đến nổi giáo điển Như Lai phải biến hóa thành Tam Tạng Kinh, chứa khắp mười phương thế giới. Nhưng trong mười phương thế giới tàng kinh điển lại phát xuất từ một nơi, nơi chân tâm diệu tịnh. Chúng sinh sơ cơ học Phật không thể dễ dàng định tâm nhận ra một là tất cả, tất cả là một, đúng như diệu lý nhân duyên khó thể nghĩ bàn. Sự nhận diện một cách thật đúng, đó là lúc hành giả thành tựu vượt khỏi mọi phân biệt thế gian và đang biến mình trở thành một bậc Thánh. Thế thì chưa đạt được trình độ giải nghĩa Như Lai bằng chân tâm thanh tịnh, hành giả phải lập đi lập lại tất cả những lời huấn thị của Thế Tôn, của chư Bồ Tát, của hàng Thánh Tăng gần gũi nhất mà mình biết được, để học hỏi để hành trì, để hóa giải ý thức thô kệch phân biệt của mình.

 Vậy ra càng mừng hơn nữa, nếu bạn và tôi có thể có được thời gian tiếp tục cuộc mạn đàm này. Duy chỉ một điều lo ngại, ý tưởng của ta có được nói lên một phần trăm, phần ngàn nào như ý chư Phật chư tổ đã từng dạy chăng?

 Sau đây là các pháp còn lại, mà bạn và tôi sẽ chuyện trò chia xẻ, đó là: Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần và Bát Chánh Đạo.

 Nào chúng ta sẽ theo tuần tự như trên.  

Tứ chánh cần

Nghĩa là bốn điều chánh pháp nên chuyên cần học hỏi tu tập:

1- Chuyên cần học hỏi ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh

2- Chuyên cần học hỏi dứt trừ những điều ác đã phát sanh

3- Chuyên cần học hỏi làm phát khởi những điều thiện chưa phát sanh

4- Chuyên cần học hỏi tiếp tục phát khởi những điều thiện đã phát sanh

1 - Chuyên cần học hỏi ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh.

 Bạn thấy sao khi nghe qua điều thứ nhứt này? Quả thật rõ ràng nói lên đời sống con người luôn bạo động, luôn tạo khổ chính mình và mọi vật chung quanh. Nếu không, tại sao điều trên dạy phải ngăn ngừa những điều ác chưa phát sanh! Nhưng đâu phải ai cũng ác! Vâng, chẳng hạn bạn và tôi không ác đây! Có chắc rằng tôi và bạn không ác chăng? Bạn tưởng không hại người là không ác à! Hoặc chỉ sống đơn độc một mình ở nhà, không giao du với ai là không bao giờ phạm ác?

 Thiết nghĩ, ta cũng nên tìm hiểu sự thể cái gì là ác, hoặc làm sao gây ác?

 Tiêu chuẩn nói về thiện hay ác, quả thật hơi rắc rối; vì nó tùy thuộc vào quan niệm tư tưởng sống của một số người. Nếu như số người này có thế lực có kiến thức, họ sẽ dành phần quyết định về mình, như thế các quan niệm nhân sinh, luân lý, đạo đức phổ quát, sẽ được công bố từ họ mà ra.

 Thưa, việc này có thể đúng, tuy nhiên cũng chưa hoàn toàn, vì phải căn cứ vào kết quả thiện ác, hay nói theo nhà Phật là hãy xem quả báo nhân quả ba đời, quá khứ, hiện tại, vị lai để xét nghiệm, để chứng kiến, để cảm nhận chính mình, đó mới thật đúng. Tất nhiên nói đến nhân quả vẫn là một phát kiến tư duy hiện thực của con người trên trái đất này. Nhưng phát kiến đó đã không bị lung lạc, sai lầm, từ vô thỉ đến nay, cho nên nó phải đúng. Chúng ta xin được sám hối gọi Thế Tôn cũng là con người, để thấy vấn đề rõ hơn. Vâng, đó chính là con người Tất Đạt Đa đã phát kiến tư duy điều học nhân quả, đúng theo hiện thực sinh hoạt thế gian, và nền triết lý uyên thâm nhân quả đó, là do Ngài tự thân chứng nghiệm. Ngài tiêu biểu cho một người đã am tường nhất về điều ác, điều thiện, nên tự thân tu hành chuyển hóa tất cả điều ác để trở thành toàn thiện mà được xưng tụng là bậc Ứng Cúng, Chánh Biến Tri (3).

 Vậy thì xác nhận điều ác, điều bất thiện ở đây, phải được hiểu là một quả báo ảnh hưởng đến người và vật mới thật là đúng. Hay xin được nói một cách khẳng định, không sợ chủ quan rằng, chỉ có căn cứ theo giáo lý giải thoát mới thật sự hiểu được việc ác việc thiện là chi.

 Như thế vấn đề nhận định một hành nghiệp tạo ác của một người, hay một nhóm người, không thể đúng nếu họ chưa thấy được giáo lý giải thoát của Như Lai. Tuy nhiên cũng có người chưa hiểu giáo lý Như Lai, vẫn tránh được điều ác trong suốt cuộc đời của họ. Hình ảnh đầu tiên ta thấy người này phải là người thương vật, do thương vật nên họ chẳng bao giờ ăn mạng súc sanh. Họ đã thương vật, đương nhiên với người phải còn hơn nữa, cho nên cuộc sống lại dành nhiều thời gian công tác xã hội đem đến niềm an ủi, chia buồn, mang vui cho nhiều người. Có thể nói họ sống vì người nhiều hơn vì mình một cách cụ thể, mà chung quanh họ từ gia đình đến bạn bè đều thấy. Đó là hạng người không làm ác, lại chẳng biết giáo lý giải thoát của Như Lai.

 Nhưng thưa bạn, chúng ta có thể đoán họ phải là chư vị Bồ Tát thị hiện ẩn mình qua lớp phàm nhân bình dị, mới có thể làm được những hành vi như vậy, chứ thật ra khó ai trong đời mà không tạo ác.

 Căn cứ theo mười điều thiện của nhà Phật: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời độc ác, không tham muốn, không giận dữ và không si mê. Bạn nghĩ xem, bạn và tôi có thể làm được ít nhiều từ mười điều trên, hay có thể không phạm một điều nào trong mười điều? Trong mười điều thiện như vậy bảy điều trước, bạn và tôi có thể làm được, nhưng ba điều sau, không tham, không sân, không si, thì xin thưa, có lẽ phải trải qua nhiều đời tích lũy công đức phước báo mới hoàn chỉnh được. Công đức phước báo đó là gì? Là phải tu hành thanh tịnh theo hạnh xả ly, thanh tịnh của bậc xuất gia, chứ không là những phước báo đơn giản cúng dường Tam Bảo, làm việc từ thiện; những phước báo này chỉ là phước báo gieo duyên bên ngoài Tam Bảo, tuy vẫn được nhưng phải mất nhiều kiếp mới trừ được phiền trược trong tâm đó là tham, sân, si. Việc đây mà người học Phật đã hiểu lý do tại sao sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma (4) đã cho việc làm của Vua Lương Võ Đế chẳng có công đức gì, ý nghĩa là vậy.

 Thật phải không tham, không sân, không si, mới đúng là không làm ác. Người ta có thể giấu nhẹm trong tâm, chẳng cho nó hiện ra ngoài đến giờ phút cuối cuộc đời; nhưng không vì vậy, mà họ đã được gọi là không tham không sân không si. Chỉ vì còn mang ý tưởng hoài niệm cố ém vào tâm vào thức, để rồi vụt phát động niệm đời sau.

 Trong khi Bồ Tát sống nơi xa hoa vật chất chẳng có tánh tham; thậm chí vẫn sinh hoạt hưởng thụ như người mà chưa bao giờ móng tâm tham muốn; còn chúng ta cố gắng tránh đi vật chất xa hoa, nhưng lòng vẫn còn vương vấn nuối tiếc, và nuối tiếc đến đời sau.

 Cho nên phải thật liễu nghĩa, phải hiểu tường tận, phải ý thức và thực hành mới được. Có người sống như tham, nhưng không tham, sống như sân, nhưng không sân, và sống như ngu si, khờ dại nhưng chẳng bao giờ si mê, khờ dại, nếu không nói họ là những người sáng suốt và khôn ngoan nhất.

 Vậy chắc bạn và tôi phải biết, họ tham cái gì? Họ tham tu, tham làm thiện, tham quán chiếu thanh tịnh tâm; và họ sân cái gì? Họ sân cho chính họ đã không thể tu hành chứng quả trong tiền kiếp, để bây giờ phải chậm tu chậm chứng, nên họ chỉ sân vì những chướng ngại có tác động hư hại tâm từ, tâm bi trong đời nay, chứ không phải cái sân tổn hại làm khổ chúng sanh hay khổ chính họ. Cuối cùng họ si, là si mê đeo đuổi cho bằng được một đời tu, một đời chứng quả ngay trong hiện tại, nhưng họ không bao giờ chấp chặt si mê ham tu đến quên thân của họ; nên họ si mà liễu được các pháp như huyễn, do đó người đời không thể hiểu họ, lại tưởng lầm họ ngu si khờ khạo!

 Thế thì phải hiểu, việc ác không phải đơn giản như thế gian bình phẩm. Và người hiểu rõ việc ác phải là người tin hiểu được mười điều thiện; nhưng chỉ tin hiểu thôi, người này vẫn còn làm ác, chỉ khi nào thực hành sống thực với mười điều thiện, bấy giờ mới gọi là không còn ác nữa.

 Thế thì nơi điều đầu tiên, dạy ta phải chuyên cần tinh tấn ngăn chặn những điều ác chưa phát sinh, đây là một việc thực tế nhận chân ra điều ác. Và cũng thực tế thấy rằng, tâm tưởng con người là nơi xuất phát mọi hành động ảnh hưởng đời sống chúng ta. Do đó tu Phật phải tu ngay điều này trước hết, để tránh được quả báo mà nguyên nhân là từ ý niệm hãy còn mang trong đầu. Chư vị Bồ Tát đã thực hành thành tựu điều phục tâm; điều phục ngay khi ý vừa phát khởi móng niệm; như thế mà ta nghe Bồ Tát sợ nhân chúng sanh sợ quả là vậy.

 Phàm nhân chúng ta phải đợi kết quả hiện bày mới sám hối lo sợ, nhưng chẳng biết rằng kết quả khổ đau đó chỉ sanh ra được, khi hành nghiệp nhân ác đã làm; mà hành nghiệp ác là những móng niệm thật nhỏ, thật tinh tế, mà ta đã từng xem thường khi móng khởi trong tâm.

 Vậy thì người tu Phật phải lo xa và thực tế nhứt là ngăn chặn ngay điều ác chưa phát sanh.

2 - Chuyên cần học hỏi dứt trừ những điều ác đã phát sanh.

 Khi ý thức hiểu được thế nào là việc ác, chúng ta thấy rằng không một ai lại có thể tránh được việc ác trong đời này, và chuyện không biết về đời trước phạm ác ra sao quả thật là kinh hãi.

 Nhìn vào đời sống sinh hoạt loài người, bạn nghĩ xem có nghề nghiệp nào lại không gây ác?

 Những nghề nghiệp tay chân, có thể thấy được việc tạo ác rõ hơn, dù là vô tình cũng gọi là ác. Nhưng gây ác là gây thế nào? Thưa bạn đó là xúc phạm đến thế giới các loài chúng sanh khác. Nếu chúng ta sợ thế giới chúng ta bị đe dọa, bị hư hoại, thì loài vật khác cũng lo lắng sợ hãi y như chúng ta.

 Nhưng sợ hãi của loài vật có lẽ càng ngày càng tăng chứ không giảm. Sự thật đó, bạn và tôi dư biết, đó là hiện trạng đã và đang xảy ra nguy cơ diệt chủng các loài thú hoang hiện nay. Như hổ, loài động vật này chưa phải gọi là loài thú hiếm, vậy mà thế giới hiện nay chỉ còn rất ít.

 Việc sát sanh hại vật khai thác làm sản phẩm tiêu dụng cho con người, điều này đã quá rõ ràng không cần phải bàn thêm; nhưng còn nhiều việc khác, chẳng phải vì miếng ăn, chẳng phải vì tiêu khiển giải trí. Đó là việc đi lại trong sinh hoạt hằng ngày, và thậm chí cả một đời sống gọi là tu hành cũng còn mang nghiệp ác. Chúng ta muốn nói đến những siêu sinh vật, như vi trùng trong nước, và các loài vật nhỏ nhít đang ở dưới chân, dưới nền nhà, trên con đường nhỏ, đường lớn mà ta đã hằng giờ hằng ngày thường xuyên dẫm đạp. Những loài vật nhỏ này, bộ không phải là loài hữu tình, hữu giác hay sao?

 Nếu như không có đấng Đại Giác dạy bảo tội sát sanh là tội đánh mất hạt giống từ bi, thì loài người chúng ta còn lạm dụng việc sát hại loài vật đến chừng nào. Và như thế chẳng tính loài vật lớn, chỉ loài vật nhỏ mà ta vô tình sát hại, cũng đủ cho ta phải đền trả đến muôn kiếp luân hồi trong sinh tử. Có lẽ không ít người vẫn còn nghi ngờ, việc vô tình làm chết chúng sanh, có tội hay không tội?

 Thưa bạn, thật ra không nhất định nói rằng có tội, hay không tội, khi con vật bị mình vô tình giết chết. Chẳng hạn tôi ném một hòn đá khi đang dọn đất làm việc, không ngờ ném trúng vào đầu con bò, trúng ngay yếu huyệt trên đầu, con bò chết liền tức khắc. Hành động làm chết con bò như vậy có phải tôi cố ý gây ra ? Tất nhiên là không. Lại vài thí dụ nữa; vì tôi là nhà nông phải sống bằng nghề trồng trọt, cuốc đất, cấy cầy nên khi dọn đất dọn cỏ, chẳng để ý việc làm kinh động giết đi một số côn trùng dưới đất. Một số chết vì lưỡi cuốc của tôi, một số may mắn thoát chết nhưng lại bị phơi mình trên đất, làm mồi cho chim chóc mổ ăn. Việc nữa, bạn tôi không phải nghề nông, anh ấy làm việc trong hãng xưởng chuyên chế các chất hóa học, sản xuất hàng loạt loại thuốc diệt sâu bọ, côn trùng, chuột gián... Anh đâu bao giờ quan tâm việc anh làm là sát sanh hại vật. Tôi không biết anh có phải là Phật tử hay không, nhưng thế nào cũng có những người đang học Phật vô tình làm việc tương tự như anh.

 Bạn thấy đó, cái vô tình của tôi giết con bò trên còn có thể hợp lý, nhưng không phải cho là chuyện tuyệt nhiên không tội. Và nếu quả thật không tội, thì ít ra từ đây về sau, tôi phải ý thức việc ném đá như vậy là không đúng; bởi vì lỡ hòn đá không làm chết con bò mà là con người, thì sao? Chắc bạn lại cũng nói không tội!

 Thưa bạn, theo tôi nghĩ không thể nào không tội, chỉ là hoặc nhẹ hoặc nặng thôi; hay có thể đúng hơn tội đó là tội vô tình vậy. Và tội đó làm ta phải nhớ không thể không ý thức khi làm một việc gì, có thể làm chấn động thế giới chung quanh.

 Chúng ta cũng nên nghĩ thêm, nếu việc thí dụ trên hoàn toàn cho vô tội vì vô tình, vậy thì ai cũng tự cho mình vô tình sau khi đã lỡ gây đủ thứ chuyện, và như thế thật tội nghiệp cho con người và vạn vật chung quanh ta.

 Anh nông dân khi hành động tổn thương giết hại loài côn trùng, bấy giờ anh chưa ý thức, nhưng khi anh hiểu thế nào là sự khổ đau của loài vật nhỏ nhít dưới chân, thì chắc chắn anh phải xúc động buồn phiền vì nghề nghiệp của anh. Sự xúc động đó cũng đã nói lên phản ứng của việc anh làm rồi.

 Vậy thì vấn đề nguyên vì hoàn cảnh sống ta mới làm, chứ không phải tự ý vô cớ hành động. Nhưng bạn và tôi lại nghĩ, tội nghiệp cho anh nông dân chọn làm nghề nông phải chịu tội vô tình hay cố ý, trong khi những người thọ hưởng thực phẩm lúa gạo do anh làm ra lại chẳng bị tội !

 Thật ra quả báo gây tội không đơn giản chỉ nói bấy nhiêu mà được, và đương nhiên hiểu giản lược tội chỉ tác thành khi hành động có tác ý. Nhưng sự tác ý lại là một điều phức tạp, liên hệ xoay vần theo dòng nhân quả kéo dài đăng đẳng trong cuộc luân hồi vay trả bất tận của chúng sanh; cho nên nếu nhận định theo cái nhìn của người chưa chứng đạo đắc quả, thì sự việc khó thể nào hiểu rõ được.

 Vừa rồi chúng ta có nói căn cứ vào mười điều thiện, thì khó có ai mà không gây tội trong đời sống này; vậy rõ ràng người ngồi hưởng thụ những đồ dùng phẩm vật do người khác tạo ra chắc chắn phải đồng phận gây quả tạo nhân. Điều này thuận với luật nhân quả tương quan, có cái này mới có cái kia và ngược lại; như thế rõ ràng là nhân quả, vì bạn dùng tôi mới làm, hay vì bạn làm tôi mới dùng.

 Vậy chúng ta phải ý thức từng việc làm, và việc làm phải là một sự suy xét nỗ lực tránh ác với khả năng cố gắng hết sức của mình. Và ngay điều thứ hai của Tứ Chánh Cần là phải dừng ngay điều ác đã phát sanh.

 Người cư sĩ tu Phật, hay người bình thường ở thế gian vẫn có thể làm được việc này. Thứ nhất họ làm với tâm niệm vì đời sống nhu cầu của con người, để cố gắng biểu hiện qua đời sống cá nhân, như không phung phí lạm dụng trong hành động công việc của mình. Thứ hai họ cố gắng làm thiện, giúp người thương vật, tác động này sẽ bù lại những tác hại từ công việc của mình gây ra. Chỉ như thế, ngoài ra ta không còn cách nào hơn. Bởi vì, hãy lấy hình ảnh người xuất gia tu Phật, là biểu tượng một đời sống tương đối không gây tội; thế mà vẫn thấy không thể tránh được dòng liên hệ nhân quả nghiệp báo, ảnh hưởng đến môi trường chung quanh. Tỉ dụï, một vị Thầy chọn một khu rừng khai lập đạo tràng, và việc tiến hành xây cất trước nhất là phải phát cây, san đất; việc làm này đã gây ra không biết bao nhiêu tác hại cho chúng sanh cư ngụ tại vùng đất này. Thế thì nếu vị Thầy đó không tu, không chứng được ít nhất là an lạc cho mình, thì tác hại mà vị đó làm ra, phải chịu quả báo thật lớn. Và đương nhiên ngược lại nếu vị thầy đó chứng đạo, thành tựu độ sanh, giúp được nhiều cư dân tựu về tu Phật, thì oan gia oan trái của các loài sinh vật côn trùng nơi đây, chẳng những không oán hờn lại còn thừa hưởng được phước lực nghiệp lành gieo duyên với Phật, vì lời khai thị và cầu nguyện của bậc chân tu tất phải cứu độ được loài chúng sanh kia.

 Thế thì kết luận rằng, tất cả mọi người khi biết được điều ác, nguyện sẽ ngăn ngừa từ đây bằng cách luôn sống ý thức, và việc ác đã lỡ sanh phải dứt trừ không cho tái phạm, như thế là thực hiện được điều chuyên cần thứ hai.

3 - Chuyên cần học hỏi làm phát khởi những điều thiện chưa phát sanh

 Tiếp theo hai điều trên, điều thứ ba là chuyên cần học hỏi làm phát khởi những điều thiện chưa phát sanh; điều này là phương cách ngăn ngừa dứt ác hợp lý kết quả nhất. Bởi vì bạn không thể ngăn ngừa và dứt ác, bằng cách thụ động ngồi chờ ác nghiệp hiện lên mới tìm cách đối phó. Chỉ có đối phó với điều ác, bằng cách làm ngược lại, là phải tạo thiện hành thiện, mới dứt trừ được ác.

 Như chúng ta biết vài điều thiện căn bản đã nói qua; vậy ta chỉ còn cách là làm cho chúng phát khởi.

 Cũng như hai điều trên, phải hành động ngay khi chúng còn trong tâm, đến khi chúng xuất hiện ta mới giải quyết được. Chỉ khác là hai điều trên phải được chuyên cần ngăn ngừa và chấm dứt; còn hai điều sau ngược lại, phải chuyên cần làm phát khởi để tiếp tục phát huy.

 Nhưng nói dễ chứ thực hành thì chưa chắc. Khuynh hướng tham sống của con người do nghiệp ái sanh ra nên hay thuận theo điều ham muốn; từ ham muốn sinh ra chấp ngã, từ chấp ngã sinh ra sở hữu, tăng trưởng tánh tham. Như thế muốn nghĩ về thiện, tức đã đi ngược tánh tham chấp này. Thế thì tưởng là dễ, thật không phải dễ nếu không nói là khó.

 Thường người thế gian chưa học Phật, nghĩ rằng làm phước giúp người, thương vật phóng sanh, cho đến ăn chay đi chùa lễ Phật là điều thiện. Bạn nghĩ sao?

 Vâng đó là thiện. Nhưng thưa bạn, thiện dẫn sanh quả thế gian hay xuất thế gian, đó là vấn đề được quan tâm nhất ở đây.

 Tuy nhiên theo lý nhân quả, một người thiện hành theo pháp thế gian vẫn gieo trồng được duyên giải thoát, nếu họ biết đầu tư vào tâm sự cầu giải thoát. Nói như vậy ta thấy ý thức được điều thiện hướng đến giải thoát là điều quan trọng, nếu không dù ta có làm thiện đến muôn tỉ kiếp vẫn còn mãi trong thế gian và những từng trời cõi dục mà thôi. Ý thức thiện hướng đến giải thoát, cũng là những hành động bình thường của những người làm thiện, duy chỉ hiểu rằng điều mình làm đây, xin được làm với tâm phương tiện tạm sống giải quyết nhu cầu thường nhựt qua ngày, chứ không cầu gì hơn, ngoài việc quyết tâm cầu mong đời sau học Phật tu Phật để được giải thoát.

 Sự cầu mong không phải là một điều cầu khẩn mơ hồ, mê tín; sự cầu mong là sự luyện tâm khắc ghi ý chí không phai, cho đến sẽ thực hành trong tương lai. Tất nhiên sự cầu mong chỉ có hiệu lực tác dụng khi việc thiện luôn được thực hành trong đời sống.

 So với điều thiện bình thường của thế gian, chẳng thể ra ngoài tính thiện cảm xúc vì thương người, vì dư tiền lắm của, hoặc cũng có thể vì muốn được tiếng tăm. Thiện như thế hầu như mọi người đều làm được, nhưng thiện vì mong được giải thoát luân hồi, điều này rất lạ với thế gian. Lạ nhưng cũng chẳng lạ, chỉ vì họ chưa học Phật mà thôi. Chưa học Phật nên còn bản ngã, còn ngã sinh ra chấp pháp chấp ngã, do đó tất cả việc làm thường vì bản ngã sinh ra. Người làm thiện hướng về giải thoát cũng vẫn từ bản ngã, nhưng lại tâm nguyện chuyển hành động thiện đến giải thoát vô ngã. Sự có thể chuyển được, tất phải hiểu rằng các pháp giả tạm vô thường; và như thế chẳng khác người thế gian làm thiện, nhưng kết quả lại là giải thoát tương lai.

 Điều thứ ba nơi đây, bạn và tôi phải biết, chuyên cần học hỏi phát khởi điều thiện, tức là luôn ý thức theo dõi tâm thiện của mình.

 Bây giờ thử tìm hiểu việc làm phải thế nào, để hành động thiện được tiếp diễn phát triển mãi.

4 - Chuyên cần học hỏi tiếp tục phát khởi những điều thiện đã phát sanh

 Trở lại căn cứ vào mười điều thiện làm tiêu chuẩn; chúng ta thấy ba nghiệp thân khẩu ý tạo ra mười điều thiện như: thân không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm (5). Miệng có bốn: không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói độc ác. Ý có ba: không tham, không sân, không si.

 Mười điều thiện này đối với thế gian, đây là một việc không phải dễ làm, nhưng người ta vẫn đã và đang làm để mong được tiếng thơm, tiếng tốt, có phải không? Chẳng hạn ai lại muốn nói dối, nói thêu dệt, nói hai chiều, nói độc ác; phạm phải điều này, người ta sẽ mất hạnh phúc ngay trong gia đình, lại ảnh hưởng đến cả sinh hoạt đời sống; do đó người ta phải cố làm sao cho mọi người xem trọng tư cách cá nhân mình, bằng cách sửa đổi ngôn từ ý ngữ.

 Tuy nhiên dù người thế gian có cố gắng cũng khó làm trọn, vì đa số thường phạm nghiệp sát sanh, và nhất là tham, sân, si. Dù vậy nếu ta thông cảm chỉ nhìn nhận mức độ tạo nghiệp cố ý ác tâm mới là phạm tội, thì người ta chỉ còn kẹt lại si mê mà thôi, tức là phạm về phần Ý.

 Tôi xin được chủ quan thưa như vầy; tham lớn tất nhiên chẳng ai dám dù rất muốn, nhưng tham vừa phải thì hầu như ai cũng tham. Hơn nữa dù sao một vài khía cạnh góc độ, tham cũng tạo ra động lực cạnh tranh sáng tạo đưa xã hội văn minh tiến bộ hơn. Như vậy nếu quả thật tham ít, biết chừng mực, ta có thể cho là chẳng có sao. Sân cũng thế, chẳng ai muốn phạm bao giờ, và hầu như ai cũng sợ nó, thường hay hối tiếc việc mình đã sân, cho nên sân cũng là việc ngoài ý muốn, hay vô tình, có thể cảm thông được phần nào, chỉ còn mức độ nhẹ thôi. Còn nghiệp sát thì họ chỉ phạm vào tội gián tiếp, nên cũng cho còn có cơ hội hóa giải từ từ.

 Thế thì chỉ còn si. Và si cái gì vậy ?

 Trước hết bạn và tôi hiểu rằng si là đi ngược lại sự sáng suốt định tĩnh về một vấn đề gì. Nhưng ở đây chúng ta đang nói về pháp giải thoát, tất nhiên si phải là việc không nhận ra Phật pháp; mà Phật pháp là chân lý sống, là điều đưa con người trở về lại tánh thể an tịnh hạnh phúc bình an nhất. Vấn đề hạnh phúc này lại chẳng lạ gì cái mà con người đang lặn hụp đi tìm ở thế giới bên ngoài, tuy nhiên bởi vì nó khó thể tìm thấy ở thế giới động, nên người ta không dễ nhìn ra thôi. Chỉ khi con người rơi vào đau khổ tinh thần, họ mới chịu quay về tìm kiếm, nhưng vì chưa quen, không quen quán sát tự tâm, thành ra không thể đạt được sự tìm kiếm định tâm này.

 Đôi khi người ta tưởng, sáng suốt hiểu biết về sinh hoạt thế gian, không thể nào gọi là si mê được. Nhưng người ta lại quên, sinh hoạt thế gian cứu cánh cũng để phục vụ nhu cầu thỏa mãn hạnh phúc ấm no cho con người. Nhưng lại thưa rằng thế gian đã chẳng có hạnh phúc lâu dài qua các thứ mà con người đang ra công tạo dựng, cũng bởi vì nhu cầu của lòng tham không bao giờ thỏa mãn. Do đó trí thức sáng suốt của thế gian không diệt được tham, không ngưng được chiến tranh tàn phá từ xưa đến nay và sẽ còn mãi mãi. Vậy trí thức sáng suốt đó là thế nào? Và nhu cầu hạnh phúc đó ra sao? Nếu nhu cầu hạnh phúc đó chỉ đơn thuần là những sản phẩm, thì người nhiều sản phẩm nhất chắc phải hạnh phúc lắm! Nhưng không, người càng nhiều sản phẩm, nếu không nói người đó có thể càng khổ! Chỉ có người không si mê, tức sống theo cái nhìn của đạo giải thoát, rằng các pháp do duyên sinh, cũng do duyên diệt người này mới thật sự hạnh phúc. Đó là giáo lý giải thoát dạy như vậy, nếu không hiểu, si mê vẫn là si mê dù người ta có trí thức cao đến thế nào; và thậm chí ngay cả người đang gọi mình là tu Phật vẫn còn si mê nếu chấp chặt bản ngã và pháp đang tu!

 Như thế si mê là nhìn sai hiện tượng thế giới chung quanh để đưa đến sự bám víu đau khổ. Nói rõ hơn si mê chính yếu là si về ngã và pháp. Đó là si mê chấp chặt thân thể của mình cho là thật, và khiến cho các thứ vật chất phải dính mắc theo.

 Trở lại việc thế gian dù tránh được phần nào những điều bất thiện, nhưng vẫn còn kẹt si mê vừa kể! Thế thì cũng là hoài công; bởi vì dù tránh được việc ác qua thân, khẩu, và phần nào của ý tham, sân, nhưng nghiệp si chưa dứt trừ, để nhận rõ các pháp là giả, là huyễn mộng, con người chỉ là dòng chảy bất tận của tâm thức, thì vẫn còn mãi trong luân hồi đau khổ mà thôi. Rồi sợ một kiếp nào đó không còn nhận định ra được những điều bất thiện, phải lâm vào nghiệp ác, bấy giờ muôn kiếp khó mà quay lại như thuở ban đầu đã hiểu. Vậy điều cuối cùng của Bốn Pháp Chánh Cần ở đây, nhắc ta rằng sau khi đã hiểu được thế nào là ác, là thiện, tất phải gia công luôn luôn thực hành quán sát cho đến nhắm mắt mới thôi; như thế người hành được vậy đã chẳng không còn si mê ngã pháp, mà còn đạt được thánh trí chứng đạo giải thoát theo con đường Phật dạy.

Tứ như ý túc 

 Trước khi tiếp theo chuyện bàn về pháp Tứ Như Ý Túc, tôi xin được dẫn lời giải trong Từ Điển Phật học như sau:

 Theo Pháp Giới Thứ Đệ Sơ Môn, trong phần cuối của ngài Trí Khải, trong Tứ Niệm Xứ thì tu thật trí huệ, trong Tứ Chánh Cần tu Chánh Tinh tấn, như thế thì huệ nhiều định ít, nay tu Tứ chúng thiền định nhiếp tâm thì định, huệ mới bằng nhau được, sở nguyện đều thành tựu, nên gọi là Như Ý Túc.(6)

 Nghe qua bạn và tôi hiểu đây là pháp tu thành tựu thiền định, phát sinh ra bốn điều như ý. Bốn điều đó là:

-Dục như ý túc

-Tinh tấn như ý túc

-Nhất tâm như ý túc

-Quán như ý túc

 Lại căn cứ theo lời dẫn trên, bốn điều như ý này đạt được là do trải qua quá trình, công phu tu niệm Tứ Niệm Xứ và Tứ Chánh Cần; và kết quả như ý là toại nguyện sanh được diệu lực thần thông, nên cũng còn gọi là Tứ thần túc. Vậy thần túc là diệu lực công đức thù thắng đạt được từ thiền định, nhưng thiền định thành tựu như vầy lại nhờ do phát sinh trí huệ quán chiếu bốn pháp niệm xứ và bốn điều chánh tinh tấn mà ra.

 Nào chúng ta thử tìm hiểu theo từng phần bốn điều như ý này.

-Dục như ý túc:

Có nghĩa mong muốn đạt được mỹ mãn như ý.

 Chúng ta lại đi từ sự mong muốn thường tình của thế gian; mong muốn tất cả nhu cầu vật chất, mong muốn cho bằng được, cho như ý. Điều mong muốn đó có nghĩa là điều tham không hơn không kém, để kết quả chỉ là đau khổ khi biến thành thái quá của lòng tham. Nhưng không phải tuyệt đối là tham; thế gian vẫn có nhiều người mong muốn nhưng không tham. Hẳn lịch sử đã có ghi bao nhiêu vị anh hùng cứu nước, cứu khổ vì người, vì đa số chứ không riêng cho họ; cũng như các nhà bác học, vẫn mong muốn mà không tham, các vị vì ham muốn cho mọi người có được tiện nghi, bớt đi việc khổ mà tự chính nhà bác học đã kinh qua, nay thấy cấp bách cần tìm tòi phát minh cứu nguy cho quần chúng. Đây là việc không phải tham mà là mong muốn giúp người. Mong muốn này nếu được toại nguyện như ý tất nhà bác học, hay nhà chính trị cách mạng sẽ đạt được niềm vui lớn.

 Bạn và tôi vẫn hiểu, dù gì đằng sau bức màn mong muốn giúp người, thoạt đầu vẫn chưa xuất hiện bản ngã danh vọng, nhưng vì tính chất phiền não tham, sân, si ái chưa dứt nên trước sau dễ bị phạm phải. Như thế mà nhà bác học, nhà cách mạng đã không còn thuần chất, để biến mất tính chất mong muốn ban đầu. Thế là những sản phẩm được chế ra lại bị hóa thành lạc hướng, chạy theo ý thức nô lệ dục vọng ích kỷ của chính mình. Ham muốn như ý theo đây, kết quả tất nhiên là khổ.

 Cha mẹ mong muốn cho con được học thành tài như ý cha mẹ; con cái mong muốn được học vị cao như ý của nó. Cả gia đình đều muốn phải sống hòa ái như ý; và các nhà điều hành, lãnh đạo xã hội quốc gia đều mong muốn hướng dẫn quần chúng, đất nước được hòa bình văn minh tiến bộ; như thế chẳng ai là chẳng ham muốn như ý.

 Nhưng làm sao ham muốn được như ý, khi mỗi thành viên trong gia đình đã không tự làm cho mình như ý, theo sự hướng đến tha nhân bằng sự hiểu biết của từ bi trí huệ. Tất nhiên cha mẹ lúc nào cũng mong muốn cho con học giỏi thành tựu mai sau, nhưng cha mẹ đã không nhìn thấy, có rất nhiều đứa con học giỏi của nhiều gia đình, nhưng những gia đình đó vẫn không thành tựu điều họ mong muốn! Có phải điều đích thực mong muốn của cha mẹ là muốn con mình hạnh phúc? Và hạnh phúc đó phải là học giỏi hay sao? Câu trả lời có thể không đặt vào hết trường hợp, nhưng ta phải thấy, tất cả đều cần tình thương, sự rộng lượng.

 Một quốc gia giàu có đầy đủ vật chất, chưa chắc đã hoàn toàn hạnh phúc bằng một quốc gia chỉ phát triển vừa đủ sống, nhưng biết sống chú trọng nhiều về tình thương. Chẳng hạn Mỹ quốc là một quốc gia giàu mạnh nhất thế giới ở giữa thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 này; nhưng ta thử hỏi nước Mỹ, đã có được hơn phân nửa số dân sống hạnh phúc chăng? Và đất nước Tây Tạng trước thập niên năm mươi, được xem là một dân tộc lạc hậu của miền sơn cước, chỉ sống cô tịch quê mùa đối với thế giới bên ngoài; nhưng ngược lại họ lại là những người có nhiều, và có hạnh phúc thật sự nhất trên thế giới. Đó là vì họ biết sống nghiêng về từ bi, sống ít ham muốn và biết ham muốn đúng với chân lý tình thương.

 Thế ra thế gian ham muốn như ý, nhưng chẳng thể tưởng tượng được sự ham muốn như ý của mình có được ngừng lại chăng! Để sự ham muốn đó trở thành tham muốn, và chẳng thể đưa đến hạnh phúc, ngược lại càng ham muốn càng khổ đau.

 Vậy thì người học Phật ham muốn thế nào, và ham muốn có như ý không?

 Chẳng khác gì thế gian, thế gian ham muốn bao nhiêu, người học Phật ham muốn bấy nhiêu. Nghe qua chắc bạn giựt mình chứ gì!

 Bạn và tôi nên hiểu tất cả pháp đều là giả pháp, ngay cả cái bạn và tôi đang bàn về cái gì giải thoát cũng là giả, có chăng đáng nói chỉ là phương tiện; và khi đạt được giải thoát, bấy giờ không còn nói đến cái gì là pháp hay không phải pháp. Hễ còn móng niệm là còn phân biệt thật giả; chỉ có thành đạo mới có thể nói được hết ý về nghĩa của pháp.

 Sự kiện người học Phật ham muốn chẳng khác người thế gian, vì người học Phật cũng chỉ là con người; cũng biết tiếp xúc trâàn cảnh và đầy đủ cảm xúc. Nhưng người học Phật lại vì ham muốn hơn, sự ra khỏi luân hồi, sự thành đạo trong tương lai, nên dù có hành động như ham muốn nhưng không dính mắc. Và do không dính mắc nên ham muốn như thế gian mà chẳng giống thế gian, và tất nhiên lại trở về vấn đề củ rích, là vì biết sự ham muốn của thế gian sẽ không bao giờ như ý, bởi không hiểu các pháp là giả là do duyên sinh.

 Đó là sự ham muốn của người cư sĩ học Phật, đã và đang tiếp cận một cách mãnh liệt với cuộc sống; những người này đã thành tựu ham muốn như ý, trong cái ham muốn như thế gian mà chẳng giống thế gian. Nghĩa là họ đã thấy được cái ham muốn như ý trong sự tự tại không kẹt chấp những tham dục vật chất ở thế gian.

 Hàng học Phật xuất gia, lại càng ham muốn như ý về sự tu hành chứng đạo, và ham muốn phát huy giáo pháp giải thoát Như Lai đến khắp mọi người. Nói đúng hơn ham muốn tất cả những gì liên quan đến giải thoát, và có lẽ ham muốn giải thoát như ý này, còn mạnh hơn gấp trăm ngàn lần cái ham muốn thế gian. Thưa bạn, nói như vậy không quá lắm đâu; vì nếu chắc rằng kết quả sẽ ra khỏi luân hồi đau khổ, sẽ chứng đạo ngay đời này, thì vị tu sĩ nào lại không ham muốn như vậy! Nơi đây ta lại nghĩ, và không ngạc nhiên tại sao đời nay, vẫn không có bao nhiêu tu sĩ ham muốn như thế, để được chứng đạo. Câu trả lời chỉ vì các vị chưa đạt được ham muốn như ý túc; ham muốn một cách mỹ mãn điều mình muốn.

 Như thế mới thấy điều này quả thật là khó, và chắc chắn rằng hành giả nào quán chiếu thể nghiệm được sâu xa bốn pháp niệm xứ, lại thành tựu bốn điều chuyên cần, tức sẽ đạt được điều mong muốn như ý.

-Tinh tấn như ý túc

 Nếu chúng ta đã hiểu mong muốn mỹ mãn như ý thế nào, thì việc tinh tấn như ý túc cũng phải mãnh liệt như vậy.

 Thế gian thành tựu mọi vấn đề trong cuộc sống cũng