Lá Thư Thầy
Tỳ Kheo Viên Minh
---o0o---
[31]
Ngày..... tháng ..... năm
.....
L. con,
Cách đây gần một năm
khi con đến vấn đạo, Thầy nhớ là đã phân tích những
nguyên nhân của phiền não khổ đau và con đường đi đến
giải thoát ra khỏi những trói buộc ấy. Một cách tóm tắt,
con đường đó là một đời sống sáng suốt, định tĩnh và
trong lành. Hôm nay Thầy nhắc lại một số nét chính yếu
để con nắm vững nguyên lý đời sống giác ngộ.
Ðời sống bao gồm hai
phương diện: ngoại cảnh và nội tâm. Có những tác động
từ bên ngoài do những định luật khách quan về vật lý,
xã hội, thời tiết, thiên nhiên, và cả siêu nhiên nữa.
Có những tác động từ bên trong do những định luật khác
về sinh lý, tâm lý, nghiệp báo v.v... Hai mặt trong và ngoài
tương giao qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Khi sự tương
giao này diễn ra trong mê mờ (vô minh) thì sẽ phát
sinh vọng động (ái dục, hành) và tạo thành một chuỗi
nhân quả liên quan (duyên khởi). Khi sự tương giao này
diễn ra trong sáng suốt (tuệ) thì nội tâm được trầm
tĩnh (định) và đời sống trở nên trong lành (giới).
Có hai loại người, một
là người có nội tâm phụ thuộc vào hoàn cảnh. Họ bị
ngoại cảnh thu hút, cuốn trôi, ràng buộc và nhận chìm, tất
nhiên là họ phải gặt lấy những hậu quả bất an. Hai là
người có nội tâm không lệ thuộc vào ngoại cảnh, họ sống
tự chủ, tự tại, an nhiên, thanh tịnh và dĩ nhiên hưởng
được đời sống thanh thoát.
Sự tác động của ngoại
cảnh gọi là duyên, chủ định của nội tâm gọi là nhân.
Với người bị ngoại cảnh chi phối thì duyên lôi cuốn
nhân, với người không bị ngoại cảnh chi phối thì nhân
thắng được duyên, tuy tùy duyên mà vẫn tự chủ.
Tùy duyên có nghĩa là
thuận theo hoàn cảnh. Như vậy phải là một người có
nhân vững vàng (nội tâm ổn định, sáng suốt, tự chủ)
thì mới có thể tùy duyên, bằng không sẽ bị duyên lôi cuốn
hoặc chạy theo duyên, nghĩa là nhắm mắt đưa chân, vui đâu
chúc đó, thiện ác theo người, không phân tà chánh, đó là
người phóng dật.
Tùy duyên còn có một
nghĩa khác là tùy lúc tùy nơi mà xử sự ứng tiếp, để có
thể tùy sở trụ xứ thường an lạc. Khổng giáo
cũng dạy "tùy cảm nhi ứng, tùy ngộ nhi an".
Vậy tuy tùy duyên mà vẫn bất biến mới là tùy duyên một
cách đúng đắn.
Hoàn cảnh có xấu, có
tốt, có thuận, có nghịch, phải luôn luôn sáng suốt, định
tĩnh, trong lành thì mới đủ sức bén nhạy để tùy cảm
nhi ứng, tùy ngộ nhi an. Chỉ cần thiếu tỉnh thức (chánh
niệm, tỉnh giác) là bị chìm vào biển trùng trùng
duyên khởi ngay.
Nhưng xấu tốt, thuận
nghịch không căn cứ ở vừa lòng hay không vừa lòng; cái
gì vừa lòng chưa hẳn đã tốt, cái gì trái ý chưa hẳn đã
xấu. Thường người đời xử sự theo tư kiến, tư dục nên
họ lấy thước đo vừa lòng và trái ý của họ để làm
chuẩn, và như thế thì không thể tránh khỏi sự va chạm với
những người chung quanh, vì tư kiến, tư dục của mỗi người
mỗi khác.
Cùng một hoàn cảnh
mà mỗi người xử sự mỗi khác, đưa đến hậu quả, dĩ
nhiên cũng ở mỗi người khác nhau. Sở dĩ như vậy là vì
sự tương giao giữa nội tâm và ngoại cảnh diễn ra trong
mê mờ (vô minh, không tỉnh thức) đã phát sinh những
vọng động (ái dục) sai khác.
Không thể điều chỉnh
sự dị biệt, mâu thuẫn này giữa con người bằng cách
thay đổi hoàn cảnh, vì nó chỉ là điều kiện phụ (duyên),
mà phải thay đổi nội tâm (nhân).
Ðiều chỉnh nội tâm
không phải là ép buộc nó phải theo một khuôn mẫu nào mà
ta đã chủ định, vì như thế là vẫn còn theo tư kiến,
tư dục, và chắc chắn vẫn tạo hố sâu cách biệt với người
khác.
Nội tâm sẽ biết
cách tự xử thích ứng với hoàn cảnh khi ta để cho nó
được tự do thư thái nhất, nghĩa là để cho nó được sáng
suốt - định tĩnh - trong lành.
Ðừng hiểu tự do tâm
linh theo nghĩa buông thả cho nó muốn làm gì thì làm, vì như
vậy có nghĩa là tự trói buộc sâu dày vào vô minh, ái dục,
đúng vậy không?
Khi con không thích hợp
với ngoại cảnh, với những người chung quanh, không có nghĩa
là hoàn cảnh nghịch với con (nghịch duyên). Khi con
thích hợp với ngoại cảnh, với những người xung quanh,
cũng không có nghĩa là hoàn cảnh thuận với con (thuận
duyên).
Tác động từ ngoại cảnh được đánh giá
thuận hay nghịch theo hai cách:
1. Theo cách nhìn của
tư kiến, tư dục, tức như Thầy đã nói, cái gì vừa
lòng là thuận, cái gì trái ý là nghịch. Ðó là cách
nhìn thế tục.
2. Theo cách nhìn của
đạo thì tác động ngoại giới nào làm tăng trưởng
điều bất thiện như: dục, ái, tham, sân, hận, oán thù,
dao động, xáo trộn, phóng dật, ích kỷ, ngã mạn v.v...
Nói chung là tham, sân, si thì đó là nghịch duyên, dù nó
có đem lại cho ta cái gọi là hạnh phúc, an lạc trần thế.
Với nghịch duyên này ta phải thận trọng, cảnh giác,
phòng hộ, giữ gìn đừng để nó lôi cuốn ta vào bất
thiện và hậu quả là bất an, đau khổ.
Tác động ngoại giới
nào làm tăng trưởng thiện pháp như: không tham, không
sân, không si, từ, bi, hỷ, xả, vị tha, định tĩnh, hiền
thiện, khinh an, thư thái, chánh trực, nhu hòa v.v... thì đó
là thuận duyên, dù nó có đem lại thiệt thòi đau khổ về
mặt vật chất.
Có những hạnh phúc trần
thế chỉ làm cho ta mất đi niềm an lạc thật sự của tâm
hồn. Trái lại có những thiệt thòi đối với thế giới bên
ngoài lại là niềm hạnh phúc của nội tâm. Vì không thấy
chân lý này con người luôn chạy theo sự vừa lòng đối với
ngoại cảnh mà họ cho là hạnh phúc, nhưng như Nikos
Kazantzaki nói "mảnh đất bình an chỉ có trong tâm
hồn bạn" thì quả đúng là "tâm hồn tịch
tịnh là hạnh phúc tối thượng" (Santç
paramamû sukhamû).
Như vậy vấn đề không
phải ở chỗ làm thế nào để thích hợp với hoàn cảnh,
với những người chung quanh, mà vấn đề là nội tâm ta
có thật sự tự do, nghĩa là có thật sự sáng suốt, định
tĩnh, trong lành hay không mà thôi.
Khi ta không cần cố gắng
tìm cách thích ứng với hoàn cảnh, mà chỉ cần một nội
tâm ổn định, trong sáng và tỉnh thức, thì lúc đó ta lại
thấy dễ dàng thích ứng với hoàn cảnh một cách chính
xác và tự nhiên hơn. Nghĩa là tâm ta sẽ biết cách thích
ứng tùy theo hoàn cảnh thuận hay nghịch. Tuy thích ứng nhưng
không nhất thiết phải thuận theo hoàn cảnh, vì dù thuận
hay nghịch thì nội tâm vẫn được tự do.
Nhân (nội tâm) tốt
có nghĩa là không bị lệ thuộc vào duyên (hoàn cảnh),
độc lập trong mọi điều kiện; vì vậy mà ở trong điều
kiện (thuận hay nghịch) nào cũng không mất tự tánh.
Nếu thích ứng được hiểu theo nghĩa này thì mới nên
thích ứng.
Tóm lại, con muốn
thích ứng với hoàn cảnh, với những người chung quanh, thì
trước hết con phải:
1. Sáng suốt biết
rõ thân tâm mình trong mọi hành vi động tịnh, từng giây
từng phút. Nếu quên mình thì phải sớm tự tỉnh thức.
2. Trầm tĩnh và chú
tâm vào chính mình, đừng để tâm buông lung vọng động
theo ngoại cảnh, vẫn giữ sự chú tâm định tĩnh bên
trong. Nếu có vọng động thì chú tâm vào chính vọng động
đó, sẽ định tĩnh lại ngay.
3. Khi hành động, nói
năng, suy nghĩ hay không thì thân khẩu ý đều phải hiền
thiện, chánh trực hợp đạo lý. Nếu có tà ý liền tinh
tấn chú tâm tỉnh giác thì tâm sẽ tự trở về đường
ngay. Nếu con giữ được tâm bình hạnh trực
như thế, thì con sẽ thấy dù cho không cần thích ứng,
nó vẫn thích ứng dễ dàng và chính xác. Trái lại nếu
con chỉ cố gắng thích ứng bên ngoài thì con sẽ bị tha
hóa, tự đánh mất mình.
Ngoại cảnh tuy là
duyên, là phụ, nhưng với người nội tâm (nhân)
không vững, thì nó vẫn có một sức cuốn hút (cả thuận
lẫn nghịch) rất mãnh liệt có thể làm xáo trộn, hủ
hóa, tha hóa hoặc hỗn loạn nội tâm. Chính vì thế mà nội
tâm phải luôn luôn sáng suốt, định tĩnh, trong lành. Mong
con thấy ra điều đó.
Chúc con mạnh khỏe và
sống một đời sống nội tâm vững vàng trong thời gian
công tác ở hải ngoại.
Thầy.
[32]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
H.T
Trước hết Sư bá nói
để con yên tâm là Sư bá đã chấp nhận yêu cầu của con,
kể từ nay Sư bá có trách nhiệm hướng dẫn tinh thần và
đạo lý cho con. Còn con, con hãy lấy đạo làm lẽ sống của
mình, hướng về nội tâm hơn là ngoại cảnh.
Nhận thức của con đã
sâu sắc rồi đó, những điều con nhận xét đều đúng. Sư
bá chỉ lưu ý con là đừng để những sai trái của người
khác làm vướng bận tâm mình là được.
Câu hỏi của con về
chuyện vi tiếu "Tu sửa" rất hay, ít người
hỏi Sư bá về những chuyện vi tiếu ấy. Những câu chuyện
ngắn gọn đó tuy không có ẩn ý gì nhưng nếu không nhận
ra ngay được thì rất dễ hiểu lầm.
Câu chuyện thế này (Sư
bá nhắc đại ý):
"Có người hỏi:
-
Tu có phải sửa không?
Thiền sư nói:
-
Không.
-
Vậy là không sửa?
-
Cũng không.
-
Như thế phải làm sao?
Thiền sư trả lời:
-
Không sửa thì kẹt cái này, sửa thì thành ra cái
khác."
Trong câu chuyện con để
ý là Thiền sư không hề trả lời đúng hay sai, vì như vậy
là đã xác định. Thiền sư chỉ nói "không"
với dụng ý làm người hỏi ngạc nhiên và chú ý. Từ ngạc
nhiên gây chú ý của chữ "không" đầu
đẩy người hỏi vào suy luận thứ hai. Thiền sư đã chờ
sẵn để bồi thêm một chữ "không" nữa
nhằm tuyệt đường suy luận của người hỏi. Nhưng với
hai lần phủ định Thiền sư vẫn chưa đẩy người hỏi vào
chỗ tuyệt đường suy luận của lý trí được. Lý
trí vốn đa nghi và bất an nên vẫn loay hoay tìm cầu kết
luận qua câu hỏi thứ ba. Thiền sư biết rất rõ điều đó,
nên đã không đưa ra một kết luận nào nhất định để lý
trí có thể bám víu được, mà chỉ nói: "không sửa
thì kẹt cái này, sửa thì thành ra cái khác". Bởi
vì vấn đề không phải ở chỗ sửa hay không sửa, mà có
thấu rõ được cái trung tâm tạo ra nhu cầu sửa đó hay
không. Nếu sửa hay không sửa đều là hành động phát xuất
từ cái ta thì rốt cuộc cũng chẳng có gì mới
lạ.
"Vi tiếu"
hoặc các công án thiền đều nhằm mục đích đẩy
khối lý trí vọng thức vào chỗ tuyệt đường.
Tuyệt đường thì đi về đâu? Tuyệt đường thì không hướng
ra bên ngoài, mà trở về với chính mình, thấy rõ chính
mình như mình đang là. Giây phút hồi đầu đó Ðức Phật
gọi là chánh niệm tỉnh giác. Các Thiền sư
Trung Hoa gọi là ngộ, kiến tánh, thấy bản
lai diện mục. Lão Tử gọi là kiến tố,
phục mệnh v.v...
Những thành ngữ
đương xứ tức chân, bất động hiện quán,
diệu trạm tổng trì, tuyệt thánh khí trí...
hoặc Sanditthiko, Akàliko, Ehipassiko, Opanayiko,
Paccattam veditabbo vinnùhi... đều chính là tỉnh
thức, là thắp sáng chính mình hoặc Sư bá
gọi là sáng suốt, định tĩnh.
Ðể con dễ hiểu, Sư
bá cho một ví dụ: Giả sử con đang sân, nếu con không tu sửa
thì chẳng lẽ cứ để sân hoài, cứ mặc cho tâm sân lôi
cuốn, đầu hàng vô điều kiện? nhưng nếu con loay hoay tu sửa,
mong đạt một trạng thái đối nghịch là không sân, tức
là con bực mình với cái sân của mình, làm cho nó càng sân
thêm. Nếu sửa được thì giận hóa thành mừng, buồn hóa
vui, có khi thành thỏa mãn, ngã mạn... Nghĩa là thành ra một
trạng thái khác, mà tính chất vẫn là bản ngã.
Vậy phải làm sao? Cốt
tử là ở chỗ đó. Giản dị thôi, bây giờ con chánh niệm
tỉnh giác, thắp sáng cái sân của con lên ngay chính cái
lúc nó đang hiện diện. Lúc đó thật ra không còn là sân nữa,
mà là trí tuệ, là sáng suốt, định tĩnh, trong lành. Vấn
đề đã được giải quyết mà không hề nói đến sửa hay
không sửa.
Chánh niệm tỉnh giác
là không sửa mà vẫn được sửa nên không kẹt cái này,
không thành ra cái khác. Tu thật ra đơn giản chỉ là như vậy.
Bể khổ mênh mông, vấn
đề không phải là sửa hay không sửa, mà phải biết hồi
đầu. Tất cả lỗi lầm đều do lý trí vọng thức mà hướng
ra ngoài. Hồi đầu, tức chánh niệm tỉnh giác, là bến. Hồi
đầu là không buông trôi theo lý trí vọng thức, cũng không
chống lại nó mà quay lại nhìn thẳng vào lý trí vọng thức,
vào lỗi lầm đang khởi sinh và đang tự diệt cho nên ngay nơi
sinh diệt mà giác ngộ giải thoát.
Tóm lại, người không
tu thì đành thúc thủ trong luân hồi sinh tử, phiền não khổ
đau, người loay hoay tu sửa thì lại chạy theo hình bóng lý
tưởng của bản ngã vẽ vời, tuy không thúc thủ nhưng có
vùng vẫy cũng không ra khỏi trầm luân. Chỉ có người tỉnh
thức, không đến không đi mà vẫn ung dung tự tại.
Mong rằng "vi tiếu"
đó giúp con thấy ra con đường tu tập của mình.
Sư bá.
[33]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
D.T con,
Trong thư con có hỏi Thầy
về một triệu chứng khi chánh niệm tỉnh giác là cảm thấy
trơ cứng, khô khan và giả tạo trên đối tượng sở quán.
Con đừng ngại, rất nhiều người có cảm tưởng đó, tất
nhiên là có lý do, nhưng trước hết con đừng chán nản dao
động, cứ tiếp tục chánh niệm tỉnh giác rồi mọi sự sẽ
được giải quyết và hiểu rõ.
Lý do sinh ra triệu chứng
đó có thể là:
1) Lúc đầu chưa quen
nên thấy gượng gạo, giống như người mới tập lại xe
có vẻ luống cuống, trơ cứng.
2) Cố gắng quá mức
đâm ra không được thoải mái nên dễ đưa đến căng thẳng,
mỏi mệt và chán nản.
3) Chú ý quá nhiều
đến chi tiết hay ngoại tướng của đối tượng nên thấy
nó có vẻ khô khan, giả tạo không tự nhiên.
Ví dụ như khi con quán
sát hơi thở con có thể làm cho hơi thở mất tự nhiên, giả
tạo và thô cứng. Do muốn thấy thật rõ con đã vô tình
hay cố ý bắt hơi thở phải chậm lại, sâu hơn, mạnh
hơn, thế là con nhanh chóng thấy tức ngực, khó chịu và
mêût mỏi. Khi đi kinh hành cũng vậy, con dễ làm cho bước
chân khựng lại và cảm thấy mất thăng bằng.
Thực ra trong quán niệm,
con càng tự nhiên càng tốt. Và cần nhớ rằng chính yếu
không phải là đối tượng gì mà là cái thấy sáng suốt,
định tĩnh, trong lành của con trên đối tượng ấy. Ðối
tượng chỉ là trợ duyên cho cái thấy phát huy tính soi chiếu
trong sáng trung thực của nó mà thôi. Vì vậy thấy rõ đối
tượng không có nghĩa là phải nắm bắt chi tiết ngoại tướng
của đối tượng mà là thấy tính chất phổ quát của nó,
tức là chỉ cần thấy cốt lỏi tinh yếu là được.
Con nói "có những
lúc con muốn buông ra hết, không cần nhớ, không cần niệm,
không cần hiểu, không muốn biết chi cả cho đầu óc rỗng
rang an nghỉ". Chứng tỏ rằng con đã sử dụng chánh niệm
tỉnh giác sai hướng và quá mức cần thiết để nhận rõ
đối tượng. Chính vì thiếu thoải mái tự nhiên trong
chánh niệm tỉnh giác mà con cảm thấy căng thẳng mệt mỏi
như vậy.
Tuy nhiên, vô tình con vẫn
đi đúng đường, vì chính ngay lúc con buông xả hết là con
đang tu tập một yếu tố quan trọng trong thiền quán Tứ Niệm
Xứ mà ít người để ý, đó là xả dưới hình thức
"buông bỏ tham ưu ở đời" (Vineyya
loke abhijjhà domanassam). Khi đối tượng hấp dẫn con khiến
con ưa thích và dính mắc, đó chính là tham. Nhưng khi đối
tượng làm con bực mình, chán nản, đó chính là sân. Hai
tâm thái tham và sân này làm con mất quân bình. Chữ Xả (uppekkhà)
vốn có nghĩa là quân bình, vậy buông xả tham ưu chính là
môi trường phẳng lặng cho chánh niệm tỉnh giác phát huy
khả năng soi chiếu.
Vì trong khi quán niệm
con quá ham nắm bắt đối tượng (tham) cho nên dễ
sinh ra trạng thái đối nghịch là chán nản (sân), do
đó tâm con mất quân bình không còn là môi trường thích hợp
cho chánh niệm tỉnh giác soi chiếu được nữa.
Con cũng cần nhớ một
điều: buông xả là lập lại quân bình giữa hai thái cực
tham và sân, chứ không phải là buông xuôi vì chán nản, hay
cố gắng loại bỏ tham sân.
Xả cũng còn là một
trong bảy yếu tố giác ngộ (thất
giác chi):
1)
Niệm: là chú tâm trên đối tượng hiện quán,
tức đương xứ của thực tại thân, thọ, tâm, pháp, để
tâm không lãnh đạm quên mình hay tán tâm hướng ngoại.
2)
Trạch pháp: là chú ý sâu sát hơn trên đối tượng
hiện quán để tìm thấy tính chất tinh yếu của pháp mà
niệm chỉ mới ghi nhận. Trạch pháp giúp ta soi rọi khối
thân tâm qua cái nhìn tách bạch rõ ràng và vi tế, nhưng không
phải bằng lý trí mà là trí tuệ trực kiến (nỵànadassana).
Chính nhờ trạch pháp mà ta thấy rõ tính sinh diệt, tính
vô thường-khổ-vô ngã của pháp, thấy rõ yếu tố đất,
lửa, gió v.v... trong sắc, hoặc yếu tố thọ, tưởng, hành,
thức trong danh, để không còn chấp lầm thân tâm này là bản
ngã.
3)
Tinh tấn: là phát động sự chuyên cần, hăng hái
trong thiện pháp nhất là chánh niệm tỉnh giác. Tinh tấn
giúp ta không còn giải đãi thối thất, không tiêu cực lười
biếng, không buông trôi hờ hững. Tuy nhiên tinh tấn phải
đúng mức và tự nhiên, nghĩa là không quá yếu ớt, không
quá gắng gượng hăng say.
4)
Hỷ: là yếu tố làm cho tâm hân hoan, phấn khởi,
vui vẻ khi tiếp xúc với đối tượng, dù thuận hay nghịch.
Hỷ giúp tâm vượt qua trạng thái bực mình, chán nản, bức
xúc, khó chịu, và giúp cho hành giả cảm thấy hứng thụ
trong thời gian hành trì lâu dài mà không mỏi mệt. Ví dụ,
lúc ngồi thấy tê chân hay nhức mỏi mà có yếu tố hỷ
thì vẫn thấy dễ chịu chứ không bị bức xúc, bực bội.
5)
Khinh an: là lắng dịu, thư thái và thư giãn. Yếu
tố này giúp ta vượt qua trạng thái căng thẳng, phấn khích,
dồn nén hoặc cố gắng quá sức, giống như đang bị một
áp lực đè nặng mà tự nhiên nhẹ hẳn đi. Khi đi kinh hành
với tâm khinh an con sẽ cảm thấy thật thanh thản, thong
dong, ung dung, tự tại.
6) Ðịnh:
là trạng thái nhất tâm, tĩnh lặng và an chỉ khi tâm an trụ
vững vàng trên đối tượng, do đó không còn dao động, trạo
cử, hay tán loạn. Ðịnh giúp tâm nghỉ ngơi hoàn toàn và
có khả năng tập trung được năng lực. Nhưng nếu định là
cố gắng tập trung tư tưởng vào một mục đích sở đắc
thì nó có thể không còn là chánh định nữa.
7)
Xả: là trạng thái quân bình của tâm buông bỏ
hai thái cực tham và sân, tức là không ưa không ghét mà chỉ
thản nhiên trầm tĩnh. Có thể nói lúc xả là lúc sáng suốt
nhất chứ không phải rơi vào trạng thái buông xuôi theo nghĩa
vô ký, một tình trạng si mê tiêu cực.
Như vậy, khi con cảm
thấy chán nản, mệt mỏi, thụ động, tiêu cực thì con
nên tu chánh niệm tỉnh giác kèm với các giác chi trạch
pháp, tinh tấn hoặc hỷ để tâm con hưng phấn lên, thoát
khỏi tình trạng trì trệ
Khi con cảm thấy bồn
chồn, dao động, trạo cử thì nên tu chánh niệm tỉnh giác
kèm với các giác chi khinh an, định hoặc xả để tâm lắng
dịu xuống, thoát khỏi tình trạng phấn khích.
Tất nhiên việc tu
hành còn khó khăn gấp ngàn lần công việc chân tay hay trí
óc, vì vậy mà đôi lúc con thấy mệt mỏi chán chường,
nhưng đừng vì vậy mà buông lung bất định. Sống theo pháp
thì tự nhiên pháp sẽ đem lại cho con nhiều an lạc trong cuộc
đời phiền não này .
Chúc con vượt qua được
tình trạng khó khăn hiện tại.
Thầy.
[34]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con thương mến,
Thầy đã nhận được
thư và ảnh của con chụp lúc con đang sinh hoạt tại thiền
đường PZC phái Lâm Tế của một thiền sư người Ðại Hàn.
Thầy sắp đi Huế, sẽ đem thư và ảnh cho các sư thúc cùng
xem.
Trong hình tướng xuất
gia con có vẻ chững chạc lắm, nhưng tính con thì ưa phóng
khoáng tự nhiên mà sinh hoạt thiền đường đó thì có vẻ
nghiêm túc và bài bản quá như vậy, không biết con có
chịu được lâu không?
Con hỏi sau này Thầy có
viết gì thêm không và trong thời gian con xa quê hương, ở
nhà Thầy hướng dẫn Phật tử tu tập có gì mới mẻ không?
Về viết lách thì
Thầy chỉ thỉnh thoảng viết Vi Tiếu để tiêu
khiển, và khi nào có thư thì trả lời cho Phật tử vậy thôi,
chứ chưa viết chuyên đề gì cả. Các sư thúc con có đề
nghị Thầy ghi lại thành sách những khóa giảng giáo lý
tinh yếu ở Huyền Không, Bửu Long, Phật Bảo v.v... để
Thầy xét lại xem.
Còn về việc hướng
dẫn Phật tử thì vì phần đông không kham nổi tinh thần
sống đạo một cách uyển chuyển tự nhiên và sáng tạo
trong tự giác kiểu "vô môn" như hồi
con còn ở nhà, nên Thầy đã tùy căn cơ của những Phật
tử mà chia quá trình tu tập thành nhiều giai đoạn từ dễ
đến khó, từ thấp đến cao khác nhau, để Thầy dễ hướng
dẫn mà Phật tử cũng dễ thực hành.
Con đã biết, chung qui
tất cả các phái thiền Phật giáo từ Nguyên Thủy đến
Tiểu thừa, Ðại thừa, Kim Cang thừa và Thiền tông đều
lấy chánh niệm tỉnh giác làm yếu tố cơ bản, chỉ khác
nhau ở cách vận dụng mà thôi. Nói như vậy có nghĩa là chánh
niệm tỉnh giác có nhiều mức độ khác nhau tùy theo trình
độ của mỗi người.
Theo thiền tuệ quán
Vipassanà Nguyên Thủy của Ðức Phật thì đối tượng của
chánh niệm tỉnh giác phải là pháp có yếu tính là đệ
nhất nghĩa đế (paramattha), thực tại hiện
tiền (sanditthiko), phi thời gian (akàliko),
hồi chiếu (ehipassiko), hướng nội (opanayiko), tự chứng
(paccattam veditabbo) v.v... do đó, nhìn chung, Phật tử ngày
nay ít ai trực tiếp đi vào tuệ quán ngay được.
Như vậy cần phải có
những giai đoạn chuẩn bị cho những Phật tử chưa đạt
tiêu chuẩn chánh niệm tỉnh giác, chưa có thể đi thẳng vào
tuệ quán Vipassanà, như sau:
1.
Giai đoạn nhất niệm.
-
Nếu con là người thuộc căn cơ đức tin thì con có thể
niệm Phật. Ngày đêm giữ một câu niệm Phật cho đến khi
các tạp niệm lắng dịu, ổn định và đưa đến nhất tâm
bất loạn.
Ðối với đức tin hướng
về tự lực, như phần đông Phật tử Nguyên Thủy thì họ
thường niệm một trong 10 ân đức Phật tính, điển hình
như niệm: Araham (Arahatta) là bản lai thanh tịnh, Buddho
(Buddhatà) là tính giác v.v...
Ðối với đức tin hướng
về tha lực, như Phật tử Tịnh Ðộ tông thì họ thường
niệm danh hiệu A-di-đà Phật, hay danh hiệu các Bồ Tát mà
họ tin tưởng.
Ðối với đức tin hướng
về thần lực huyền bí, như Phật tử Mật tông thì họ thường
hành trì một câu chú.
Ðối với đức tin hướng
về bản thể tự tánh, như Phật tử Thiền tông thì họ thường
tham một công án hay một thoại đầu.
-
Nếu con là người có căn cơ về thiền định thì con có
thể dùng một đề mục thiền định, như hơi thở chẳng
hạn, để nhiếp phục tâm.
Mục đích của giai đoạn
này là giúp tâm vượt qua các tạp niệm và phát triển
khả năng chú tâm, một yếu tố cần thiết trong chánh
niệm tỉnh giác.
2.
Giai đoạn tánh niệm.
Trong các pháp môn phương
tiện như niệm Phật, trì chú, tham công án, thiền định
v.v... hành giả có thể bớt được tâm tán loạn nhưng cũng
nhiều người lại bị kẹt vào ngay nơi phương tiện của mình
và trở thành bịnh bị ám ảnh bởi chính câu niệm Phật,
câu thần chú v.v... không sao bỏ đi được. Vì vậy khi nào
thấy tâm đã ổn định thì phải bỏ phương tiện (hồng
danh, thần chú v.v...) rồi soi chiếu lại tự tâm để
nhận ra tánh sáng suốt, định tĩnh, trong lành
tự nhiên của nó. Ðó chính là giai đoạn thấy ra yếu tính
của bản lai thanh tịnh hay tính giác sẵn có nơi mỗi người.
3.
Giai đoạn danh tướng niệm.
Nếu nhận ra được tính
giác hay bản lai thanh tịnh mà không biết sử dụng thì
vẫn bị kẹt vào thể tánh, không phát huy được tướng
dụng để phá vỡ khối tập nhiễm sâu dày của bản ngã
sinh tử luân hồi. Cho nên Ngài Huệ Khả sau khi ngộ tánh nơi
Tổ Ðạt Ma đã trở về ngày đêm mỗi mỗi tự biết mình.
Thể tánh của tính giác là tịch tịnh (Santì),
tướng dụng của tính giác là soi chiếu (Jhàna, jhàyati).
Vì vậy phải đem tính giác soi chiếu lại toàn bộ thân tâm
trong quan hệ với thế giới trong ngoài. Trong thiền Tứ
Niệm Xứ, tính giác tịch và chiếu được hóa thân thành
chánh niệm tỉnh giác, và thế giới quan hệ trong ngoài
của toàn bộ thân tâm chính là thân, thọ, tâm, pháp. Ðây
không còn là phương tiện tham công án để hy vọng thấy tánh,
mà chính là sử dụng ngay tính giác soi chiếu để thâm
nhập vào thực tại hiện tiền, xuyên phá mọi vọng tưởng
ảo giác của vô minh ái dục để đương xứ hiện rõ bổn
nguyên chân như thực tánh (Yathàbhùtà sabhàva) của
pháp.
Tuy nhiên nếu chưa
phải là căn cơ bậc thượng, thì tạm thời tập ghi nhận
danh tướng của thực tại thân, thọ, tâm, pháp trước đã.
Vì vậy trong giai đoạn này hành giả chỉ cần khi đang đi
niệm là đi... đi..., khi đang đứng niệm
đứng... đứng, khi có cảm giác dễ chịu hay khó
chịu niệm là thọ... thọ..., khi có tâm bứt
rứt bực bội niệm là sân... sân... v.v...
Tâm thường dễ rơi vào
hai trạng thái đối nghịch: hoặc là quá ức chế thủ động,
hoặc là quá hưng phấn dao động, do đó không được sâu
sắc vi tế, vậy muốn làm quen với công việc soi chiếu
minh bạch (vipassanà), chánh niệm tỉnh giác phải tạm
mượn đối tượng danh tướng để tự phát huy khả năng
tịch và chiếu cho đến khi thật vững chãi tự nhiên.
Phái thiền Vipassanà
của Ngài Mahasi Sayadaw người Myanmar dạy hành giả niệm
phồng à... xẹp à... khi quán niệm hơi thở chẳng
hạn, chính là vận dụng Danh Tướng niệm như
một giai đoạn chuyển tiếp để chuẩn bị cho tâm có đủ
chánh niệm tỉnh giác khả dĩ thâm nhập thực tại như
thị của đệ nhất nghĩa đế,
Như vậy 3 giai đoạn
trên chỉ là dự bị cho hành giả trước khi vào thiền
Vipassanà, chúng ta tạm gọi là "giai đoạn tiền
Vipassanà". Khi nào hành tướng của hầu hết thân,
thọ, tâm, pháp đều được gọi đúng tên ngay khi nó diễn
ra, không trước không sau, thì hành giả bắt đầu có khả
năng đi thẳng vào thiền Vipassanà như giai đoạn sau đây:
4.
Giai đoạn thực tướng
niệm.
Ðây là giai đoạn
thiền Vipassanà thực thụ. Ở đây hành giả không cần
gọi tên sự kiện như giai đoạn truớc mà chỉ soi chiếu vào
chính sự diễn biến của sự kiện mà thôi. Như khi đi
chỉ cần chú tâm tỉnh thức trên mọi biến chuyển của
cử động đi, khi ngồi chỉ lặng lẽ soi chiếu toàn bộ tư
thế ngồi cùng với những hiện tượng động tĩnh, sinh
diệt, thô tế đang diễn ra nơi thân. Khi có một cảm giác
chỉ lắng nghe trọn vẹn diễn trình sinh diệt của cảm
thọ ấy. Khi một tư tưởng khởi lên thấy rõ tâm đang
sinh khởi, khi tư tưởng ấy chấm dứt thấy rõ tâm đang
diệt. Khi tâm tịch tịnh vô sinh biết rõ tâm tịch tịnh vô
sinh v.v...
Con có để ý là
những cụm từ Thầy vừa dùng trên như chú tâm tỉnh
thức, lặng lẽ chiếu soi, lắng nghe trọn vẹn, thấy rõ,
biết rõ, liễu tri, tịch chiếu, quán chiếu, chiếu kiến
v.v... đều đồng nghĩa với chánh niệm tỉnh giác
không? Tên gọi không quan trọng mà chính yếu là con
cần phải thể nghiệm thực chất nội dung của nó sao cho
vừa đủ để thấy đúng thức tướng của quán xứ là
được.
Nói là thực tướng
niệm, thật ra trong giai đoạn này thực tại tự diễn bày
đầy đủ tánh tướng thể dụng v.v... một cách toàn diện
như thị như thực dưới cái nhìn trí tuệ soi chiếu
minh bạch (Vipassanà-nàna) chứ không phải chỉ
thực tướng mà thôi.
Ðến đây, khi hội đủ
nhân duyên thích hợp tâm trí sẽ tự bừng nở những đóa
hoa tuệ giác vô cùng vi diệu mà thuật ngữ thiền Vipassanà
gọi là 16 tuệ giác. Ðức Phật đã mô tả trình tự
16 tuệ giác này mà không giảng giải chi tiết vì Ngài
muốn để cho hành giả tự mình chứng nghiệm và liễu
giải. Về sau các nhà chú giải và các vị thiền sư cũng có
giảng rõ, nhưng theo Thầy, tốt hơn là để mỗi người
tự chứng sự nhiệm mầu của pháp vị mới hứng thú,
phải không con?
Thầy cũng xin lưu ý
con mấy điểm quan trọng là mặc dù chánh niệm tỉnh giác
chính là hai yếu tố tịch và chiếu của tính giác, nhưng
tịch chiếu trong thiền Vipassanà Nguyên Thủy của Ðức
Phật (Như Lai Thiền) không hoàn toàn giống với pháp
môn tịch chiếu trong phái Tào động của Thiền Tông (Tổ
Sư Thiền). Nói đúng ra, giống hay không là tùy hành
giả. Nếu hành giả tịch chiếu theo phái Tào động nhưng
lại đúng với Vipassanà như Thầy vừa nói trong giai đoạn
4 thì chẳng có gì khác nhau, nhưng nếu tịch chiếu chỉ là
trụ tâm quán tịnh thì dù có đúng hướng cũng chỉ
tương đương với giai đoạn 1 và 2 tiền-Vipassanà
mà thôi. Còn nếu không đúng hướng thì chỉ là "bịnh
chứ chẳng phải thiền" như Ngài Huệ năng quở
trách Chí Thành vậy.
Mặt khác, nhiều người
ngộ nhận chữ "quán" trong thiền tuệ quán Tứ
niệm Xứ là quán tưởng, nên khi định nghĩa thiền Tứ
niệm Xứ họ đơn giản cho đó chỉ là quán tưởng thân
là bất tịnh, quán tưởng thọ là khổ, quán tưởng tâm là
vô thường và quán tưởng pháp là vô ngã , như một
công thức tiêu chuẩn để dễ bề suy tưởng.
Nhưng như Thầy đã trình
bày ở trên, điều kiện tất yếu của chánh niệm tỉnh giác
trong thiền tuệ quán Vipassanà là vắng bặt mọi ý niệm,
suy nghĩ, tư lường, tưởng tượng v.v... hay nói một cách
khác là "ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành ý diệt",
nghĩa là hoàn toàn vắng bóng thế giới khái niệm (paññnatti)
để cho bầu trời tâm trong sáng và mặt trời tuệ
chiếu soi, như tấm gương trung thực phản ánh thực tánh đệ
nhất nghĩa đế (paramattha) của pháp giới hiện
tiền. Cho nên mọi hình thức sản phẩm của tưởng như
tự kỷ ám thị chẳng hạn đều nằm ngoài tuệ quán
Vipassanà.
Một điểm quan trọng
nữa là ở giai đoạn 4 thực thụ Vipassanà này, người ta có
thể hành một cách tự nhiên hoặc theo bài bản qui định
đều được và đều có kết quả giống nhau như một vài
trung tâm thiền đã thí nghiệm. Họ chia hành giả thành 2 nhóm,
để hành giả tự do lựa chọn theo sở thích của mình,
một nhóm hành theo giờ giấc và cách thức qui định nghiêm
nhặt, còn nhóm kia thì sau khi nắm vững yếu tính của
thiền, họ tự vận dụng lấy tùy theo điều kiện riêng
của mình. Kết quả được trắc nghiệm là hai bên đều
tiến triển như nhau, kể cả trường hợp áp dụng thiền
để chữa bịnh ở một vài trung tâm y khoa ở Mỹ, Pháp
v.v...
Ðến đây hành giả bước
vào một chân trời hoàn toàn mới mẻ nhưng lại hiện đúng
bản nguyên, như một người nằm mơ chợt tỉnh, mới mẻ,
nghĩa là không còn chiêm bao, mà là hoàn lại con người
thực đầy đủ bộ mặt xưa nay của mình, đó chính là
giai đoạn thứ 5 trên hành trình tuệ quán.
5.
Giai đoạn bất động niệm.
Khi những đóa hoa tuệ
giác bừng nở, như những hoa sen ra khỏi bùn nhớ nước đục,
bừng nở dưới ánh nắng mai giữa bầu trời cao rộng, thì
hành giả cũng ung dung tự tại giữa cuộc đời phiền não.
Chính vì tự mình thoát ly phiền não, nên dù cuộc đời có
phiền não bao nhiêu thì tâm thiền vẫn an nhiên bất động.
Lúc đó chánh niệm tỉnh giác không cần đến một nỗ
lực cố gắng nào mà vẫn tịch tịnh soi chiếu một cách
hồn nhiên trọn vẹn. Và chỉ đến lúc đó hành giả mới
có thể làm công việc giác tha một cách hoàn toàn vô ngã.
Con thương mến,
Nhân con hỏi sinh hoạt
thiền của Thầy ở quê nhà, Thầy trình bày đái khái vài
nét như vậy, hy vọng rằng những nét cương yếu ấy có
thể giúp con soi sáng thêm chương trình hành thiền: tụng
kinh, tụng chú, lạy hồng danh, tọa thiền, qua đường và
hỏi đáp cơ phong do thiền sư Seung Sahn hướng dẫn tại
thiền đường PZC mà con đã kể cho Thầy nghe trong thư trước.
Chúc con mạnh khỏe và
hưởng được thiền vị trong đời sống của một người
tăng sĩ.
Thầy.
[35]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
P.Q con,
Nhân TQ ra Thầy viết
cho con. Hôm ghé ÐN vì thời gian quá ngắn nên mặc dù đã cố
gắng giảng giải thế nào cho các Phật tử mới có thể
lãnh hội con đường giác ngộ, Thầy vẫn phân vân không biết
các con đã nắm được những nét chính chưa.
Ðạo Phật bên ngoài
là những hình thức tín ngưỡng với nhiều môn phái, nhiều
lễ nghi, bên trong là một rừng giáo lý vừa rộng, vừa
sâu, có cao có thấp, có thật có giả, thật là đa diện.
Tuy nhiên nếu người nào có cơ duyên gặp được thiện tri
thức thì có thể đi vào cốt tử của đạo một cách dễ
dàng.
Ðạo là đời sống phù
hợp với Chân - Mỹ - Thiện. Càng gần Chân - Mỹ - Thiện
càng ít khổ đau, càng xa Chân - Mỹ - Thiện càng nhiều nhiệt
não. Vì vậy ngay từ lúc tuổi trẻ con cần phải tự mình
học hỏi để sống sao cho hợp lẽ đạo. Nghĩa là làm thế
nào để có được một thân tâm sáng suốt, định tĩnh,
trong lành.
Trong ba yếu tố sống
đạo đó thì sáng suốt thuộc về tuệ, định tĩnh thuộc
về tâm, còn trong lành soi sáng cho nói năng và hành động của
thân, cả ba cần được thể hiện một cách toàn diện,
không thiên lệch kết quả mới viên mãn hoàn toàn.
Kinh Karanìya Mettà Sutta
Ðức Phật dạy 16 đức tính của một người sống đạo
như sau:
1) Có khả năng
(Sakko) đủ để sống đúng đạo lý.
2) Chất phác (Ujù)
3) Ngay thẳng (Suhujù)
4) Nhu thuận (Suvaco)
5) Hiền hòa (Mudu)
6) Không kiêu mạn (Anatimàni)
7) Sống dễ dàng (Subharo: không đòi hỏi nhiều về tiện
nghi đời sống)
8) Biết đủ (Santussako: tri túc)
9) Thanh đạm (Sallahuka vutti)
10) Không đa sự (Appakicco: không lăng xăng nhiều chuyện)
11) Lục căn trong sáng (Santindriyo: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý nhận thức minh bạch)
12) Trí tuệ minh mẫn (Nipako)
13) Siêng năng (Appagabbho: không cẩu thả buông lung)
14) Không đam mê luyến ái (Kulesu ananugiddho)
15) Không làm việc ác dù nhỏ nhặt (Na ca khuddam samàcare
kinci)
16) Mong muốn cho chúng sanh đều được an vui, hạnh phúc
(Sabbe sattà bhavantu sukhitattà)
Như vậy, muốn sống
đời sống an tịnh, trong sạch, hiền lương phải cẩn thận
học hỏi cuộc đời để giác ngộ ra lẽ sống từ nội
tâm đến ngoại cảnh. Không nên sống buông lung, phóng
túng, bỏ luống tuổi trẻ đầy nhiệt tình và sức sống.
Nhiệt tình và sức sống ấy nếu đem dùng vào việc xấu sẽ
gặt hái nhiều tai họa nhưng nếu thể hiện việc lành thì
có nhiều lợi ích. Người Phật tử khi thấy cái thân nhiều
bịnh nhiều khổ này rồi cần phải dùng nó để làm lợi
ích cho mình và người, không để nó luống công sinh thành
dưỡng dục của mẹ cha, không để uổng phí một đời
cơm áo.
Không cần phải xuất
gia mới giác ngộ giải thoát. Sống trong đời với đầy đủ
tỉnh thức để tự biết mình là có thể giác ngộ giải
thoát.
Nói tóm lại, giác ngộ,
giải thoát và hữu ích là ba mục tiêu của người Phật tử.
Lấy sáng suốt để giác ngộ, lấy định tĩnh để giải
thoát, lấy trong lành để làm lợi ích cho mình và người.
Chúc con sống đạo một
cách thiết thực lợi mình lợi người.
Thầy.
[36]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Con,
Khi gặp những khó khăn
bối rối trên đường đời mà tự mình không giải quyết
được con có quyền nhớ tưởng đến Phật, Pháp, Tăng hoặc
các bậc Thầy tổ để con có thể yên tâm giữ vững niềm
tin hầu con có đủ sức mạnh kham nhẫn, sáng suốt, bình tĩnh
và ổn định. Trong trường hợp đó, đức tin ở tha lực có
thể giúp con lấy lại niềm tin ở chính mình. Nhưng nếu đức
tin chỉ để cầu nguyện van xin thì không những con đánh mất
tự tin mà còn phát triển thêm lòng tham ái. Ðó là chưa kể
con có thể rơi vào con đường tà kiến do những kẻ lợi dụng
lòng mê tín của con người để mưu cầu mục đích cá
nhân.
Chính vì thế, con thấy,
trong Bát Chánh Ðạo, Ðức Phật không hề đề cập đến
đức tin. Ðức tin đã biến mất trong Chánh Kiến, nghĩa là
trong trí tuệ thấy biết như thực. Còn ở trong Ngũ Căn,
Ngũ Lực thì Tín chỉ có nghĩa là tự tin chứ không còn là
tín ngưỡng. Ngay cả khi tin ở Tam Bảo, người Phật tử
chơn chánh cũng chỉ tin ở 3 đức tính sáng suốt, định
tĩnh, trong lành biểu hiện cho Tam Bảo nơi
chính mình. Bởi vì nếu tin mà không tự mình thể nghiệm
con đường giác ngộ giải thoát thì muôn đời vẫn đắm
chìm trong bể khổ trầm luân.
Vậy con có quyền tin
nhưng phải biết đặt niềm tin cho đúng chỗ mới thật sự
lợi ích trên đường tu học.
Con thương mến,
Con nói đúng, giữa quyền
lợi và bổn phận, nhiều khi ta phải chọn bổn phận. Giữa
nhàn hạ với trách nhiệm ta phải nhận lấy trách nhiệm.
Giữa hạnh phúc và khổ đau, ta phải gánh chịu đau khổ.
Giữa tự do và giới luật ta phải chấp nhận giới luật.
Nếu ai không ngại thiệt thòi mà sẵn sàng vui lòng chấp nhận,
người ấy hóa ra lại có nhiều quyền lợi trên tất cả
quyền lợi, có nhiều tự do hạnh phúc hơn tất cả hạnh
phúc ở đời.
Nhiều người tu hành
có khuynh hướng vô vi theo nghĩa tiêu cực, suốt ngày chỉ
lo kinh kệ, niệm Phật, cốt sao cho được an ổn thanh nhàn,
nên họ gác bỏ mọi sự qua một bên. Tu như vậy có vẻ cầu
an hơn là dấn thân vào con đường giác ngộ. Ðức Phật cũng
dạy thiểu sự (appakicco) nhưng có nghĩa là
không để sinh sự sự sinh đa đoan phức tạp chứ
không phải là nhàn cư vô trách nhiệm.
Do đó con cứ bình thản
mà làm tròn bổn phận ở đời và sáng suốt mà học bài học
giác ngộ trong đó. Con đường giác ngộ là thấy tánh ngay
trong sự tướng, thấy tự do ngay trong ràng buộc, diệt khổ
bằng cách thấy rõ bản chất của khổ đau, thoát khỏi lo
toan bằng cách an nhiên gánh vác trách nhiệm. Bởi vì đạo
không có đến và đi, cho nên có giải thoát giác ngộ là giải
thoát giác ngộ ngay trong hoàn cảnh hiện tiền, chứ không
thể có thái độ nắm-bỏ-nhị-nguyên (phân
hai và chấp lấy một).
Khi Thầy nói chọn bổn
phận, nhiệm vụ, khổ đau, ràng buộc không phải là Thầy
chủ trương khắc kỷ khổ hạnh hay vị tha quên mình gì cả,
đó cũng là phân biệt nhị nguyên, nhưng phải có một tâm
hồn không phân biệt, một tâm hồn bao dung cởi mở mới
có thể chọn lấy thiệt thòi mà không hề thấy thiệt
thòi. Thực ra, người có trí tuệ chấp nhận như vậy một
cách tự nhiên chứ không phải là chọn lựa. Cho nên Ðức
Phật cũng như Lão Tử đều lấy tánh nước ví cho tâm đạo.
Lão Tử nói: "Thượng thiện nhược thủy... xử chúng
nhân chi sở ố cố cơ ư đạo", nghĩa là
bậc thượng thiện giống như nước... ở chỗ mọi người
không ưa (chỗ thấp) nên gần với đạo.
Người ta thường có
tâm lý hễ lên xe là lo giành lấy chỗ tốt mà ngồi, người
có trình độ khá hơn thì ngồi đâu cũng được, còn người
khá nhất thì nhường chỗ tốt cho những người già, bệnh
tật, trẻ em v.v... và chịu ngồi ở chỗ xấu nhất, chính
người ấy là người không chọn lựa, không phân biệt. Người
không phân biệt chủ quan vị kỷ là người phân biệt minh
bạch nhất.
Thầy ngưng bút, chúc
con mạnh khỏe.
Thầy.
[37]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
H.H,
Thầy mừng là con đã
đến với đạo một cách chân thành và thiết thực. Có những
người tìm Thầy, tìm đạo như tìm một thú tiêu khiển,
không có gì quan trọng lắm đối với họ, bất quá không
theo Phật thì theo Chúa chứ có gì mà bận tâm. Nhưng con đã
đến với đạo bằng chính sự sống của con, bằng niềm
vui và nỗi khổ, bằng ưu tư và nước mắt, vì con đã thấy
được giá trị chân thực và bức thiết của đạo.
Có một nhà văn đã viết:
"Hãy khao khát Chân - Mỹ - Thiện như đứa con thơ
khao khát sữa mẹ. Hãy kiếm tìm Chân - Mỹ - Thiện như kẻ
lạc đường tìm vì sao Bắc Ðẩu. Hãy hướng về Chân - Mỹ
- Thiện như hoa hướng dương vươn mình theo ánh mặt trời"
vì ông đã thấy đạo là mạch nguồn của sự sống đích
thực.
Chính những nỗi khổ
đau của con đã hướng dẫn con về với đạo, cũng như chính
vì khát sữa mà đứa con thơ tìm về với tình thương yêu
của mẹ. Cho nên trước hết con phải cám ơn những nỗi bất
hạnh trong đời, vì không có khổ đau làm sao có giải
thoát, con có bao giờ nghĩ thế không?
Chuyện nàng Pàtàcàrà
trong Kinh Pháp Cú đã được Ðức Phật thức tỉnh sau khi mất
hết tất cả: chồng, con, cha mẹ, họ hàng, nhà cửa, tài sản.
Chuyện bà Gotamì đã
giác ngộ sau khi biết Ðức Phật xác định đứa cháu thân
yêu của đời bà không bao giờ sống lại nữa.
Trong Kinh Phật, những
hiện tượng khổ đau cũng được Ðức Phật gọi là các
Thiên sự, nó nhắc nhở chúng ta giác ngộ bốn sự thật:
khổ, nhân khổ, diệt khổ và con đường diệt khổ, nhờ vậy
chúng ta mới biết thế nào là sống đúng chân lý.
Như vậy hãy can đảm
lên, đối diện với khổ đau để học ra nơi nó những
giá trị đích thực.
1) Khổ đau cho ta thấy bản chất của đời sống.
Khi một lý tưởng được
sự mù quáng (vô minh) và lòng ham muốn (ái dục)
dự phóng thành những hình ảnh hoa lệ của hạnh phúc, sung
sướng, tự do, thỏa mãn... thì khổ đau sẽ là câu trả lời
thẳng thắn và chân thực cho những lý tưởng lầm lạc đó.
Có lẽ vì thế mà người đời nói nôm na là "ghét của
nào trời trao của ấy" như một sự thật phũ phàng.
Vậy qua khổ đau ta phải
rút ra được bài học đâu là thực chất, đâu là lý tưởng,
đâu là chân, đâu là vọng, đâu là sai, đâu là đúng.
2)
Khổ đau giúp ta tăng sức
chịu đựng bền bỉ (kham nhẫn).
Sức chịu đựng càng
cao, sự giải thoát càng lớn. Giống như một người chưa
bao giờ gánh nặng sẽ thấy một gánh 10 ký là cực hình,
nhưng với người đã từng gánh nặng thì dầu 100 ký cũng
vẫn nhẹ nhàng.
Sợ hãi khổ đau, mong
cầu sung sướng đều là những cách lẩn tránh sự thật
vì yếu đuối. Thực ra trên đời không có gì khó, chỉ tại
lòng không kham nhẫn. Vì vậy chấp nhận đau khổ chính là
nuôi lớn lòng kiên trì nhẫn nại, có nhẫn nại mới làm
được những việc khó làm, chịu được những việc khó
kham mà tâm hồn vẫn an nhiên thanh thản.
Có lẽ vì thế mà
trong Thánh Kinh, Chúa nói: "Hãy vác thập tự giá mà
vào nước Chúa", nghĩa giống như câu Thầy nói với
các con:
Tự do là ung dung
trong ràng buộc
Hạnh phúc là tự tại giữa đau thương
3) Ðau khổ cho ta thấy
rõ nguyên nhân sâu xa của nó.
Nếu ta bình tĩnh sáng
suốt để chiêm nghiệm thật kỹ thì ta sẽ thấy đau khổ
không phải từ bên ngoài đến, không phải do người khác tạo
ra. Ðiều kiện bên ngoài chỉ là duyên, còn nhân là ở
trong ta.
Như người bị trúng
gió không phải chỉ thuần túy là do gió mà chính là do thể
lực của anh ta đang yếu. Cũng vậy, khi có đau khổ chắc hẳn
không phải do bên ngoài đem lại mà chính là bắt nguồn từ
động lực bên trong.
Ðức Phật dạy du sĩ
ngoại đạo Kassapa: "Ðau
khổ không do ai tạo ra, ở đâu có tham, sân, si ở đó có
đau khổ. Ở đâu không có tham, sân, si ở đó không có đau
khổ".
Ðã biết đâu là
nguyên nhân ta không còn đổ lỗi cho ai, cũng không than trời
trách đất, mà chỉ lo chuyển hóa tận nguồn gốc nguyên
nhân đau khổ ấy ngay chính trong ta mà thôi.
4) Ðau khổ cho ta thấy
rõ con đường thoát khổ.
Như Ðức Phật đã dạy
ở trên, đau khổ bắt nguồn từ nguyên nhân nội tại,
nguyên nhân ấy chính là tham, sân (ái dục) và si (vô
minh). Ðau khổ chỉ là kết quả, vì vậy thoát khổ
không có nghĩa là trốn tránh hậu quả, mà chính là dập tắt
nguyên nhân vô minh - ái dục để chuyển hóa khổ đau ở tận
nguồn.
Khi tỉnh thức sáng suốt
thì không có vô minh, lúc trầm tĩnh ổn định thì không có
ái dục. Không có vô minh và ái dục thì thân, khẩu, ý của
ta trở nên trong lành, thanh tịnh. Vì vậy mọi ngọn gió khổ,
vui, thành, bại, được, mất, hơn, thua ở đời không còn
lay chuyển ta được nữa.
5) Ðau khổ giúp ta sống
theo Chân, Mỹ, Thiện.
Khi thấy rõ con đường
thoát khổ, thì con đường ấy cũng chính là con đường chân
hạnh phúc, con đường thể hiện tròn vẹn thể, tướng,
dụng của đạo; thể của đạo là chân;
tướng của đạo là mỹ; dụng của đạo
là thiện. Sống sáng suốt thể hiện được thể
toàn chân của đạo, sống định tĩnh thể hiện được tính
toàn mỹ của đạo, sống trong lành thể hiện được dụng
toàn thiện của đạo.
Vậy khi con sáng suốt,
định tĩnh, trong lành (tức: Giới, Ðịnh, Tuệ)
chính là con đang sống đạo, đang thể nghiệm con đường
thoát khổ.
H.H,
Lúc chưa hiểu đạo
con có thể xem đau khổ như thù nghịch và con có thể oán
trách người khác đem lại đau khổ cho con. Nhưng nay đã hiểu
đạo, con hãy sáng suốt, định tĩnh để nhận chân được
sự thật của đời sống, sự thật trong chính bản thân
con và giữa cuộc đời. Mọi người đều đau khổ, mỗi
người đều có mỗi hoàn cảnh riêng và đau khổ riêng, nhưng
khác nhau ở chỗ có nhận chân được chân lý của sự khổ
hay không.
Không có bài học nào
trong cuộc đời mà không trải qua khó khăn gian khổ, bài học
quá dễ dàng là bài học không có giá trị. Vậy từ nay con
hãy bình tâm, nhẫn nại và sáng suốt để tinh tấn học bài
học giác ngộ, giải thoát.
Thầy hy vọng từ nay
con có đủ tự tin để sống bình thản giữa cuộc đời sóng
gió.
Thầy.
[38]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
Các con NT, HT và NT,
Th.T vào cùng với thư
của sư thúc và thư NT giúp Thầy biết thêm một số nét về
tình hình Huyền Không.
Các con ạ, Huyền
Không thuở xưa đẹp như một bức tranh, đẹp nhất là
tình huynh đệ. Ðối với Thầy, huynh đệ, đệ tử là anh
em con cái một nhà, thương yêu còn hơn ruột thịt.
Thuở ấy, Huyền Không
chỉ là một am tranh trên núi Hải Vân. Mùa xuân mây và
bông lau trắng xóa cả bầu trời, mùa hạ với những buổi
hoàng hôn muôn màu muôn sắc. Cứ mỗi lần đứng nghe sóng
vỗ hay lặng ngắm mây chiều Thầy có một ý tưởng kỳ lạ
là xem Huyền Không như chính sự bao la của đất trời:
Huyền Không! Huyền
Không
Xin gọi tên người
Cỏ cây rêu đá
Muôn loài vô danh
Tình yêu thương thật
sự là cái gì bao la vô tận, như khi ta ngồi một mình lắng
nghe tiếng mưa rơi rì rào trên lá với một sự im lặng
hoàn toàn, không còn có ta nữa, chỉ có mưa rơi, tình yêu
và vẻ đẹp.
Con người tiêu phí thời
giờ quá nhiều cho bản ngã, cho tài - tình - danh - lợi với
những đấu tranh, những mánh khóe, những lọc lừa, những
chiếm đoạt... để rồi kiệt sức và chết đi với bao niềm
khổ hận.
Sự sống vốn bao la,
phong phụ và ngập tràn chân phúc, nhưng con người chẳng mấy
ai biết sống. Họ càng bành trướng bản ngã lại càng tự
buộc mình, họ muốn giành sự sống nhưng thật ra đã chết
trong ngục tù của chính họ, họ càng muốn giàu sang lại
càng nghèo khó, muốn mua chút hư danh chỉ để chuốc lấy
tiếng cười... đó là mặt thật của cuộc đời.
Có ai bỗng quên mình
đi hay chết đi trong giây phút để bắt gặp sự sống tuyệt
vời với tất cả tình yêu và vẻ đẹp của nó? Có ai bước
những bước đi thầm lặng giữa chợ búa ồn ào, để nghe
trong sâu thẳm tiếng thì thầm của im lặng, tiếng nói của
sự sống đích thực mà con người đã giết chết từ lâu!
Thầy có thói quen là
hay ngồi chết hoặc ngồi quên mình đi, lúc đó lạ thay sự
sống lại tràn ngập với tất cả sự sáng suốt, định
tĩnh và trong lành, với tất cả hạnh phúc, tình yêu và vẻ
đẹp. Lúc đó một hạt bụi, một giọt mưa, một cọng cỏ.....
đều mang đầy hạnh phúc, tình yêu và vẻ đẹp đời đời
của sự sống.
Hồi Thầy ở trong tù,
có những lúc Thầy nằm nhìn lên trần nhà đan đầy sắt và
thép gai, nhìn thật im lặng thì thép gai chỉ là thép gai,
thép gai đâu có ác ý gì, nó vẫn nằm đó như chính sự hiện
hữu của nó, cũng đầy sự sống, tình yêu và vẻ đẹp. Và
sự sống ở nơi Thầy cũng vậy, hoàn toàn tự do và hạnh
phúc, không một ngục tù nào nhốt được.
Nhưng con người lại tự
ý cô lập, đóng khung, rào hàng rào kiên cố bằng chính
tham vọng của mình mà cứ tưởng rằng mình đang đi tìm hạnh
phúc "Tôi sẽ có hạnh phúc", "Tôi phải có hạnh
phúc" hoặc "Tôi
sắp có hạnh phúc", "Chỉ cần có thêm 1 triệu đồng
nữa là tôi có hạnh phúc ngay".
Thế còn bây giờ? Dĩ
nhiên bây giờ là đau khổ, nếu không, họ đi tìm cái bóng
hạnh phúc để làm gì? Bây giờ mà sống được là nhờ hy
vọng..., hy vọng ngày mai sẽ trúng một mánh nào đó... thế
là hạnh phúc! Nhưng William Faulkner nói rằng: "Con
người là tổng số của những nỗi bất hạnh. Bạn có thể
hy vọng nỗi bất hạnh một ngày kia sẽ vơi đi, nhưng lúc
đó chính thời gian trở thành nỗi bất hạnh của bạn".
Hạnh phúc, hy vọng, thời
gian đều là những ảo tưởng đưa đến bất hạnh. Ðó
chính là ảo ảnh bịnh hoạn hay là hoang tưởng của những
kẻ khổ đau đầy khát vọng...
Hạnh phúc thật sự
không ở nơi cái với tay tìm kiếm, mà ở nơi chỗ không kiếm
tìm. Hạnh phúc, tình yêu và vẻ đẹp tràn ngập nơi mỗi
bước đi, trong từng hơi thở, trong ánh nắng ban mai, trong cơn
mưa mùa hạ... sao lại phải kiếm tìm trong tài, sắc, lợi,
danh?
Dĩ nhiên trong cuộc sống
nhiều lúc ta phải tranh đấu để có miếng ăn, nhưng tranh
đấu không phải là tranh giành, thủ đoạn, mánh khóe mà chỉ
là sự siêng năng cần mẫn để chịu đựng những thua thiệt,
những khó khăn, đòi hỏi phải có lòng kiên nhẫn và bao
dung .
Sự tranh đấu ấy thực
ra là tranh đấu với chính mình để thắng điều ác trong
khi sống giữa cuộc đời, tương giao với những người đầy
tham vọng trong vô minh ái dục. Sự tương giao này không ít
thì nhiều có mang lại những điều phiền toái, đó chính
là pháp thế gian không sao tránh được. Nhưng nếu các con
nhận ra được nguồn chân hạnh phúc nơi chính mình thì tất
cả những phiền toái ấy chỉ là... như gió thoảng qua.
Các con ạ, đừng quan
tâm đến chuyện thị phi, hãy để hết năng lực lắng nghe
sự sống nơi chính mình, nó đang muốn thì thầm với các
con điều gì đó, nó muốn tiết lộ một kho tàng bất tận
đang chìm sâu dưới đáy hỗn mang của tâm thức, của thương
- ghét - mừng - giận - vui - buồn, của tính toan mơ ước, của
hoài vọng mưu cầu, của dằn vặt thao thức, của cắn rứt
ăn ăn v.v... Ngay trong chính khổ đau ai biết lắng nghe cho đến
tận cùng thì ở đó, hạnh phúc, tình yêu, và vẻ đẹp vẫn
cứ đơm hoa kết trái.
Thà là những người
lao đầu đi tìm danh vọng, họ khổ cho cam... Chúng ta không
làm như vậy thì cũng đừng dại gì phiền não với những
ngu dại của họ mà vô tình đánh mất nguồn hạnh phúc
đang dâng tràn bất tuyệt bên trong.
Hãy biết lắng nghe, hạnh
phúc ở nơi chính các con, không phải ở tương lai mà cũng
không phải ở thiên đàng, không ai ban cho và cũng chẳng cần
tìm kiếm. Nó đang tràn ngập mọi nơi, các con có thấy
không?
Chúc các con thật sự
hạnh phúc.
Thầy.
[39]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
C.K,
Thầy nhận được thư
con sau một thời gian khá lâu nên rất mừng. H.C từ lâu cũng
chẳng viết thư cho Thầy, L.T thì thỉnh thoảng có thư
nhưng viết cho L.V. Có lẽ cái thời "Thư Thầy"
đã qua nên thư trò cũng vắng, điều đó chứng tỏ các con
đều đã trưởng thành và có thể đi bằng đôi chân của
mình. Tuy Ðạo Phật cùng chung một cứu cánh nhưng phương
tiện thì tùy ở mỗi người. Tuy Thầy trò chúng ta có chung
một hướng nhưng lập hạnh thì chẳng thể giống nhau.
Không phải xuất gia tốt
hơn hay tại gia tốt hơn, không phải ở trong tu viện hay ở
ngoài đời mới đúng. Cái đó tùy người, tùy căn cơ, tùy
duyên mệnh. Bài học giác ngộ không ở trong chùa cũng không
phải ở ngoài phố, mà ở nơi tâm của mỗi người, hay nói
một cách khác là ở ngay nơi sự sống đang diễn ra. Không
phải ở đâu mà sự sống lớn hơn hay nhỏ hơn, chỉ có người
nhận chân sự sống ấy ở mức độ nào mà thôi, phải vậy
không con?
Người tu sĩ tự mãn với
lối sống của mình, người tại gia hãnh diện với đời sống
của họ, nhưng chính đó là bản ngã, là bề ngoài của sự
sống. Còn chính sự sống thâm sâu uyên áo thì sao? Người
tọa thiền hãnh diện với thiền định của mình, người
trì chú tự mãn với mãnh lực của họ, nhưng đó cũng chính
là bản ngã, là cái bên - ngoài - vay - mượn, còn cái gì
là tự tánh chân thật chẳng đến, chẳng đi, chẳng định,
chẳng loạn?
Nói thế nhưng ai hợp
với tọa thiền cứ tọa thiền, ai hợp với trì chú cứ
trì chú, ai thích xuất gia cứ xuất gia, ai thích tại gia cứ
tại gia v.v... vì có vậy mới "dĩ quan kỳ kiếu"
phải không con?
Thầy chúc con và Jim
thành tựu con đường của các con trong hạnh lợi mình lợi
người.
Thầy.
[40]
Ngày ..... tháng ...... năm
.....
VK,
VT đã trao thư con cho
Thầy, thỉnh thoảng Thầy vẫn hỏi tin tức con qua VT, dù
sao đọc chính thư con Thầy vẫn vui hơn.
Cũng như con Thầy rất
mừng khi thấy VT thích học đạo và xem đạo như lẽ sống
của mình, không như phần đông Phật tử chỉ xem đạo như
một thú tiêu khiển, một món đồ trang sức hoặc chỉ một
phần thứ yếu của đời sống. Cũng không như những người
mê tín đầy tham vọng hoặc những người xem đạo như một
lý tưởng quá xa vời.
Ðạo chính là sự sống,
nhưng ít ai sống với sự sống đích thực của chính mình,
phần đông sống với mộng tưởng và chết đi cũng trong mộng
tưởng. Bởi thế mà hiền nhân gọi đời là cõi mộng
(màyà).
Ðạo là sáng suốt, định
tĩnh, trong lành, là lẽ sống chơn thực, không điên đảo mộng
tưởng nên không phải là phương tiện, cũng không phải là
cứu cánh mà chính là bản thân sự sống như nó đang là.
Nói xem đạo như
lẽ sống là nói cho người vừa mới bắt đầu tỉnh
ngộ, thực ra đạo muôn đời đã là lẽ sống. Người mê
mải miết đi tìm lẽ sống trong ảo mộng mà không biết rằng
chính khi tỉnh mộng mới hiện ra cái bản lai diện mục
của lẽ sống muôn đời.
Ðối với người mê,
mộng là thực nên họ khóc cười với mộng, khi tỉnh ra thực
còn chẳng vướng huống nữa là mơ. Vì vậy đạo và đời
chỉ khác nhau ở chỗ tỉnh và mê chứ không phải ở chỗ
phi thường lập dị, đó không phải là đạo thường.
Ðạo thường thì hồn
nhiên lặng lẽ, không vị kỷ cũng chẳng vị tha bởi vì cả
hai đều là bản ngã.
Uống một chung trà và
nghe ngoài sân nhiều chiếc lá đang rơi, vì vẻ đẹp ngàn
đời còn nguyên vẹn, nước trà xanh đôi mắt cũng màu
xanh..., đôi mắt xanh nhìn đời luôn mới mẻ, thật ngạc
nhiên pha lẫn nét hồn nhiên...
Có khi nào con nhìn đời
bằng đôi mắt xanh như vậy không?
Thầy.
[41]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
T thân mến,
Những điều T băn
khoăn về ý nghĩa của cuộc sống là vấn đề lớn của
con người: "Ta có quyền
tự do hành động hay chỉ là hành động theo một định mệnh
đã an bài? Phải chăng thuận thiên lập mệnh là an phận
để trả quả của nghiệp, hay phản kháng lại số mệnh cũng
vẫn là nghiệp dĩ? Làm thế nào vượt lên và đâu là giải
thoát?".
Ðịnh mệnh và tự do
là một cặp mâu thuẫn khi ta chưa thấy rõ sự thật và khi
vô minh dục vọng còn phân chia chúng thành hai đối cực phải
loại trừ một, đó chính là nhị nguyên, cái mà Ðức Phật
gọi là: "Chẻ cái đầu ra làm hai" (Muddham
vipàtayam) tức là khởi trí phân biệt ưa - ghét, lấy -
bỏ v.v... làm cho trí tuệ bị phân hóa.
Tất cả các pháp đều
có đối cực, những đối cực ấy có thể sinh, khắc,
hoán vị và biến đổi trong sự tương giao trùng trùng
duyên khởi. Vì vậy lấy cái này bỏ cái kia là phân biệt,
là nhị nguyên. Cầm lên một chiếc mề đay chúng ta chọn mặt
đẹp, bỏ mặt xấu, nhưng thật ra khi lấy ta phải lấy cả
hai và khi bỏ cũng phải bỏ cả hai. Cũng như khi chúng ta
mong muốn được ổn định, an toàn, hạnh phúc chúng ta vô
tình mời gọi cả xáo trộn, bất an và đau khổ.
Ðịnh mệnh phải chăng
là đối nghịch với tự do? Và hành động theo ý muốn là
đồng nghĩa với tự do? nhìn kỹ ta thấy lắm lúc ngược lại.
Người hành động chiều theo ý muốn của mình thật ra đã
bị ràng buộc trong chính ý muốn ấy, nên họ đã mất tự
do ngay từ khởi điểm. Trái lại người từ bỏ tư dục và
thuận theo sự sống chân thực, nghĩa là sống đúng quy luật
tất nhiên của sự sống (thuận thiên) hay thuận pháp
người ấy lại được hoàn toàn tự do.
Nếu định mệnh hiểu
theo nghĩa một khuôn phép do ai đó áp đặt theo tư ý của họ,
thì đó chính là nghịch thiên hay phi pháp (trái với quy
luật tự nhiên), định mệnh ấy tự nó sẽ bị đào thải.
Nhưng nếu định mệnh
được hiểu như là quy luật tất yếu và tự nhiên của sự
sống thì thuận thiên hay thuận pháp chính là hành động của
trí tuệ, vì không có những quy luật tất yếu đó hoặc chống
lại quy luật thì sự sống liền trở nên bất an, xáo trộn
và đau khổ.
Nhờ vận hành theo quy
luật mà sự sống vốn rất trật tự, an toàn và hạnh
phúc. Thấy và sống đúng quy luật ấy thì không thể nào
có xáo trộn, bất an và đau khổ được.
Vì không thấy và
không sống đúng quy luật đích thực của sự sống nên
chúng ta mới khởi tạo vọng nghiệp, bản ngã, luân hồi
và đau khổ. Ðói thì ăn là quy luật của sự sống, nhưng
tham ăn, giành ăn là vọng nghiệp và tất nhiên phải đưa
đến kết quả bịnh khổ. Bởi vậy y học mới có nguyên tắc
"thống tắc bất thông, thông tắc bất thống".
Thông tức là thuận quy luật vậy.
Khi con người muốn thoát
khỏi quy luật vì một ý muốn tự do nào đó thì vọng nghiệp
bắt đầu và đó là khởi điểm của sự trói buộc. Cũng
vậy, khi người ta tự đặt ra một chân lý lý tưởng
rồi buộc mình vào nỗ lực hành động để đạt đến
lý tưởng đó, thì vô tình người ta bắt đầu
những bước đi ra khỏi chân lý thực tại và dấn thân
vào cõi luân hồi sinh tử. Cuộc phiêu lưu mạo hiểm này
được thực hiện bằng cái gọi là ý chí tự do
của vọng nghiệp, thế rồi khi bị chính nghiệp ấy trói
buộc người ta cho rằng có một định mệnh áp đặt lên
đời sống tự do của họ, và họ muốn thoát ra.
Nhưng ngay khi chúng ta
nóng lòng muốn thoát ra khỏi số mệnh ấy là chúng ta muốn
tắt lửa mà lại thêm dầu, vì ý muốn giải thoát này là
tự thân của sự bất an, người ta nói ma cao nhất trượng
chính vì sự biến hóa muôn mặt của vô minh ái dục. Bất
an là nó, muốn thoát khỏi bất an cũng chính là nó.
Con người tự dựng lên
một bản ngã để thực hiện ước vọng của vô minh, ái dục,
thế rồi cũng chính bản ngã ấy nhận lấy hậu quả mà
nó tạo ra. Bây giờ khi kết quả không như ý muốn, bản
ngã đòi giải thoát ra khỏi tình trạng này và ngay khi đó
tạo ra nhân khác và cứ thế chồng chất thêm những trói
buộc mà nó muốn thoát khỏi.
Bản ngã muốn giải
thoát, nhưng đó là giải thoát của bản ngã hay giải thoát
chính bản ngã? Giải thoát của bản ngã là giải thoát ra
khỏi cái mà bản ngã không thích để mong đạt đến cái sở
thích, còn cái nó đang thích thì chẳng bao giờ nó muốn giải
thoát cả. Nhưng khi giữ lại cái ưa thích, bản ngã quên rằng
chính cái nó thích tạo ra cái nó không thích, nghĩa là trên
thực tế bản ngã chỉ có thể chạy qua chạy lại trong sợi
dây ràng buộc của chính mình chứ chẳng bao giờ có sự giải
thoát thật sự, bởi vì bản ngã chính là trói buộc!
Bản ngã phát sinh cùng
một lúc với số mệnh, bản ngã chính là số mệnh. Bản
ngã muốn thoát ra khỏi số mệnh là một nghịch lý, trừ
phi bản ngã tự hủy diệt mình. Nhưng khổ thay chẳng bao giờ
bản ngã có thể làm được điều đó, cũng như nó chẳng
bao giờ có được tự do. Nó
càng được tự do, nó càng bị ràng buộc!
Có một anh sinh viên
khi sống ở Việt Nam thì muốn mau chóng rời khỏi Việt Nam
để qua Mỹ, nhưng khi qua Mỹ anh lại nói rằng bây giờ anh
không được thanh thản như lúc còn ở Việt Nam, đời sống
ở Mỹ luôn luôn chạy đua với thời gian, mà để đuổi kịp
thời gian thì phải khẩn trương, không làm thế nào thanh thản
được. Nhưng anh không biết rằng chính ý muốn được
thanh thản đã làm cho anh mất hết thanh thản.
Thanh thản không phải
là nhàn hạ nên không đối nghịch với khẩn trương, cũng
không phải là phóng túng nên không phản lại nề nếp sinh
hoạt có kỷ cương nhất định.
Chính sự lựa chọn của
bản ngã giữa phóng túng và kỷ cương, giữa thanh nhàn và
bận rộn, giữa khổ cực và sung sướng, giữa tự do và
ràng buộc v.v... đã tạo ra mâu thuẫn, đấu tranh, phân
vân, căng thẳng và dĩ nhiên thanh thản phải biến mất.
Thanh thản thật sự
là có thể thanh thản cả trong ràng buộc lẫn tự do, trong
thong thả hoặc cấp bách, trong lúc vui cùng khi kho, vì thanh
thản đích thực thì vượt ngoài điều kiện.
T thân mến,
Tinh tấn, chánh niệm,
tỉnh giác là con đường giác ngộ. Ðạo Phật thường nói
đến con đường như: con đường thanh tịnh, con đường
chơn chánh, con đường giác ngộ, con đường giải thoát
v.v... và vì vậy Ðạo Phật thường bị hiểu lầm.
Nói đến con đường
người ta nghĩ ngay đến chỗ khởi điểm, chỗ chung cùng, nơi
đi, nơi đến, cái lấy, cái bỏ... Như đi từ tướng đến
tánh; từ sinh tử đến Niết-bàn; từ vô thường, khổ não,
vô ngã, bất tịnh đến thường, lạc, ngã, tịnh v.v... và
họ tưởng tượng ra một con đường thật bình yên dẫn đến
"Miền đất hứa", thế là người ta hy
vọng từ bỏ được cảnh khổ này và hướng cầu đến một
tương lai đầy lạc phúc. Ðó thật ra vẫn là một thứ vô
minh ái dục lớn nhất trong các vô minh ái dục.
Ðức Phật chẳng bao
giờ nói đến một con đường đi đến Niết-bàn. Niết-bàn
không phải là một nơi chốn nên không có khoảng cách để
đi đến. Bát thánh đạo, tứ niệm xứ, thất giác chi
v.v... không phải là con đường chiếm một thời
gian, không gian nào đó để dẫn đến Niết-bàn. Mặt khác,
Niết-bàn không phải là một sự thành tựu hay một kết quả
rốt ráo do điều kiện hội đủ một số pháp môn tu tập.
Ðạo đế được mô tả là con đường chấm dứt nguyên
nhân đau khổ (Dukkha samudaya nirodhamagga). Nguyên nhân
đau khổ là vô minh ái dục, khi vô minh ái dục (tham,
sân, si) chấm dứt thì bản ngã chấm dứt và toàn bộ
khổ uẩn cùng với luân hồi, sinh tử, sầu - bi - khổ - ưu
- não đều chấm dứt. Chấm dứt là Niết-bàn
vì vậy được gọi là diệt đế (Nirodha
sacca).
Bản ngã rất sợ sự
chấm dứt, sự diệt tận, sự đoạn trừ, sự xả ly này
cho nên nó vội vàng tô điểm cho Niết-bàn những ý niệm
thường hằng, vĩnh cửu, cực lạc, chơn ngã v.v... Nhưng tất
cả ý niệm đó đều là sản phẩm của vô minh ái dục.
Có thể chứng ngộ Niết-bàn
(Nibbàna Sacchikiriyà) chứ không thể đi đến Niết - bàn,
vì Niết-bàn không có đến và đi. Nhưng khi tham, sân, si chấm
dứt thì sự sống cũng được mở bày, Niết-bàn không
phải là cái gì xa lạ, để ta phải hướng vọng về phía
trước, mà chính là ở ngay nơi chỗ hồi đầu.
Ðức Phật dạy: "Vì
thắng tri Niết-bàn là Niết-bàn, Như Lai không nghĩ đến Niết-bàn,
không nghĩ đến tự ngã đối chiếu với Niết-bàn, không
nghĩ đến tự ngã như là Niết-bàn, không nghĩ đến Niết-bàn
là của ta, không dục hỷ Niết-bàn. Vì sao vậy? Vì Như Lai
biết rằng dục hỷ là căn bản của khổ đau, từ hữu,
sanh khởi lên, và già chết đến với loài hữu
tình. Do vậy ta nói Như Lai với sự diệt trừ hoàn toàn
các ái, sự ly tham, sự đoạn diệt, sự xả ly, sự trừ bỏ
hoàn toàn các ái đã chơn chánh giác ngộ vô thượng Chánh
Ðẳng Gíác".
Con đường là con đường
giác ngộ giải thoát, là chấm dứt mọi nguyên nhân đau khổ,
con đường ấy được Ðức Phật giới thiệu với 37 đạo
phẩm. Tất cả các pháp môn phương tiện vận dụng về sau
đều phát xuất từ đó, có thể tóm lại trong giới,
định, tuệ hay tinh tấn, chánh niệm, tỉnh
giác. Nói cho dễ hiểu là sáng suốt, định tĩnh,
trong lành nơi chính thực tại hiện tiền (Sanditthiko
dhammo) tức là tỉnh thức nơi chính sự sống đang là.
Ngay khi đó bản ngã với toàn bộ sự lăng xăng của nó đều
chấm dứt: Niết-bàn.
T thân mến,
Ðừng nói đến an phận
hay phản kháng, hãy im lặng lắng nghe hay chú tâm nhìn thẳng
vào sự sống đang là, đó mới chính là: tinh tấn, chánh niệm,
tỉnh giác. Ðói bụng hãy im lặng tỉnh giác đi nấu cơm,
đừng quan tâm đến số mệnh hay tự do, việc đó hãy nhường
lại cho các triết gia, các nhà tư tưởng và những người
suy tư mơ mộng.
Chào T nhé!
Thầy.
[42]
Ngày ..... tháng ..... năm
.....
T. con,
Hôm nay ngồi một mình
Thầy đọc lại thư con, chủ nhật rồi khi HT đưa thư con
cho Thầy, Thầy chỉ mới đọc lướt qua thôi, rồi tuần
qua lu bu nhiều chuyện Thầy chưa có gì để viết cho con.
Lên chùa con chỉ ngồi
nghe, ít khi phát biểu ý kiến nên thật ra Thầy cũng chưa
hiểu con mấy, Thầy chỉ có cảm tưởng mơ hồ như con
đang gặp một vấn đề nào đó trong cuộc sống, mà vấn
đề cuộc sống thì thật là đa tạp, nên Thầy chỉ có một
ước mong đơn giản là chia sẻ với mọi người nỗi đau
chung của nhân loại. Nỗi đau không dành riêng cho một ai,
nó là bản chất chung của đời sống mà mỗi người nhận
nó qua hoàn cảnh riêng của mình. Cho nên ai cũng tưởng chỉ
có riêng mình là đau khổ, nhưng thật ra đau khổ chỉ khác
nhau trên hiện tượng, còn bản chất thì ở đâu vẫn thế.
Con đừng nghĩ rằng những
Phật tử đến với Thầy là phải tuân theo một số quy định
nào đó, chẳng hạn như: giáo điều, những luật lệ, những
bổn phận, những lễ nghi v.v... hoặc nhận một pháp danh
mà người ta gọi là quy y, là từ đó người đệ tử phải
tôn kính, vâng lời Thầy và tuyệt đối không được phản
lại môn quy.
Ðiều đó có thể xảy
ra ở một vài nơi nào đó, nhưng riêng đối với Thầy thì
hoàn toàn khác. Một pháp danh chỉ có nghĩa là đánh dấu một
sự thay đổi nào đó trong tâm hồn hay một bước ngoặt
trong tầm nhìn về cuộc sống. Ngày xưa khi được sư phụ
đặt pháp danh, Thầy cảm thấy như có một cái gì thay đổi
lớn lao tận cùng tâm khảm của mình. Người nói:
"Pháp danh con là Viên Minh, vậy từ nay con hãy nhìn lại
chính mình cũng như nhìn lại cuộc đời với cái nhìn hoàn
toàn trong sáng". Từ đó Thầy tập nhìn thẳng vào mọi
vấn đề với một tâm hồn sáng suốt, lặng lẽ và trong
lành. Cũng từ đó biết bao sự thật đã được mở bày
mà bấy lâu bị phủ kín dưới lớp vỏ dày của vô minh
ái dục.
Thầy đã từng đau khổ
và đã từng nhìn thẳng vào những niềm đau khổ ấy như
thể uống cạn từng giọt đắng cay của cuộc đời, vì thế
Thầy cảm thông với những nỗi thống khổ của mọi người.
Những buổi họp mặt
đàm đạo thân mật giữa Thầy và các Phật tử trong bối
cảnh yên tĩnh của chốn thiền môn không phải là những buổi
điểm đạo. Thầy và các Phật tử chỉ chia sẻ với nhau
những niềm vui nỗi khổ của cuộc đời để nhận chân ra
ý nghĩa đích thực của đời sống.
Vì vậy chia sẻ không
có nghĩa là an ủi, vì an ủi chỉ là một hình thức trốn
chạy khổ đau bằng những lời lẽ ngọt ngào xoa dịu. Thầy
trò chia sẻ bằng cách cùng nhau nhìn thẳng vào sự thật,
nói lên sự thật để cùng nhau chiêm nghiệm, học hỏi và
cảm thông. Ðiều chính yếu là thấy ra chân lý giữa cuộc
đời.
Ðiều kiện tất yếu
để giác ngộ là nhìn thẳng vào sự thật, phải thấy
trắng (kiến tố) như Lão Tử nói, hay thấy
minh bạch (Vipassanà) như Ðức Phật dạy. Bởi
vì bao lâu còn trốn chạy đau khổ bằng những ảo tưởng
về một thứ hạnh phúc nào đó người ta chẳng bao giờ có
thể thấy được bản chất của cuộc đời.
Có giác ngộ được chân
lý của sự khổ người ta mới có được tình thương yêu
và thông cảm, nhưng khi người ta trốn vào cái thành trì của
bản ngã thì lập tức người ta tự khép kín, tự cô lập
và qua lăng kính của bản ngã chủ quan ấy chân lý biến mất
cùng với sự cởi mở, lòng thương yêu và thông cảm, mà hậu
quả của nó là người ta phải chịu phiền não, trầm uất,
sầu khổ, chán chường và căng thẳng...
Vậy tại sao chúng ta
không cởi mở với nhau và cùng nhau đối diện với sự thật,
cùng nhau chia sẻ và cảm thông? Phải chăng lòng tự trọng
mà con nói là hàng rào ngăn cách giữa những bản ngã cô lập
và khép kín? Phải chăng cái mà con gọi là lương tâm chính
là lòng tự ái đã dựng lên thành trì kiên cố của ngã chấp?
Lương tâm theo Thầy
là trí tuệ và tình thươn, nhưng trí tuệ và từ bi không
bao giờ hiện hữu trong thành trì của bản ngã, mà chỉ hiện
hữu trong sự tương giao cởi mở. Ở đó không còn bóng
dáng của sự khép kín, cô lập, mặc cảm (tự tôn hoặc
tự ti), thành kiến ngã chấp v.v... mà chỉ có trí tuệ,
tình thương yêu và sự thông cảm.
Thầy nghĩ con nên đến
với các bạn và sinh hoạt với nhau trong không khí cởi mở
của sự tương giao chân thật không che dấu, không cố thủ,
không tự hành hạ trong cái gọi là lương tâm khép kín. Dù
rằng sự thật đôi lúc quá phũ phàng nhưng chúng ta vẫn phải
nói trắng, có khi Thầy phải nói trắng để
phơi bày một sự thật nên chắc chắn làm người nghe không
khỏi ngỡ ngàng, hoặc có những sự thật bị che kín dưới
những nhãn hiệu mỹ từ khi được phơi bày làm người ta
ngạc nhiên và đôi lúc tưởng là nghịch lý. Lúc đó chúng
ta phải cùng nhau xem xét vấn đề kỹ lưỡng hơn. Con còn
những nghi vấn tại sao con không phát biểu tự nhiên? Chung
quy con vẫn chưa sẵn sàng cởi mở.
Thôi Thầy ngừng bút,
chúc con mạnh khỏe.
Thầy.
-HẾT-
--- o0o ---
| Mục
Lục|
| 01
- 02 -03 -04 - 05 - 06 - 07 - 08 - 09 -10 |
| 11
-12 - 13 - 14 - 15 - 16- 17- 18- 19 - 20 |
| 22 - 23 - 24 - 25 - 26 - 27 - 28 - 29 - 30 |
| 31-
32- 33- 34- 35- 36- 37- 38 - 39- 40- 41- 42|
--- o0o ---
|
Tủ sách Phật Học |
---o0o---
Source :http://www.budsas.org
Vi tính: Hải Hạnh - Chân
Hiền
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật ngày:
01-07-2002