Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Nếp Sống Đạo


...... ... .

 

Tam Bộ Nhất Bái
Nguyên Bản: Three Steps One Bow

Heng Ju & Heng Yo
Buddhist Text Translation Society

---o0o---

 

Chương III

Từ Coos Bay đến Marblemount

 

Ngày 1 tháng 5 năm 1974. Hằng Cụ viết:

Sau một tháng ở Kim Sơn, hôm nay chúng tôi trở về vịnh Coos Bay. Trong thời gian qua, chúng tôi đã tham gia các tuần thiền thất, thuyết pháp nhân dịp lễ Phật Ðản và những buổi nói chuyện tại trường đại học San Francisco State University. Ðồng thời tu bổ lại chiếc xe kéo và cũng có đủ thời gian để chúng tôi chuẩn bị cho phần nhì còn lại của chuyến bái hương. Với phân nửa đoạn đường nầy, chúng tôi quyết định là sẽ theo sát lộ trình xa lộ chớ không đi quanh co vớ vẩn nữa. Trong khóa thiền vừa qua, khó khăn lắm mới kiềm giữ tâm lại, không thì đầu óc cứ mãi nghĩ đến xa lộ. Sau khi lấy lại tinh thần, không còn những mối lo âu, thân thể trở nên khỏe mạnh, tôi cảm thấy phấn khởi và náo nức về phân nửa cuộc hành trình còn lại.

Kệ thiền thất

Tánh thanh tịnh, tâm tự tại:

Vạn hạnh tu, chẳng được mất.

Tin Thầy Tổ, nguyện ban đàu,

Tiến bước cho đến viên mãn.

Ngàn lần gọi như nhắc nhở.

Ai chẳng chịu theo tâm mình?

Hãy đứng thẳng, không tham cầu,

Vượt khỏi tranh chấp, si mê.

Người, cảnh, ý tưởng, cảm thọ,

Bao đường dẫn đến giải thoát,

Bao ngả dẫn sa địa ngục,

Tất cả từ tâm niệm khởi.

 

Ngày 2 Tháng 5 năm 1974. Hằng Cụ viết:

Trong tuần qua có hai Giáo sĩ truyền đạo người Mỹ vừa từ Trung Hoa về, đã đến chuyển hóa chúng tôi. Cả hai đều tỏ vẻ ngạc nhiên khi biết Thầy Hằng Do rất rành tiếng Quan Thoại (Mandarin). Một trong hai vị nầy là cựu hải quân, mời chúng tôi đến nhà ở Reedsport, nếu có đi ngang. Nghe qua cũng lý thú thật.

Hôm nay tôi lạy dọc trên đụn cát chạy dài theo bờ biển khoảng nửa dặm, rồi tiến lên vùng đất rắn chắc bảy dặm. Vừa lúc định ngưng lạy, thì có một thanh niên thuộc giáo phái Nhân chứng Giê-ho-va (Jehovah’s Witness), khoảng mười chín tuổi, định làm một việc hào hiệp cứu rỗi tôi. Anh chàng mang theo những cuốn Thánh kinh nhỏ đã được truyền bá khắp thế giới, vớI nội dung nói về ngày "Phán xét" sẽ xảy ra trong bất cứ lúc nào. Rồi anh ta bắt đầu thao thao bất tuyệt với tốc độ như không thể nào gián đoạn được. Tôi kiên nhẫn đứng đó cả mấy phút, trong khi chàng ta vẫn tiếp tục nói huyên thuyên: "Những ai tin tưởng sẽ được ban ân huệ sống vĩnh viễn trên thiên đàng, còn những người không tin sẽ bị thiêu đốt mãi dưới địa ngục." Nhưng sau đó, nhân lúc nghe tiếng anh ta bắt đầu như cuồn băng bị đứt, nên tôi cúi lượm nhánh cây khô bên đường, ra chiều ngắm nghía rất kỹ. Anh ta cũng vậy, bắt đầu nhìn vào cành cây và giọng nói càng lúc càng nhanh, trong khi cặp mắt như dán chặt vào nhánh cây. Ngay lúc đó, tôi biết là đã bắt dính được anh chàng. Rồi vừa lúc hắn ngừng để thở, tôi nói ngay: "Em có biết cái gì đây không?"

Chàng ta trả lời: "Là một khúc cây."

Tôi nói: "Ðây là Chúa" và nhẹ nhàng ném tung lên không trung. Chàng ta há mồm trố mắt nhìn theo cành cây từ từ rơi vào bụi rậm. Tôi không nói thêm lời nào và lập tức bắt đầu lễ lạy. Ði xa được khoảng trăm bước, tôi ngoái nhìn lại, thì thấy anh chàng vẫn đứng trơ ra như mảnh kiếng bể. Nhưng cuối cùng anh ta cũng hoàn hồn lại và chạy theo, vừa nhảy lưng tưng như chú thỏ con đang lớn, vừa lấp bấp: "Nhưng, nhưng, nhưng Chúa còn sống, Ngài, Ngài, Ngài, Ngài có trí thông minh, ông phải tin như vậy." Tôi mặc kệ, không thèm chú ý nữa, mà bỏ hắn lui mờ dần về phía sau một mình lảm nhảm vẩn vơ.

 

Ngày 3 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Chúng tôi đang tiến vào khu đụn cát biển Oregon Dunes National Recreation Area, khu nầy chiếm ít nhất cũng khoảng bốn mươi dặm gần tới ven biển. Các thú rừng trong phạm vi vùng nầy đều được bảo vệ. Lại có những lối đi dành riêng cho các loại xe chạy trên cát biển. Những bãi cát mênh mông nầy, nguyên trước đây là vùng trũng sâu đã được sóng thủy triều đưa đẩy cát biển vun bồi mà thành, rồi được đánh dấu với tên Salal, Manzanita, và Madrone. Chúng tôi bắt đầu thấy vô số những đoàn xe cắm trại chở gia đình đi nghỉ mát.

Hôm nay chúng tôi được hai viên cảnh sát quận đón chào, và hứa sẽ lưu ý dùm cho chúng tôi. Ðiều nầy có vẻ trái ngược với những lần chúng tôi bị ngồi trong xe cảnh sát để chờ họ điều tra, kiểm soát xem chúng tôi có phải là tội nhân không. Hình như càng đi xa, chuyến đi của chúng tôi càng được mọi người công nhận.

Sau khi lạy được bảy dặm, chúng tôi cắm trại ở một trong vô số công viên dọc theo bờ biển vùng Oregon. Theo như thường lệ, đến cuối ngày, sau khi chúng tôi ngưng lễ lạy, cũng là lúc tạm dừng tiếp xúc với công chúng. Bởi vì lúc tối đến, sau khi rời bỏ đường lộ để cắm trại thì sẽ không ai biết chúng tôi ở đâu. Nhưng đêm nay như có những lời đồn, nên từng đoàn người kéo đến để trò chuyện: tặng phẩm vật, chụp hình, mời nước chanh và cuối cùng là những câu hỏi. Quang cảnh thật ồn náo nhưng có vẻ toàn thiện tuyệt vời.

Giờ đây đêm đã về khuya, những chuyện xảy ra trong ngày cứ vang dội trong đầu tôi, chúng hiện đến rồi mất đi như những bọt sóng trên biển cả. Nhưng ai đang quan sát biển cả trong vũ trụ nầy? Có phải người đang ngắm nhìn chính là một phần tử trong đó không? Nó thật có cái gì khác biệt giữa chuyện xảy ra và chuyện tôi nghĩ sẽ xảy ra không?

 

Ngày 4 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Hôm nay khi chúng tôi dừng lại bên đường, có một số người đến trò chuyện. Hầu hết là họ không muốn rời khỏi xe, nên đã xếp thành hàng dài chờ đến phiên mình, rồi tuần tự chạy xe đến, quay cửa xe xuống để hỏi chuyện chúng tôi. Thật lạ lùng làm sao!

Sau bữa cơm trưa, chúng tôi tiếp tục lạy qua khu phố Reedsport, nơi đây cả hai tôi đều tiếp chuyện với nhiều người. Rồi có cả một tiểu đội con nít cởi xe đạp tụ tập bao quanh, chạy theo Thầy Hằng Cụ cho đến cuối đường Main. Chúng nó lượn tới lượn lui thành vòng tròn, cười nói vang rân. Còn mình tôi phải dừng lại từng hồi để đối đáp với nhiều người.

Ðến cuối ngày, lúc ngồi nghỉ, những hình ảnh xảy ra trong ngày cứ chập chờn trong tâm trí tôi. Chúng có vẻ hơn là những kỷ niệm, nhưng lại kém phần thực tế: Những hình ảnh nầy hơn là kỷ niệm vì chúng đang uốn nắn những gì sẽ xảy ra trong tương lai, cũng giống như hạt dưa sẽ cho ra những trái dưa chớ không phải cho ra trái đậu. Nhưng chúng thua kém thực tế vì tổng số các hình ảnh xảy ra không cân xứng với sự góp nhặt của các phần rời rạt. Cho dù tất cả những phần nầy có được chỉnh đốn xây dựng lại, nhưng nó vẫn như còn thiếu sót một cái gì huyền bí trong đó, ngầm gởi gấm chánh đáng cho lời ước nguyện, sự việc, hay tư tưởng. Có thể gọi đó là tia sáng của cuộc đời, gọi là Phật Ðà, tánh chân thật, hay là thần thánh gì đó. Nó có rất nhiều danh xưng để nhiều lần thử định nghĩa về nó. Như một lão Thiền sư có lần nhắc đến: "Bạn không thể nào hai lần đứng trên cùng một giòng suối." Thử nghĩ về điều nầy đi! Bạn còn không thể đứng một lần trên cùng một giòng suối, huống chi là đến hai lần!

 

Ngày 5 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Ðêm hôm qua chúng tôi nhận lời mời về ngủ ở nhà của vị cựu hải quân, người vừa đi công tác truyền giáo ở Trung Hoa về. Thật là lầm lẫn, mặc dù được ông và gia đình tiếp đãi rất tốt, nhưng tất cả cũng chỉ với ẩn ý muốn chuyển hóa, và cứu rỗi chúng tôi. Mới đầu ông nói tiếng Anh, sau đó dùng tiếng Trung Hoa, không chịu buông tha, suốt cả đêm cứ mãi với luận điệu: Vì ông đã tìm được sự vĩnh cửu của cuộc đời, và sẽ không an vui cho đến khi nào cả hai chúng tôi cũng tìm được điều nầy như ông. Buổi nói chuyện tối hôm đó thật ra cũng chẳng có vấn đề gì, nhưng sáng hôm sau, lúc ông chở chúng tôi trở ra chỗ cũ, mới có chút xích mích xảy ra. Lúc đó ông tập trung hết sức lực, hầu như chỉ dồn về phía Thầy Hằng Do. Tôi nghĩ ổng đã bó tay chịu thua tôi rồi. Ông ngừng xe ở hướng bắc, phía cầu sông Smith, cuối ranh giới vùng Reedsport. Khi chúng tôi vừa bước ra khỏi xe, ông nói nhắn theo Thầy Hằng Do: "Tôi hy vọng hai chú em sẽ từ bỏ sự tôn sùng cái hình tượng tà giáo đó và chấp nhận Chúa, nhất là chú Hằng Do đã là người được Chúa chọn đó."

Thầy Hằng Do trả lời ngay: "Tất cả chúng ta đều là những người được chọn."

Cảnh nầy kết thúc trong lúc mọi người đều buồn phiền, la lối lẫn nhau cho đến khi ông ta nhảy lên xe rồ máy ầm ầm chạy mất. Ðáng tiếc thay! Tôi biết rằng dù sao ông cũng thật tình có thiện ý với chúng tôi đấy thôi.

Sáng nay thấy có túi trái cây tươi nằm trên lối chúng tôi đi, kèm theo tờ giấy ghi: "Cầu mong ánh Thái dương mãi chiếu rọi đến các anh, với tình thương bao bọc chung quanh và ánh sáng trong lành nội tâm sẽ dẫn đường các anh tiến bước." (Trích từ một bài hát của ban nhạc: Dây đàn tuyệt diệu (Incredible String Band). Chiều đến ông phó cảnh sát trưởng Richard Knack mang đến cho chúng tôi một bình nước suối bốn lít, lại còn chỉ điểm chỗ khá tốt để dựng trại. Giờ đây chúng tôi ngồi bên lều, gần cạnh nồi đậu hầm trên ngọn lửa cho bữa trưa mai. Ngọn gió tươi mát từ biển thổi vào, tiếng nước chảy róc rách của con suối nhỏ từ xa vang lại. Ánh trăng tròn tỏa chiếu cùng với hàng ngàn ngôi sao lấp lánh trên trời.

 

Ngày 6 tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Có lần Hòa thượng Hư Vân thấy con cá mập bị sóng biển đánh dạt vào bờ và dân bản xứ mổ bụng nó ra, thấy bên trong có cả một chiếc xuồng nhỏ và vài thứ vật dụng của loài người. Tôi nhắc đến chuyện nầy là vì đêm nay đang lúc ngồi thiền, nghe văng vẳng tiếng mấy ông say đang đánh cá từ phía hồ Carter mờ mịt sương mù, cách không xa chỗ chúng tôi cắm trại. Tiếng mái chèo khua dưới nước, pha lẫn tiếng loạng choạng quây cuồng trên ghe thuyền, và những lời cười nói vang rền của họ đã lấp đầy vào tâm tôi một ấn tượng sâu xa.

Có ai biết không? Có thể đời nầy là người câu cá, nhưng kiếp sau sẽ là cá!

 

Ngày 7 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Xa Lộ Ven Biển

(Một cảnh nhìn gần)

 

Thông xanh cao vút viền quanh lộ,

Tùng bách, Sơn Lưu hoa thanh nhã,

Bông hoa, bụi bậm, gai nhọn, be-ri,

Hoa Tô cách lan, sa lal, che-ri ngọt.

Vạn cụm mây trang nghiêm thiên cảnh,

Bạch mao vân, hào quang kiêu mạn.

Không gian sống động đàn chim hót,

Ong mật từ tổ vù qua lại.

Bên lề la liệt lon sét mốp,

Ðống kiếng bể, quạt máy rã hư.

Ðàn kiến tíu tít quanh bánh vụn,

Xương động vật, quần áo cũ rách.

Ðường lộ hun hút vô số dặm,

Như mộng dài, bài ca chẳng dứt.

Người xe qua lại bận suốt ngày,

Trên những chiếc xe Pontiacs, Lincolns, Chevrolets.

Thanh niên kéo Baja Volks trượt nước,

Khuôn mặt rũ rượi mấy bạn già,

Tiếng khóc trẻ con trong xe cũ,

Lon không nước ngọt chất đầy xe.

Viên tuần cảnh hài hòa độc mã,

Thong dong dưới bãi đầy bọt biển tràn.

Ðây thế giới sanh tử phân hôi,

Lễ bái ven bờ xa lộ 101.

 

Ngày 8 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Sự ồn náo tăng dần khi chúng tôi vào tới khu phố Florence. Cha Maxwell ở nhà thờ Saint Mary vùng Dunes, ngừng lại thăm hỏi vài câu. Thoạt tiên ông ngỡ chúng tôi là những Ðạo sĩ lang thang có đời sống lao nhọc. Ông Harris giúp chúng tôi hàn nối lại mấy cọng kẽm bao quanh chiếc xe kéo. Sau mỗi lần tu sửa, nó trở nên nặng nề thêm chút ít. Vào tới giữa phố có nhóm người kinh doanh buôn bán trong vùng đến chào đón chúng tôi và chụp hình, thắc mắc thăm hỏi rất nhiều. Ðang trên đường ra khỏi phố, có viên cảnh sát cởi chiếc mô tô tấp vào, lên giọng khinh khỉnh hỏi: "Mấy ông đang lộn xộn cái gì đây?"

Thế là tôi phải giải thích lý do mục đích, nơi chốn xuất hành. Nghe xong, lòng ông rung động thấy rõ, nên nói: "Ồ! Thánh thiện quá, cẩn thận nhé!"

Vừa sau đó, có ông lái xe hàng ra dấu bảo Thầy Hằng Cụ đến gần. Nhưng thấy Thầy không đến, ông liền phát cáu, nhấn ga nghiến bánh xe dưới đường nghe điếc cả tai, rồi chạy tới phía Thầy đang lạy, hét to bảo Thầy nên đi chỗ khác mà cầu nguyện.

Chúng tôi cắm trại trên bãi cát gần bờ biển Hecata, bên cạnh lửa trại ấm cúng. Có hai đứa bé đem thức ăn đến cho chúng tôi, và hỏi về cách tập thiền. Một em tên Gary Jenkins hỏi Thầy Hằng Cụ sau chuyến nầy chúng tôi định sẽ làm gì?

Thầy đáp: "Có lẽ chúng tôi sẽ đi Viễn Ðông."

Nghe vậy chú bé nhỏm người lên nói: "Ồ! Về tiểu bang Minnesota hả?"

 

Ngày 9 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Lạy được sáu dặm đường dưới ánh mặt trời nóng như thiêu đốt. Thầy Hằng Do tính nhẩm bảo rằng chúng tôi đã được khoảng nửa đường vùng Oregon. Hôm nay chúng tôi ăn cơm trưa ở gần một khu vườn thực vật, đây là vườn nhà của loại Darlingtonia California, cây thật cao, chuyên ăn sâu bọ. Các loại côn trùng một khi đã lọt vào những cánh hoa hình dáng như rắn hổ mang Ấn Ðộ nầy thì những cánh hoa sẽ khép chặt vào rồi tiêu hóa chúng. Tôi có nghe con người ăn rau, nhưng chưa bao giờ nghe rau lại ăn thịt như vậy!

Gary Jenkins mang táo đến

Nellie tặng một đồng tiền

Ông Ball tìm chỗ cắm trại,

Mọi người chúc may mắn.

Tuy nhiên, đến chiều tối thì ông chủ đất phát giận dữ bảo chúng tôi phải rời khỏi khu vực của ông ta ngay. Ðây chỉ là lần thứ hai trong suốt cuộc hành trình mà chúng tôi phải nhổ lều dọn đi chỗ khác vì đã xâm nhập đất người. Thật ra chúng tôi đâu có muốn xâm phạm đất người bất hợp pháp như vậy, chỉ vì đôi lúc không thể tìm được một nơi nào mà không có chủ cả.

 

Ngày 10 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Khi vừa qua trạm phòng vệ duyên hải củ ở Hecata Head, ông Harry Tammen mời chúng tôi nghỉ lại đêm. Hai vợ chồng ông vốn là nhân viên gác giữ ngọn hải đăng nầy và căn nhà cổ xưa. Căn nhà rộng lớn nầy do sự cất ráp từng phần mà thành, từ San Francisco được thả trôi đến đây cũng cả trăm năm rồi. Nơi đây như khoác lên vẻ gì trang nghiêm quá.

Sau buổi trà đàm đạo về Phật pháp với ông bà Tammen, tôi mang theo bồ đoàn, một mình đi ra ngoài khoảng nửa dặm, thẳng đến ngọn hải đăng to lớn. Tôi leo lên một ghềnh đá để tìm chỗ ngồi ngang bằng với ngọn đèn. Ðể bồ đoàn xuống rồi kéo chân ngồi với tư thế kiết già. Cơn gió từ biển thổi tạt vào lạnh cóng, phút chốc mặt trời khuất bóng, để lại một bầu trời tối đen. Ngồi được khoảng nửa tiếng, trong tư thế như vậy tôi cảm thấy đôi chân dù đau nhức vô cùng, nhưng vẫn nhất quyết không nhúc nhích, cho đến ít nhất một tiếng như thường lệ. Dường như tia sáng từ ngọn đèn đã giúp cho tôi tăng thêm nguồn sinh lực, vượt qua cơn đau nhức trong phúc chốc. Vả lại tôi cũng đã quên hẳn cả thân mình. Một tiếng trôi qua, tôi từ từ duỗi chân và chợt cảm nhận luồng gió thổi dữ dội, lạnh buốt vô cùng. Rồi vội vàng trở về ngôi nhà lớn, lúc đó sư huynh đang ngồi đọc sách.

Một trong những ngành khoa học cổ điển Trung Hoa vẫn còn lưu hành cho đến ngày nay là Ðịa lý học. Ngành nầy nghiên cứu, định rõ những nguồn năng lực của quả địa cầu. Tất cả mọi nghiệp vụ xây cất đều nên hòa hợp với những nguồn năng lực của trái đất. Nhiều người bác bỏ không tin vì cho đó là sự khảo cứu vô lý, nhưng sự hiện diện địa điểm tọa lạc của ngọn hải đăng nầy đã xác định rõ ràng mạnh mẽ. Nó như vượt hẳn ngoài tầm của sáu thức.

Từ cửa sổ tôi hướng nhìn về ngọn hải đăng, nơi đó đã cho tôi một cảm giác thật lạ kỳ.

 

Ngày 11 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Ngọn hải đăng ở Hecata Head chỉ đơn độc một bóng đèn 1000 watt, với lăng kính phản chiếu là 700. Nó có thể rọi chiếu sáng đến mãi tít chân trời trong phạm vi khoảng hai mươi mốt dặm. Phía sau ngọn đèn là một tấm màn bằng chất thạch miên bao trùm suốt cả vách núi. Phòng khi trong trường hợp ngọn đèn ngưng quay, tấm màn nầy với sự tập trung năng lực mãnh liệt giống như tấm kiếng phóng đại, có thể làm phát ra lửa dễ dàng.

Chúng tôi lạy được năm dặm, rồi cắm lều trên một dốc đá. Lại thêm một cơn bão khác đang kéo đến.

 

Ngày 12 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Trận giông đêm qua thật khủng khiếp vô cùng. Gió thổi như phong bão khiến mấy bên vách lều bị đập phình phịch như chiếc buồm. Phía dưới bãi biển, những lợn sóng không ngừng dội vang vào ghềnh đá như sấm sét. Cũng đở là tấm lều được may rất kỹ, nếu không nó sẽ bị banh rời thành từng mảnh rồi. Ðôi khi ở thế giới vô tình, lạnh lẽo như thế nầy, chiếc lều nặng năm cân lại là một nơi ấm cúng và an toàn biết bao.

Hôm nay chúng tôi dừng lại ở trung tâm du ngoạn Cape Perpetua. Những đồ vật chưng bày ở đây đã giải thích phần nào vô số hiện tượng mà chúng tôi đã chứng kiến ở rừng Suislaw National.

Gia đình họ Evan ở Eugene, tặng chúng tôi một túi trái cây có kèm theo mảnh giấy viết rằng: "Cả hai ông đều đáng được ân cần chú ý đến. Chúng tôi chắc chắn rằng những nhân vật tai mắt quan trọng vùng Oregon, các báo chí và đức Chúa đều tin tưởng các ông sẽ thành công."

Thật ra điều tôi quan tâm chính là ý tưởng, là sự tỉnh thức. Bên cạnh đức hạnh cá nhân, nó là then chốt của sự tu hành. Ðiều thử thách thật sự là làm sao để không có những thành kiến vị kỷ, không bị bồn chồn, nôn nóng, không lo lắng về tương lai và cũng không hồi tưởng về quá khứ. Tâm tỉnh giác như đang cố gắng nhận lấy cảnh thế gian với trạng thái thanh tịnh, hoàn toàn không dính dáng đến các hình thức, hay bị chi phối bởi những kinh nghiệm về tốt, xấu, lớn, nhỏ và những sự đối lập tương phản khác.

Tâm không dễ gì được tỉnh giác, bởi vì chúng ta cứ duyên theo những thành kiến, nhận biết thế gian theo lối định hướng của bản ngã. Tâm chúng ta lúc nào cũng đầy ấp những tư tưởng, những kinh nghiệm giá trị của kẻ khác. Niềm vui của chúng ta lại tùy thuộc vào ngoại cảnh. Thế nên chúng ta không ngừng tìm kiếm cái được gọi là "tốt" và cố tránh xa cái "xấu." Tâm chúng ta cứ chạy ra khỏi cửa năm giác quan: Mắt, tay, mũi, lưỡi, thân để tìm vui, thỏa mãn với những hiện tượng vô thường của cuộc đời. Bởi vậy thì làm sao tìm được cái vui hạnh phúc thật sự.

Hàng vạn năm qua, những bậc Thánh nhân đã từng chỉ dạy chúng ta con đường trực thẳng nhất để chấm dứt khổ đau, là phải đập tan những vướng mắc, tức phải dẹp bỏ tham muốn dục vọng. Mục tiêu của tâm tỉnh giác là sự thấy biết chân thật để không còn ham muốn. Nhưng nguồn năng lực của lòng dục vọng về: tài, sắc, danh, thực, thùy lại quá mạnh mẽ, nó biến hiện dưới hàng triệu hình thức khác nhau, đôi khi rất rõ rệt trực tiếp, nhưng có lúc rất khéo léo quỷ quyệt. Ngoài ra lòng dục vọng lại tinh tế bịnh hoạn hơn trong lãnh vực tôn giáo, là chúng ta tham muốn về tiếng tăm và quyền lực. Có người ham muốn được tôn kính, được quyền lực to tát và mong muốn trở thành những ông, bà Tổ Sư, nắm hết quyền hành, đến nổi không còn rõ đâu là phải trái. Dục vọng khiến chúng ta cố chấp những gì đến với ta và thâm tâm không ngừng quay cuồng với những mưu kế, để rồi tạo thêm những nghiệp mới, bồi đắp thêm những tập khí cũ. Cho nên bước đầu của sự giác tỉnh là phải trừ đi lòng dục vọng tham muốn.

Hôm nay chúng tôi qua vùng Yachats, lạy được sáu dặm rưỡi.

 

Ngày 13 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Bạn đồng hành chung thủy phía trái của chúng tôi với vẻ đẹp mênh mông là biển Thái Bình Dương. Nhưng dưới lớp mặt bao la vĩ đại của nó lại là một thế giới hỗn loạn và đau khổ. Hôm qua khi còn ở vùng Cape Perpetua, chúng tôi mới khám phá ra rằng tất cả những loài sinh vật dưới biển, ngoại trừ có lẽ một phần mười ngàn, thì đều làm mồi cho những con vật khác ăn nuốt. Theo giáo lý Phật pháp, chúng sanh bị sanh trong hoàn cảnh như vậy chỉ là vì đền bù quả báo sát sanh của bao đời trước.

Hôm nay ông bà Bernie và Eileen Bernstein chở chúng tôi về nhà dùng cơm trưa. Ông Bernie nói trước đây đã từng sống ở miền đông, nhưng vì chán ngán sự đua chen, lệ thuộc cuộc đời, nên đã nghỉ việc,và bán hết tất cả, để đến đây mở tiệm sửa chữa kiêm buôn bán đồ tặng phẩm. Bà vợ thì làm đèn cầy và nữ trang. Ông Bernie còn biết khắc chạm gỗ để làm thành những hình vật. Ông cầm một khúc cây hơ qua hơ lại trên ngọn lửa nhỏ, tiếp chà bằng một bàn chải sắt, rồi cũng làm thành hình dạng trông giống như thật vậy.

Nhiều lúc chúng tôi dừng lại nghỉ ngơi, có những người trong công viên gần bên làm bộ ra vẻ như đang ngắm biển. Nhưng rồi tưởng rằng chúng tôi không thấy biết, thì họ trố mắt ngạc nhiên nhìn chăm bẩm. Cũng khó mà trách họ được, vì nếu là tôi khi nhìn thấy hai Tăng sĩ đầu trọc, xâm mình lễ lạy trong bộ đồ thời nhà Ðường, đang có bữa tiệc chay trên mặt đường tráng nhựa của bãi đậu xe, thì có lẽ tôi cũng sửng sốt như họ thôi!

 

Ngày 14 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Tối qua cơn bão lại kéo đến và hiện chúng tôi lạy vào vùng Waldport, có dân số khoảng tám trăm người. Nhận lời mời dùng cơm trưa tại nhà họ Perola gồm: Mike, Julia và Christie. Bà Julia bảo là mấy ngày trước đã mơ thấy chúng tôi và bà luôn niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Bà nói với phương pháp nầy giúp bà bình tỉnh, định tâm hơn, rất có hiệu quả, nhất là khi gặp những tình cảnh khó khăn. Thí dụ như những lúc bà cuống cuồng bận rộn với công việc ở nhà hàng.

Sau bữa cơm trưa, chúng tôi lạy suốt vùng Waldport và qua cầu Alsca. Khi tới bên kia cầu, có nhóm người thân thiện đón chào cho rau cải tươi và trà, có cả bánh mì do họ tự tay làm lấy. Có ông tên Mark, đệ tử của vị Sư Tây Tạng, luôn miệng nói: "Thật là một sadhana phi thường! Thật là một sadhana phi thường!" Sadhana là tiếng Phạn có nghĩa là phương pháp tu hành hay là sự thanh lọc.

Lại có ông khác bày tỏ lo lắng rằng người Mỹ với cách ăn uống hằng ngày tiêu thụ quá nhiều chất đường. Ông nghĩ rằng đường là chất độc và làm cho người ta bị ghiền, nên hy vọng mọi người sẽ thức tỉnh, bỏ đi thói quen đó. Ðiều nầy nhắc lại có lần trong bọn chúng tôi đã học được về tánh chất của đường, và lòng tham của mình.

Chuyện xảy ra mấy năm trước ở Chùa Kim Sơn, lúc thời buổi khó khăn, nên chúng tôi nhiều khi phải lục thùng rác để lượm lặt rau cải còn tốt và những thức ăn khác mà người ta đã giạt bỏ ra. Sau khi đem về, rửa sạch nấu chín đàng hoàng, thì không cách gì biết đó là thứ nhặt được từ thùng rác ở siêu thị Safeway. Lúc đó sư huynh lớn người Hằng Cụ vốn đều đặn với những chuyến đi bươi móc, vì Thầy hình như có tài thích hợp với việc lượm lặt, nên biết rõ thùng rác nào là có nhiều sản phẩm nhất. Không hiểu Thầy có dùng thần thông hay không, hay chỉ vì đói bụng, nhưng sao cũng chẳng thành vấn đề. Nguyên là gần chùa có một hãng kẹo và là trạm rác hàng tuần quen thuộc để huynh tôi thăm viếng. Lại thường mang về khoảng mười hay mười hai miếng kẹo lớn - là thứ kẹo đậu phộng dính cứng còng như xi măng, bảo đảm ăn hết một miếng thế nào cũng gãy ít nhất một cái răng hay phải đi trám răng lại. Nhưng dầu sao kẹo nầy cũng không đến nổi tệ lắm. Thế là một hôm, tôi đi ngang qua nhà bếp thấy có một khối kẹo to tướng khoảng bảy mươi lăm pound (34 kg), nằm chình ình trên tấm thớt. Ôi thôi! Mọi người nhốn nháo vây quanh giống như đám ruồi.

Có bài kệ Sư phụ viết lúc xa xưa như sau:

Nhất thiết thị khảo nghiệm

Khán nhĩ chẩm ma biện

Ðối cảnh nhược bất thức

Tu tái tùng đầu luyện.

Nghĩa là:

Mọi sự là thử thách

Xem bạn làm thế nào

Ðối cảnh nhận không ra

Phải luyện lại từ đầu.

Quả nhiên đây mới đúng là thử thách: việc chính yếu là giữ được lòng không rung động bởi dục vọng. Nhưng thực tế thử thách không phải chỉ làm ngơ cho qua lòng ham muốn, mà là làm cách nào để ĂN được khối đường nầy. Có mấy vị đập bể được một miếng khá lớn rồi bỏ vô nồi nấu chảy ra. Nhưng đến khi nguội thì nó đóng cứng lại, chất kẹo và chất kim loại ở đáy nồi quến chặt nhau, rốt cuộc cái nồi cũng bị tiêu luôn. Rồi mấy vị khác tấn công khối kẹo nầy bằng búa, bằng đục và dùng cả cưa sắt nữa. Nhưng sau mấy ngày ăn những món toàn nấu với nó, chẳng hạn như món măng xào có nước sốt bằng chất kẹo nầy, nên không biết ai đó đã khiêng khúc kẹo còn lại quăng trả về thùng rác. Hàm răng bị ê ẩm đã nhắc cho chúng tôi bài học, vì qua sự thử thách nầy một vài chúng tôi đã rớt đài. Như bài kệ đã nói: Chúng ta phải dụng công luyện tập lại từ đầu để có thể nhận ra sự tình trước mắt, nên giữ vững lòng không bị lay chuyển bởi tâm tham.

Cuối ngày hôm nay, lúc hai huynh đệ tôi ngồi bên lề đường, đắn đo không biết nên dựng lều ở đâu, thì ông bà Ed Thayer ngừng lại chở chúng tôi về nhà họ. Ông Ed trước đây ở New York, nhưng đã dọn về đây cất lên một căn nhà khang trang ở vùng Alsea Bay khoảng mười lăm năm rồi. Ông là người đã "không còn mê muội" trước những lễ nghi tập tục của các tôn giáo.

 

Ngày 15 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Tối qua ông Ed Thayer nói cho chúng tôi lý do vì sao ông không còn mê lầm về những tôn giáo Tây Phương. Trong lúc đọc một bản dịch về sự khám phá đương thời của quyển Tử Hải (Dead Sea Scrolls), ông mới biết rằng những giáo lý của chúa Giê-su vốn từng được một vị giáo chủ tên Appolonius giảng dạy ở tu viện cho nhóm người Essene, trước khi đức chúa Giê-su ra đời cả trăm năm. Nhưng trong Thánh kinh đã bỏ qua giai đoạn nói về cuộc đời của ngài Giê-su Ố đã đi học với nhóm người nầy trong khoảng thời gian mười lăm hay hai mươi năm. Sau đó Ngài bỏ đi và bắt đầu đưa ra lý thuyết giảng dạy riêng, gồm sự kết hợp giáo lý tương tợ như tông Tịnh Ðộ của Phật giáo: là thuyết vãng sanh về cõi Cực lạc. Thật ra đức Giê-su đã là một vị Thầy cao thâm nhất, nhưng chính vì những ban Hội Ðồng Giáo Hội và Hoàng đế Constantine, đã đưa đẩy khiến Ngài trở thành một vị Thần Thánh. Lúc bấy giờ người dân đang bị khủng hoảng nên rất khao khát được một vị lãnh đạo tinh thần, đồng thời cũng vì Hoàng đế Constantine muốn thống nhất lãnh thổ, nên đã tập trung dân chúng lại qua giáo lý tinh thông và quyền năng của Thượng Ðế. Từ đó hàng triệu người kính ngưỡng đến vị Trời nầy và xem như ý Ngài muốn gởi gấm qua chúa Giê-su. Ông Ed Thayer nói là ông rất buồn khi thấy những giáo lý tồn tại như ngày nay đã bị sai lệch quá xa cội nguồn của nó. Ông tin rằng mặc dầu đạo Thiên chúa đã làm vô số việc thiện cho thế giới, nhưng con người cũng phải biết chuyển hướng tìm cho mình những phương pháp khác để được một đấng hoàn toàn tối cao hợp nhất.

Hôm nay mưa thật lớn, thật nặng nề. Có hai bà cụ mời chúng tôi vào uống trà và hỏi rằng trong thời gian tập tu ở tu viện, chúng tôi có bị ông Thầy quăng ném giáo mác vào người không. Rõ ràng là họ đã coi quá nhiều tuồng phim đánh đấm công phu trên truyền hình. Lúc chiều tối, có chiếc xe chạy đâm thẳng từ phía sau như muốn cán lên tôi vậy. Hai người đàn ông tuổi trung niên ngồi trong xe vừa chưởi thề thô tục, vừa bóp kèn inh ỏi, lại rồ máy ầm ầm. Tôi vẫn tiếp tục lễ lạy theo nhịp độ bình thường, chẳng thèm ngó ngoái lại phía sau làm gì. Vài phút sau họ bỏ chạy mất.

 

Ngày 16 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Hôm nay chúng tôi lạy được bảy dặm rưỡi với thời tiết thật kỳ khôi. Mỗi khoảng nửa giờ, hết nắng chói chan rồi lại đổ mưa, cứ như vậy mà thay đổi luân phiên luôn. Khi lạy qua bãi biển Seal, có vài người đến hỏi chuyện, gồm một anh ký giả tên Joe Frazier của Associated Press; một anh tài xế lái xe giao mối sữa đã cho chúng một ít sữa tươi; một bà cụ kể rằng ngày xưa nơi đây từng có con đường chạy dài ra tới bờ biển, dành cho xe ngựa chở du khách; một anh buôn bán làm nghề diễn tả những kinh nghiệm tọa thiền của anh; và một cô gái lên tiếng dạy đời khi sư huynh đang lễ lạy bên đường.

Cô ta nóng nảy gằn hỏi: "Bộ ông không tin Giê-su là con của Thượng Ðế hả?"

Khi chúng tôi đến cây cầu bắt ngang qua vịnh Yaquina, trước khi vào khu phố Newport, có hai phóng viên là Jim Newman và Roland Chase của đài truyền hình ở Portland đến phỏng vấn và chụp hình liên tục.

Hồi còn ở tiểu học, tôi rất ghét khi phải một mình đứng trước lớp. Ðến lúc phải làm bài tường thuật, tôi sợ hãi và quên sạch những gì mình muốn nói, để cuối cùng chỉ có thể luống cuống đọc từ tờ giấy đã ghi sẵn thôi. Có lần chúng tôi phải làm thơ, và Thầy giáo lần lượt kêu tên từng người đứng trước lớp đọc. Khi tới phiên, tôi đọc thật lẹ cho xong, rồi chạy trở về chỗ ngồi. Bài thơ quá ngắn đến nỗi ông thầy lên tiếng mỉa mai: "Ðừng có đụng vào tay nó, thiệt tình nó bị mỏi nhừ vì đã viết bài thơ dài quá xá như vậy." Ông thầy cũng chịu thua luôn. Lên đến trung học, tôi cũng vẫn còn cái tật đó, nhưng lại thích thổi kèn trong ban nhạc vì không phải chỉ có mình tôi trên sân khấu.

Chính ra tánh sợ hãi của tôi chỉ hơi kỳ dị chút ít thôi, tại tôi đã thổi phồng nó lên phần nào, và dùng nó như bộ giáp che chở bảo vệ cái "ngã" của tôi. Nhưng hôm nay, khi máy thâu phim của đài truyền hình bắt đầu quay và máy ghi âm thâu lại từng lời nói, tôi xem tất cả chỉ là những mảnh vụn của trò chơi sắp chữ. Ở đây đang có hàng ngàn người đang theo dõi, nhưng tôi chẳng nhút nhát lo sợ tí nào. Có lẽ trong mấy tháng qua vì tiếp xúc chuyện trò với bao nhiêu người xa lạ, nên tôi đã bỏ quên đi cái "ngã" của mình, và cũng có thể tôi đã nhận ra mối nghi hoặc không hiện hữu của nó. Ðiều nầy có thể chẳng quan trọng đối với những ai đã từng dạn dĩ dưới ánh đèn pha, nhưng đối với tôi hôm nay mới là ngày đánh dấu cho một chiến thắng cá nhân thật sự.

Ông bà Maxfield sắp đặt cho chúng tôi một phòng trong khách sạn của họ ở West Wind Motel, thuộc vùng Newport để nghỉ qua đêm. Phải công nhận rằng hôm nay tôi cảm thấy thật là vui.

 

Ngày 17 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Hôm nay lạy được sáu dặm rưỡi dưới bầu trời chói chan. Hồi sáng nầy vừa lúc qua ranh giới phía bắc thành phố Newport, tôi dừng lại đi tiểu trong rừng cây phía sau ngôi nhà thờ tân thời phái Tân Giáo Lutheran. Khi đi ngang qua tôi thấy tấm bảng hiệu ghi là Mục sư Olson. Lúc đó tôi cũng chẳng nghĩ gì cả. Rồi tôi tiếp tục lạy tiến về hướng bắc, được khoảng hai giờ sau thì có một cặp tuổi trung niên dừng lại hỏi chuyện. Tôi thấy họ có vẻ lanh lợi hoạt bát, nên hỏi họ có thuộc tôn giáo nào không?

Người đàn ông trả lời: "Có, cả hai chúng tôi đều là tín đồ phái Tân Giáo."

Từ trước đến nay tôi chưa hề đến Newport bao giờ, và không biết cái gì đã xui giục tôi lại buộc miệng nói ngay: "Ồ! Phải rồi, ông bà Olson đây mà!"

Tôi đã nói trúng ngay chốc, khiến hai ông bà ngạc nhiên muốn ngã ngửa. Ở vùng Newport nầy có biết bao nhiêu tín đồ Lutheran mà sao thật ngẫu nhiên gặp ngay chính họ. Nhưng tôi vẫn giữ nghiêm nét mặt và tiếp tục nói khoảng vài phút, trong khi họ chăm chú lắng nghe từng lời.

Bà Cude dáng người nhỏ bé, đã chia sẻ phúc báu của bà cho chúng tôi với bánh mì, phó mát và trái cây. Nhưng đáng tiếc thay, những thứ chia sẻ nầy vẫn chưa đủ vì bà còn muốn cho thêm một cái ôm thật chặt nữa, nên chúng tôi phải hết sức khéo léo lựa lời để tránh né. Có hai anh chạy xe gắn máy hiệu Harley Davidsons, sau vài phút nói chuyện với tôi, họ tỏ vẻ ưa thích về ý kiến làm kẻ đơn độc trên xa lộ ngoài nầy.

 

Ngày 18 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Ông Russ Jamieson từ đài radio KMED ở Medford đến phỏng vấn ghi âm chúng tôi. Có viên cảnh sát thuộc lính mới ngừng lại, bắt chúng tôi lên xe ngồi chờ phía băng sau. Rồi ông gọi máy về tổng đài để họ dùng máy điện tử kiểm xét xem chúng tôi có phải là tội nhân gì đây. Ông định bụng chắc bọn nầy nếu không là lính thủy đào ngũ, thì cũng là bệnh nhân ở nhà thương điên trốn ra thôi. Nhưng tìm mãi chẳng có lý do gì để bắt bớ, thế là đành phải thả chúng tôi ra.

Khi chúng tôi đi ngang qua vùng Depoe Bay, thì gặp bà Walter ở ranh giới hướng bắc khu phố. Bà cảnh cáo phía trước có căn nhà đầy cả người say đang chờ chúng tôi. Bà nói bọn họ nhậu nhẹt suốt cả ngày nay và đang có một cuộc tiệc thật lớn để đợi chúng tôi đến. Có mấy ông liệng ném lon bia ra ngoài đường, một số khác kéo nhau ra trước lề đường giả đò bắt chước quỳ lạy. Trong khi chúng tôi đang đứng bàn luận về việc nầy, ông Baker, chủ nhân cho mướn phòng ngủ ở vùng nầy, chạy trờ tới và hứa cho chúng tôi một căn phòng để nghỉ đêm. Tôi ngước nhìn về phía trước, thấy rõ đám người say, thỉnh thoảng có một ông chạy ra đường ngó chừng xem chúng tôi đã tới chưa. à há, lại là lối lựa chọn cũ rích, hoặc là đón nhận những ly sữa mời niềm nở, hoặc là tiến quân xông vào cuộc chiến? Tôi cảm thấy hôm nay mình đã đủ sữa rồi, nên chỉ muốn xông thẳng vào trận địa.

Tôi bảo: "Hay là đệ cứ về phòng ngủ trước để dọn đồ ra, còn huynh sẽ lạy thêm một tiếng hay hơn nữa rồi sẽ đi bộ về sau."

Thầy Hằng Do trả lời: "Không làm gì hết! đệ đi tới đó, đệ đi tới đó ngay bây giờ!" Nói xong Thầy cúi xuống vác bị lên vai, túm lấy chiếc xe, rồi kéo thẳng về hướng mấy người say xỉn.

Bà lão la lên: "Ngừng lại! Mấy cậu làm như vậy thật là sai lầm lắm đó!"

Tôi mang bao tay vào, sửa lại cái bao đầu gối tin cậy, và bắt đầu đúng theo nghi thức tam bộ nhất bái xuống mặt lộ. Những âm thanh "Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát" liên tục vang rền trong tâm tôi như đoàn tàu xe lửa. Thầy Hằng Do tiến gần về đám người một cách hiên ngang nhất quyết. Từ khoảng cách chừng trăm bước về phía trước, tôi thấy độ chừng mười một người, nhưng họ có vẻ giạt ra khi Thầy Hằng Do đến gần. Thật ra trông họ cũng có vẻ sợ sệt đấy. Thầy Hằng Do vẫn tiếp tục tiến thẳng, đến lúc chỉ còn cách chừng năm mươi bước, là họ hoàn toàn nhốn nháo tản giạt ra, hầu hết chạy trở vào nhà. Có một ông núp nơi an toàn ném ra mấy viên sỏi nhỏ, nhưng tâm không phải cố ý chọi cho trúng. Sư Hằng Do ngừng hẳn ngay trước căn nhà, chờ tôi lạy tới. Như có chiếc xe ủi đất đã dọn đường bằng phẳng. Tôi lạy qua chẳng có chuyện gì. Chỉ nghe vài tiếng lầm bầm, coi như họ bất lực không làm được gì. Sau trận đụng độ nầy, chúng tôi cảm thấy nghị lực tăng gia, nên đã lạy thêm hai dặm rưỡi nữa. Tính ra hôm nay chúng tôi lạy được tám dặm rưỡi, khoảng đường dài nhất từ trước đến nay. Vừa định dựng trại bên đường, bỗng có một chiếc xe chở đầy mấy ông nhậu hồi nảy đến ngỏ lời xin lỗi.

Thầy Hằng Do nói: "Ồ! Không sao đâu, đừng lo nghĩ về chuyện đó nữa."

 

Ngày 19 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Hôm nay cha mẹ của Quả Hồi Weber đến thăm và mang theo thực phẩm cho chúng tôi. Bà Weber kể lại những chuyện tức cười trong lúc đi tìm chúng tôi. Bà nói trong khi dọc đường dọ hỏi về việc làm của chúng tôi, thì thấy ý tưởng của mỗi người mỗi khác. Có ông thì nói: "Tôi không biết họ đang làm cái gì, nhưng chắc họ có cách tốt hơn để lên thiên đàng."

Còn em bé gái thì nói: "Có, con thấy một người đàn ông cứ quỳ lạy mỗi khi có một chiếc xe chạy qua."

Lúc chiều xuống có ông già lỗ mũi đỏ ửng, đã say men, đến bên Thầy Hằng Do nói: "Tôi không biết mấy ông đang làm gì, nhưng tôi hy vọng các ông cứ tiếp tục như vậy mà làm."

Chỉ bằng những lời nói chan chứa chút ít vui nhộn đó, là đã giúp chúng tôi phấn chấn tiếp tục lên đường.

 

Ngày 20 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Khu phố Lincoln kéo dài khoảng bảy dặm dọc theo bờ biển. Khi chúng tôi lạy xuyên qua phố, có đủ hạng người như: hip-pi, bình dân, đám mô-tô Thiên Thần của Ðịa Ngục (Hells Angels), các vị bô lão và trẻ nít đến chào đón. Trong khi chúng tôi ngừng lại ăn cơm ở bãi đất trống trong phố, có ông ký giả nhà báo đến phỏng vấn. Ngay cả ông Roy Sutton, cảnh sát trưởng quận Lincoln, cũng đến bắt tay chúng tôi. Ông cảm kích về tướng mạo của sư huynh. điều làm ông nể phục nhất là khi biết chúng tôi có thể đi xa như vậy mà mỗi ngày chỉ ăn có một bữa cơm chay thôi. Sau bữa ngọ chúng tôi lại tiếp tục, có nhóm chuyên viên đài truyền hình đến quay cảnh chúng tôi đang lễ lạy qua khu phố. Lúc sắp dừng nghỉ, thấy có hai chiếc xe xém chút nữa là đụng nhau, vì mấy anh tài xế lơ đãng không chú ý, chỉ có thế thôi.

Sau khi lạy được bảy dặm ba phần tư, chúng tôi dựng lều trên khoảng đất trống an lành bên đường.

 

Ngày 22 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Ðến giữa vùng Neotsu và Winema Beach, con đường dẫn vào nội địa khoảng vài dặm. Hôm nay chúng tôi lạy dọc lên dãy đồi, trước khi đến vùng Neskowin. Ði trên đường với những cây trụi lá và ánh mặt trời nóng cháy cứ tiếp tục chói rọi, khiến chúng tôi muốn bệnh say nắng luôn. Tệ hơn nữa là nước uống lại hết sạch. Nên tôi đi thẳng lên trên đỉnh đồi, sau một lúc tìm tòi thì khám phá ra một dòng suối mát trong veo. Lòng nghĩ thầm: "Chờ đến lúc sư huynh nếm qua mùi nước cam lồ nầy thì mới biết." Múc đầy bình, tôi trở lại chỗ chiếc xe kéo và bắt đầu lạy. Nửa tiếng sau sư huynh cũng tới, nhưng thấy huynh tôi liệng đôi bao tay xuống đất rồi ngồi bẹp trên chỗ đất sốp mềm. Tôi cảm thấy hình như có chuyện gì không ổn, nên không dám lên tiếng. Phút chốc tôi chợt hiểu ra: A! thì ra tại mình đi quá xa về phía trước mà quên nghĩ rằng rủi có chuyện gì xảy ra một trong hai chúng tôi, thì làm sao mà người kia biết được. Nên tôi gượng nói: "Uống nước đi, thật là mát lịm vậy đó!"

Rồi cả hai chúng tôi uống nước trong im lặng. Bấy giờ tôi nhìn lại, sự cố chấp khăng khăng từng hỗ trợ cho những giận hờn bực bội trong lòng, như đã chấm dứt ngay từ đó. Nhưng có điều tôi đã quá kiêu mạn, không chịu kéo bỏ cái ngã để mà xin lỗi. Thế là chúng tôi cùng ngồi bên vệ đường, mà trong lòng mỗi người ai cũng có lý phải của mình để sẵn sàng trách móc đổ lỗi lên đầu người kia.

Có lẽ những chuyện giận hờn nhỏ nhoi coi như không quan trọng, vì một lúc sau chúng cũng sẽ lắng dịu xuống, thì tại sao mình phải làm cho nó lớn chuyện ra? Nhưng nếu nhìn kỹ để suy rộng hơn về những phiền hờn cỏn con đó, nếu không được quản thúc thì chúng sẽ lớn dần để trở thành thù hận, là nguyên nhân khiến con người đi đến cãi vã, đánh nhau. Một bước xa hơn nữa, lòng thù hận và sân giận chính là nguồn gốc gây ra chiến tranh. Cho nên nếu chúng ta chịu loại trừ những ý nghĩ ác độc trong tâm hồn, thì chúng ta sẽ không có lý do gì để phát sanh những hành động thô bạo dù ở bất cứ trường hợp nào.

Nghe qua thì thấy nó đẹp làm sao, nhưng đó chỉ là trên giấy trắng mực xanh thôi, chớ bình thường mà đem những điều nầy áp dụng vào cuộc sống hằng ngày thì thật là quá thử thách. Một lúc sau, sư huynh Hằng Cụ nhìn tôi, tôi nhìn lại, sư huynh Hằng Cụ đứng lên, ngó quanh một vòng và nhổ phạch một bãi nước miếng xuống đất, rồi tiếp tục lễ lạy. Trời ơi! Con cảm thấy mình nhỏ bé quá.

Ra khỏi vùng Neskowin, có một bà cằn nhằn gắt gỏng sư huynh "Ông nghĩ là ông đang làm cái gì vậy hả?"

Sư huynh Hằng Cụ từ tốn trả lời: "Lạy cho thế giới hòa bình."

Bà ta nạt nộ: "Vậy à! Ông có thể nói điều nầy ở trạm cảnh sát đó." Rồi bà bỏ chạy vào nhà để gọi điện thoại, nhưng chả thấy có ông cảnh sát nào đến cả. Sau đó có mấy cậu bé vùng Neskowin đem đến cho chúng tôi một túi trái cây. Rồi có một cô gái đạo Thiên Chúa, cố gắng thuyết phục chúng tôi chuyển đạo ngay tại chỗ.

Tôi bảo cô: Cứ quán tưởng rằng tất cả mọi việc điều do tâm tạo, nhưng cô nàng nghe đâu có hiểu tôi nói gì.

Hôm nay chúng tôi cũng lạy được sáu dặm ba phần tư, dù bên lề đường đầy những khí độc địa. Dựng trại về phía nam vùng Cloverdale trên một ngọn đồi ẩn mình phía sau con lộ. Chúng tôi hái những trái be-ri chín cho bữa trưa mai.

 

Ngày 23 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Dưới cơn mưa chúng tôi lạy được bảy dặm. Mấy em học trò lớp tám ở vùng Cloverdale đến nói chuyện với chúng tôi ở sân cỏ phía trước. Sau đó có em trung học đến phỏng vấn Thầy Hằng Do để viết một bài cho tờ báo của trường.

Lúc ở Hebo, chúng tôi có gọi điện về Kim Sơn và nói với Sư phụ về chất độc ở bên đường. Nhưng Sư phụ bảo việc đó không sao, rồi dạy cách thức cho chúng tôi như: khi đứng lên thì thở, khi quỳ xuống thì ráng nín đừng hít vào. Ngài còn khuyến khích chúng tôi mỗi ngày phải càng thành tâm hơn và đừng có nói chuyện vớ vẩn với mấy anh ký giả, phóng viên, vì họ thường hay cố tình chỉ thâu lượm những gì có tánh cách dị kỳ, lạ thường mà bỏ quên đi những điểm quan trọng. Tôi cũng nói với Sư phụ rằng những gì tôi làm đều có tính cách dị kỳ, lạ thường, nhưng Ngài bảo đừng lo nghĩ làm chi về chuyện đó.

Cha Gerald tự giới thiệu là tu sĩ dòng Thánh Benedictine ở chủng viện St. Angel, đã hỏi người xứ đạo của ông là ông bà Hurlemans cho chúng tôi dựng lều trên đồng cỏ nuôi bò của họ, và được họ tán thành đồng ý ngay. Cha Gerald có giáo đường ở cả hai vùng Cloverdale và Tillamook, nên đã mời chúng tôi ghé lại khi đi ngang vùng Tillamook.

Bây giờ trời đã khuya, mưa rỉ rả rơi trên tấm mủ phủ trùm bảo vệ chiếc lều, như nói rằng: "Xin báo cáo, cả căn lều không có chỗ nào bị dột hết."

 

Ngày 24 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Một ngày mưa gió bê bết. Chúng tôi dùng cơm dưới gầm cầu, vì nơi nầy còn có vẻ khô ráo. Con đường nhỏ hẹp và ngoằn ngoèo, lại có rất nhiều xe vận tải kềnh càng qua lại khiến chúng tôi mấy lần xém bị tông vào.

Chiều đến Thầy Hằng Cụ kể lại là trong lúc tôi đi ở phía trước thì có hai chiếc xe ngừng lại bên Thầy, rồi một người đàn ông tóc vàng quăn, ló đầu ra cửa xe nói: "Hãy tiến lên! Hãy tiến lên! Ðừng ngừng, đừng ngừng, đừng ngừng!" Rồi cả chục người bước ra xe từ từ đi lại. Thầy Hằng Cụ nghĩ thầm chắc là một bọn du côn muốn tới kiếm chuyện gì đây, nhưng sau đó vị xếp đầu quăn đến gần, kính cẩn chắp tay và nói với giọng thật êm dịu: "Shanti" (tiếng Ấn Ðộ có nghĩa là Bình an.) Và đưa cho Thầy một trái chanh, nói tiếp: "Chúng tôi đã theo dõi những tiến trình của các ông qua báo chí, tôi nghĩ rằng việc các ông làm thật là tuyệt diệu."

Thầy Hằng Cụ không nói lời nào. Khi ông đó trở về xe, có một người trong nhóm, mỉm cười nói với Thầy : "Ông vừa gặp ông Ken Kesey đó."

Gần đến giờ ngừng lạy trong ngày, ông John Whecler là một nhà nông cần cù đến chở chúng tôi ra khỏi cơn mưa, và đưa về mảnh đất mười mẫu của ông chạy dài về hướng đông vùng Beaver. Ông có hai người em đang chuẩn bị dùng chiếc xe hàng cột nối sợi dây xích để kéo thẳng căn nhà xe cũ kỹ đang bị lún quằng xuống. Thấy cách họ làm, tôi nghĩ thế nào cũng có chuyện xảy ra, nhưng không nói gì cả. Họ buộc sợi dây xích sắt vào một cây đà rồi kéo một chút và kéo thêm một chút nữa. Thấy căn nhà có vẻ đã vừa đủ thẳng rồi, nhưng họ lại cố kéo chỉ thêm một tí xíu nữa thôi, để rồi mọi người ngỡ ngàng nhìn cả căn nhà xe sập xuống một cái ầm.

Chúng tôi ngủ trên giàn gát chứa cỏ khô và bên dưới là cái chuồng của một đàn dê.

 

Ngày 25 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Có chiếc xe truck cũ kỹ kéo theo căn nhà gỗ, ngừng lại. Bốn ông đầu tóc bùm xùm, nhưng có vẻ thiện cảm đến chào đón chúng tôi. Một ông đầu bùm xùm nhất trong nhóm nói: "Các ông có muốn sữa dê tươi không?"

Tôi đáp liền: "Dạ!"

Rồi ông đi về phía sau mở tung cửa xe, hiện lộ bên trong thật là một con dê cái đang chỉa đuôi về phía chúng tôi. Ông lấy cái bình không và bắt đầu vắt ra dòng sữa tươi ấm hỉnh. Sau đó chúng tôi đứng thành vòng tròn, chuyền tay nhau bình sữa mà nhấp uống. Tôi nói: "Thật không còn gì tươi bằng!"

Anh cao nhất có thân hình giống tạc như hóa thân của Ben Hur nói: "Xin các ông nói rõ cho chúng tôi biết các ông đã học được những gì trong chuyến đi nầy."

Tâm trí tôi bắt đầu quay chuyển chớp nhoáng, trở lại hình ảnh của hàng trăm dặm đường đã đi qua và hàng ngàn người mình đã từng tiếp xúc. Câu hỏi có vẻ hơi khó đấy! Vì không có cách nào mà tôi có thể trả lời chỉ bằng vài câu được cả, nên tôi cứ lặng thinh và sau một lúc chúng tôi đứng trong im lặng. Cuối cùng anh cao đó nói: "Chúng tôi nghĩ rằng việc hai anh làm thật có giá trị, hy vọng các anh sẽ đạt tới đích."

Chiều xuống, Andy và Sheila chở chúng tôi về nhà và giới thiệu với ông bà nội cùng bạn bè của họ. Quả Hỉ Sheila vừa quy y theo đạo Phật và cũng vừa được phục hồi sau cơn đau lưng rất trầm trọng, việc nầy khiến bác sĩ cũng phải ngạc nhiên và nói đó là một sự nhiệm mầu.

 

Ngày 26 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Có chú thanh niên từ vùng Tillamook ngừng lại xin tôi giải thích sơ về phương pháp tu đạo Phật để một người có thể áp dụng theo. Chúng tôi đi vào cuộc bàn luận và tôi liệt kê ra những điều căn bản cho anh biết:

Ðiều 1: Cố gắng đừng tạo nghiệp dữ. Giữ tâm và hành động luôn thanh tịnh, bằng cách đừng để tham, sân, si, sai sử.

Ðiều 2: Quán tâm như hư không, có thể hàm chứa tất cả mọi vật như khoảng không gian bao trùm tất cả những hành tinh. Chân tâm rộng lượng, vĩ đại, vô chướng ngại và ở trình độ cứu cánh thì sẽ là "vô trí diệc vô đắc (không biết, cũng không đắc)."

Ðiều 3: Phải biết rằng không có phương pháp cố định và cũng không có giáo lý nhất định. Chúng ta nên gìn giữ giới luật, pháp hành và thệ nguyện của mình, nhưng đồng thời coi vạn pháp kể cả những giáo lý, thuộc về tương đối và là những sáng tạo huyền ảo, tự chúng không là thật.

Ðiều 4: Nhìn sự vật theo pháp Trung đạo, vì cuộc đời đầy ấp những cực đoan và đối đãi. Lại nữa, trong phạm vi của những ngôn từ và lý lẽ không diễn tả chính xác được Thật tướng. Tốt và xấu, lớn và nhỏ, trong và ngoài, còn bao nhiêu cặp đối đãi khác nữa đều là những nhãn hiệu, có tính cách tương đối, hạn cuộc. Chúng không gì hơn là những tiêu chuẩn đặt để từ sự tưởng tượng của ai đó, hay những bản hiệu không thực tế tô phết lên sự thực vốn không phân biệt. Ðạo Phật dạy con người nên tập nhìn mọi sự từ Trung đạo, từ vô niệm. Như lời Sư phụ nói: "Thượng vô Thiên, hạ vô Ðịa: Hư không phấn toái dã." (Trên không trời, dưới không đất: hư không cũng vỡ tan.)

 

Ngày 27 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Hôm nay là ngày lễ Tưởng Niệm Chiến Binh. Xe cộ có phần đông đúc và gió thổi ào ạt. Cả hai chiều trên xa lộ, mấy ông say, đua nhau tăng tốc lực. Thế nên phòng thân để khỏi bị đụng vào, chúng tôi quyết định tạm ngừng lễ lạy.

Chúng tôi cắm lều trên một đồng cỏ cao lêu nghêu. Khoảng nửa đêm, có con chuột thật bự (nặng cũng khoảng hơn một ký lô), leo lên chiếc xe kéo và bắt đầu ra tay. Chúng tôi giựt mình thức giấc vì những tiếng nhai gặm nghe rào rạo. Vì cớ làm sao, con chuột dơ bẩn nầy lại lọt vào chỗ thức ăn của chúng tôi vậy cà? Tôi chui ra khỏi túi ngủ và chụp lấy đèn pin rọi thẳng về chiếc xe kéo, cách phía trước lều chỉ khoảng bốn bước. Chính hắn đây rồi, tên vô loại không biết xấu hổ, đang đứng trên xe, dồn từng bụm bánh mì vào miệng. Nó cắn lủng túi ny-lon, xuyên qua cả mấy lớp bao mủ và đã tiêu thụ bánh mì thơm ngon cũng khá nhiều. Tôi rọi đèn chiếu thẳng vào mắt nó, vừa lúc Thầy Hằng Do ra khỏi lều. Cả hai chúng tôi đứng cách nó chỉ độ ba bước thôi, vậy mà hắn ta vẫn tiếp tục cạp ăn ngốn nghiến. Mấy miếng bánh thật đã làm hắn mê mết. Trong đạo Phật gọi đây là "Biết sai nhưng cố phạm." Tay mặt cầm đèn rọi vào mắt nó, tay trái được sư Hằng Do xỏ bao tay vào, tôi chầm chậm đi vòng phía sau nó. Vừa trân mình định chụp, thì nó nhảy vọt lên, rốt cuộc tôi chỉ đụng được cái đuôi nó thôi. Ðúng đồ chuột! Hắn dzọt rồi!

Con người cũng có thể trở thành chuột. Nếu họ chỉ biết hành động giống như loài chuột thì sẽ thành chuột ngay, chẳng cần phải đợi đến kiếp sau. Thành chuột không đuôi ngay ở đời nầy.

 

Ngày 28 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Chúng tôi tiến qua vùng Hemlock và thung lũng Pleasant, dọc theo xa lộ trong đất liền, và hướng về thành phố Tillamook, nơi nổi tiếng sản xuất pho mát (cheese). Hôm nay vùng nầy đang có cuộc bầu cử, nên hồi sáng sớm chúng tôi đã bị một cụ ông tóc đã bạc phơ, đang trên đường đi bỏ phiếu, cằn nhằn là tại sao chúng tôi không chịu đi bầu. Lúc xế chiều, ông bà Kleins từ quận Portland đến tận ngọn đồi để thăm chúng tôi một lần nữa.

Tuần rồi tôi có đề cập về vấn đề dục vọng, nên nay lại bàn thêm. Khi chúng tôi đọc kinh điển và được Sư phụ giảng dạy rõ ràng, thì hiểu rằng dục vọng nó có thể giả dạng dưới trăm hình vạn tướng, không những chỉ che lắp cái trí tuệ sáng suốt sẵn có của chúng ta mà nó còn gây ra lắm điều phiền não. Ví như khi thấy khối kẹo hơn ba mươi bốn ký lô (75 pounds) thì lòng tham muốn nổi vọt lên, nhưng lúc đó Sư phụ đã làm thinh để tự chúng tôi học lấy bài học kinh nghiệm của chính mình.

Không đạt được điều mình ham muốn thì chúng ta thất vọng. Thâu nhận những gì không ưa thích thì chúng ta hờn giận. Chúng ta có lẽ đã bỏ nhiều công sức, thời gian và tiền bạc để có được những vật chất đẹp đẻ, nhưng sau đó cũng vẫn không hài lòng và phiền não bởi vì lửa ham muốn phừng cháy cao hơn theo những điều ta càng muốn thêm nữa. Và tiếp tục đến vô độ, rồi tự làm hại mình và hại luôn đến kẻ khác.

Ðiều nầy cũng không dễ gì chấp nhận được đâu, như đa số người tin theo Phật pháp một cách nghiêm túc mà vẫn chưa chịu dứt khoát đoạn dục. Lại có người cho rằng đoạn dứt lòng tham không có ích dụng gì cả: "Tại sao tôi không nên hưởng thụ chớ?"

Lão tử đáp:

Phu duy bệnh bệnh, thị dĩ bất bệnh.

Thánh nhân bất bệnh, dĩ kỳ bệnh bệnh,

Thị dĩ bất bệnh.

Nghĩa là:

Chỉ khi nào ta biết được những tật bệnh của mình thì ta mới hết bệnh.

Thánh nhân không bệnh bởi đã rõ bệnh tật mình nên không bệnh.

Ðây là điều bí quyết của sự khỏe mạnh.

Tật bệnh là dục vọng. Vì đã không chấp nhận rằng ta đau khổ vì nó, nên ta không tìm cách loại bỏ nó để được mạnh khỏe. Cũng như có người không tin mình bị ung thư, thì sao y lại đến gặp bác sĩ để chữa trị chớ?

 

Ngày 29 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Tôi thức dậy trước khi mặt trời ló dạng và lễ lạy được một lúc, rồi tạm ngừng ngồi nghỉ dưới chân cầu. Mười phút sau tôi lại tiếp tục, nhưng bỗng nhiên bụng đau nhói, nên tôi trở lại phía chân cầu để nghỉ thêm chút nữa, thì khám phá ra mình đã bỏ quên quyển sách gồm những bài Chú mà tôi tụng niệm. Bụng tôi chẳng mấy chốc hết đau.

Khi gần đến vùng Tillamook, chúng tôi gặp hàng mấy chục bạn bè thân thiện. Nguyên là cô Linda Glass hướng dẫn một chiếc xe chở đầy học trò đến gặp chúng tôi. Nhớ lời mời lúc trước, chúng tôi ghé lại giáo đường Sacred Heart Parish để thăm Cha Gerald, rồi được Cha đưa đến viếng một trường trung học, và chúng tôi có buổi nói chuyện với đám học sinh lớp mười. Lúc chúng tôi dứt lời, Cha Kenneth, Mục sư phụ tá hướng dẫn cả lớp cầu nguyện: "Nguyện cầu cho hai ông nầy tìm được bình an trong đức Chúa Giê su của chúng ta, A Men."

Chúng tôi đi qua khu phố một mạch mà không có vấn đề gì (tuy có một chiếc xe cảnh sát lúc nào cũng qua lại đó đây). Chúng tôi nghỉ lại đêm tại nhà ông Ted và bà Ivy Mullan. Thật là một đêm ngủ an lành. Ông Ted cứ muốn đưa chúng tôi lên chiếc máy bay do chính tay ông làm, nên chúng tôi thay phiên từng người một leo lên để ông lái. Khi bay cao khoảng ba ngàn feet (hơn 900 mét) về hướng bắc, nhìn xuống lộ trình tương lai của chúng tôi, thấy không gì hơn mà chỉ toàn là bờ biển và xa lộ chạy dài mút mắt.

 

Ngày 30 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Do viết:

Hôm nay khi chúng tôi đang trên đường dọc theo vịnh Tillamook về hướng bắc, thì có nhóm hội sinh viên thuộc ban Công Dân của đài radio trong vùng cho chúng tôi những ly trà nóng. Khu vực nầy có tới khoảng hai trăm hội viên, họ nói rằng các đường dây liên lạc lúc nào cũng bận rộn theo dõi địa điểm lộ trình của chúng tôi.

Ðến gần vùng Garibaldi, có chú em hỏi chúng tôi có phải là những ông Sư Thiếu Lâm không? Chắc em nầy coi phim công phu trong truyền hình nhiều lắm rồi. Chú bé không chút ngại ngùng khoe khoang bảo là rất hãnh diện khi đã đánh hạ được thằng bạn trong trường. Thấy rõ em rất say mê tuồng phim mạo hiểm của một ông Sư tứ cố vô thân sống ở miền Tây Mỹ vào thế kỷ thứ mười chín. Chuyện phim được trích dẫn hay đúng hơn là trích dẫn sai lầm những triết lý của Lão Tử và Khổng Tử, vậy mà tuồng phim rất được mọi người ưa chuộng. Nhưng nếu ta nhìn thủng lớp vỏ trá hình triết lý Ðông Phương, thì đây cũng chỉ là trò biểu diễn đánh đấm bạo động hàng tuần trong đài truyền hình mà thôi.

Trẻ con huân tập xem những chương trình như vậy giờ nầy qua giờ khác, hết ngày nầy đến ngày khác, ngay cả trước khi chúng biết nói biết đi. Cho nên, các em bị đầu độc và cho rằng bạo động là phương pháp để thành công. Và tại sao? Vì những người quảng cáo tham lam muốn nó được xen kẽ bởi những mục quảng cáo kích thích để bán các sản phẩm của họ. Là vì nếu chuyện phim có hấp dẫn được nhiều người xem, thì sẽ có dịp thấy luôn sự cổ động quảng cáo kèm theo đó. Tôi không phải là chuyên viên thông truyền gì cả, nhưng chỉ muốn minh bạch cho thấy rõ vấn đề trẻ con phải chịu ảnh hưởng bởi sức thu hút mạnh mẽ nầy. Và đến khi chúng lớn lên không sao tránh khỏi sự trả giá quá đắt, để được thỏa lòng tham lam của người quảng cáo. Tôi không biết các nhà soạn giả tuồng công phu có để ý là Lão Tử mà họ thường lấy làm dẫn dụ trong chuyện phim đã nói: "Người hung hăng bạo động sẽ bị tận diệt trong cảnh bạo tàn."

Ông bà Blackwell ở Garibaldi sắp đặt phòng cho chúng tôi về nghỉ ở nhà họ.

 

Ngày 31 Tháng 5 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Lúc đi qua vùng Rockaway, có hàng trăm người đến hỏi chuyện, kể cả một anh cảnh sát trưởng thân thiện. Chúng tôi nhận thấy phương pháp tốt nhất liên quan đến việc chúng tôi làm là nên diễn giải với mọi người theo đúng danh từ tôn giáo của chính họ. Khi đạo Phật từ Ấn Ðộ chuyển nhập đến Trung Hoa đã bị biến hóa lẫn lộn vào những ngôn từ, tư tưởng của đạo Khổng và đạo Lão, để rồi hợp nhất tất cả thành một phái không thể tách rời được. Chúng tôi cũng nhận ra rằng sau những lần tiếp xúc, thật không ích gì nếu cứ cãi lý với người về tôn giáo tín ngưỡng. Nếu có người đã quyết lòng muốn đến thuyết phục chuyển hóa chúng tôi thì họ sẽ không cảm hứng gì để nghe những ý kiến của chúng tôi. Cho nên điều tốt nhất trong hầu hết các trường hợp là chỉ nên giữ thái độ thân thiện với họ là hơn, tuy tôi rất mong có thể san sẻ được với họ là tôi không tin vào vấn đề đúng sai. Tôi nghĩ rằng tất cả tôn giáo đều có giá trị và đều phục vụ nhu cầu con người như trong lúc họ tăng trưởng đời sống tâm linh. Chính đạo Phật cũng chỉ là nấc thang để bước qua. Ðức Phật so sánh giáo lý của Ngài như một chiếc bè, chỉ tồn tại để đưa giúp người qua đến bên kia bờ. Tuyệt vời biết bao nhiêu nếu chúng ta đừng vội vàng phân loại lẫn nhau vào những phạm trù hư cấu do những định kiến sai lầm.Thật ra con người rất phức tạp và cũng rất đặc sắc, thì làm sao mà phân loại một cách vô lý như vậy được.

 

Ngày 1 Tháng 6 Năm 1974. Hằng Do viết:

Con đường quanh co dẫn theo vịnh Nehalem, vùng đất bị trũng xuống sình lầy toàn rong biển và những khúc cây trôi tấp trên bãi đất cát. Những dãy đồi thấp thoáng lờ mờ xa tít về hướng tây.

Vào buổi chiều, chúng tôi đi theo lối quẹo xuống đồi để vào một khu phố nhỏ vùng Wheeler, nơi đây hình như mọi người đang vây quanh chờ đợi để được nhìn chúng tôi lễ lạy ngang qua. Ông chủ tiệm tạp hóa trong phố bảo chúng tôi cần gì thì cứ tự nhiên mà lấy, nên chúng tôi chỉ xin một cái dao cạo râu. Sau một lúc nghỉ xả hơi, cậu cháu trai của ông chủ tiệm nầy đã từng là chủng viên của tu viện Thiên Chúa Angel, đến phỏng vấn chúng tôi cho bài báo của thành phố. Anh ta đã hỏi mấy câu rất chí lý.

Trong cuộc phỏng vấn, anh nầy một đôi lần cứ than phiền: "Triết lý của các ông phức tạp quá."

Ðáng tiếc thay, những cố gắng của tôi để diễn tả một cách giản dị những lý căn bản của nghiệp quả, luân hồi và giác ngộ đã làm đối phương phản đối. Tôi bắt đầu cảm thấy hết phương cách, và thất vọng bởi vì tôi càng giải thích đơn giản hơn thì những đối nghịch càng gút mắc vào tâm người phỏng vấn. Cuối cùng cảm thấy mất thời giờ quá nên tôi nói: "Thôi mình đi sư huynh ơi!"

Chúng tôi được một chú bé dẫn đường lên cánh đồng cỏ ở ngọn đồi cao phía trên thành phố để nghỉ qua đêm.

 

Ngày 2 Tháng 6 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Lễ lạy sáu dặm dưới cơn mưa bão vùng Oregon cũng không tất yếu là điều khó thực hành cho lắm. Tôi chẳng để ý gì đến nước ngập, và sau một lúc, nó hầu như không thực có ở quanh đây. Thật ra, lúc nầy cảnh vật rất yên tỉnh nên đáng được thưởng ngoạn. Chúng ta sẽ thấy mưa tưới nhuần cây cỏ và làm cho tất cả cảnh vật trở nên tươi mát sạch sẽ hơn. Ðáng tiếc thay, vì hầu hết mọi người đều chạy vội vào nhà khi thấy mưa rơi. Thật là đáng tiếc cho họ đã bỏ lỡ dịp rồi!

 

Ngày 3 Tháng 6 Năm 1974. Hằng Do viết:

Chúng tôi lạy ngang qua hai khu phố Helalem và Manzanita, rồi tiến thẳng luôn lên ngọn núi Neshkahnie cao khoảng 1700 bộ (hơn 500 mét). Và hiện cắm trại ở vùng công viên Oscar West State hoang vu vắng vẻ, gần về phía ranh giới vùng Tillamook Clatsup. Lưng của sư huynh bị đau nhức và vì trời mưa, nên chúng tôi có phần hơi chậm rãi, nhưng có điều an ủi khi biết rằng chúng tôi đã đi qua được 776 dặm đường rồi. Mặc dù trong chuyến đi có xảy ra bao chuyện cay đắng, nhưng hình như nó lại có cái gì thật tràn trề tuyệt diệu. Có lẽ đó chỉ là tánh cao hứng tự nhiên do cuộc sống ngoài trời đã quá lâu, đôi khi những ảo tưởng của tự do nầy lại là những khuyến khích để tiến lên.

Trong cuộc đời, chúng ta có thể đi đến bất cứ nơi nào mình muốn, làm những gì theo sở thích, nhưng bất kể là đi đâu đi nữa, chúng ta cũng vẫn còn là những tên tù bị giam hãm trong vô minh của chính mình. Nhưng có điều được chỉ dạy là nếu theo con đường của các vị tiền bối Thánh nhân đã từng đi, thì chúng ta sẽ nhìn thấu rõ được những vô minh của chính mình, và đến những nơi mà chúng ta không bao giờ biết đến có sự tồn tại nữa. Chúng ta được bảo rằng đừng để mắt vào cuộc đời ngắn ngủi, cái ảo tưởng tự do của cuộc sống không giới luật, mà phải nhìn vào sự tự do chân thật phát sanh từ sự dụng công lâu dài và lòng hy sinh.

Thật thú vị thay khi nghĩ rằng chuyến bái hương nầy có nhiều ý nghĩa hơn là một cuộc du hành chỉ để đến Seattle. Càng thấy rõ đối với những người chúng tôi gặp, dù là những ân nhân giúp đỡ hay những kẻ muốn hãm hại, tất cả đều có liên quan trong chuyến đi cũng như chúng tôi vậy thôi. Cuộc đời của mỗi chúng ta có lẽ thể hiện qua tướng mạo cá nhân riêng rẽ, nhưng dưới lớp của dòng ý thức thì chúng nó có sự liên hệ theo nghiệp duyên, giống như những chùm rễ chằng chịt của cây đa to lớn. Những việc thiện trong hiện tại là những kết quả phước lành trong tương lai. Ví dụ điển hình là những vị khất sĩ ở các quốc gia Phật giáo, họ là ruộng phước điền để mọi người gieo trồng những hột giống lành. Cúng dường thức ăn cho các vị khất sĩ, tức là họ đang nuôi dưỡng công đức cho chính mình.

Chuyến đi nầy xem như chỉ là một cuộc tản bộ đến Seattle, nhưng nếu chúng ta thực hiện với tư cách chân chánh thì nó là một lối đi tương tợ vững chắc, như con đường các bậc tiền bối tu hành đã đi qua. Những bậc cổ đức nầy đã bỏ lại sau lưng sự vô minh u tối và đã thật sự đi đến sự tự do cứu cánh. Các Ngài cũng đã gây ảnh hưởng, giúp đỡ và hướng dẫn vô số chúng sanh cùng nối gót để đi đến giải thoát. Ý nghĩ thú vị lướt qua tâm tư như những giọt mưa lạnh lẽo đang rỉ thấm vào lều.

 

Ngày 4 Tháng 6 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Vì trận bão quá lớn nên hôm nay chúng tôi tạm nghỉ. Chỗ dựng lều nằm chơ vơ giữa những nơi không chỗ nào là không bị nước rịn chảy ướt ở Oregon nầy. Vì tối qua chúng tôi không đào sâu những đường rãnh, nên bây giờ cả lều như đang từ từ chìm lặn xuống nước. Một phần phía sau lều đã bị tràn ngập thành vũng. Không những chỉ vậy thôi, mà trong lúc tôi đang loay hoay mồi đốt cái lò SVEA, vô ý làm bắn văng một ít dầu hôi khiến cháy lủng một lỗ to tướng trên cái bồ đoàn của mình. Phựt cháy trong mấy giây, cả lều trong giống như sắp bị thiêu rụi. Cho nên việc mồi lửa cho cái lò dầu SVEA ở trong lều nên dành cho những ai có tâm hồn dũng mãnh, đã dứt bỏ được vòng sanh tử luân hồi rồi thì mới nên làm. Và sau khi cái lò oái oăm nầy cháy được, tôi nấu bột lúa mạch cũng bị khét khê. Năm phút sau đó tôi lại làm bể cái chai đựng muối, văng tung tóe khắp lều cũng cả nửa tách muối. Ngày gì mà kỳ cục quá! Coi như chúng tôi lại khờ khạo chìm nổi bấp bênh trong biển phiền não của chính mình.

Có câu nói rằng, nếu người nào không phiền não thì đã là giác ngộ. Nhưng biển phiền não thì mênh mông vô cùng tận. Nhớ lại khi ở Kim Sơn, có một thời hình như mỗi lần tôi nổi hứng kiêu ngạo, hoặc lười biếng giải đãi, hay có những ý nghĩ phiền não là sẽ nghe tiếng cửa phòng Sư phụ đóng mạnh lại. Tình trạng đó thật kỳ lạ, vì nó xảy ra như vậy cả hàng trăm lần. Tôi tự nghĩ: "Chuyện nầy khó tin quá! Ai có ngờ rằng một vị Thầy lại có thể dạy đệ tử bằng cách đóng mạnh cửa như vậy sao?" Nhưng tin hay không, sự giáo hoá của Ngài là như vậy đó. Tâm tư tôi chẳng còn gì để nghi ngờ nữa. Sự biểu hiện của Sư phụ bằng cách đóng cửa phòng đã đủ mạnh trong nhiều trường hợp khiến tôi sửa đổi tư tưởng và tánh tình được khá hơn. Tóm lại, phương pháp nầy rất có hiệu lực.

 

Ngày 5 Tháng 6 Năm 1974. Hằng Do viết:

Bãi biển Cannon: mưa, đồi, đường lộ khúc khuỷu và một đường hầm.

Kéo chiếc xe lên đồi như cố lôi mình ra khỏi việc làm không hứng thú. Kềm hãm chiếc xe xuống dốc tựa hồ như cố gắng kềm lòng đừng quá ham vui. Ði kéo theo chiếc xe trên lề đường thì giống như tương hợp với vũ trụ vậy, không có ý nghĩ về xe kéo hay có người đang kéo xe. Không có gì quan trọng để biết rằng dù đang xuống đồi nghiêng mình theo chiều dốc, hay nương theo dốc để lên đồi. Con đường tôi nhìn thấy là con đường trung đạo, bao gồm tất cả các giai cấp và mọi hoàn cảnh đưa đến, chỉ xem chúng đồng hạng bình thường cả. Kéo xe lên đồi rất dễ sanh quạu quọ, vì việc làm nặng nhọc lại chậm chạp. Xuống đồi lại tuột dốc quá nhanh nên cũng dễ mất sự bình tỉnh. Cho nên trong sự tu tập: dù phải chịu đựng đau nhức lúc tọa thiền trong tư thế kiết già, hay đang thưởng thức bữa ăn tuyệt hảo, tâm ta không nên bị dao động. Quán sát xem đó chỉ là dãy đồi thay đổi không chừng theo từng lớp của địa thế, lạc thú hay đau khổ gì rồi cũng được biến chuyển tùy ở cái tâm thanh tịnh và sáng suốt. Ðây là sự học hỏi của tôi về định lực.

 

Ngày 6 Tháng 6 Năm 1974. Hằng Cụ viết:

Hôm nay có anh