Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

 

Vài Chuyện

Bạn và Tôi học Phật

 

Thích Phổ Huân

 

---o0o---

 

 

Chuyện về cảnh giới chúng sanh 

Thưa bạn, từ đầu chúng ta có nhắc qua hai từ chúng sanh, giờ đây xin được tìm hiểu thêm thế nào là nghĩa của chúng sanh.

 Theo nghĩa của mỗi chữ, thì chúng là một nhóm, số đông; và sanh là hiện hữu do nhân duyên thọ mạng hoặc từ bào thai, hoặc từ trứng, mà người học Phật hay nghe có bốn loài: thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Trong bốn loại này tưởng không cần giải thích nhiều, bạn và tôi đều biết, đại khái thai sanh là loài mang thai như trâu, bò, nai, ngựa... Noãn sanh là loài đẻ trứng như chim, gà, vịt... Thấp sanh là loài sanh ra từ nơi ẩm thấp trong môi trường tối, ướt dưới đất, bùn, như trùng, dòi... và hóa sanh là loài biến hóa từ dạng này đến dạng khác không nhất định, như nhọng biến ra bướm; tuy nhiên đúng nghĩa hóa sanh là biến hóa, không phải cảnh giới dễ thấy, như là chư Thiên, và cảnh Thân Trung Ấm đọa vào địa ngục chẳng hạn. Tất nhiên sự xuất hiện của họ cũng phải có nhân duyên, nhân quả, nhưng vì hình sắc thọ mạng của họ vi tế nên hiện sanh ra cũng vi tế.

 Theo như bốn loài vậy, loài hóa sanh là thù thắng, nhưng dù nói thù thắng, chứ không duyên học Phật, không duyên đạt được cảnh thù thắng nhất đó là cảnh vượt lên ba cõi, cảnh bất khả tư nghì, cảnh Phật. Chính Phật đã hiện vào cảnh giới người để độ chúng sanh, sự thị hiện của Ngài nguyên vì từ bi, do đó ta chẳng thắc mắc tại sao Phật không thị hiện trong loài hóa sanh, để mang tiếng là thua sắc đẹp cảnh giới chư vị ở cõi trời. Nói là thua hình ảnh chư Thiên, đó là theo cách nhìn cách suy nghĩ của chúng ta, chứ chư Thiên, Bồ Tát nhìn Phật không giống như con người. Nếu quả Phật xuất hiện bằng hóa sanh thì đạo Phật chẳng được mấy người tin theo, vì sự khác biệt giữa Ngài với nhân loại quá lớn, để kết quả chỉ có loài cũng hóa sanh như Ngài, mới tin và chịu tu theo Phật. Thế là giáo pháp giải thoát ở thế gian sẽ bế tắc ngay từ đầu.

 Thật ra không thể nào nói hết được hoàn cảnh chúng sanh, vì chỉ một loài chúng sanh đã khó thể tưởng tượng được sự phức tạp hay lượng số ít nhiều thế nào rồi. Và dù bản chất tất cả chúng sanh đồng chung một tánh tham sống sợ chết; tuy nhiên không phải đơn giản như vậy, đó là kết quả hiện lên những hình thù tướng trạng, cùng với cảnh giới khác nhau.

 Hẳn bạn đã biết ý tôi muốn nói; đó là do sự ý thức suy nghĩ, tâm niệm phức tạp, đưa đến hành động phức tạp, nên cũng thời tham sống, cũng thời sợ chết, mà kết quả lại không đồng nhau. Kết quả là người chết thành thú, thú chết thành người trong luân hồi đau khổ.

 Chúng ta thử bàn sơ qua về loài người cũng thấy lắm phần phức tạp và khó hiểu. Như đã là người lại có nhiều giống dân khác nhau, da vàng, da trắng, da đen; sự dị biệt như thế là do nghiệp nhân, nghiệp quả. Từ nhân quả mang hình tướng không đồng lại sinh ra ý thức dị biệt, dị biệt về cảm quan ý thức. Từ cảm quan ý thức tiếp tục sinh ra hành động đối biệt nhau, để thực tế là xã hội thế giới phức tạp ngày nay quá rõ ràng.

 Trở lại nói về bản chất tham sống sợ chết đây thật là một vấn đề.

 Tham sống bằng ý thức giúp người cứu vật, khác hơn là tham sống hưởng thụ riêng mình, và sợ chết vì không còn hưởng thụ, khác hơn sợ chết khi việc thiện còn dỡ dang. Cho nên chỉ nơi loài người hành nghiệp đã quá phức tạp do đó quả báo cũng sinh ra lắm điều.

 Chúng ta thấy hình dạng đồng là con người mà khác biệt màu da như vậy, nhưng đó chỉ là phần thô, phần tế lại còn khác lạ nữa. Chẳng hạn người mang hình thù xấu xí nhưng lại thông minh, và người ngây ngô khờ khạo lại mang dáng người xinh đẹp. Nói rõ hơn, trong các nước sắc dân không phải người da trắng, có không thiếu gì người thông minh kiệt xuất; và trong các nước dân người da trắng tự hào là văn minh, lại chẳng thiếu kẻ thất học, dại khờ.

 Về mặt văn hóa, nếu người da trắng chọn văn hào Leon Tolstoi là người xưa nay hiếm thấy với tác phẩm vĩ đại “Chiến tranh và hòa bình”, thì người da vàng Châu Á, không cần tìm hiểu các nước da màu khác, ngay nước Việt Nam cũng xuất hiện một đại văn hào Nguyễn Du, tác giả của tác phẩm văn vần vĩ đại “Truyện Kiều” với trên hơn ba ngàn câu thơ tuyệt tác, mà đến nay đã được thế giới công nhận là tác phẩm thi ca vĩ đại. Về mặt triết lý nhân sinh, tâm linh học, lại quá rõ ràng, người da trắng hẳn có nhiều triết gia, và người da vàng chẳng thiếu gì vĩ nhân, điều này ai cũng biết không cần phải nêu ra.

 Nói chung tất cả dị biệt như vậy phải là do hành nghiệp chính ta gây ra. Nhà Phật giải thích việc này, gọi là biệt nghiệp và cộng nghiệp.

 Biệt nghiệp là đứng riêng ra thọ báo, khác với cộng đồng thọ báo, việc này có nhiều thí dụ giải thích, chẳng hạn, cộng đồng người Việt ở Úc có khoảng trên hai trăm ngàn người, là một cộng nghiệp của số người Việt ở Uùc. Rồi trong số người Việt không phải ai cũng giống nhau; mà mỗi người mỗi khác, mỗi công việc sinh sống, đây gọi là biệt nghiệp. Biệt nghiệp thấy rõ nhất là các em nhỏ sinh ra lớn lên tại hải ngoại, các em dù được sanh ra trong cộng nghiệp là người Việt, nhưng tư tưởng văn hóa lại là người Tây phương. Thí dụ gần hơn nữa, trong một gia đình tất cả anh em có chung một cha mẹ, nghĩa là cộng nghiệp làm con của cha mẹ, nhưng chẳng đứa nào giống đứa nào, đó là biệt nghiệp riêng của mỗi đứa.

 Trở lại vấn đề chúng sanh thọ mạng thân người, chúng ta tạm hiểu phần nào như vạäy, thế thì vô số chúng sanh khác thì sao? Chúng làm gì biết được tham sống sợ chết theo quan niệm là gì, lý tưởng là chi? Thưa bạn, đúng như thế, cho nên ban đầu tôi đã thưa là khó mà hiểu được vấn đề hiện hữu phức tạp của chúng sanh. Nhưng ta cũng vẫn thắc mắc, tại sao có sự liên hệ, con người và vô số loại hình chúng sanh khác sống chung nhau trên hành tinh này; lại nữa hoàn cảnh sống chung có khi xảy ra rất thân thiện, như người và vật cùng ở một nơi, thương yêu như đồng loại. Chẳng hạn chó, mèo là loài vật mà một số người rất mực thương yêu gần như thân tộc trong nhà.

 Trường hợp đây rõ ràng nói lên nhân quả của biệt nghiệp và cộng nghiệp.

 Đứng về mặt cộng nghiệp, tất cả chúng sinh hiện hữu ở cõi ta bà (hành tinh xanh) đều có chung nhân nghiệp quả báo. Nhân nghiệp thế nào hẳn nhiên chỉ có chư Phật, Bồ Tát mới rõ biết một cách tường tận; tuy nhiên một điều chắc chắn bạn và tôi có thể đoán là chúng sinh thọ mạng chung ở thế giới Ta Bà vẫn còn may mắn; (Xin tạm gọi may mắn, vì trong giáo lý giải thoát không có cái gọi là may mắn, tất cả chỉ là nhân duyên), vì ngoài thêá giới này còn không biết bao nhiêu thế giới khác. Vậy có phải thật may mắn là không sinh vào thế giới ngạ quỷ hay địa ngục?

 Sống trong một cộng nghiệp, dù chúng sinh có dị biệt ra sao, đều phải cùng chung chịu đựng hay thọ hưởng cộng nghiệp của mình. Nếu trái đất vẫn bình an trong thời gian thọ mạng của chúng sanh, thì sự cộng nghiệp gọi là nhận lãnh quả báo thiện, nhưng nếu thế giới phát buồn dỡ chứng, động đất, sóng thần, núi lửa, mưa đá, gió bão... thì thời gian xảy ra này, thọ mạng chúng sanh nào chứng kiến, đương đầu, gánh chịu, tất nhiên phải là nhận lãnh quả báo ác.

 Tuy nhiên trong sự nhận lãnh quả báo ở Ta Bà, phải nói là một đại nhân duyên cho chúng sanh mang lớp hình người, vì còn giáo lý giải thoát. Giáo lý của bậc giác ngộ hơn hai ngàn năm trăm năm vẫn còn lưu lại. Giáo lý này không thể so sánh và đặt định ngang hàng với những giáo thuyết của tôn giáo khác. Vì sao, vì giáo lý này chỉ thẳng chính con người là chủ nhân ông của mình, chính con người quyết định được sự bất an và hạnh phúc cho nhân loại. Chứng minh cụ thể trước hết là hành tinh thế giới này, con người là loài chúng sinh thông minh nhất, hơn tất cả các loài chúng sinh trên trái đất.

 Điều chứng minh tiếp theo cũng như khẳng định cuối cùng sự thông minh đó, là do trí thông minh nên con người có thể làm được tất cả từ vật chất đến tinh thần. Về vật chất, từ ngàn năm xưa con người đã dựng nên nhiều công trình vĩ đại, và một trong di tích lịch sử to lớn nhất đến nổi từ mặt trăng nhìn về trái đất vẫn nhận ra được, đó là Vạn Lý Trường Thành bên Trung Quốc. Mục đích tác phẩm vĩ đại này tuy phát xuất từ lòng tham vọng ích kỷ mưu đồ, nhưng không thể phủ nhận nghị lực làm việc sáng tạo phi thường khủng khiếp của người xưa.

 Đối với hiện tại ngày nay, sức sáng tạo vật chất lại vượt lên mức phi thường mà con người có thể tưởng tượng được. Giả dụ ngày nay văn minh nhân loại muốn xây dựng một bức trường thành kiên cố xinh đẹp, vừa có thể cho người bộ hành du ngoạn vừa có thể xử dụng được xe, thì bức tường này có thể chạy dài xuyên qua gần hết cả lục địa trên trái đất, chứ không chỉ là một tác phẩm võn vẹn chỉ xuất hiện ở Trung Hoa. Và phi thường hơn nữa tác phẩm mới này sẽ không phải là thời gian kéo dài đăng đẳng của mấy đời vua, để giết đi hàng triệu sinh linh vô tội.

 Về mặt tinh thần, con người có thể tư duy mọi vấn đề và nhất là lý giải được thân phận làm người trong đời sống thế giới ngày nay; nhưng lý giải vượt lên trên hết là giáo lý siêu việt của vị toàn giác giòng họ Thích Ca mang tên Tất Đạt Đa. Người đã trở thành vị Phật lịch sử duy nhất mà con người biết được từ quá khứ gần ba ngàn năm nay. Tinh thần đó không phải là sản phẩm của một đấng tối cao nào ban cho Ngài; tinh thần đó là của tất cả, biến hiện khắp không gian thời gian từ vô thỉ đến nay. Nói đúng hơn tinh thần giáo lý đó có, từ khi có con người, và tất nhiên con người làm chủ nó, nhưng tiếc rằng không một ai hiểu được, cho nên con người thái tử Tất Đạt Đa đã trở thành Phật vì khám phá và chứng nghiệm nơi chính mình. Do đó khách quan mà nói phương diện tinh thần đã vượt lên tất cả, vì nó lấy con người làm trung điểm mà không phải dựa vào một khái niệm trừu tượng nào, và như vậy mới đúng chân tinh thần chân lý.

 Cho nên chúng sinh mang lớp hình người đã là một đại duyên khi nhận thức được sự thật về con người và hoàn cảnh con người.

 Đã tạm bàn qua loài người, giờ ta thử nghĩ về loài chúng sanh khác.

 So với loài người, thì không gian và thời gian của chúng sanh khác thật không thể nghĩ bàn. Không cần nói số lượng, chỉ nói sự dị biệt hình thù đã không thể tưởng tượng được. Nào là loài sống trên đất, loài sống dưới nước, và trong mỗi môi trường như vậy lại có không biết bao nhiêu chúng sinh mang hình dạng khác nhau.

 Nhìn loài người chỉ có một vài màu da khác biệt, nhưng loài vật có loài cùng loại mà màu sắc khác nhau thật nhiều, chẳng hạn loài chim, có đến hàng trăm giống với sắc màu riêng biệt nhau.

 Nói về không gian và thời gian, lúc nào nơi đâu cũng có chúng sinh hoạt động; lạnh như hai điểm của địa cầu là cực Nam, cực Bắc vẫn có những động vật sinh sống; và thời gian về đêm không còn ánh sáng, cũng chẳng thiếu những loài rắn loài dơi lấy tối trời làm giờ sinh hoạt.

 Những động vật sống trên đất liền còn có thể suy đoán theo dõi được, vậy loài dưới sông hồ, biển cả thì sao? Đây là vấn đề mãi còn bí ẩn, và có lẽ sẽ bí ẩn mãi thôi. Đối với loài cá ở sông hồ không đáng nói, nhưng với đại dương sâu rộng, chỉ có những vị phi nhân vô hình mới hiểu nổi. Hiện thời văn minh con người chỉ dò được độ sâu của biển ở một vài nơi, nhưng đích thân dùng phương tiện đưa người thăm dò lòng biển qua phương tiện tàu ngầm, thì chỉ lặn sâu có vài trăm thước, trong khi độ sâu vài nơi có đến vài cây số, hoặc còn sâu hơn nữa. Với độ sâu khủng khiếp như thế, sức ép của nước phải là kinh hoàng, và chắc chắn chỉ có những gì sở hữu của đại dương biển cả mới tồn tại thích nghi. Những sở hữu của đại dương là gì? Tất phải là vật hữu tình, vô tình như trên đất liền không khác. Đó là những động vật sinh vật bí mật nào đó mà ai biết được? Cho nên mới nói chỉ có phi nhân vô hình mới thấy, tức phải có thần thông phải có thiên nhãn.

 Đối với chư Phật chư đại Bồ Tát vấn đề không cần phải bàn đến, vì quá trẻ con, các Ngài thấy cả vũ trụ, trong đó địa cầu chỉ là hạt bụi nhỏ, nên trong hạt bụi có gì để đáng thấy. Nhưng nếu muốn thấy, thì từng cơ thể và tâm niệm của siêu vi trùng các Ngài cũng biết rõ, huống gì vật quá ư thô kệch rõ ràng như ở đáy đại dương. Việc này bạn và tôi nhất định phải tin như vậy.

 Tuy nhiên thỉnh thoảng chúng ta vẫn thắc mắc! Thắc mắc là phải, vì còn là phàm phu làm sao hiểu được cái nhìn cái hiểu của người chứng đạo. Nhưng điều chúng ta phải tin là cõi Ta Bà này có Phật xuất hiện; Ngài đã thuyết pháp để lại kinh điển chứng minh, qua đó ta mới hiểu được trí lực của Ngài.

 Thế thì những chúng sinh sống nơi đen tối sâu thẩm của đại dương, hình thù thế nào, cuộc sống ra sao; và nếu có được phần nào thần lực tư duy suy nghĩ, thì ta sẽ thấy rằng thế giới còn có muôn hình vạn trạng khác thường còn hơn ta suy tưởng!

 Xét ra cũng chẳng lạ gì. Vì nếu chúng ta đặt ra muôn câu hỏi về chúng sinh đang hoạt động sinh sống thật sâu dưới đại dương đen ngòm, lại chẳng khác gì chúng sinh đang sống sâu dưới lòng đất trên khô. Cả hai thế giới đều là màu tối! Nhưng không! Loài người chúng ta cho là tối, nhưng đối với chúng lại là môi trường lý tưởng nhất đó. Thôi thì tạm hiểu thế giới phức tạp của vô số hoàn cảnh chúng sanh không phải là người, đại khái là vậy; tuy nhiên căn cứ vào giáo lý nhà Phật, có thể đoán biết là do nghiệp lực của mỗi chúng sinh gây ra, nên tự thành quả báo như vậy.

 Chỉ có một điều nhận thức rằng, loài chúng sinh không phải là người hiện ở cõi Ta Bà trong thời còn giáo điển Như Lai số lượng quả không thể nghĩ bàn. Và suy tư ngược lại, chúng ta là loài người cũng quả đúng là loài hiếm quý. Như thế, thế giới loài vật, loài người dù chịu cộng nghiệp trên một thế giới địa cầu, nhưng biệt nghiệp mỗi loài thật còn quá là chênh lệch.

 Biệt nghiệp của chúng sinh không phải loài người, không chỉ sai biệt khổ vui với đồng loại của chúng mà so với loài người cao cấp hơn chúng, lại có khi quả báo của chúng còn sung sướng hơn. Rồi biệt nghiệp của loài người là có nhân duyên thù thắng tiến lên giải thoát, nhưng vẫn không thiếu những người chịu đựng quả báo còn đau khổ hơn cả những hàng chúng sinh hạ cấp.

 Đó là vài khái niệm về những cảnh giới chúng sanh, và khái niệm cuối cùng để hiểu là chúng sanh nói chung như loài người và vạn vật sinh sống trên địa cầu hôm nay, vẫn đang loay hoay trong vòng trói buộc của một hữu tình chưa giác ngộ. Chưa giác ngộ tất phải tìm cầu con đường giác ngộ, nhưng trong bốn loài chúng sanh ngoài loài người ra, các loài vật khác làm sao hiểu được thế giới hiện nay đang có giáo lý thoát ly sinh tử.

 Vậy chúng ta là người, lại được nhân duyên học Phật, phải nên phát khởi lòng thương nghĩ đến tất cả loài chúng sanh khác không được may mắn như ta; đó là ý nghĩa nhất để hiểu cảnh giới chúng sanh mà tự thân mình đang lãnh thọ.

 Để tiếp tục tìm hiểu thêm hoàn cảnh con người đang trong thời kỳ còn giáo lý giải thoát, thiết nghĩ bạn và tôi không thể nào lại không muốn tìm hiểu về sự xuất hiện của Phật, là một sự nhiệm mầu nhân duyên cho muôn loài chúng sanh, nhất là chúng sanh mang lớp hình người, lớp hình người đang học Phật.

 

Chuyện xuất hiện của đức Phật 

 Có một điều thật lạ, nơi Đức Phật thành đạo, hoằng pháp độ sanh là quốc gia Ấn Độ, nhưng người tin và theo đạo giải thoát lại không quá vài phần trăm! Cũng có tôn giáo thờ kính đức Phật, nhưng lại thờ chung với nhiều thần linh, họ tin tưởng Phật cũng chỉ là một vị thần. Dù vậy một điều, không ít người Ấn, có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng vẫn phải ngạc nhiên; tại sao vị Thánh nhân dòng họ Thích Ca này lịch sử sống ở nước họ, nay được hầu như khắp nơi trên thế giới, chẳng những ca tụng tán thán mà còn thực hành tu theo?

 Điển hình nhất, một đất nước chẳng phải là nhỏ lạc hậu nghèo nàn, có một diện tích khổng lồ đứng hạng ba trên thế giới, với dân số hầu như đứng đầu, đó là Trung Hoa, một quốc gia có nhiều di tích hùng vĩ ca tụng vị Thánh nhân này. Xin thưa đúng vậy, bạn và tôi cũng phải rất ngạc nhiên không thua gì người Ấn.

 Đất nước Trung Hoa, khi đạo Phật mới truyền sang, vào thế kỷ thứ nhất Tây lịch, nền kinh tế lúc bấy giờ có thể không thua một quốc gia nào trên thế giới, và tất nhiên nền văn hóa triết học tâm linh vẫn được xem là thâm sâu huyền diệu. Nền triết học đạo lý đó là của Khổng Tử và Lão tử bấy giờ, vậy mà giáo lý giải thoát vẫn nghiễm nhiên dung dị hòa nhập vào xã hội văn minh giàu mạnh ấy.

 Bạn hẳn hiểu rằng, trên thế giới bất cứ dân tộc nào, đều phải có tự ái quốc gia, tự ái truyền thống phong hóa, đó là lẽ tự nhiên duy trì dân tộc tính của mình. Đất nước Trung Hoa lại là một cường quốc đa dạng như đã nói, thì niềm tự hào và sĩ diện quốc gia chắc chắn phải cao; hơn nữa khách quan mà nói nền triết học của hai triết lý Khổng, Lão đủ mang lại nền giáo dục nhân bản mà các nước trên thế giới vẫn cần phải học. Vậy mà thưa bạn với giáo lý siêu việt, với Thánh ngôn giải thoát được hàng Thánh đệ tử của đấng Thế Tôn mang đến chẳng biến thành thừa, lại còn kết hợp nhịp nhàng với triết lý tư tưởng của người bản xứ; cuối cùng tạo thêm tinh hoa rực rỡ huy hoàng cho nền tư tưởng giải thoát của Như Lai, và làm phong phú kho tàng văn hóa của Trung Hoa nữa.

 Chắc chắn Phật tử theo các nước Bắc Tông Phật giáo như: Trung Hoa, Nhật Bản, Đại Hàn, Việt Nam... đều biết Đại sư Huyền Trang; Ngài chính là nhân vật tiêu biểu cụ thể được cả hai mặt làm rạng ngời cho nền giáo dục Trung Hoa: thứ nhất, về mặt giáo dục tu đạo giải thoát, hình bóng chính Ngài tự làm mô phạm là vị đại sư vô tiền khoáng hậu, vì chánh pháp xả thân vượt núi băng sông một mình đến tận Thiên Trúc nghiên cứu, tu học và mang kinh điển về cho người chánh tâm tu Phật. Thứ hai có công tài bồi nền giáo dục văn chương nước nhà. Giải thích phần này, xin được trích lại lời bình luận của học giả Nguyễn Hiến Lê viết về Huyền Trang trong vấn đề có công làm giàu nền văn hóa Trung Hoa.

 “... Theo Lương Khải Siêu, công việc đó (việc mang kinh về dịch thuật) chẳng những làm cho đạo Phật phát triển mạnh ở khắp Đông Á, mà còn ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ và văn học Trung Hoa.

 -Từ ngữ Trung Hoa đã giàu thêm được ba vạn rưởi tiếng, căn cứ vào bộ “Phật Giáo đại từ điển”. Có những tiếng dịch âm tiếng Phạn như Niết Bàn, Sát Na (một thời gian rất ngắn) phù đồ (Tháp Phật); có tiếng dịch nghĩa tiếng Phạn như: vô minh, chúng sinh, nhân duyên, chân như... Mà thêm được 35.000 tiếng là thêm được 35.000 ý niệm.

 - Văn bạch thoại phát đạt vì lẽ khi dịch, người ta lựa những tiếng bình dị cho dễ hiểu, do đó, bỏ cổ văn, dùng bạch thoại.

 - Văn thể thay đổi. Phạn ngữ và Hoa ngữ khác nhau. Nhờ công việc dịch mà có sự tiếp xúc, dung hòa giữa hai ngôn ngữ. Chẳng hạn trong kinh Phật, không dùng hư từ, đối ngẫu mà rất hay đảo trang... đặc điểm đó ảnh hưởng một phần đến văn học đời Đường, nhất là phương diện âm vận.

 - Văn nhân Trung Hoa vốn ít tưởng tượng mà hay thuyết lý, nhờ đọc những truyện tân kỳ trong kinh Phật mà bắt chước viết những truyện thần quái. Như bộ Sưu thần ký, và những truyện Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng sau này đều chịu ảnh hưởng của các kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn.

 Có văn nhân, thi sĩ nào ở đời Đường và cả những đời sau này nữa mà ảnh hưởng lớn đến bực đó không?”(1)

 Tưởng cũng cần nhắc lại một vài hình ảnh chứng đạo phi thường của các bậc đại sư Thiên Trúc khi mang đạo vàng đến đất Trung Hoa.

 Chúng ta dư biết mỗi vị đại sư từ Thiên Trúc (Ấn Độ) khi đến Trung Hoa hoằng pháp lúc bấy giờ, đều là các vị Thánh Tăng chứng đạo, nếu không như thế, các Ngài khó thể vượt qua trở ngại giảng thuyết giáo lý siêu việt bằng ngoại ngữ trên một đất nước xa lạ. Hơn thế nữa các Ngài chắc chắn đã thuyết pháp bằng thân giáo, chứng nghiệm thật sự qua con người các Ngài, nên đã vượt qua tất cả. Chẳng hạn như Bồ Đề Đạt Ma đã vượt qua tất cả, tất nhiên trong đó ngôn ngữ phải là hàng đầu.

 Khi Bồ Đề Đạt Ma đặt chân đến Trung Hoa hoằng pháp (vào năm 520), bấy giờ Phật pháp đã xuất hiện khởi sắc, bằng chứng đó là Vua Lương Võ Đế, một Phật tử biết cúng dường trai Tăng hộ pháp. Nhưng với bậc Thánh Tăng phá chấp chứng đạo vô ngã, đã không vì hình thức tu Phật hướng vọng bên ngoài, nên không sợ phải mang tội trung ngôn nghịch nhĩ, khi phải trả lời với vua rằng việc xây chùa, cúng dường trai Tăng của Hoàng Thượng chẳng có công đức gì!

 Cung cách oai nghi phong độ tự tại thoát trần của Ngài quả thật là phi thường, và như thế Thiền Tông chính thức khởi đi truyền xuống đến đời thứ sáu, tạo ra một hình ảnh tuyệt vời đó là Bồ Tát Huệ Năng.

 Nếu Bồ Đề Đạt Ma vị sơ tổ Thiền tông, khi đến Trung Hoa chẳng thấy trên mình cồng kềnh kinh điển, và khi thuyết pháp lại bằng bài pháp vô ngôn, không nói một lời, thì Huệ Năng đại sư xuất gia thành Tổ, bấy giờ cũng không đọc được kinh văn.

 Bồ Đề Đạt Ma phát ngôn trực thẳng trước mặt nhà vua không sợ phiền lòng thiên đế, tội trọng có thể mất thân, chẳng khác gì Huệ Năng Đại Sư mĩm cười từ chối lời mời của Hoàng Đế vào triều thuyết pháp, chẳng sợ trọng tội khi quân có thể chết người.

 Thái độ, hành vi cư xử của hai Ngài đều nhất quán, giống nhau không khác. Giống nhau nhất là tự tại vô ngại chẳng thấy khởi tâm lo lắng khi độ người thức tỉnh.

 Bồ Đề Đạt Ma khi đến Trung Hoa, trên mình chẳng hơn mấy quyển kinh, vì Ngài hiểu tất cả chỉ duy tâm; việc kinh điển Phật ngôn bấy giờ đã có, càng dồn chứa, càng lưu giữ chỉ sanh tâm chấp pháp, chấp ngã mà thôi. Giống như Đại Sư Huệ Năng đóng vai mù chữ, cốt để đánh thức kẻ học rộng nghe nhiều mà chẳng hiểu được tâm.

 Thái độ và hành trạng của hai Ngài quả làm Phật pháp sáng ngời chói rực, và nhất là pháp tu Thiền định bấy giờ đã thể hiện được việc tu Phật là tìm lại được nguồn tâm bản thể duy nhất của mình để thành đạo chánh giác. Và sự thật chứng đó là nhục thân an nhiên tự tại của Lục tổ Huệ Năng (638-713) vẫn còn nguyên vẹn hơn cả ngàn năm nay, hiện được tôn thờ tại chùa Nam Hoa Quảng Đông.

 Nhưng rồi việc bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền (2) của chư Tổ Thiền tông chẳng mâu thuẩn với chư vị Thánh Tăng khác đang giảng kinh dạy đạo lúc bấy giờ.

 Tri nhận việc này, ta thử nhận định một vài tính chất theo thời gian hoằng truyền của chư Tổ Thiền tông và các tông phái khác.

 Theo niên đại lịch sử, Bồ Đề Đạt Ma viên tịch vào năm 529, và Huệ Năng sinh ra năm 638 tịch năm 713, sự truyền thừa thiền phái tới đây đã là năm đời. Đến Ngài Huệ Năng là đời thứ sáu, cũng là đời cuối chấm dứt cách truyền y bát của Thiền tông. Trong giai đoạn thời gian Bồ Tát Huệ Năng đắc pháp, bấy giờ đã có Ngài Huyền Trang, Ngài Huyền Trang đi Thiên Trúc năm 629 và trở về năm 645. Khi Ngài Huyền Trang mang kinh trở về, bắt đầu công việc dịch kinh hoằng pháp, bấy giờ Ngài Huệ Năng vẫn chưa xuất gia vì còn nhỏ; đến khi Huyền Trang đại sư viên tịch năm 664, Ngài Huệ Năng bấy giờ được 26 tuổi, đã đắc pháp làm Tổ thứ sáu Thiền Tông.

 Vậy trong thời gian Đại sư Huyền Trang miệt mài dịch kinh, hoằng pháp, thì Thiền phái sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền đến bấy giờ đang là thời của thiền sư Hoằng Nhẫn. Và hình ảnh hoằng pháp, hoằng đạo giữa hai hoàn cảnh như vừa kể càng làm phong phú thêm chân nghĩa giáo điển của Như Lai.

 Nói về Thiền sư Hoằng Nhẫn, lịch sử đã không thấy ghi lại nhiều về sự hành hoạt của Ngài. Chúng tôi muốn nói ghi lại cái đẹp, cái dị thường, ứng nghiệm linh kỳ, mà phàm nhân hay hiếu kỳ muốn biết. Trong sáu vị Tổ Thiền Tông, chỉ có Sơ tổ và Lục Tổ hình như để lại trong lòng kẻ phàm một chút thỏa mãn là tu Phật phải ứng hiện như vậy mới độ đời! À tôi lại quên mất, nhị tổ là Ngài Thần Quang (Huệ Khả), cũng thể hiện cung cách phi thường, chặt tay cầu pháp.

 Thật ra tôn dung cả sáu vị tổ hiện khởi, hành hoạt hoằng pháp, vị nào cũng sáng đẹp, và nói để tạm so sánh thì sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma nổi bật nhất. Vì nếu không có sơ Tổ, làm gì có tới năm Tổ tiếp nối sau. Rồi Lục tổ là vị được biết nhiều nhất, đẹp nhất; nhưng cái quả đẹp nhất của Lục tổ lại từ cái nhân, lùi về từ nhị Tổ trở về sơ Tổ. Rồi từ nhân duyên chính, còn có những trợ duyên quan trọng khác, đó là bài kệ của Đại sư Thần Tú. Và Ngài Huệ Năng đã lộ diện mặc nhiên thưa trình với Ngũ tổ rằng Ngài đã liễu đạo nhờ bài kệ của Đại sư Thần Tú, để ra đời bài kệ trong sáng tuyệt vời lưu lại cho thế gian (3).

 Chính ngay sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma cũng nhờ năm đệ tử nối truyền, làm cho hình ảnh của Ngài đẹp mãi ngàn thu; không thì pháp tướng của Ngài chỉ còn là bóng hình in sâu vào vách núi, để hình ảnh lịch sử thiền tông Trung Hoa đổi màu chất khác!

 Thật ra đối với các Ngài chẳng có gì để lưu tâm, vì chứng đạo là nơi bản thể, mà bản thể thì chân như vô ngại, vậy hình ảnh duyên trần sắc pháp (4) của thế gian đâu thể làm trở ngại chân như thể tánh, giống như hư không là vô ngại, chẳng có ảnh hưởng đến vạn vật có hay không có.  

 Tất cả hành trang của các Ngài chỉ để phương tiện độ người; như người chỉ đến với đạo Phật bằng thích thú tìm đọc kinh văn, thì chẳng thiếu gì để đọc; ngược lại nếu muốn đi ngay vào tâm, tìm hiểu chân tâm bất sinh bất diệt, bất nhiễm bất tịnh, rồi phá chấp đốn ngộ, trực nhận tâm mình đồng Phật không khác, thì Thiền quán của Bồ Đề Đạt Ma, của Lục Tổ Huệ Năng sẽ giúp hành giả như ý.

 Trở lại hình ảnh hành họat của Đại Sư Huyền Trang, chứng minh cụ thể kinh văn lời Phật là muôn trùng, muôn ảnh, để được hoằng truyền phổ cập nhân gian đến khắp trình độ mọi người. Do đó công việc phiên dịch kinh điển đã có trước Ngài và còn tiếp tục mãi sau khi Ngài viên tịch.

 Như vậy sự xuất hiện cùng với pháp tu thiền quán của Bồ Đề Đạt Ma trước Đại sư Huyền Trang, và Đại sư Huyền Trang viên tịch trước khi Pháp ngữ “Pháp Bảo Đàn Kinh” của Lục Tổ Huệ Năng được ghi lại, tất cả chỉ là tô điểm vườn hoa Phật pháp, để đồng nhất tỏa ra một mùi hương giải thoát của Như Lai, chứ chẳng có gì mâu thuẩn cả.

 Đó là một vài hình ảnh tương tục, nối truyền dòng pháp giải thoát của Như Lai, phát xuất từ Thiên Trúc. Bây giờ ta thử tìm về nơi Thiên Trúc, để thẩm định cội nguồn nơi dòng pháp giải thoát khởi sinh.

* * *

 Thưa bạn, nếu hình ảnh chư tổ sư, hay các vị đệ tử tại gia của đấng Điều Ngự đẹp thế nào thì hình ảnh của bậc Toàn Giác còn đẹp gấp muôn lần hơn như vậy.

 Kể về chuyện Ngài đản sinh, Phật tử chẳng còn lạ, nhưng cái lạ phải kể là chúng ta biết được chuyện này; và như biết chuyện này là lạ thì tại sao ta không tìm hiểu về chuyện xuất hiện của Ngài?

 Ngài xuất hiện, sinh ra trong một cung điện vua, rồi lớn lên trở thành Thái tử, chuẩn bị nối ngôi hoàng đế. Nhưng Ngài quyết không ưng thuận, lại phát ý dị thường, đòi muốn đi tu. Biết được việc này vua cha hốt hoảng, tìm đủ mọi cách ngăn chặn, và diệu kế tuyệt vời, buộc Ngài phải lấy vợ sinh con nối giòng kế tự.

 Ngài vâng lời, và chỉ vâng lời vua cha một thời gian ngắn! Nhưng có lẽ đã quá dài, vì nỗi nôn nóng thoát ly thế tục tìm thầy học đạo nơi Ngài cứ mỗi ngày như đốt cháy tim gan. Tội cho phu nhơn của Thái tử, công chúa Da Du Đà La một người khả kính, sắc đẹp tuyệt vời, song toàn hạnh đức, vậy mà chẳng giữ được chân Thái tử cho trọn nghĩa phu thê. Nhưng hơn thế nữa, hài nhi La Hầu La, tưởng là sợi giây vàng cột chặt ái ân, tình chồng nghĩa vợ sẽ làm lui sụt nghị lực của Ngài, thế mà ngược lại, Thái tử càng muốn sớm được thoát ly.

 Nghe qua bấy nhiêu đó, bạn và tôi thật lấy làm lạ, tại sao con người Thái tử phải như vậy; phải từ bỏ hết tất cả cái mà mọi người đang đi tìm đang cố giữ?

 Phải trả lời sao đây?

 Thưa vâng, Ngài đã thấy tính chất vô thường là nguyên nhân chia ly, đau khổ. Nhưng đó chỉ là suy lý của Ngài lúc bấy giờ, chứ khổ nào đâu đã đến?

 Dù Ngài đã dạo thăm bốn cửa thành chứng kiến cảnh già nua, bệnh, chết, nhưng việc đó xảy ra với người chứ nào xảy đến với Ngài! Dù Ngài có nhớ lại một thời chứng kiến, loài vật sát hại với nhau vì mưu sinh tìm sống; nhưng đó cũng là cảnh tự nhiên của đất trời vạn vật làm sao thay đổi được. Lại khi Ngài nhìn lại hoàng cung triều đình nơi Ngài ngự trị, thì từ người đến cảnh quả thật xinh đẹp huy hoàng. Da Du Đà La nào đâu thay đổi nét đẹp yêu kiều như lúc ban đầu; và sức mạnh hùng cường của vương thành Ca Tỳ La Vệ bấy giờ vẫn sừng sững vươn lên. Thậm chí đứa con mới sinh của Ngài, càng làm đẹp lên cảnh sống vui tươi tưng bừng nơi triều nội. Vậy thưa rằng Ngài thấy vô thường từ đâu?

 Vâng thưa bạn, Ngài vẫn thấy! Ngài thấy vô thường từ tâm, chính ngay từ tâm nên dù cảnh vật như bạn với tôi vừa nói là có, nhưng chỉ có rồi không, nghĩa là có đó chỉ với tâm trạng yên bình, yên vui. Nếu không yên vui, an ổn thì cảnh như vậy mà chẳng hưởng được gì! Nhưng lại chính cái tâm yên bình, Ngài đã không tìm ra được, cho nên cảnh chẳng vui với Ngài. Tất nhiên suốt thời thơ ấu, đến trưởng thành một thanh niên, Ngài đã nhiều lần sống yên bình với cảnh, nhưng vì không thể giữ được giây phút lâu hơn, nên nhận ra một điều bất thuận với lòng. Vậy ra Ngài đã chiêm nghiệm mục kích cảnh người và tâm, để rồi thấy rõ cảnh vật thay đổi vô thường cũng do tâm mà ra. Lẽ đó Ngài đã tìm đạo và khi đắc đạo, sôáng đời hành khất, đối diện với những cảnh chẳng khác ngày xưa, nhưng tâm Ngài không phải của ngày xưa, mà tâm bấy giờ là bình yên tuyệt đối.

 Nhưng tìm được tâm như vậy có phải là dễ? Làm sao Ngài tìm được?

 Đó mới là chân tướng tuyệt đẹp của một bậc siêu nhân.

 Giờ đây hàng lớp đệ tử của Ngài từ cõi người đến cõi trời, cũng đang loay hoay chinh phục cái tâm để tìm hạnh phúc! Nhưng chẳng thể dễ dàng làm được, dù bí mật đã được tìm ra nơi kho tàng kinh điển lời vàng của Ngài để lại. Thấy như vậy mới biết Ngài là đấng siêu nhân. Nhưng nói siêu nhân là mượn ngôn từ cung kính tán thán Ngài, chứ hai chữ siêu nhân chỉ là vô nghĩa.

* * *

 Khi Ngài thành đạo, rồi chuyển pháp luân; bài pháp đầu tiên Tứ Diệu Đế thuyết giảng cho loài người, tức thì chánh pháp chính thức chuyển khai đi vào nhân thế. Từ đó hàng trăm, hàng ngàn phàm nhân, thoáng chốc nghe qua, nhập Thánh siêu phàm, mà chẳng bỏ công tìm kiếm, nhọc sức công phu, như thuở ban đầu của Ngài tìm đạo. Thật là nhân duyên quá lớn cho con người ở thế gian này.

 Cho đến ngày nay, đã hơn hai ngàn năm trăm năm, tính từ ngày Đấng Thế Tôn rời xa nhân thế, nhưng hình ảnh của Ngài tưởng còn đẹp hơn . Ngày xưa dù kim tướng Ngài hiện thực ở thế gian, nhưng chỉ xuất hiện đi lại trên một phạm vi quá nhỏ; biết rằng vì lòng từ bi, Ngài phải thị hiện sống như một chúng sanh ở cõi Ta Bà, cho nên việc đi lại hoằng pháp không thể hóa hiện rộng hơn không gian Ấn Độ. Ngày nay kim thân Thế Tôn hiện ra bằng vô số hình ảnh được vẽ, được khắc, trong một phạm vi không gian rộng khắp năm châu.

 Ngày xưa Ngài chỉ độ một vài giống dân ở Ấn, ngày nay khắp năm châu thiên hạ, nơi nào có giáo pháp của Ngài, nơi đó không có phân biệt, tất cả đều được học tu giải thoát. Và ngày nay vẫn còn những chúng sanh thấp kém là loài vật, vẫn có những loài có duyên cảm được âm thanh qua kinh kệ giải thoát, mà kết duyên học Phật đời sau.

 Vậy đúng hơn là Thế Tôn chẳng vắng bóng trên cõi đời này! Ngài chỉ thị hiện vắng bóng kim thân mà thôi, chứ pháp thân Ngài vẫn bàng bạc khắp hết không gian vô tận. Giả như trong số các nam nữ phi hành gia làm việc ngoài không gian trái đất, có người là Phật tử thuần thành, biết hành trì học hiểu giáo pháp, biết đọc kinh trì chú; một lần nào đó ghé mặt trăng, ngoài những giờ làm việc, quý Phật tử này, vẫn thầm công phu đọc kinh trì chú; và như vậy đã vô tình tạo duyên Phật pháp cho chúng sanh phi nhân ở đó nghe được kết duyên học Phật; rồi tương lai những chúng sanh ở Hỏa tinh cũng được hữu duyên như thế!

 Chuyện này thật là phi thường, vì chỉ có Phật và chư Bồ Tát chứng đạo mới hóa thân hoằng pháp cho phi nhân ở các không gian thế giới khác, đằng này đâu ngờ phàm nhân vô tình làm được. Dĩ nhiên chúng ta cũng phải đồng ý, phần lớn là nhờ vào thời đại văn minh của loài người hiện nay, nhưng ta cũng phải công nhận rằng giáo pháp giải thoát của Như Lai vẫn là chân lý, thích ứng được bất cứ môi trường và thế giới của tương lai nhân loại.

 Nếu chúng ta nghi ngại về ngôn ngữ, rằng người ở mặt trăng, hỏa tinh, không hiểu được ngữ học của loài người, thì ta nên nhớ rằng Đấng Điều Ngự ngày xưa là người Ấn, ngôn ngữ Ngài dùng tất nhiên giới hạn ở Thiên Trúc mà thôi; nhưng rồi cuối cùng ngày nay, đệ tử của Ngài đủ hết màu da, và khi đọc hiểu đạo Phật chẳng dùng ngôn ngữ ngày xưa của Ngài. Lại nữa các loài vật có duyên Phật pháp, chúng chẳng biết ngôn ngữ là cái chi, vậy mà đã tỏ ra thích thú dễ chịu với âm thanh kinh kệ. Thế thì việc phi thường này đều là do lòng từ của Phật, hay nói đúng hơn chính là giáo pháp siêu thoát mà Ngài tìm ra.

* * *

 Loài người chúng ta xuất hiện có mặt trên thế gian này tất cả là do nghiệp lực, một nghiệp lực khổng lồ, gọi là cộng nghiệp. Dù mỗi người đều có biệt nghiệp, nhưng nghiệp riêng đó không đủ sức tự tại thoát ly thế gian khổ, mà đành phải chịu nghiệp chung của tham ái, sân giận, si mê kéo về chung một chỗ.

 Loài người không một ai lại không sanh ra bắt đầu bằng tiếng khóc, và khi chết đi, ngoại trừ các bậc chứng đạo, còn lại tất cả đều mang tiếng khóc, tiếng khổ của ngày xưa như khi mới chào đời; như vậy bắt đầu sự sống và tận cùng đời sống chỉ là đau thương.

 Đấng Thế Tôn khác với chúng ta rất nhiều. Sự có mặt ở thế gian của Ngài gọi là giáng thế, gọi là đản sanh, gọi là thị hiện... có thể còn nhiều danh từ nữa, nhưng dù nhiều thế nào, chỉ để xác minh giải thích rằng, Thế Tôn đến với trần gian không phải như con người vì vô minh nên bị nghiệp lực dẫn đưa xoay chuyển.

 Thế Tôn đến với trần gian chỉ vì thương xót và cứu độ chúng sanh. Và sự thương xót đó đã phát nên một bức tranh tuyệt đẹp là hình ảnh cuộc đời tầm đạo chứng đạo của thái tử Tất Đạt Đa. Ngoài việc này ra không có một hình ảnh và việc làm nào đẹp hơn nữa.

 Cho nên ngày xuất hiện của Thế Tôn, trăm hoa đua nở, thiên nhạc reo vang, muôn loài bừng sáng; đó là những hiện tượng mang lại hạnh phúc trần gian. Đến ngày Ngài ra đi từ giả Ta Bà, cảnh thế biến hình cách khác, và tất cả những gì đau thương, tiếc nuối của nhân, thiên lúc đó, lại càng lộ hiện hình ảnh tự tại siêu phàm giải thoát của Đấng Điều Ngự, và giáo lý thâm sâu huyền diệu của Thế Tôn.

 Cảnh tượng lúc Phật Niết Bàn chẳng khác gì lúc Ngài khai chuyển pháp luân, vì chính nơi đây tạo được nhân duyên hiện tại và tương lai cho vô số người chứng quả; đó là cảm nhận thực tế giáo pháp sống thật của Như Lai, là chân lý vô thường có sanh tất có diệt.

 Vậy thì thưa bạn, tưởng không còn gì để nói cho hết hình ảnh tuyệt đẹp của Thế Tôn, nhưng dù muốn nói cũng bất lực mà thôi.

 Giờ bạn và tôi tiếp tục tìm hiểu, với ảnh hưởng giáo pháp xuất trần giải thoát của Như Lai như vậy, đã thu hút và cảm kích người học Phật thế nào?

 

Thế gian tu Phật 

Thời chánh pháp

 Phật pháp vì phương tiện nhân duyên của mỗi quốc độ con người nên phân ra ba thời kỳ hoằng đạo. Không phải chỉ lấy hình bóng của Thế Tôn, cho rằng pháp Phật chỉ ảnh hưởng trong thời Ngài xuất hiện, mà chính Phật ngôn của Ngài đã đưa Phật pháp trải rộng đến khắp không gian thời gian nơi trần thế. Thế nhưng theo giáo lý giải thoát, các pháp có sinh tất có diệt, nên sự hoằng truyền chánh đạo chẳng thể ra khỏi quy luật tất nhiên này. Tuy nhiên tự chân lý giải thoát, Phật pháp không ảnh hưởng; sự kiện gọi là sinh diệt chỉ do con người chưa chứng đạo mà thôi.

 Ngày còn Phật tại thế, Phật đã dùng không biết bao nhiêu phương tiện thiện xảo đem đạo giải thoát đến với mọi người. Cụ thể có ba phương pháp để dạy con người hiểu được đạo vàng, đó là cách dạy bằng hành động không qua ngôn ngữ, gọi là thân giáo; thứ hai dùng lời nói ngôn ngữ, gọi là khẩu giáo; và thứ ba là ý giáo, tức thâm trầm tinh vi thiện xảo hơn, nhưng cũng chẳng ngoài thân giáo và khẩu giáo.

 Dùng thân giáo là hình ảnh xinh đẹp, là việc đi lại tự tại trong đời của Thế Tôn. Chớ hiểu lầm Thế Tôn chỉ đẹp khi còn trung trẻ, già rồi chẳng khác mọi người! Nhận xét như vậy là cách thường tình thế gian, nhất là đa số những người ham say sắc đẹp như chúng ta. Nhưng dù ham mê sắc đẹp bên ngoài cũng không hẳn đúng nếu được đối diện với Thế Tôn ngay trong lúc Ngài tám mươi tuổi. Nghĩa là chúng ta vẫn thấy Ngài đẹp lạ thường. Phàm nhân sống đời triền phược, vẫn có người già dễ nhìn, dễ kính, dễ thương, huống gì Thế Tôn là bậc vô nhiễm an trụ an lạc chẳng thể nghĩ bàn.

 Vậy Ngài đẹp ra sao?

 Ngài đẹp vì nơi khuôn mặt Ngài không có vết nhăn hiện lên nỗi đau phiền lo của trần thế, dù Ngài có già đi bao nhiêu tuổi; Ngài chỉ có vết nhăn theo thời gian, thuận theo hình hài vật chất thế gian sinh diệt; và trên khuôn mặt đổi thay theo thời gian hóa già đó ánh mắt phải là xinh đẹp nhất; chắc bạn cũng phải đồng ý, đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhưng làm sao diễn tả ánh mắt của Ngài! Ánh mắt mà cả thiên nhãn, thần nhãn cũng không sánh được, đó là ánh mắt Phật nhãn từ bi. Chính ánh mắt từ bi vô lượng đó, mà vẽ đẹp của Ngài khiến muôn loài say đắm.

 Chúng sanh trong thời chánh pháp, trừ khi bị nghiệp lực quá vô minh nên dững dưng với nét đẹp của Ngài, ngoài ra hầu như đều ngợi khen, tán thán. Việc mục kích thân tướng oai nghiêm, nét mặt an bình thanh tịnh, và ánh mắt từ dung giải thoát, giục thúc con người phải suy tư rằng: tại sao thế gian lại có con người như vậy - con người tuyệt đẹp như thế, nguyên nhân nào phải sống đời khất thực vô gia cư?

 Rồi khi tìm hiểu con người khả ái này lại là một đông cung Thái tử, của một vương triều đang giàu có hùng mạnh, thì người ta bấy giờ còn dâng cao niềm tôn kính quý yêu. Tất nhiên một khi hiểu được quá khứ của vị thầy khả kính này, vẫn có một ít người khó tránh nghĩ ngợi bất kính Ngài; tưởng rằng Ngài chẳng thể bình thường, vì không biết hưởng thụ! Nhưng khi được nhìn kỹ, hoặc được thưa hỏi Ngài, đa số cảm thấy điều suy nghĩ của họ hoàn toàn sai, tuyệt đối không đúng với con người khả kính ấy.

 Từ sự kiện trên, sau khi được thông suốt, một số người bấy giờ thay đổi tư duy và ảnh hưởng tốt đến đời sống của họ.

 Họ phải thực tế nhìn lại con người và đời sống đang hưởng thụ. Chẳng hạn diện mạo của mình ra sao? Sống trong hoàn cảnh thế nào, và sự đi lại trong đời sống có tìm được những gì so sánh với con người tuyệt đẹp khả kính kia?

 Từ trẻ đến già tùy theo kiến thức, mà bình phẩm chính họ, để khởi sự so sánh với Thế Tôn.

 Nếu là người trí thức, quan quyền, cho đến quốc vương, sự nhận định còn thâm thúy hơn; bởi vì con người khả kính này chẳng thua họ bất cứ việc chi.

 Riêng hàng đạo sĩ triết gia, sống đời tâm linh, cái nhìn còn sâu hơn nữa! Họ ngắm nhìn Phật không phải chỉ thấy hình tướng, mà thấy ẩn hiện trong thân tướng đó là một tinh thần vĩ đại, một từ lực siêu quần, không thể dùng ngôn ngữ thế gian diễn tả được. Từ đó cách nhìn của họ đã phần nào rõ nét hơn hình ảnh Thế Tôn.

 Cuối cùng là hạng cùng đinh, người nộ lệ, sống trong đau khổ bị người sai khiến; hạng người này không thể dám nhìn Thế tôn, nhưng nếu được nhìn Thế Tôn, cuộc đời tất nhiên thay đổi, vì nếu họ biết và dám nhìn Thế Tôn, hẳn nhiên Thế Tôn đã biết họ rồi, hay nói đúng hơn đó là nhân duyên đã đến với họ. Cũng như câu chuyện Phật đến với người gánh phân, cuối cùng cứu độ được ông trở thành chứng đạo, đó là vì thắng duyên của ông đã đến. Do đó phải nói, chính ông cứu được ông nhiều hơn là nhờ Thế Tôn, bởi vì thời đó đâu phải chỉ có mình ông sống đời khổ đau như vậy. Như thế hình ảnh Thế Tôn qua thân tướng tuyệt đẹp đã là một phương tiện thù thắng mang đến cho chúng sanh.

 Khi hàng chúng sanh ý thức được thân tướng Thế Tôn, là hình ảnh thắng duyên nương về giải thoát, thì bấy giờ số lượng tìm Ngài học đạo nghe pháp càng tăng lên; thiết nghĩ bạn và tôi kể ra không biết làm sao cho hết. Chắc chắn bạn nghe rằng, trong kinh Phật thường được miêu tả, mỗi một pháp hội Thế Tôn thuyết pháp, số lượng từ Thánh Tăng đến phàm Tăng tham dự quả thật khó biết được. Nếu số lượng mắt thường biết được, con số phải đến vạn người.

 Ngày nay vị thế của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ mười bốn, mỗi lần thuyết pháp người ta đến nghe vẫn được vạn người, có nơi còn đông hơn nữa. Chúng ta có thể tưởng tượng được oai nghi của Đức Phật ra sao khi Ngài thuyết pháp?

 Ngày xưa chẳng có hội trường rộng lớn tiện nghi như hiện nay, chẳng có dinh thự giảng đường dành riêng cho công chúng nghe pháp, vì phần lớn Thế Tôn lưu ngụ nơi rừng, và Tịnh xá của Ngài chuyên tu chứ không phải chỉ dành tập trung nói pháp. Chỉ khi nào bài pháp có tính cách phổ cập quần chúng, đệ tử mới tìm chọn một nơi dung chứa thích hợp. Nhưng dù vậy, thời đó cũng không có hệ thống phát thanh, và nơi cảnh rừng thiên nhiên, loài chim thú khó mà để yên cho người yên tâm nghe được, thế mà Thế Tôn chẳng bị trở ngại; và tuyệt diệu hơn hết, là cứ mỗi thính giả nghe pháp, tưởng rằng Thế Tôn đang nhắc nhở dạy bảo cho riêng mình.

 Hàng cư sĩ tại gia nếu lần đầu tiên được chiêm ngưỡng dung nhan Phật, lại được nghe Pháp, tức thời tâm Bồ Đề sẽ thành bất thối chuyển. Hàng cư sĩ nào thắng duyên nghe được, thấy được, hai lần, ba lần, cho đến nhiều lần, như Trưởng giả Cấp Cô Độc, thì quả giải thoát tưởng đã ngấm ngầm hiện nơi trần thế. Hàng cư sĩ đầy thắng duyên này, chỉ cần xuất gia là đắc quả vô sanh (A La Hán), còn không cũng chứng quả sơ Thánh, mà tự mình không hay biết. Nói không hay biết, vì các vị này không bao giờ cho mình chứng quả vì đó là chướng ngại cho quả cao hơn.

 Như thế ta nghĩ thế nào về hàng xuất gia?

 Không cần suy nghĩ nhiều, câu trả lời rằng, tất cả đều chứng quả đều thành Phật tương lai.

 Nếu như trong Tăng đoàn của Phật, có những vị không tu lại sống trà trộn chỉ để lợi dưỡng hay dụng tâm ác ý, họ vẫn tạo được nhân duyên chứng đạo. Chẳng hạn Đề Bà Đạt Đa, vị tu sĩ chẳng những không tu còn chống phá Phật; tuy nhiên Ông vẫn được Thế Tôn nhắc đến, là một thiện tri thức, giúp Ngài thành tựu trên đường hành Bồ Tát đạo, và tương lai Đề Bà Đạt Đa vẫn thành chánh giác. Dù thế trước khi thành đạo những vị như vậy phải chịu quả báo nặng nhẹ tùy hành nghiệp của mình.

 Nhưng thưa bạn, số Tăng sĩ sống gần Phật mà không chịu tu, số này rất ít, rất hiếm; nhưng lại đôi khi họ là những vị Bồ Tát bí mật thị hiện, đóng vai nghịch duyên giúp cho hàng sơ cơ xuất gia gặp Phật lần đầu, luyện tâm, cấp tu chứng đạo; và quan trọng nữa để Phật lấy đó chế ra giới luật cho hạng đệ tử hậu lai tu học.

 Chúng sanh tu Phật cả hai giới xuất gia tại gia trong thời chánh Pháp quả thật là thắng duyên; đến cả những người không có niềm tin Tam Bảo bấy giờ, vẫn tạo được duyên, nếu khu vực sống của họ được duyên cúng dường các vị Thánh Tăng khất thực. Một cử chỉ một hành động bố thí cúng dường, như là thí cơm sớt bát cho người khất thực dù không dụng tâm vẫn tạo duyên giải thoát. Họ sẽ giàu sang đời sau và tiếp tục được gặp hình dáng Tu sĩ Phật giáo, cho đến khi thức tỉnh hiểu được việc làm của mình không còn là cầu phước bình thường nhân thiên giàu có, từ đó tiến tu trở thành Phật tử.

 Ngày nay ta cũng chẳng ngạc nhiên lắm, tại sao nhiều người trong chúng ta không sanh nơi đất Phật vẫn sống an nhàn hạnh phúc thú vui vật chất, và ngày nay chính tại linh địa Phật hiện, không tránh được số người nghèo khổ xin ăn. Xét lại như trên vừa nói, có lẽ ta đã có gieo duyên bố thí cúng dường, nhưng chẳng dụng tâm cầu giải thoát, nên được phước báo không nghèo, nhưng chẳng có duyên hiểu Phật. Và như có duyên hiểu Phật bây giờ, quả là việc đại duyên. Còn số người sống nơi đất Phật lại chẳng được như ta, chắc cũng có lẽ vì ngay thời Phật không duyên gặp Phật, lại chẳng hành bố thí cúng dường, nên vẫn còn lưu lại nơi đất mình sanh, mà quả thì khổ hơn trước.

 Trong vòng sinh tử con người chết đây, sanh kia là lẽ thường, nhưng lại có khi tái sanh mãi vào một chỗ cũng chẳng phải lạ. Tất cả là do dòng tâm thức dục ái đẩy đưa, và chỉ có đương sự mang dòng nghiệp thức đó mới cảm nhận hơn ai hết.

 Nhưng xin thưa bạn, dù sao sanh được nơi đất Thánh vẫn có một điều gì duyên phước. Dòng từ lực của các bậc Thánh Tăng của những người chứng đạo, chắc chắn vẫn còn ẩn hiện tỏa khắp nơi này. Và con người có thể sống cảnh khổ nơi đây, nhưng tâm thức họ ít nhiều cũng được ảnh hưởng ‘từ trường’ của âm hưởng từ bi trí tuệ từ nơi linh thiêng thánh địa này. Ta có thể nghĩ rằng, nếu chư Thánh nhân đã có ý xuất hiện một nơi nào đó làm cứ điểm khai dòng Thánh trí, thì khi hoàn mãn nguyện lực trở về, các Ngài lại không thể nào bỏ luôn chẳng đoái hoài nhìn lại, và chỉ cần cái nhìn lại của các Ngài thôi, chúng sanh nơi đây sẽ được ân hưởng từ lực Thánh nhân gia bị.

 Về các loài chúng sanh không phải là người, là loài sinh vật sống ngay trong thời chánh pháp, sống những địa phương có thắng duyên được kim thân Phật và chư đệ tử của Ngài đi lại hóa duyên hoằng đạo. Chắc chắn chúng sanh này ít nhiều phải có nhân duyên lớn. Bạn và tôi thử tưởng tượng xem, giả như chúng sinh loài côn trùng ẩm thấp dưới đất mà bị chư Thánh Tăng dẫm đạp, việc này kết quả thế nào đối với chúng?

 Trước hết nên nghĩ rằng, các vị Thánh Tăng không có lỗi sát sanh vì các Ngài hoàn toàn không cố ý, nói đúng hơn tuyệt đối mãi mãi không cố ý, ngược lại các Ngài luôn luôn trì chú hay dùng lòng từ ban rải đến tất cả chúng sanh mỗi khi động thân bước vào đời sống. Điều này cũng tự nhiên thôi, các Ngài đã có lục thông, nên thần nhãn thấy được vô số chúng sanh hiện hữu khắp nơi. Như thế nếu có sự dẫm đạp, đó là nghiệp duyên của chúng sanh đó phải trả nghiệp dưới chân các Ngài, nhưng được trả nghiệp từ tác lực của từ bi, của thanh tịnh thì sự bị trả nghiệp này kết quả lại được sanh lên, chứ chẳng bao giờ đi xuống, vì như đã nói các Ngài luôn luôn tâm niệm đem thân thanh tịnh hồi hướng cầu nguyện cho chúng sanh giải thoát khổ, qua cách trì chú trải lòng từ.

 Riêng đối với những con vật có tâm sân giận khi chết dưới chân các Ngài, chúng vẫn thọ hưởng được từ lực gia hộ như thế mà tội nghiệp cũng giảm đi.

 Nói về những chúng sanh nhỏ nhít hữu duyên Phật pháp như vậy, tới đây tôi lại suy nghĩ; thế tại sao Phật vẫn dạy mỗi năm phải an cư ba tháng mùa mưa, nhằm mùa côn trùng sinh sản, sự đi lại sẽ gây chết chóc cho chúng.

 Chúng ta nên hiểu không một việc gì của Thế Tôn dạy bảo mà không hữu lý, mà không đem lại lợi lạc cho chúng sanh; vì đơn giản Ngài là Phật, là đấng Đại giác Từ bi, không còn như phàm nhân sống chết chỉ vì tự ngã. Sự việc Ngài dạy phải an cư, có lẽ không phải tuyệt đối chỉ vì côn trùng, mà nhất định còn nhiều ý nghĩa khác.

 Xét lại việc trải lòng từ mỗi khi động thân của bậc thanh tịnh, việc đã bàn ở trên vẫn đúng như lời Phật dạy; nhưng bạn và tôi nên hiểu, không phải chúng sanh nào cũng đều dễ dàng kết duyên Phật pháp, vì chúng là loài sanh ra do nghiệp khổ đọa, sống ẩm thấp dưới chân người. Do đó bị dẫm đạp chết đi, phần lớn không tránh được mang tâm sân giận. Trong lúc sân giận mà chết, dù được từ lực gia bị của bậc thanh tịnh, chúng sanh này vẫn phải theo tánh sân mà đọa khổ ở mức độ tương xứng.

 Việc nữa trong Tăng đoàn đệ tử Thế Tôn, vẫn còn những vị chưa chứng Thánh quả lỡ như các vị này, quên nhiếp tâm chánh niệm trong khi dẫm đạp côn trùng, thì thật tội nghiệp cho chúng sanh kia, chúng chẳng hưởng được sự gia trì nguyện lực từ bi nào cả.

 Cuối cùng, có lẽ rằng, trong mùa an cư mỗi năm, là dịp để chư Tăng được nhiều nhân duyên gần Phật học hỏi. Cũng như tạo cơ hội rộng rãi cho chư vị thiện nam tín nữ gieo duyên cúng dường tạo phước, vì các Ngài không thể khất thực hóa duyên, mà trải lòng hết được tất cả mọi địa phương dân chúng.

 Rồi từ việc lui tới cúng dường chư Tăng, quý cư sĩ Phật tử sẽ học được sinh hoạt Tăng đoàn, gieo duyên xuất gia giải thoát. Và một điều chắc chắn rằng, sự vắng mặt khất thực của chư Tăng vài tháng trong năm, tạo nên sự xuất hiện vừa phải của Tăng đoàn vào nhân gian, để hình bóng giải thoát không bị người ngộ nhận hiểu lầm, mà mang trọng tội.

 Đó là điểm qua một vài nhân duyên học Phật của chúng sanh trong thời chánh pháp.

Thời Tượng pháp

Bây giờ thử nghĩ về thời tu học của chúng sanh sau khi Thế Tôn vắng bóng vài trăm năm.

 Khi Thế Tôn nhập Niết Bàn tại rừng Sa La song thọ, Ngài ân cần nhắc nhở các đệ tử, hãy mạnh dạn nói ra những gì còn vướng mắc nếu thấy giáo pháp Thế Tôn có gì khó hiểu đáng nghi. Ngài lại từ bi tế nhị dạy bảo, như vì tôn kính Như Lai không dám thưa thỉnh làm phiền trong giờ phút này, thì thỉnh nhờ huynh đệ thưa hỏi, cũng chẳng có sao.

 Cảnh vật bấy giờ vẫn im lặng và tuyệt nhiên thanh tịnh.

 Rõ ràng là Bậc Toàn Giác siêu nhân, ngay lời ân cần dạy bảo từ bi của Ngài đủ chứng minh giáo lý giải thoát vượt lên tất cả, và đó chính là diệu pháp chân như lìa xa ngôn từ đối đãi của phàm nhân. Cho nên nơi đây không còn gì phải tra vấn thưa hỏi.

 Duy có một điều ghi lại rằng, Phật có trả lời thắc mắc nghi vấn của A Nan, rằng khi Thế Tôn không còn trên đời này, thì Giới luật chính là sự có mặt của Thế Tôn. Thiết nghĩ, không phải Ngài A Nan chỉ thưa thỉnh ngay giờ phút Phật vào Niết Bàn, mà Ngài A Nan luôn luôn thưa hỏi, vì Ngài dư biết Thế Tôn không thể phương tiện sống hoài với chúng sanh. Việc nữa dù A Nan không thưa hỏi, chắc chắn Thế Tôn cũng dạy như vậy, bởi đó là tất nhiên của giáo pháp giải thoát, nếu không Phật pháp chỉ còn tên gọi, mà chẳng mang lại an lạc giải thoát cho chúng sanh.

 Như vậy, Thế Tôn đã hài lòng tự tại đi vào Niết Bàn; chư vị Thánh Tăng đệ tử của Ngài cũng tiếp nhận lời di huấn cuối cùng làm hành trang hoằng pháp kế nghiệp Như Lai.

 Phải nói, lúc bấy giờ là thời kỳ hoằng pháp thật tích cực, chư vị Thánh Tăng đệ tử hiểu rằng, nếu không xiển dương hoằng truyền giáo lý Như Lai, chánh pháp có thể sẽ bị mai một. Do đó một hội nghị triệu tập trùng tuyên lời Phật dạy ngay sau Thế Tôn nhập diệt không bao lâu; và mỗi lời nhắc lại Phật ngôn đều trở thành kinh tụng hằng ngày. Ngoài ra chư Thánh Tăng còn phải dụng công tinh tấn hơn nữa, để làm mô phạm cho người học Phật hiểu rằng, giáo pháp Thế Tôn vẫn mãi là chân lý, nghĩa là dòng pháp giải thoát của Như Lai, ai tu cũng đều chứng đắc, chứ không phải chỉ nương dựa hình bóng Thế Tôn mới có an lạc. Như thế, các Ngài phải nỗ lực tu, để mọi người nhìn các Ngài mà không quên Đấng giải thoát.

 Trong bối cảnh tuy u buồn thương cảm vắng bóng Thế Tôn, nhưng mọi người lại tỉnh ngộ rằng, chính Thế tôn là bậc Đại giác, bậc tự tại sinh tử mà vẫn phải ra đi thuận theo định luật vô thường có sinh có diệt, vậy huống gì kẻ nhiều phiền não và chưa chứng đắc Thánh đạo như chúng ta. Và cứ theo trình độ tư duy, liễu tri giáo pháp, tất cả mọi người bấy giờ nhận ra biến cố vắng bóng của Thế Tôn là một bài học vô vàn cao quý.

 Có người nghĩ xa hơn nữa; họ cảm thấy phải có trách nhiệm bổn phận tiếp tay cùng chư vị đệ tử lớn của Phật hoằng dương chánh pháp, đó là cách đền ân Phật tổ, hồi hướng công đức cho đạo quả chóng thành.

 Họ nghĩ rằng, rồi đây thời gian trôi đi, chư vị Thánh Tăng cũng phải nhập diệt, vậy còn ai tiếp nối quý Ngài! Và rồi thế gian sẽ lui về như thời chưa có Phật, thì khổ cho chúng sanh biết chừng nào!

 Nghĩ như thế, họ tự thân tu niệm, hoặc hoan hỷ khuyến khích tán thán người trẻ xuất gia.

 Rồi thời gian cứ trôi, chánh pháp đã trở thành tượng pháp. Nhưng thế hệ đệ tử của chư vị Thánh Tăng vẫn còn, cho nên người học đạo thực hành giáo pháp vẫn chưa thoái thất. Vì gương sư phụ của họ vẫn là những Thánh Tăng; sư phụ của họ chỉ mới có vài đời tính từ Đức Phật, thế là họ vẫn tìm được sự an định nhất tâm khi hành đạo. Lại nữa những gì họ dạy cho người sau, chứng cớ đã quá rõ ràng khi nhắc lại chư vị tổ sư của mình là ai, đã tịch diệt thế nào trong giáo pháp giải thoát.

 Với hàng cư sĩ tại gia, lần đầu nghe giáo pháp, nỗi mừng xúc động của họ đến tột cùng, vì những câu chuyện thật chẳng phải xảy ra mơ hồ không thực tế, bởi vì hơn hết, trước mặt họ là những Thánh Tăng đức độ, thanh tịnh tuyệt vời, đang nghiêm trang kể ra câu chuyện Phật. Niềm tin của cư sĩ càng hơn nữa khi nhận định rằng đệ tử Thế Tôn được như vậy, thì Ngài phải thế nào; do niềm tin kính ngưỡng như thế, khiến họ càng hộ trì Tam Bảo hơn, và cụ thể sống xứng đáng với danh nghĩa người đệ tử tại gia của Đức Phật.

 Thế rồi thời gian tiếp tục trôi, thời tượng pháp dần lùi xa hơn; bấy giờ chư Thánh Tăng biết được việc này, nên hễ gặp nhân duyên thời tiết con người thế nào, các Ngài liền tùy thuận hóa độ chúng sanh thế ấy.

 Từ đó chư vị đã mặc nhiên, chấp nhận hai khuynh hướng xiển dương chánh pháp, qua việc học và hành, trong cả hai mặt bản thể và hiện tượng, cốt miễn sao phương tiện đưa chúng sanh đồng về tánh giác.

 Xét nghĩ rằng đây là điều tất nhiên của những người thật tâm học Phật trong thời xa chánh pháp.

 Ngày còn Phật tại thế, thân tướng oai nghi của Thế Tôn cũng như vẽ đẹp trang nghiêm Tăng đoàn đệ tử, là một thật chất hình thức, có thể khơi tâm bồ đề cho chúng sanh nào có duyên gặp được, và sự thanh tịnh của chư đệ tử Thánh Tăng lại càng hiện rõ khi đạt được thánh quả tự tại trong sinh tử. Điều này hầu hết người học Phật bấy giờ đều cảm nhận được. Hay nói rõ hơn, kim thân Thế Tôn là tất cả, thể hiện sự chứng thực tuyệt vời cả hai mặt bản thể và hiện tượng; do vậy người học Phật ít rơi vào phân biệt.

 Hiểu được điều này nên chư Thánh Tăng đệ tử của Ngài biết mình phải làm sao.

 Chư vị Thánh Tăng nào tự hiểu được căn hạnh của mình tùy duyên với nghiệp hạnh độ sanh, nên theo đó giữ lập trường duy trì truyền thống sinh hoạt của Thế Tôn. Thế là các Ngài sống y như thời Phật, chẳng hạn: khất thực, ba y một bát, ngày dùng chỉ một bửa ăn trưa (ngọ trai); hạn chế giao tiếp với cư sĩ, ngoại trừ có duyên sự đáp lại lời thỉnh mời thuyết pháp, hay trở về thăm bệnh hóa duyên người thân thuộc. Tóm lại chư vị cố gắng giữ được hình ảnh sinh hoạt của Thế Tôn giống chừng nào tốt chừng ấy.

 Thời nay chúng ta gọi chư vị theo đường hướng như vậy là Thượng Tọa bộ theo hệ phái truyền thống.

 Riêng phái còn lại, chư vị Thánh Tăng có tư tưởng phóng đạt, nghĩ rằng duy trì hình thức của Thế Tôn không hẳn đúng thâm ý Đức Phật, mà phải bằng thật chất liễu nghĩa Thế Tôn dạy, nghĩa là giới hạnh mới là quan trọng; còn hình thức tùy duyên hiện cảnh. Thế là chư vị hội nhập vào thành thị tiếp cận quần chúng. Và tất nhiên như trên đề cập, chư vị Thánh Tăng có tinh thần phóng khoáng như vậy, nhất định phải hiểu căn hạnh và nghiệp hạnh của chính mình mới có thể thuận duyên làm được. Thời nay ta gọi phái tu này là Đại chúng bộ, hay phái cấp tiến.

 Như thế sự phân chia hai hình thái hoằng pháp của Tăng đoàn đều nhất quán, phá mê khai ngộ cho chúng sanh. Tuy nhiên nếu không đúng với căn tánh hoàn cảnh mà gượng ép cố chấp hành đạo, e làm mất đi nét đẹp của giáo lý giải thoát, và còn hại ngược lại chính mình.

 Thiết nghĩ thêm rằng, hai bộ phái bảo thủ và cấp tiến như vậy, tưởng đủ hài hòa được căn tánh phức tạp của chúng sanh cho đến ngày nay một cách cụ thể.

 Nếu phái truyền thống không phải rời xa Tịnh Xá để sống đời an trụ, thanh bần giữ đạo qua hình ảnh Thế Tôn, tạo nên bài pháp sống động giúp hàng cư sĩ rõ biết chân dung đời sống Thế Tôn, thì phái cấp tiến lại đi vào quâàn chúng khơi dậy giáo điển Như Lai để chứng minh rằng, giáo lý giải thoát tự nó là vô nhiễm vô ngại giữa dòng đời ô trược nầy.

 Và nếu phái truyền thống nhắc nhở người tu theo phái cấp tiến, chớ quá sa đà quên đi lịch sử ngày xưa hình ảnh của Thế Tôn, là bậc toàn giác cũng phải sống đời tri túc mới liễu đạo, thì phái cấp tiến cũng nhắc nhở chư vị tu theo truyền thống rằng, tinh thần từ bi và trí huệ của chư Phật không hạn cuộc với bất cứ hình thức nào, và tất nhiên cả hai phương diện cùng đi về cứu cánh giải thoát.

 Như thế ta thấy cả hai phái hỗ trợ cho nhau, cùng giữ được dòng pháp giải thoát lưu lộ qua không gian thời gian biến đổi.

 Thời Tượng pháp cách Phật trên năm trăm năm như vậy, nhưng con người vẫn còn tinh thần học đạo rất sâu; dù vậy không thể so với ngày còn Phật. Tuy nhiên giáo điển Như Lai trong thời Tượng pháp bắt đầu vượt ranh giới truyền đến các lãnh thổ quốc gia khác.

 Các Thánh Tăng tùy phương tiện, nhân duyên và khả năng của mình mà du hành giáo hóa. Ngày nay chúng ta nghe qua các tông phái, gọi là Bắc tông, Nam tông, Nguyên thủy, Cấp tiến v.v... đều phát khởi từ lòng đại bi hoằng hóa lợi sanh của chư vị đệ tử Phật.

 Cho đến hôm nay công cuộc hoằng truyền chánh pháp vẫn luôn tiếp diễn và sự truyền đạo giải thoát ngày nay được xem quá dễ dàng bằng nhiều phương tiện, như sách báo, truyền thanh, truyền hình và nhất là mạng lưới thông tin Internet; tuy nhiên chẳng thể so sánh bằng thời Tượng pháp, vì mỗi hình ảnh chư Tăng xuất hiện là mỗi hình ảnh giải thoát, do đó người học đạo tri nhận trực tiếp giáo điển Như Lai một cách chân thật cụ thể.

 Chứng minh điều này là nhiều ảnh tượng chư Phật, Bồ Tát đã được dựng lên trong thời Tượng pháp, mỗi khi chư Tăng hội nhập đến một quốc gia nào. Thời ấy kỹ thuật thô sơ, đời sống chỉ chú trọng vấn đề ấm no là hơn hết. Nếu phải đề xướng, phát huy một tác phẩm nào, tất nhiên tác phẩm đó phải đủ tiêu chuẩn, đủ nét độc đáo nghệ thuật, hợp tính nhân sinh bấy giờ. Và muốn xây dựng một công trình nghệ thuật nào, nếu quy mô vĩ đại, tốn nhiều công sức tài vật, tất phải được sự chấp thuận của chính quyền sở tại, và nếu là văn hóa nghệ thuật nước ngoài lại càng được nghiệm xét nghiêm ngặt hơn.

 Như thế ta thấy chư vị Tăng sĩ ngày xưa khi hoằng đạo, tại các quốc gia xa lạ các Ngài phải khó khăn thế nào. Nhưng rồi chẳng trở ngại chi, vì tự thân các Ngài đã chứng đắc đạo pháp, nên không những thành tựu truyền giáo, mà còn phát huy giáo pháp Như Lai một cách rực rỡ, bằng chứng đó là những hình ảnh tôn tượng Đấng Như Lai luôn được xây dựng không ngừng. Chúng ta hãy nhìn xem di tích còn lưu lại từ xưa sẽ biết. Có thể nói, tín ngưỡng của nhân loại, tính thời gian quá khứ từ hai ngàn năm trở lại đây, không có tượng ảnh nào nhiều và lớn hơn tượng Phật.

 Thế thì người gieo chất liệu giải thoát thành tựu, thì người chiêm ngưỡng hưởng ứng tất phải ảnh hưởng theo.

 Đa số chư Tăng lên đường hoằng đạo trong thời tượng pháp, hầu như đều cam khổ với sự phi thường xả thân vì đạo. Các Ngài từ bỏ quốc thổ của mình chỉ mong mọi người được duyên học Phật, điều này càng làm chúng sanh xúc động tri niệm ân đức nhiều hơn.

 Người học Phật có lòng kính ngưỡng tri ân sâu xa thì việc thực hành mới tha thiết, như vạäy ta có thể đoán mười người học Phật thời tượng pháp có lẽ chắc được đến bảy người liễu đạo.

Thời mạt pháp

 Bàn về thời mạt pháp, là nói chuyện tu học của chúng ta thời nay, nhưng nói mạt pháp cũng là tương đối! Thôi, để chuyện tương đối hay tuyệt đối sẽ bàn sau, việc quan trọng thực tế là đời nay so với thời chánh pháp và tượng pháp chúng sanh tu Phật phải thế nào?

 Trước hết chúng ta hãy bàn về chúng sanh là loài người, sau sẽ nói một ít chúng sanh khác.

Hoàn cảnh thế gian hiện tại.

 Tính đến bây giờ, chúng sanh đã cách thời Phật hơn hai ngàn năm trăm năm. Giả như tính theo tuổi thọ con người khoảng bảy mươi tuổi, thì thời gian cách Phật hơn ba mươi bảy lâàn đời người, nếu người đó vừa chết đi liền tái sanh lại.

 Ba mươi bảy lần chết đi rồi sanh lại cho đến hôm nay vẫn chưa thấy xuất hiện một vị Phật khác, quả thật người này vô phước biết bao!

 Nhưng người đó là ai? Chính tôi và bạn! Chính những người học Phật như chúng ta. Nhưng không! Chúng ta vẫn quá may mắn. Bởi vì có vô số chúng sanh, sanh ra trước Phật, rồi chết đi sống lại đến hơn ba mươi bẩy lần vẫn không hiểu biết về Phật, những người như thế còn vô phước hơn!

 Nhưng cũng chưa đâu bạn, họ vẫn may mắn lắm, vì có vô số chúng sanh, sanh ra trước Phật không được mang lớp người chỉ mang lớp thú, rồi mãi đến đời nay vẫn còn làm thú đó mới là vô phước.

 Nhưng lại còn một hạng chúng sanh đau khổ hơn nữa; đó là hàng chúng sanh, sống đời địa ngục từ thời Phật cho đến đời nay vẫn chưa thoát khổ, chúng sanh này mới đau khổ thống thiết hơn.

 Như vậy chúng sanh nào mang được kiếp người, điều này quả là may mắn, cho dù chúng sanh đó chưa một lần có duyên học Phật. Bởi việc học Phật chỉ là nhân duyên, sớm hay muộn rồi cũng biết. Do vì mang quả báo làm được kiếp người, điều đó nói lên chúng sanh này đã trải qua một thời làm thiện, nếu không chẳng được thân người.

 Nói như vậy, chắc bạn không thể không nhắc đến, những người phải chịu kiếp khổ, nghèo đau, bệnh tật, thì đâu có phước gì!

 Thưa bạn, cũng vẫn có phước, vì họ đang trả nghiệp để rồi chuyển nghiệp, họ đang đau khổ để rồi thức tỉnh, để rồi chuyển hóa khá hơn trong đời sau.

 Duy chỉ có một điều là thời gian thôi.

 Bạn nghe tôi mới vừa nói là sớm muộn đó, nhưng trong sớm muộn là một đau khổ. Vậy vấn đề, là trong cái sớm muộn, xin đừng để khoảng giữa lạc vào kiếp chúng sanh không phải là người, đó mới là điều lo ngại nhất.

* * *

 Bây giờ hãy phóng cái nhìn rõ hơn, với hoàn cảnh ngày nay trong thời không Phật.

 Hoàn cảnh ngày nay gọi là thời kỳ nguyên tử, thời kỳ văn minh kỳ diệu của nhân loại trên thế gian. Thời nay một người tầm thường cũng có thể làm một việc kỳ diệu, mà người của ngày xưa phải gọi là phù thủy; đó là nói tới sản phẩm kỹ thuật văn minh nhân loại đang tiêu dùng. Và ngày nay, tất nhiên cũng hết sức nguy hiểm cho tánh mạng con người, phải bị đe dọa bởi những sản phẩm xuất phát cũng từ bộ não thông minh của nhân loại mà ra.

 Ngày nay ta không thể kể hết những tiện nghi, thọ hưởng sung sướng khoái lạc so với ngày xưa. Nhưng rồi chính ngày nay cũng đã và đang phát sinh đủ thứ rắc rối khổ đau, do vô số tiện nghi mà con người cố công chế biến.

 Vậy hoàn cảnh Phật pháp ngày nay tất cũng đi vào biến động này.

 Ngày xưa từ thời Chánh pháp đến Tượng pháp, sự chướng ngại của việc học Phật không ngoài cơm áo, và một ít hưởng thụ thô sơ. Ngày nay sự chướng ngại đã đến mức kinh hoàng, vì những cám dỗ vật chất, những trò chơi giải trí chất ngất đầy dẫy ở thế gian. Chướng ngại như vậy làm sao con người có thể dũng tâm từ chối.

 Dù rằng ngày nay chiến tranh chết chóc vẫn liên tục xảy ra, nhưng vẫn không thể làm người thức tỉnh nhận định đời là một tuồng cảnh khổ đau, do lòng tham lam ham muốn gây ra. Như vậy dù chết chóc khổ sở triền miên của ngày nay nhiều hơn ngày xưa, nhưng cũng không làm nãn lòng chặn đứng sự lôi kéo quyến rũ đam mê vật chất dục lạc.

 Hoàn cảnh khó khăn như vậy của ngày nay, lại trở thành khó hơn, đó là Thánh Tăng không thấy xuất hiện. Do đó dù kinh sách phương tiện học Phật hôm nay thật nhiều, thật dễ tìm kiếm, nhưng cuối cùng giống như chữ nghĩa kiến thức thế gian. Vì học mà chẳng hành, và có hành đi nữa, cũng chẳng thể đúng như thâm ý Phật dạy. Tất nhiên kinh sách lời dạy của Phật vẫn như thuở nào, và lời Thánh Tăng cũng chẳng sai khác chân lý, nhưng vì người học Phật không phải của thời xưa, cho nên cũng chỉ nhất thời phát tâm rồi nhất thời thối chí! Đó có phải vì không gian hoàn cảnh đầy dục lạc chứ gì?

 Vâng, chính vậy! Hoàn cảnh quá đầy dục lạc nên con người khó thể tiến tu.

Loài người và chúng sanh khác, trong đời sống hiện tại.

 Thể chất con người ngày nay chẳng khác gì lắm ngày xưa; tuổi thọ trung bình cũng chỉ bảy mươi đến tám mươi tuổi. Như báo thân của đức Phật, thị hiện thọ tuổi tám mươi cũng là vừa phải; và hôm nay số người sống đến chừng ấy cũng không phải ít. Tuy nhiên vấn đề thọ mạng ra đi để sanh thân khác, chắc rằng phải là khác nhau.

 Ngày xưa con người dù sống thiếu vật chất tiện nghi, nhưng tâm hồn có lẽ nhàn hạ tự tại hơn. Ngày nay con người đa số không đến nổi phải thiếu vật chất, nhưng tâm hồn lại thường buồn phiền lo lắng.

 Đó là vì hoàn cảnh người nghèo ngày xưa ít bị tâm lý mặc cảm tự ty so sánh; ngày nay thế giới văn minh nên thông tin, báo chí, loan tải toàn cầu, do vậy người nghèo khổ của thời nay, ít nhiều đã nhận định được hoàn cảnh con người thế giới chung quanh, rồi từ đó kết thêm tủi hổ mặc cảm cho thân phận chính mình.

 Nói đến người giàu hôm nay và ngày xưa lại càng dị biệt. Giàu ngày xưa ít sợ phập phòng như bây giờ, ít bị căng thẳng tâm lý xã hội như hôm nay. Giàu có ngày nay lo sợ đủ thứ, đó là vì xã hội quá văn minh tinh xảo nên sự việc xảy ra chẳng thể ngờ được; thậm chí đến thành viên trong gia đình đôi khi cũng trở thành lo ngại. Tất nhiên xưa nay lòng tham con người không khác, nhưng vì nhu cầu hưởng thụ vật chất ngày nay quá cao, thành ra lòng tham phải dâng cao không kiềm hãm được.

 Vậy người học Phật thời nay, có thoát ra khỏi công lệ của thế gian vật chất hiện thời không? Tự đặt câu hỏi cho mình, tất phải hiểu được tại sao mình hỏi.

 Tất nhiên không thể nào thoát khỏi công lệ thế gian, vì đó là luật sinh tồn tự nhiên của một cộng đồng chiêu cảm; nếu đi ngược lại lối sống cộng đồng, thì kẻ ấy chỉ âm thầm biệt lập sống thúc thủ bên trong, chứ bên ngoài phải hiện chung cộng nghiệp.

 Như hiện nay thế giới đầy đủ vật chất, kẻ học Phật dư biết điều này nên vẫn sống tự tại như mọi người thọ hưởng, chứ không thể trốn bỏ tìm nơi thiếu thốn ép mình tu Phật. Nếu sống tách biệt mọi người thì vô tình đánh mất chân lý giải thoát của Như Lai.

 Chân lý giải thoát là vẫn sống như mọi người mà tự mình không bị ràng buộc. Sống như mọi người không có nghĩa phải sống giống kẻ buông lung, dễ dãi; như mọi người là tùy thuận theo công lệ quy ước thế gian; tuy nhiên vẫn phải ý thức rằng đó chỉ là phương tiện, vì là phương tiện nên có thể thay đổi chuyển hóa mà không chấp chặt, để cuối cùng tiến tới giải thoát. Phải xác định như thế, để khi bị đặt vào một quốc thổ có những điều luật ngược với giáo pháp Như Lai, chừng đó ta phải biết tùy duyên đối phó.

 Ngày nay có lẽ người học Phật đang đối đầu với vô số hoàn cảnh phức tạp khó tu! Chắc chắn như vậy, bạn và tôi không thể phủ nhận được.

 Để tìm hiểu tổng quát hơn, thử bàn về những chúng sanh không phải là người trong đời Mạt pháp ngày nay.

 Thời chánh pháp và tượng pháp tức thời cách đây hơn ngàn năm, bấy giờ ai cũng biết, hoàn cảnh thiên nhiên thế giới còn rất xanh tươi màu mỡ. Chúng sanh không phải loài người chắc chắn rất đông, và chúng phải tự do sung túc lắm. Sự sợ hãi loài người không đáng ngại với chúng, hay nói ngược lại con người đôi lúc phải sợ chúng. Nhất là loài thú dữ có thể rình rập tấn công con người một cách tự nhiên chứ không phải tấn công vì bị dồn vào chỗ chết. Và dù cảnh tượng săn bắn lũ lượt của cả đoàn kỵ mã, cũng không đến nổi hoàn toàn khiếp hãi bịt lối thoát thân của loài vật bị săn bắt, do vì núi rừng quá lớn, quá rậm rạp, chứ không như bây giờ.

 Như vậy phải nói, dù kiếp chúng sanh là thú, nhưng thú của ngày xưa so với ngày nay hãy còn phước báo hơn.

 Thú của ngày nay thì sao?

 Ngày nay một số lớn thú được thuần hóa làm vui, hay phục dịch cho người, như loài chó, mèo, chim, két, bò ngựa v.v... Đa số những con thú như vậy phải là đau khổ. Những loài thú được thuần hóa đến mức chúng có thể hiểu được sự sai bảo của con người, như là loài thú trong các đoàn xiếc (circus). Những con thú này có lẽ cũng hiểu được một ít âm thanh vỗ tay, tán thưởng của khán giả, khi chúng thành công một trò múa xiếc; tuy nhiên dù thế nào chúng không thể tránh được buồn lo. Chúng phải chuẩn bị một ngày nào đó thân già kiệt sức, hay bệnh hoạn không thể theo ý của người điều khiển nữa. Bấy giờ những phần ăn mỗi ngày chỉ để câàm chừng chờ chết, chứ không phải là những phần thưởng! Ôi tội nghiệp làm sao! Và may thay cho những con vật ở trong đoàn xiếc của những quốc gia giàu có; nếu không tình huống cuối đời của chúng không biêát sẽ thế nào; cũng có thể trở thành món ăn cho người hay cho con vật khác.

 Nói về những con thú phục dịch món ăn cho người thì sao? Việc này không cần phải nói ra, ai cũng hiểu, và có lẽ chúng sanh đó mới hiểu hơn ai hết.

 Dù vậy vẫn có không ít một số con vật đời nay phước báo rất nhiều hơn những con vật ngày xưa. Cũng có thể nói, hạnh phúc của chúng lắm khi hơn cả một số người, những người đang đau khổ vì nhiều hoàn cảnh nghiệt ngã đâu đó trên thế giới.

 Con vật được nuôi như một người thân trong gia đình, chúng được đặt tên, được đăng ký với Hội Đồng thành phố. Được khám bệnh định kỳ, được thay thức ăn mỗi thời tiết, được đùa giởn với món đồ chơi riêng, có khi đùa giởn với người nữa. Và khi ở vào tuổi đẹp nhất của chúng, lại được sống một thời vàng son, đến nổi có khi được ngủ chung một giường với chủ. Không biết chúng có nhõng nhẽo hay không. Nhưng chắc thế nào cũng có giận dỗi, giận thì cũng gần giống làm õng làm eo rồi !

 Những con vật như thế, thật sự phước báo rất nhiều. Nhưng rồi chúng cũng vẫn là thú chứ làm sao là người được, cho nên rồi cũng phải khổ. Cái khổ nhất của con vật này, là lo sợ một ngày người chủ của chúng chết đi trước chúng, vì như vậy chúng sẽ bị “shock” bị phải đối xử trở lại như con vật không chủ; không chủ kể như không còn phước báo.

 Có một câu chuyện thật vừa xảy ra trong năm nay, tôi nghĩ tương tự chuyện này không phải là ít, đã và đang xảy ra đâu đó.

 Người chủ nuôi chó chết đi, chết bất thường, trong tư thế nằm sóng soài sau sân nhà, có lẽ ông bị lên áp huyết, đứng tim, hay té nặng gì đó. Con chó ông rất đau khổ, nằm bên cạnh thi thể ông. Khi người láng giềng phát giác ra, mới biết ông đã chết mấy ngày rồi. Lúc đem xác ông đi giảo nghiệm, con chó cũng trong tình trạng kiệt sức vì thiếu ăn uống; nhưng dù vậy nó vẫn không chịu nuốt bất cứ vật gì vô miệng. Cuối cùng bác sĩ thú y đành phải thuận theo niềm đau của nó, mà tiêm thuốc chết, để cùng đi với chủ.

 Câu chuyện nghe thật thương tâm, dù mang lớp thú nhưng tánh buồn thương, lo sợ nào đâu khác loài người. Nhưng sao lại phải mang kiếp thú, rồi mới sống bằng tánh biết trung thành vậy? Hỏi như vậy chẳng biết trả lời sao?

 Trong vòng luân hồi sanh tử thay hình đổi lớp, nào biết rằng kiếp thú đó là ai, và ai hiện đã từng là thú. Con thú vừa kể, biết bày tỏ nỗi đau thương chủ, cho thấy tánh chất thiện ác của một chúng sanh chẳng mất đi dù nghiệp lực phải trả quả mang đủ kiếp hình. Con thú đã từng làm thiện đời trước, chứ không toàn ác, nên tánh thiện còn nhớ tỏ bày, cư xử như người không khác.

 Người với thú, hai thế giới, hai hình thể, cách sống hoàn toàn khác nhau, vậy mà cảm được niềm đau thương xót, huống gì cùng loài cùng sống như nhau.

 Câu chuyện có thật tiếp theo đây, tôi được nghe kể xảy ra cũng sáu bảy năm rồi. Một con mèo mẹ sanh được ba con; chủ nó lén lấy đi hai con để cho một người bạn. Hoảng hốt mất con, nó khóc suốt ngày không ngủ, chủ cứ tưởng một hai ngày nó sẽ nguôi ngoai, nào ngờ ba ngày trôi qua, nó vẫn loay quay khóc thương tìm kiếm. Chủ không chịu nổi phải mượn xin mèo con chỗ khác về cho nó, có lẽ cấp bách nên tạm mượn vậy; nhưng nó nhận ra không phải con mình, rồi vẫn buồn khóc tìm kiếm con ruột của nó. Đến một lúc vì quá đau buồn tuyệt vọng, lại bỏ ăn uống, mèo mẹ phải bệnh chết đi.

 Tánh thương, tánh giận, tánh si mê, của chúng sanh là muôn thuở, cho nên kiếp loại chúng sanh nào vẫn không ra khỏi vòng biển nghiệp này, chỉ có chúng sanh giác ngộ, chúng sanh học được Phật tánh bên trong mới thoát vòng khổ ải.

 Thật ra bản chất thương yêu của loài vật xưa nay đâu khác, nhưng phải nói rằng, loài vật ngày nay đa phần phải chịu khổ hơn. Ngày xưa thú vật có bị săn cũng chẳng bao nhiêu, và thú nuôi để làm thực phẩm cũng không có nhiều, vì lượng thú hoang dã ngày xưa dễ tìm dễ gặp, lại nữa phương tiện kỹ thuật chăn nuôi giữ thú, không được máy móc kỹ thuật tinh vi như ngày nay. Nhờ vậy thú ngày xưa ít đau khổ hơn. Ngày nay kỹ nghệ chăn nuôi tinh vi xảo thuật, và càng hiện đại hóa chừng nào thì con vật lại thấm nỗi đau chừng đó.

 Không cần phải kể ra những cảnh tượng đau đớn của những con thú ngày nay, khi cung phụng làm thực phẩm cho con người; và cũng không phải lên án bất cứ một ai; nếu đổ thừa quy kết cho người giết, đó chẳng phải hoàn toàn, bởi có người ăn, người ta mới giết. Nhưng nếu nói người ăn là ác độc, thì tại có kẻ giết bán họ mới ăn, chứ họ nào bảo giết cho tôi ăn.

 Vậy đổ thừa ai đây?

 Có lẽ đổ thừa nghiệp quả vậy. Nghiệp quả của chúng sanh đó, và nghiệp quả của con người chứng kiến cảnh chúng sanh đó.

 Nếu loài thú ngày nay đau khổ như vậy, ngẫm nghĩ suy ra ai làm chúng khổ? Tất nhiên câu trả lời đầu tiên là do chúng phần lớn, vì nghiệp nhân đã gieo từ quá khứ, chứ không thể nào vô cớ sanh ra đau khổ; bởi vì trong số loài vật sanh đời nay vẫn có những con được người chiếu cố thương yêu như đã kể.

 Câu trả lời thứ hai nếu nhắm vào hoàn cảnh phải trả nghiệp báo, thì tác nhân gây đau khổ cho loài vật chính là con người, điều này không chối cãi được.

 Lại suy ra, nếu con người làm chúng đau khổ, tự đánh mất lòng từ thương vật, chính ngay đây, thời này, tánh chất thiện của con người cũng giảm đi. Vì sao?

 Vì bất cứ chúng sanh nào cũng ham sống sợ chết, nếu dững dưng với nỗi sợ hãi của chúng sanh khác, dù chúng sanh đó không phải loài người, thì tương lai con người cũng có thể dửng dưng với niềm đau của đồng loại. Nguyên nhân đó mà xưa nay chiến tranh trên thế giới chẳng bao giờ ngừng.

 Bàn về loài vật đến đây tạm đủ, và ít nhiều vấn đề loài vật như vậy, chúng ta mới nhận định rõ ràng con người chúng ta.

 Vậy thì thời gian ngày nay, người học Phật phải đối diện một cách thực tế với đời sống khó khăn này. Cái khó khăn là thế giới cứ mãi xảy ra cảnh chiến tranh giết chóc. Cảnh trạng như thế, nói lên lòng người đã quá xa đà, trong sân giận hơn thua. Và hoàn cảnh như vậy, việc học Phật chắc chắn không thể an ổn được. Nếu có học đi nữa, thì học với tâm niệm cầu khẩn lo sợ, van xin chư Phật gia hộ được yên lành, hay xin được che chở.

 Tuy nhiên số người cầu khẩn van xin gia hộ, vẫn còn hơn hiện trạng có người hóa thành bất mãn, đổ vỡ niềm tin, vì cảm thấy học Phật đã không thực tế giải quyết được nỗi sợ hãi của chiến tranh, hay sự cạnh tranh quyền hạn mưu sinh trong đời sống. Như thế mà họ trở thành những người bất cần tín ngưỡng, sống hưởng thụ được ngày nào hay ngày đó.

 Rơi vào cả hai trường hợp này, đạo Phật khó thể hoằng dương phát triển được, nếu có chăng, chỉ nghiêng về hình thức, chỉ giúp gieo duyên học Phật cho đời sau.

 Tạm kết rằng, trong đời mạt pháp nghiệp tánh chúng sanh phải chịu ảnh hưởng rất nhiều từ hoàn cảnh và tâm cảnh chung của cộng đồng thọ nghiệp. Tuy nhiên sự nỗ lực vươn lên của mỗi chúng sanh, vẫn có thể tạo được nhân duyên thù thắng ngay trong đời mạt pháp này, vì bản tánh thanh tịnh giác ngộ của chúng sanh trong ba thời Chánh pháp, Tượng pháp, Mạt pháp không gì sai khác.

 Xin được dài dòng một ít nữa, bạn cho phép tôi có ý nghĩ thêm như vầy.

 Đứng về mặt tướng, việc học Phật phải liên hệ thời gian không gian hoàn cảnh, nhưng đứng về mặt tánh thì vô ngại bất nhiễm vượt khỏi đối đãi thế gian. Chẳng hạn hoàn cảnh người ta có thể bắt ép người nào đó theo mình, như mặc y phục, ăn uống, nói năng, thậm chí nhốt người đó ở nhà như một nhà tù sang trọng. Tuy nhiên sự áp đặt chế phục người kia chỉ qua hình tướng, hình thức mà thôi chứ bên trong nào đâu áp đặt được. Người kia dù bị nhốt trong nhà không thể ra ngoài, nhưng tư tưởng của họ khó thể nghe theo. Người kia có thể sinh hoạt giống như người khác sai bảo, nhưng họ vẫn có cái suy tư mà người khác không thể nào sai khiến chế phục được, đó chính là tánh chất bản tánh bên trong.

 Một cách