Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Đức Phật và Phật Pháp


 

 

 

 

Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni

(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005) 

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh

Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội: 

Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai

---o0o---

 

Phần 18

 

PHỤ  ÐÍNH

 

4- Ba mươi ba vị Tổ-sư

 

Sau đức Phật Tổ Gotama Sakyamuni, có 28 vị tổ tại Ấn-Ðộ và 6 vị Tổ tại Trung-Hoa truyền tâm-ấn cho nhau. Ðức Bodhidharma (Bồ-Ðề-Ðạt-Ma) vừa là vị tổ thứ 28 tại Ấn-Ðộ vừa là sơ tổ tại Trung-Hoa.

 

1. Maha-Kassapa[1] (Ma-Ha Ca-Diếp) năm -624 đến -520 

Tổ Maha-Kassapa, cùng một tuổi với Phật, tên thật là Pippalayana (Tất-Bát-La-Dà-Na) vì mẹ ngài sanh ngài dưới cội cây Pippala (Tất-bát-la), quê ở làng Mahatistha, ngoại ô thành Vương-xá (Rajagriha), thuộc gia đình trưởng giả giàu có lớn, dòng Bà-la-môn. Cha tên Ẩm-Trạch (Ni-Câu-Lư-Ðà-Kiệt-Ba), mẹ tên Hương-Chí. Thuở bé, ngài đã rất thông minh, dung nghi trang nhã, toàn thân màu vàng, tỏa ánh sáng rất xa. Có thầy xem tướng nói: "Ðứa bé này đời trước có phước đức lớn, chắc sau này sẽ xuất gia." Cha mẹ ngài nghe nói lo sợ, cùng bàn với nhau sẽ cưới vợ cho ngài sớm.

 Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất, nhưng ngài một mực từ chối. Sau cùng, bất đắc dĩ ngài nói: "Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng." Ðến năm 607 trước tây lịch, ngài phải vâng lời cha mẹ, lập gia đình với bà Bhadra Kapilani (Diệu-Hiền), quê ở Vesali, cũng có thân hình màu vàng tỏa sáng như ngài. Nhưng cả hai người đều không thích việc ân ái vợ chồng, chỉ thích sống đời phạm hạnh, thanh tịnh. Tuy là vợ chồng nhưng hai người ngủ giường riêng.

Theo kinh sách ghi chép, sau khi đức Phật Tỳ-Bà-Thi (Vipassin) nhập niết-bàn, tứ chúng xây tháp thờ xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày, trên mặt pho tượng bị lở khuyết. Có một cô gái trao một đồng tiền vàng cho thợ đúc vàng nấu ra để tu bổ lại tượng Phật. Cô gái đó là tiền thân của bà Bhadra Kapilani, và người thợ đúc vàng là ngài Maha-Kassapa. Do nhân duyên đó mà cả hai người đều có sắc thân màu vàng ròng.

 Năm -589, một buổi sáng nọ, khi thức giấc, Maha Kassapa thấy bà Bhadra Kapilani đang ngủ say, một cánh tay buông thỏng từ trên giường xuống gần tới mặt đất. Một con rắn độc đang trườn qua dưới gầm giường, gần cánh tay. Maha Kassapa nín thở, nhẹ nhàng bước đến cầm tay bà đặt lên giường. Bà giật mình thức dậy trách ông có ý không tốt, ông liền chỉ con rắn đang bò ra khỏi nhà. Cả hai người cùng ngồi chiêm nghiệm về tính cách vô thường của cuộc đời. Bà khuyên ông nên tức tốc đi tìm thầy học đạo. Ông rời nhà đi tìm thầy đúng vào ngày đức Phật vừa thành đạo.

Một hôm, vào năm -587, vừa trông thấy Phật giữa đường, gần tinh xá Venuvana (Trúc Lâm), ngài liền bước đến trước Phật đảnh lễ, xin xuất gia. Hai người vừa gặp nhau liền nhận ra duyên thầy trò. Chỉ 8 ngày sau khi xuất gia, ngài chứng quả A-la-hán. Trong hàng đệ tử Phật, ngài nổi tiếng tu hạnh đầu-đà[2] đệ nhất, và được xếp vào hàng thứ ba trong mười đệ tử lớn của Phật, sau ngài Sariputta (Xá-Lợi-Phất) và ngài Moggallana (Mục-Kiền-Liên).

Ðến năm -585, sau khi đức Phật cho phép hoàng hậu Pajapati Gotami xuất gia và thành lập Ni bộ, bà Bhadra Kapilani cũng xin xuất gia, về sau cũng đắc quả A-la-hán.

Theo điển tích "Niêm hoa vi tiếu", Tổ Maha-Kassapa được đức Phật trao truyền "Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết-bàn Diệu Tâm, Thật Tướng Vô Tướng, Vi Diệu Pháp Môn" trên đỉnh núi Griddhakuta (Linh-Thứu). Theo kinh điển đại thừa thì sau đó đức Thế Tôn đến trước tháp Ða Tử gần cổng bắc thành Rajagriha (Vương Xá), gọi ngài Maha-Kassapa đến, chia nửa tòa cho ngồi, lấy y tăng-già-lê (sanghati) quấn vào mình cho ngài, rồi nói kệ phó pháp:

Pháp bổn pháp vô pháp,

Vô pháp pháp diệc pháp.

Kim phó vô pháp thời,

Pháp pháp hà tằng pháp.[3]

Năm 544 trước tây lịch, ba tháng sau khi Phật nhập niết-bàn, Tổ Maha-Kassapa chủ tọa cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại động Saptaparna, trên núi Vaibhara, tại Rajagriha (Vương-Xá). Và chính ngài trùng tuyên tạng Luận (Abhidhamma).

Khoảng năm -540,  sau khi truyền pháp cho tôn giả Ananda với bài kệ:

Pháp pháp bổn lai pháp,

Vô pháp, vô phi pháp.

Hà ư nhất pháp trung,

Hữu pháp, hữu phi pháp[4]?

Tổ Maha-Kassapa vào núi Kukkutapada (Kê Túc Sơn, còn gọi là Linh Sơn hay Kỳ Xà Quật) ẩn thân và nhập diệt trong tư thế kiết già. Nhiều người cho rằng Tổ nhập định, chờ đến khi đức Phật Di-Lặc ra đời, Tổ trao lại y bát của đức Phật Thích-Ca rồi mới nhập vô dư y niết-bàn.

Trong hội Pháp Hoa, đức Phật có thọ ký cho Tổ Maha-Kassapa sẽ thành Phật hiệu là Quang Minh Như Lai (Ramiprabhasa-Tathagata) ở thế giới Quang Ðức (Avabhasa), kiếp Ðại Trang Nghiêm (Maha-Vyuha kalpa).

 

2. Ananda (A-Nan) năm -605 đến -485 

Tổ Ananda sanh năm -605, tại Kapilavastu, cha là Amitodana (Cam-Lộ Phạn vương). Ngài là em chú bác với Phật, nhỏ hơn Phật 19 tuổi. Ngài có tướng mạo trang nghiêm nhưng hiền hòa, phúc hậu, dễ gây cảm tình; tánh tình chính trực nhưng hòa nhã với tất cả mọi người; ngoài ra ngài còn có trí nhớ thật tuyệt vời, có thể nói lại một bài pháp của Phật không thiếu một câu, không sai một tiếng. Có bài kệ của Bồ-tát Manjusri (Văn-Thù-Sư-Lợi) khen tặng ngài Ananda như sau:

Tướng như thu mãn nguyệt

Nhãn tợ thanh liên hoa

Phật pháp như đại hải

Lưu nhập A-Nan tâm

Dịch:

Tướng như trăng thu đầy,

Mắt biếc tợ sen xanh,

Phật pháp rộng như biển,

Ðều vào tâm A-Nan.

Năm -587, ngài được 18 tuổi, cùng xin xuất gia một lượt với Devadatta, Anuruddha, Bhaddiya, Bhagu, Kimbila và người thợ hớt tóc tên Upali, tại thành phố Anupiya, xứ Malla. Hai năm sau ngài thọ cụ túc giới tỳ kheo.

Năm -585, ngài Ananda khéo léo xin với đức Phật cho hoàng hậu Pajapati Gotami và 500 nương tử dòng Sakya và Koliya xuất gia tại Vesali, nhờ đó mới có Giáo-đoàn Tỳ-kheo-ni còn lưu truyền đến ngày nay.

Năm -569, hạ thứ 20, ngài Ananda được cử làm thị giả thường xuyên cho Phật.

Năm -544, hạ thứ 46, Thượng tọa Ananda vừa chứng quả A-la-hán, được tham dự cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất tại Rajagriha (Vương Xá), và chính ngài được mời trùng tuyên tạng Kinh.

Năm -540, ngài Ananda được Tổ Maha-Kassapa truyền pháp làm Tổ thứ hai tại Ấn-độ. Kinh sách ghi chép: Một hôm, ngài Ananda hỏi Tổ Maha-Kassapa:

-Sau khi đức Thế Tôn truyền Chánh Pháp Nhãn Tạng cho sư huynh tại Linh Thứu sơn, ngài có truyền pháp gì khác nữa chăng?

Tổ Maha-Kassapa liền nhìn ngài Ananda, gọi:

-Ananda!

-Dạ!

-Cây phướn trước chùa ngã[5].

Ngài Ananda liền ngộ rằng ngoài Tánh Giác sẵn có của mọi người, tất cả sự vật khác đều huyễn-hóa như lông rùa sừng thỏ. Sau đó ngài Ananda được Tổ Maha-Kassapa truyền tâm ấn.

Năm -520, Tổ Ananda truyền pháp cho ngài Sanavasin (Thương-Na-Hòa-Tu) với bài kệ:

Bổn lai truyền hữu pháp,

Truyền liễu ngôn vô pháp.

Các các tu tự ngộ,

Ngộ liễu vô vô pháp.[6]

Ðến năm 120 tuổi, Tổ Ananda đến nhập diệt trên một hòn đảo ở giữa sông Ganga[7] gần thủ đô Pataliputta (hiện nay là Patna). Xá lợi của ngài được chia làm hai phần đều nhau cho hai xứ ở hai bên bờ sông. Vua Ajatasattu xứ Magadha (Ma-kiệt-đà) ở phía nam, xây tháp thờ xá lợi ngài tại Rajagriha, bên cạnh tháp thờ xá lợi Phật. Các Vương tử Licchavi xứ Vajji (Bạt-kỳ) phía bắc, xây tháp thờ xá lợi ngài tại tinh xá Mahavana ở Vesali.

Theo Kinh Niết-Bàn 40 (bản Bắc), đức Phật khen ngài Ananda là một thị giả đầy đủ phẩm hạnh, nhờ có 8 đặc tính sau đây:

1- Tín căn bền vững: Khi nghe Phật dạy, ngài có đức tin vững chắc và ghi nhớ đầy đủ, không sai, không thiếu.

2- Tâm tính chất trực: Tâm tính hiền hòa, chất phát, ngay thẳng, dễ gây cảm tình với tất cả mọi người.

3- Thân không bịnh khổ: Rất ít khi mắc bệnh.

4- Thường siêng tinh tấn: Vững tin theo Phật pháp, và cứ một đường thẳng tiến, không bao giờ thối chí ngã lòng.

5- Ðầy đủ niệm tâm: Luôn luôn ghi nhớ Phật pháp, không bao giờ quên.

6- Tâm không kiêu mạn: Luôn luôn nhẫn nhịn, hòa nhã với tất cả mọi người.

7- Thành tựu định ý: Tâm ý không bao giờ rời Phật pháp.

8- Từ nghe sanh trí: Nghe rồi suy nghĩ, rồi hiểu, trí huệ phát sáng.

Do đó, về sau, các vị tôn đức thường căn cứ vào 8 đặc tính trên để chọn thị giả.

Theo kinh Pháp Hoa, phẩm thứ 9, đức Phật thọ ký cho Tổ Ananda sẽ thành Phật hiệu là Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương Như Lai, ở thế giới Thường Lập Thắng Phan, vào kiếp Diệu Âm Biến Mãn.

 

3. Sanavasin[8] (Thương-Na-Hòa-Tu, Thai Y) năm -550 đến -470 

"Sana" là bào thai, "vasin" là y (áo). "Sanavasin" có nghĩa là "thai y". Do nguyện lực đời trước, nên từ lúc sanh ra Tổ Sanavasin đã có áo sẵn mặc theo thân. Ðến lúc ngài lớn lên thì cái áo ấy cũng rộng lớn theo vừa với mình. Tên thật của ngài là Sambhuta, họ Tỳ-xá-đa, người nước Mathura (Ma-đồ-la), cha tên Lâm Thắng, mẹ tên Kiều Xa Da. Ngài nằm trong thai mẹ 6 năm mới sanh ra. Khi ngài Ananda độ cho ngài xuất gia thì cái áo ấy biến thành áo sa-di. Ðến khi ngài thọ giới tỳ-kheo thì áo ấy lại biến thành áo tăng-già-lê (sanghati). Tổ Sanavasin thâu nhận đệ tử là Upagupta, rồi đến nước Kế-tân (Kasmira, Cachemire) hoằng hóa.

Ðến khi gần tịch diệt, Tổ truyền pháp cho Upagupta với bài kệ:

Phi pháp diệc phi tâm,

Vô tâm diệc vô pháp.

Thuyết thị tâm pháp thời

Thị pháp phi tâm pháp.[9]

Truyền pháp xong, Tổ vào núi Bạch Tượng, phía nam nước Kế Tân, ngồi nhập định. Một hôm, thấy nhóm 500 đệ tử của Upagupta thường hay lười biếng và khinh mạn, Tổ liền đến cảnh tỉnh họ. Ðến nơi, Upagupta đi vắng, Tổ lại tòa của Upagupta ngồi. Các đệ tử của Upagupta bực tức, không phục, chạy đi báo cho thầy hay. Upagupta về đến, thấy thầy mình liền đảnh lễ. Song các đệ tử vẫn còn tâm khinh mạn chẳng kính. Tổ lấy tay mặt chỉ lên hư không liền có sữa thơm chảy xuống. Tổ bảo Upagupta:

-Ngươi biết gì chăng?

Upagupta bèn nhập chánh định để xem xét, nhưng không thể hiểu; ngài nói:

-Bạch thầy, điềm lành này do chánh định gì mà xuất hiện?

-Ðây là chánh định Long-Phấn-Tấn. Còn cả 500 thứ chánh định như thế mà ngươi chưa biết. Chánh định của Như Lai, hàng Bích-Chi không thể biết. Chánh định của Bích-Chi, hàng La-Hán không thể biết. Chánh định của thầy ta là Ananda, ta cũng không biết. Nay chánh định của ta, ngươi đâu có thể biết. Chánh định ấy là do tâm không sanh diệt trụ trong sức đại từ, hằng cung kính lẫn nhau. Ðược như thế mới có thể biết.

Ðệ tử của Upagupta trông thấy sự kỳ diệu ấy đều kính phục, chí thành sám hối. Tổ Sanavasin liền nói kệ:

Thông đạt phi bỉ thử,

Chí thánh vô trường đoản.

Nhữ trừ khinh mạn ý,

Tất đắc A-la-hán.[10]

Sau đó Tổ liền bay lên hư không, hiện thập bát biến[11] rồi nhập niết-bàn. Upagupta cùng các đệ tử thu nhặt xá lợi, xây tháp cúng dường.

Tổ Sanavasin có nguyện lưu cái áo sanghati đặc biệt của ngài lại cho hậu thế, cho đến chừng nào giáo pháp cao thượng của đức Thích Tôn không còn thì cái áo ấy mới bị tiêu diệt.

 

4. Upagupta[12] (Ưu-Ba-Cúc-Ða) năm -500 đến -430 

Tổ Upagupta là con của trưởng giả Gupta ở xứ Mathura. Lúc 12 tuổi ngài được Tổ Sanavasin dạy cho pháp tu buộc niệm như sau: Nếu khởi niệm ác thì đặt một hòn đá đen bên trái; nếu khởi niệm thiện thì đặt một hòn đá trắng bên phải. Upagupta chú tâm thực hành đến ngày thứ 7 thì chỉ thấy toàn đá trắng. Tổ Sanavasin liền nói pháp Tứ Diệu Ðế cho nghe. Nghe xong Upagupta liền chứng được quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna).

Năm 17 tuổi, Upagupta xin xuất gia. Tổ Sanavasin hỏi:

-Ngươi được bao nhiêu tuổi?

-Bạch thầy, con được 17 tuổi.

-Thân ngươi 17 tuổi hay tánh ngươi 17 tuổi?

Upagupta hỏi lại:

-Ðầu thầy tóc bạc, vậy tóc thầy bạc hay tâm thầy bạc?

-Tóc ta bạc, không phải tâm ta bạc.

-Con cũng thế, thân con được 17 tuổi, không phải tánh con 17 tuổi.

Tổ Sanavasin hoan hỷ nhận cho Upagupta xuất gia làm thị giả. Sau đó Upagupta thực tập thiền quán các pháp Khổ, Không, Vô-thường, chứng quả A-na-hàm (Anagami). Ðến  20 tuổi, khi thọ giới tỳ-kheo thì ngài chứng quả A-la-hán (Arahant). Chẳng bao lâu ngài Upagupta được Tổ Sanavasin truyền tâm ấn.

Tổ Upagupta hoằng pháp tại xứ Mathura, cảm hóa rất đông dân chúng qui ngưởng Phật pháp, có nhiều người đã chứng thánh quả. Mỗi khi giáo hóa một người thâm ngộ Phật pháp, Tổ để vào thất đá một thẻ tre. Sau khi truyền chánh pháp lại cho đệ tử là  Dhitaka (Ðề-đa-ca) với bài kệ:

Tâm tự bổn lai tâm,

Bổn tâm phi hữu pháp.

Hữu pháp hữu bổn tâm,

Phi tâm phi bổn pháp.[13]

Tổ Upagupta ngồi kiết già thị tịch. Lúc bấy giờ ngôi thất đá bề dài 18 thước tay (độ 4m5), bề ngang 12 thước tay (độ 3m) đã đầy ặp cả thẻ tre. Tổ Dhitaka và môn đệ mở cửa thất đá lấy thẻ tre làm vật liệu thiêu ngài, rồi thu lượm xá lợi xây tháp cúng dường.

 

Theo một số học giả thì thầy của vua Asoka là Moggaliputta-tissa (Mục-Kiền-Liên-Tử-Ðế-Tu) và Tổ Upagupta (Ưu-Ba-Cúc-Ða) có lẽ là một người. Nhưng theo soạn giả thì thuyết đó không đúng, vì vua Asoka ở vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 trước tây lịch, còn Tổ Upagupta sống vào đầu thế kỷ thứ 5 trước tây lịch, cách nhau khoảng hai thế kỷ.

    Theo "Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang", tham cứu tài liệu "Thiện-Kiến Luật Tỳ-bà-sa 1, 2" và "Phật Giáo Tiểu Sử 2", thì Mục Kiền Liên Tử Ðế Tu (Moggaliputta-tissa) là một vị A-la-hán, sống vào thời vua A-dục, ở Ấn-độ. Vì ngài là Ðại Phạm thiên Ðế-tu từ cõi trời Phạm thiên giáng sanh vào gia đình Bà-la-môn Mục-kiền-liên, cho nên được gọi là Mục-kiền-liên Tử Ðế-tu. Năm 16 tuổi, sư theo ngài Sigava (Tư-già-bà) làm sa-di, sau thọ cụ túc giới với ngài Candavajji (Chiên-đà-bạt-xà). Ngài tinh thông 3 tạng kinh, chứng quả A-la-hán, sau được ngài Sigava phó pháp, làm thầy vua A-dục, giáo hóa nhân dân.

Theo lịch sử, vua A-dục trị vì từ năm -264 đến năm -227.

 

5. Dhitaka[14] (Ðề-Ða-Ca) năm -460 đến -380 

Tổ Dhitaka, người nước Magadha (Ma-kiệt-đà), tên thật là Hương-Tượng, thọ giới cụ túc với Tổ Upagupta hồi 20 tuổi. Lúc cầu xuất gia, Tổ Upagupta hỏi:

-Thân ngươi xuất gia hay tâm ngươi xuất gia?

-Bạch thầy, con đến xin xuất gia không phải vì thân, cũng không phải vì tâm. Cái tâm chẳng sanh, chẳng diệt, là thường đạo, đồng với chư Phật. Tâm không hình tướng, thân cũng như vậy.

Vào lễ xuất gia, vừa nghe giới xong, Tổ liền đắc Tu-đà-hoàn (Sotapanna). Ðến lúc yết-ma[15] lần thứ nhất, Tổ đắc quả Tư-đà-hàm (Sakadagami). Ðến lúc yết-ma lần thứ nhì, Tổ đắc quả A-na-hàm (Anagami). Ðến lúc yết-ma lần thứ ba, Tổ đắc quả A-la-hán (Arahat). Sau được Tổ Upagupta truyền tâm ấn.

Sau khi nhận lãnh chánh pháp, Tổ Dhitaka đến Trung Ấn giáo hóa. Nơi đây có 8.000 vị đại tiên, dưới sự lãnh đạo của tiên trưởng Michaka (Di-Già-Ca). Nghe Tổ đến, Michaka triệu tập tiên chúng đến yết kiến Tổ và thưa:

-Xưa tôi cùng thầy đồng sanh cõi trời Phạm-thiên. Tôi gặp tiên A-tư-đà (Asita) truyền cho pháp tiên. Thầy gặp đệ tử Phật hướng dẫn tu tập thiền định. Từ đó cách nhau đã đến 6 kiếp.

-Lời tiên nhơn nói quả đúng như vậy. Song, ông chuyên về pháp tiên tột cùng sẽ đến đâu?

-Tôi tuy chưa gặp bậc chí thánh, song tiên A-tư-đà có thọ ký rằng "Sáu kiếp về sau, tôi sẽ nhờ bạn đồng học mà chứng quả giải thoát". Nay gặp nhau đây, chắc là đúng như vậy rồi.

-Ông đã biết như vậy thì cần phải xuất gia. Pháp tiên là đường nhỏ, không thể đưa người đến giải thoát. Ta hóa đạo đã lâu, cũng muốn dừng nghỉ. Nếu ông thật muốn hướng về đại pháp thì không nên chậm trễ.

Michaka nghe nói vui mừng, liền xin xuất gia thọ cụ túc giới. Ít lâu sau được Tổ Dhitaka gọi đến bảo:

-Xưa kia Như Lai đã trao chánh pháp nhãn tạng cho Maha-Kassapa, lần lượt truyền đến ta. Nay ta trao lại cho ông, phải gìn giữ cẩn thận chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:

Thông đạt bổn tâm pháp,

Vô pháp vô phi pháp.

Ngộ liễu đồng vị ngộ,

Vô tâm diệc vô pháp.[16]

Theo phẩm Trì Chánh Pháp trong kinh Ðại Bi 2,  và theo kinh Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện 5, Tổ Dhitaka có đại thần thông, đại oai lực, thuyết pháp không mệt mỏi. Tổ giáng sanh ở Arya-jaya, giáo hóa ở các nước Tukhara, Kamarupa và Malava. Tổ tịch ở thành Ujjayani nước Malava.

 

6. Michaka[17] (Di-Già-Ca) năm -440 đến -360 

Ngài cùng với 8.000 vị đại tiên xuất gia thọ giáo với Tổ Dhitaka. Sau khi được truyền tâm ấn, ngài tu hành theo Chánh Pháp, chứng được quả thánh. Ngài thường vân du miền bắc Ấn-độ, tùy duyên giáo hóa chúng sanh. Một hôm, chợt thấy trên thành có vầng mây màu vàng,  ngài nói với đồ chúng:

-Ðây là vượng khí đại thừa. Trong thành này ắt có bậc chí nhơn nối pháp cho ta.

Khi vào thành, đến chợ, quả gặp một người tay ôm bầu rượu, đón ngài, hỏi:

-Tôn giả từ phương nào đến? Muốn đi về đâu?

-Ta từ tâm mình đến, muốn đi không chỗ.

-Tôn giả biết vật trong tay tôi chăng?

-Ðây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh.

-Tôn giả biết tôi chăng?

-"Tôi" thì chẳng biết, biết thì chẳng "tôi". Ngươi hãy nói tên họ ra, ta sẽ chỉ nhơn đời trước cho ngươi.

-Ngã kim sanh thử quốc,

Phục ức tích thời nhựt;

Bổn tánh Phả-la-đọa,

Danh tự Bà-tu-mật.[18]

-Thầy ta là Dhitaka có nói rằng "Thuở trước, trong khi đức Thế Tôn vân du đến nơi này, có nói với thầy Ananda rằng 'Khi ta diệt độ được khoảng 200 năm, ở xứ này sẽ có một bậc thánh nhơn ra đời, dòng Bharadvaja[19] (Phả-la-đọa), tên là Vasumitra (Bà-tu-mật), sẽ làm vị tổ thứ 7 của Thiền tông'". Ðức Phật đã có nói trước như vậy, nay ngươi nên thế phát xuất gia.

Vasumitra liền để bầu rượu xuống, đảnh lễ Tổ, rồi thưa:

-Con nhớ lại thuở xưa, thường làm thí chủ, có cúng dường Phật một bảo tòa. Như-Lai thọ ký cho con rằng "Ngươi ở kiếp Hiền sẽ được Phật pháp làm Tổ thứ 7". Nay gặp gỡ đây thật là do duyên trước vậy. Cúi xin Tôn giả đại từ thương xót, độ thoát cho con.

Tổ Michaka liền cho Vasumitra xuất gia, thọ cụ túc giới.

Ít lâu sau, thấy tuổi đã già, cơ duyên hóa độ cũng xong, Tổ truyền chánh pháp lại cho Vasumitra với bài kệ:

Vô tâm, vô khả đắc,

Thuyết đắc bất danh pháp.

Nhược liễu tâm phi tâm,

Thùy giải tâm, tâm pháp.[20]

rồi nhập tam-muội Sư Tử Phấn Tấn[21] bay lên hư không, rồi trở về chỗ ngồi, dùng lửa tam-muội[22] tự thiêu.

 

7. Vasumitra[23] (Bà-Tu-Mật, Thế Hữu) năm -420 đến -330 

Tổ Vasumitra là người nước Gandhara[24] (Kiền-đà-la), miền bắc nước Ấn, giáp ranh xứ Kasmira (Kế-tân). Ngài thuộc dòng Bharadvaja (Phả-la-đọa). Trước khi thọ pháp xuất gia, ngài thường ăn mặc sạch sẽ, du hành trong các làng mạc, tay cầm bầu rượu, miệng ngâm nga, ca hát lớn tiếng. Người ta cho ngài là điên. Ðến khi được Tổ Michaka nhắc lại lời huyền ký của đức Phật Tổ và truyền tâm ấn cho, ngài trở nên người tu phạm hạnh rất tinh tấn.

Sau khi đắc pháp, Tổ Vasumitra đi hoằng pháp khắp nơi ở miền bắc Ấn-độ. Ðến xứ Kamalanka (Ca-ma-lãng-ca), Tổ lên pháp tòa giảng đạo, có một trí sĩ đến dưới tòa lớn tiếng tự xưng:

-Tôi là Buddhanandi (Phật-Ðà-Nan-Ðề), hôm nay quyết luận nghĩa với thầy.

-Này nhơn giả, nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận.

Buddhanandi biết đã gặp người nói nghĩa thù thắng, khởi tâm kính phục, thưa:

-Con nguyện cầu đạo để được thưởng thức vị cam lồ. Xin thầy thương xót cho con được xuất gia kề cận thầy.

Tổ Vasumitra liền cho Buddhanandi xuất gia thọ giới. Chẳng bao lâu, Tổ gọi Buddhanandi đến dạy rằng:

-Cái Chánh Pháp Nhãn Tạng của đức Như Lai truyền lại, nay ta đem giao phó cho ngươi, ngươi khá hộ trì chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:

Tâm đồng hư không giới,

Thị đẳng hư không pháp.

Chứng đắc hư không thời,

Vô thị vô phi pháp.[25]

Vasumitra là vị Tổ của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivadin, Sabbattivada). Thuyết này được các vị tổ Buddhanandi, Buddhamitra, Parsva và Punyayasa tiếp tục phát triển sâu rộng, lần hồi đến đời Tổ Asvaghosa (Mã Minh) biến thành Tam Tạng Kinh Ðiển Bắc Tông đầu tiên gồm có: tạng Kinh Upadesa (Ưu-ba-đề-xá), tạng Luật Vinaya Vibhasa (Tỳ-nại-da Tỳ-bà-xa) và tạng Luận Abhidharma Vibhasa (A-tỳ-đạt-ma Tỳ-bà-xa). Mỗi tạng có 100.000 bài tụng tổng kết cả học thuyết của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Tổ Vasumitra và các ngài Dharmatrata (Pháp Cứu), Ghosa (Diệu Âm), Buddhadeva (Giác Thiên) được ngợi khen là Bà-sa Tứ Ðại Luận Sư[26]. Tổ có soạn Dị Bộ Tông Luận, 1 quyển, nói về 20 bộ phái Tiểu thừa.

Theo kinh Sư Tử Nguyệt Phật Bản Sanh thì Tổ sẽ thành Phật kế ngài Di-Lặc, hiệu là Sư Tử Như Lai.

Theo trong kinh Hoa-Nghiêm, Tổ Vasumitra là vị thiện tri thức thứ 25 trong 55 thiện tri thức mà Ðồng tử Thiện-Tài tham vấn: Vasumitra ở thành Bảo Trang Nghiêm thuộc nước Hiểm Nạn, dung mạo đoan nghiêm, thân phóng ra ánh sáng lớn, đã thành tựu pháp môn ly dục, thực tế thanh tịnh, liền nói pháp môn ly dục cho chúng sanh nghe để họ được thanh tịnh.

 

8. Buddhanandi[27] (Phật-Ðà-Nan-Ðề) năm -370 đến -300 

Tổ Buddhanandi họ Gotama (Cồ-đàm) là người nước Kamalanka (Ca-ma-lãng-ca). Ngài có dung mạo lạ thường, trên đỉnh đầu có nhục kế thường phát ra hào quang năm sắc, trí huệ cao siêu, biện tài vô ngại.

Năm 14 tuổi, Buddhanandi phát tâm xuất gia, tu hạnh thanh tịnh. Khi Tổ Vasumitra đến xứ Kamalanca thuyết pháp, ngài đến vấn nạn, nhân đó kính phục và xin theo làm đệ tử. Chẳng bao lâu, được truyền tâm ấn.

Sau khi đắc pháp, Tổ Buddhanandi thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi. Ðến xứ Ðề-ca (Ðề-già), khi đi ngang nhà họ Visakha (Tỳ-xá-khư), chợt thấy trên nóc nhà có hào quang trắng xông lên, Tổ liền chỉ cho đồ chúng xem và bảo:

-Trong nhà này hiện có một vị thánh nhơn, tuy miệng không nói một lời, chơn không đi một bước, mà thật là bậc căn trí đại thừa. Dù không ra ngoài đường mà biết việc xú uế. Quả là người nối pháp cho ta, khiến Phật pháp hưng thịnh. Về sau, vị này sẽ độ được 500 người chứng quả thánh.

Vừa nói xong, có ông trưởng giả trong nhà bước ra chào hỏi và thưa:

-Tôn giả cần điều gì mà dừng lại đây?

-Ta đến tìm người làm thị giả chứ không cần gì khác.

-Nhà tôi không có ai có thể làm thị giả cho ngài đâu. Tôi chỉ có một đứa con trai tên Buddhamitra (Phật-đà-mật-đa) đã 50 tuổi rồi mà không biết nói, không biết đi. Nếu ngài cần dùng thì tôi sẵn lòng cho nó theo hầu ngài.

-Ðứa con ông nói đó chính là người tôi tìm.

Ông trưởng giả thỉnh Tổ vào nhà. Buddhamitra vừa trông thấy Tổ, liền đứng dậy chấp tay nói kệ:

-Phụ mẫu phi ngã thân,

Thùy vi tối thân giả?

Chư Phật phi ngã đạo,

Thùy vi tối đạo giả?[28]

Tổ Buddhanandi liền đáp:

-Nhữ ngôn dữ tâm thân,

Phụ mẫu phi khả tỷ.

Nhữ hạnh dữ đạo hiệp,

Chư Phật tâm tức thị.

Ngoại cầu hữu tướng Phật,

Dữ nhữ bất tương tợ.

Nhược thức nhữ bổn tâm,

Phi hiệp diệc phi ly.[29]

Buddhamitra nghe bài kệ của Tổ xong, rất hoan hỷ, sụp xuống đảnh lễ Tổ, xin được xuất gia. Tổ liền triệu tập thánh chúng làm lễ truyền giới cụ túc. Ít lâu sau, Tổ gọi Buddhamitra đến dặn dò:

-Pháp nhãn của Như-Lai thầm truyền đến đời ta, nay ta trao lại cho ngươi. Ngươi nên gìn giữ cẩn thận, chớ để đoạn dứt. Hãy nghe ta nói kệ:

Hư không vô nội ngoại,

Tâm pháp diệc như thử.

Nhược liễu hư không cố,

Thị đạt chơn như lý.[30]

Truyền pháp xong, ít lâu sau, Tổ Buddhanandi ngồi kiết già thị tịch. Ngài độ được 500 đồ chúng chứng nhị quả (Sakadagami, Tư-đà-hàm).

 

9. Buddhamitra[31] (Phật-Ðà-Mật-Ða) năm -360 đến -290 

Tổ Buddhamitra là người nước Ðề-già (Ðề-ca), họ Visakha (Tỳ-xá-khư). Từ lúc lọt lòng mẹ đến 50 tuổi, ngài chưa từng nói một lời, chưa từng đi một bước. Ðến khi gặp Tổ Buddhanandi, Tổ nói:

-Người này đời trước thông minh lắm. Ở trong Phật pháp, phát đại bi tâm  muốn làm lợi ích lớn cho chúng sanh, nên thường nguyện "Tôi nguyện thọ sanh chỗ nào không bị tình phụ tử ràng buộc, tùy duyên lành kia liền được giải thoát". Miệng không nói là tiêu biểu cho đạo không tịch. Chơn không đi là tiêu biểu cho pháp không có đến đi.

Cha mẹ ngài nghe lời giải thích của Tổ, vui vẻ cho ngài theo Tổ xuất gia. Sau khi đắc pháp, thấy vua trong xứ sùng tín ngoại đạo, Tổ Buddhamitra cầm cờ đỏ đến đứng trước đền vua nhiều lần. Vua triệu vào, Tổ xin được luận nghị với ngoại đạo. Tổ dùng Vô Phương Luận[32] để khuất phục đối phương và cảm hóa vua, khiến vua tin chánh pháp. Ðồng thời 500 đệ tử phái Nigantha cũng xin quay về với Phật pháp.

 Sau đó, Tổ Buddhamitra du hóa khắp nơi. Ðến trung Ấn, Tổ gặp ông trưởng giả tên Hương-Cái dắt con là Nan-Sanh đến yết kiến Tổ và thưa:

-Thằng bé này ở trong thai mẹ ngót 60 năm, do đó tôi đặt tên cho nó là Nan-Sanh. Có một tiên ông đến xem tướng nó rồi nói "Thằng nhỏ này hẳn là tướng phi phàm, sẽ là pháp khí đại thừa khi gặp Bồ-tát hóa độ". Bởi có duyên lành nên nay được gặp ngài. Tôi nguyện cho nó theo ngài xuất gia học đạo.

Tổ hoan hỷ chấp thuận. Trong buổi lễ xuất gia thọ giới của Nan-Sanh bỗng có ánh sáng mát chiếu khắp chỗ Nan-Sanh ngồi. Thấy cơ duyên hóa độ sắp viên mãn, Tổ gọi Nan-Sanh đến dặn dò:

-Ðại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao cho ngươi. Ngươi hãy gìn giữ cẩn thận và truyền trao đừng cho đoạn dứt. Hãy nghe ta nói kệ đây:

Chơn lý bổn vô danh,

Nhơn danh hiển chơn lý.

Thọ đắc chơn thật pháp,

Phi chơn diệc phi ngụy.[33]

Nói kệ xong, Tổ ngồi kiết già nhập chánh định, hiện tướng niết-bàn. Nan-Sanh cùng đồ chúng làm lễ hỏa táng xong, thu lượm xá lợi xây tháp thờ tại Nalanda.

 

10. Parsva[34] (Hiếp Tôn Giả) năm -360 đến -270 

Tổ Parsva, tên thật là Nan-Sanh, là người xứ Gandhara (Càn-đà-la, hiện nay là Pakistan), gần xứ Kasmira, miền bắc Ấn-độ. Ngài ở trong bụng mẹ 60 năm. Lúc ngài sắp sanh, thân phụ nằm mộng thấy một con voi trắng to trên lưng có một bảo tọa, trên bảo tọa có hột minh châu, từ ngoài cửa đi vào chiếu sáng khắp nhà. Ông giựt mình tỉnh giấc thì ngài ra đời. Tuy vừa mới sanh ra mà râu tóc và lông mày đều bạc.

Năm 80 tuổi[35] ngài mới xuất gia với Tổ Buddhamitra. Các tỳ-kheo trẻ chê cười ngài già yếu, không tiến tu được, chỉ ăn no rồi ngủ. Ngài nghe qua liền tự phát nguyện "Nếu không thông hiểu lý ba tạng kinh, đoạn dứt tham dục để được 6 thần thông và 8 giải thoát[36], thì nguyện trọn đời không đặt lưng xuống chiếu". Do đó ngài được mệnh danh là Hiếp[37] Tôn Giả, tức là người không nằm sát hông xuống. Trải qua 3 năm, ngài đoạn dứt ngũ dục (sắc, thinh, hương, vị, xúc), chứng được Tam Minh[38], đắc quả A-la-hán và được truyền tâm ấn làm Tổ thứ 10.

Tổ Parsva là luận sư Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivadin).

Về sau, Tổ đến thủ đô Pataliputta (Hoa Thị), lúc bấy giờ Bà-la-môn giáo rất thịnh hành, Phật giáo bị suy vi. Tổ biện luận và thuyết phục được rất nhiều ngoại đạo. Một hôm, trong khi tạm nghỉ ngơi dưới cây đại thọ, Tổ lấy tay chỉ xuống đất, bảo đồ chúng:

-Khi nào đất này biến thành màu vàng, sẽ có một thánh nhơn vào hội.

Tổ vừa dứt lời, đất liền biến thành màu vàng. Chốc lát có một thanh niên con nhà giàu có, đến trước mặt Tổ, chấp tay đảnh lễ. Tổ hỏi:

-Ngươi từ đâu đến?

-Tâm con chẳng phải đến.

-Ngươi dừng chỗ nào?

-Tâm con chẳng phải dừng.

-Ngươi chẳng định sao?

-Chư Phật cũng thế.

-Ngươi chẳng phải chư Phật.

-Chư Phật cũng chẳng phải.

Tổ biết ý Punyayasa rất thiết tha cầu đạo, nên độ cho xuất gia và truyền giới cụ túc. Ít lâu sau, Tổ Parsva gọi Punyayasa đến bảo:

-Ðại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay trao lại cho ngươi, ngươi phải khéo lưu truyền, chớ để dứt mất. Hãy nghe ta nói kệ:

Chơn thể tự nhiên chơn,

Nhơn chơn thuyết hữu lý.

Lãnh đắc chơn chơn pháp,

Vô hành diệc vô chỉ.[39]

Truyền pháp xong, Tổ Parsva ngồi kiết già, hiện các thần biến rồi vào niết-bàn. Ðồ chúng hỏa táng thân ngài, thu được xá lợi nhiều vô số, phải lấy y bọc đem về xây tháp cúng dường.

 

11. Punyayasa[40] (Phú-Na-Dạ-Xa) năm -300 đến -230 

Tổ Punyayasa sanh tại thủ đô Pataliputta (Hoa Thị), hiện nay là Patna. Tổ là con thứ 7 của Trưởng giả Không Thân (Bảo Thân?). Thuở nhỏ, ngài có tâm tư bình thản. Ngài thường nói với các anh:

-Nếu có bậc đại sĩ ngồi nơi đạo tràng thuyết pháp, em quyết đến đó gần gũi tùy hỷ.

Khi Tổ Parsva đến Pataliputta chấn hưng Phật pháp, ngài liền đến đảnh lễ tham vấn và được thu nhận làm đệ tử. Sau khi được truyền tâm ấn, ngài hoằng pháp thù thắng, giáo hóa vô lượng chúng sanh, có đến 200 vị chứng quả A-la-hán. Ðạo đức của Tổ Punyayasa vang khắp miền bắc và trung Ấn.

Một hôm, Tổ Punyayasa đang thuyết pháp tại Benares, có một vị trưởng giả bước vào trong hội. Tổ hỏi đồ chúng:

-Các ngươi có biết người mới vào đây là ai chăng? Xưa kia đức Phật có huyền ký rằng "Sau khi ta diệt độ khoảng 300 năm, sẽ có một vị thánh nhơn ra đời tên Asvaghosa, sanh tại Benares, nói pháp nơi thành Pataliputta, khắc phục hết các ngoại đạo, độ người vô lượng".

Asvaghosa (Mã-Minh) nghe nói đúng tên mình, thầm khen, bước ra đảnh lễ Tổ và hỏi:

-Tôi muốn biết Phật, thế nào là Phật?

-Ông muốn biết Phật? Chẳng biết ấy là phải.

-Ðã chẳng biết Phật thì đâu biết là phải!

-Ông đã chẳng biết Phật, tại sao biết chẳng phải?

-Ðây thật là nghĩa cưa.

-Ðó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào?

-Tôi cùng thầy phân ra bằng nhau. Nghĩa cây của thầy nói là sao?

-Ngươi bị ta xẻ.

Asvaghosa liền ngộ được thắng nghĩa, vui thích xin xuất gia làm đệ tử. Khi cơ duyên giáo hóa viên mãn, Tổ Punyayasa gọi Asvaghosa đến dặn dò:

-Ngươi nên chuyển bánh xe pháp, làm vị Tổ thứ 12. Xưa, đại Pháp nhãn tạng của Như-Lai trao cho Tổ Maha-Kassapa, lần lượt truyền đến ta. Nay ta trao lại cho ngươi để tiếp tục truyền thừa. Hãy nghe ta nói kệ:

Mê ngộ như ẩn hiện,

Minh ám bất tương ly.

Kim phó ẩn hiện pháp,

Phi nhất diệc phi nhị.[41]

Truyền pháp xong, Tổ hiện thần biến, rồi lặng lẽ viên tịch. Asvaghosa và đồ chúng xây tháp trùm lên chơn thân, thờ ngài.

 

12. Asvaghosa[42] (Mã Minh) năm -270 đến -190 

Tổ Asvaghosa quê ở thành Benares[43]. Khi ngài sanh ra, mấy con ngựa ở gần đó đều hí vang lên, nên gọi ngài là Mã-Minh. Cũng có người nói mỗi khi ngài thuyết pháp, các con ngựa trong chuồng gần đó đều im lặng lóng nghe; lúc ngài thuyết pháp xong chúng lại hí vang, nên gọi ngài là Mã-Minh.

Lúc chưa xuất gia, ngài là một luận sư Bà-la-môn lỗi lạc, danh tiếng đồn đãi rất xa; ngài rất tin con người có bản ngã. Sau, do tranh luận với Tổ Punyayasa nên ngài cảm ngộ và xin xuất gia với Tổ. Vì có đạo hạnh thanh cao nên ngài được tôn xưng là Bồ-tát. Tổ Asvaghosa thông suốt Tam Tạng kinh điển lẫn ngoại điển, là người tiên phong trong nền văn học cổ điển sanscrit với một văn thể mới, hay, đẹp, để lại tiếng tăm bất hủ trong lịch sử văn học sanscrit. Tổ vừa là một đại luận sư vừa là một thi nhân Phật giáo, cũng là đạo sư của vua Kaniska, lúc bấy giờ là hoàng đế toàn cõi Ấn-độ.

Ðến đời ngài, đại thừa vừa được phát triển, ngài có công lớn trong việc mở rộng tư tưởng đại thừa. Nhơn hoàng đế Kaniska rất mộ đạo Phật, Tổ ra công tuyên dương Phật giáo đại thừa, làm cho Phật giáo đại thừa trở nên rạng rỡ. Năm 200 trước tây lịch, Tổ Asvaghosa được hoàng đế Kaniska mời chủ tọa cuộc kiết tập Kinh điển đầu tiên của Bắc Tông, tại thủ đô Kudalavana xứ Kasmira, viết bằng chữ Sanscrit. Tam Tạng Kinh Ðiển Bắc Tông đầu tiên gồm có: 1) Tạng Kinh Upadesa (Luận Ưu-ba-đề-xá, Khế kinh luận nghị) có 100.000 bài tụng; 2) Tạng Luật Vinaya Vibhasa (Luận Tỳ-nại-da Tỳ-bà-xa) có 100.000 bài tụng; 3) Tạng Luận Abhidharma Vibhasa (Luận A-tỳ-đạt-ma Tỳ-bà-xa) có 100.000 bài tụng. Tất cả ba tạng kinh có 300.000 bài tụng, gồm 9.600.000 chữ. Vua Kaniska cho khắc tất cả lên những bảng bằng đồng cán mỏng, rồi cất trong rương đá và xây tháp để thờ.

Khi Tổ Asvaghosa đi giáo hóa đến thủ đô Pataliputta, ngài khắc phục tất cả các nhân tài ngoại đạo, nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của Phật pháp. Một hôm, ngoại đạo sư Kapimala (Ca-Tỳ-Ma-La) thống lãnh 3.000 đệ tử, đến tranh luận đạo lý với Tổ, nhưng cuối cùng chịu khuất phục và xin quy y làm đệ tử. Sau khi thọ lễ xuất gia, Kapimala liền được giới thể, phát hào quang sáng và có mùi hương lạ xông khắp. Ít lâu sau, Tổ Asvaghosa gọi Kapimala đến bảo:

-Ðại pháp nhãn tạng của Như-Lai, nay ta trao lại cho ngươi, nên truyền bá chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:

Ẩn hiển tức bổn pháp,

Minh ám nguyên bất nhị.

Kim phó liễu ngộ pháp,

Phi thủ diệc phi khí.[44]

Truyền pháp xong, Tổ nhập chánh định, hiện tướng viên tịch. Kapimala và đồ chúng đặt chơn thể của ngài vào khám thờ.

Hành trạng của Tổ Asvaghosa được ghi đầy đủ trong Mã-Minh Bồ-tát Truyện, 1 quyển. Ngài Kumarajiva (Cưu-Ma-La-Thập) đã dịch sang Hán văn, hiện được xếp vào Ðại Chánh Tạng tập 49. Tác phẩm của Tổ gồm có: Phật Sở Hành Tán (Buddha-carita) soạn theo lối thi ca về cuộc đời đức Phật từ lúc đản sanh đến khi nhập diệt; Tôn-Ðà-Lợi Nan-Ðà Thi; Xá-Lợi-Phất Chi Sở Thuyết; Ðại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận (Mahayana-sutralamkara) là một công trình vĩ đại về sự khuyến thiện; Kim Cang Châm Luận (Vajrasuci); Kiền-trĩ Phạn Tán (Gandistotragatha). Nổi tiếng nhất là bộ Ðại Thừa Khởi Tín Luận, được xếp vào Ðại Chánh Tạng tập 32.

 

13. Kapimala[45] (Ca-Tỳ-Ma-La) năm -250 đến -180 

Tổ Kapimala quê ở thủ đô Pataliputta (Hoa-Thị), nước Magadha (Ma-Kiệt-Ðà). Lúc đầu, ngài là ngoại đạo sư, rất giỏi các phép huyễn thuật, thống lãnh 3.000 đệ tử, đến tranh luận đạo lý với Tổ Asvaghosa, nhưng cuối cùng chịu khuất phục và xin quy y làm đệ tử. Sau khi được Tổ Asvaghosa (Mã Minh) phó chúc, ngài đến miền nam Ấn-độ giáo hóa, có trước tác Luận Vô Ngã gồm 100 bài kệ để hàng phục ngoại đạo. Về sau, Tổ Kapimala đến miền tây Ấn-độ, được vị Vương tử tên Vân-Tự-Tại thỉnh Tổ và đại chúng vào cung cúng dường. Nhưng Tổ từ chối bảo:

-Phật cấm sa-môn không được thân cận với các bậc vua, quan, cùng những nhà có thế lực, nên tôi không dám nhận lời.

-Thưa Tôn giả, phía bắc thủ đô có một hòn núi lớn, trong núi có  một hang đá rộng rãi yên tĩnh, ít người lai vãng, rất thuận tiện cho việc thiền định. Tuy nhiên nơi đó có nhiều rắn rít và thú dữ. Nhưng chúng tôi tin tưởng nơi đức cao dày của Tôn giả sẽ có thể chuyển hóa chúng.

Tổ nhận lời, cùng đồ chúng tiến thẳng đến núi ấy. Vừa đến nơi, có một con rắn lớn dài năm sáu thước, trợn mắt nhìn Tổ. Tổ vẫn làm thinh đi thẳng đến phía nam chân núi, dừng nghỉ chỗ đất bằng phẳng. Con rắn ấy đến quấn chung quanh Tổ, Tổ cũng làm thinh. Giây lát con rắn bò đi. Tổ nhìn lại thì không thấy đồ chúng đâu cả, họ đã trốn đi đâu mất hết. Tổ đi một mình đến chỗ hang đá, bỗng thấy một ông già mặc toàn đồ trắng đi ra chấp tay kính lễ. Tổ hỏi:

-Ông là ai? Tại sao lại ở chỗ hẻo lánh này?

-Thưa Tôn giả, tôi xưa làm đạo-sĩ, thích vắng lặng. Khi những người mới học đến hỏi, tôi thường nổi sân, do đó khi chết bị đọa làm thân rắn ở trong hang này đã gần ngàn năm. Nay được gặp Tôn giả là bậc thánh đức nên ra đảnh lễ.

-Nơi núi này còn ai ở nữa không?

-Cách đây không xa, về phía bắc, có một cây cỗ thụ thật to, nơi đó ngài Nagarjuna (Long Thọ) thường nói pháp cho đồ chúng nghe. Tôi cũng thường đến nghe.

Tổ Kapimala chờ đồ chúng tụ hội lại, rồi cùng họ tìm đến nơi cây cỗ thụ. Vừa đến nơi, quả nhiên có ngài Nagarjuna vui vẽ ra đảnh lễ, thưa:

-Chỗ rừng sâu núi thẫm đầy dã thú này sao lại được bậc chí tôn thương xót đến đây?

-Ta không phải bậc chí tôn. Chỉ muốn đến đây để thăm hỏi hiền giả.

Nagarjuna thầm nghĩ không biết vị cao tăng này có phải là bậc thánh nhân đã được truyền thừa Phật pháp chăng? Tổ hiểu ý liền nói:

-Tuy ông chưa nói ra, ta đã biết rồi. Việc xuất gia là quan trọng, lo gì ta chẳng phải thánh?

Ngài Nagarjuna liền đảnh lễ xin được xuất gia làm đệ tử. Không bao lâu Tổ Kapimala truyền tâm ấn cho ngài Nagarjuna với bài kệ:

Phi ẩn phi hiển pháp,

Thuyết thị chơn thật tế.

Ngộ thử ẩn hiển pháp,

Phi ngu diệc phi trí.[46]

Truyền pháp xong, Tổ Kapimala hiện thần biến rồi thị tịch. Nagarjuna cùng đồ chúng hỏa táng thân ngài, rồi thu lượm xá lợi xây tháp cúng dường. 

14. Nagarjuna[47] (Long Thọ) năm -240 đến -130 

Tổ Nagârjuna, thuộc dòng dõi Phạm Chí, ở xứ Berar thuộc miền tây Ấn-độ. Mẹ ngài sanh ngài nơi cội cây arjuna (a-châu-đà-na) nên lấy tên cây ấy mà đặt cho ngài. Về sau, ngài được Long thần (naga = rồng) đưa xuống Long cung cho chép kinh Hoa-Nghiêm nên ngài ngộ đạo. Do đó Tổ có biệt danh là Nagârjuna.

Từ nhỏ Tổ rất thông minh, học thuộc cả 4 bộ kinh Veda, thiên văn, địa lý, sấm truyền, bí tạng, đạo thuật đều thông suốt. Ngài từng cùng 3 người bạn thân học phép tàng hình, lén vào cung vua để hành lạc. Sự việc bại lộ, 3 người bạn bị vua chém đầu, riêng ngài thoát khỏi. Do đó Tổ cảm ngộ được ái dục là gốc của sự khổ đau, liền vào núi, đến trước Phật đài, tự xuất gia thọ giới. Sau khi xuất gia, ngài nghiên cứu tam tạng kinh điển nhưng thấy chưa đủ, lại đến núi Himalaya gặp một trưởng-lão tỳ-kheo trao cho kinh điển đại thừa, nhưng ngài chưa thể thông suốt. Khi ấy, Long thần thấy vậy thương xót, liền đưa ngài xuống Long cung, bảo chép kinh Hoa Nghiêm. Nhờ vậy ngài được tỏ ngộ.

Sau khi được Tổ Kapimala truyền tâm ấn, Tổ Nagârjuna đến miền nam Ấn-độ giáo hóa, khiến vua bỏ tín ngưỡng Bà-la-môn, quy y Phật giáo. Từ đó Tổ nổ lực hoằng pháp, viết nhiều sách chú thích kinh điển đại thừa, dựng lập thể chế cho giáo học đại thừa, khiến cho học thuyết "Bát-nhã Tánh Không" được truyền bá rộng rãi khắp Ấn-độ. Tổ Nagârjuna (Long Thọ) là vị viện trưởng đầu tiên của Viện Ðại Học Phật Giáo Nalanda.

Khi Tổ Nagârjuna đến miền nam Ấn hoằng hóa, một hôm, sau khi nghe Tổ thuyết pháp, thính chúng nói với nhau:

-Chúng ta chỉ nên ráng làm việc thiện để được phước báo, chứ mong gì thấy được Phật tánh!

Tổ bảo:

-Các ông muốn thấy được Phật tánh thì trước hết phải bỏ tâm ngã mạn đi, mới có thể thấy được.

-Bạch Hòa thượng, Phật tánh lớn hay nhỏ?

-Chẳng nhỏ chẳng lớn, không rộng không hẹp, không phước không báo, không chết không sống.

Dân chúng nghe ngài nói tột lý, ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu nổi. Tổ Nagârjuna liền ngay chỗ ngồi hóa thân thành hình mặt trăng tròn sáng. Dân chúng tuy vẫn nghe tiếng Tổ nói mà không nhìn thấy thân ngài. Trong thính chúng có ngài Kanadeva (Ca Na Ðề Bà) đứng lên giải thích:

-Ðây là Bồ-tát thị hiện cho chúng ta thấy rõ Phật tánh vậy. Vô tướng tam muội giống như mặt trăng tròn là nghĩa Phật tánh rỗng rang sáng suốt.

Ngài Kanadeva vừa dứt lời thì vầng trăng ẩn mất. Tổ Nagârjuna hiện ngồi an nhiên chỗ cũ, nói kệ:

-Thân hiện viên nguyệt tướng,

Dĩ biểu chư Phật thể.

Thuyết pháp vô kỳ hình,

Dụng biện phi thinh sắc.[48]

Thính chúng nghe xong đều cảm ngộ. Rất nhiều người cầu xin xuất gia, trong đó có ngài Kanadeva.

Về già, Tổ ở núi Hắc Phong với đệ tử là Kanadeva. Một hôm, Tổ gọi Kanadeva đến truyền tâm ấn và nói kệ:

Vị minh ẩn hiển pháp,

Phương thuyết giải thoát lý.

Ư pháp tâm bất chứng,

Vô sân diệc vô hỷ.[49]

Dặn dò xong, Tổ nhập nguyệt luân tam-muội, hiện thần biến, rồi vào niết-bàn.

Nhiều thuyết cho rằng Tổ sống đến vài trăm tuổi. Ngài có ảnh hưởng nhiều đến Mật tông ở Tây Tạng.

Tổ Nagârjuna sáng lập "Long Thọ Tứ Giáo", tức là một pháp môn tu gồm bốn giai đoạn (tứ cú, bốn câu) để thể nhập vào Như Lai Tạng Tánh:

1/ Hữu: Có (Có ngã, có pháp).

2/ Vô: Không, Chẳng có (Không ngã, không pháp => phá chấp có).

3/ Diệc hữu diệc vô: Cũng có cũng không (Phá chấp có / không).

4/ Phi hữu phi vô: Chẳng phải có chẳng phải không (Chơn không diệu hữu).

Tác phẩm của Tổ Nagarjuna gồm có: Trung Luận Tụng, Thập Nhị Môn Luận, Không Thất Thập Luận, Hồi Tránh Luận, Lục Thập Tụng Lý Luận, Ðại Thừa Phá Hữu Luận, Ðại Trí Ðộ Luận, Thập Trụ Tỳ-bà-sa Luận, Tán Pháp Giới Tụng, Bồ-đề Tư Lương Luận, Bảo Hành Vương Chánh Luận, Bồ-đề Tâm Ly Tướng Luận, Quảng Ðại Phát Nguyện Tụng, Nhân Duyên Tâm Luận Tụng, Ðại Thừa Nhị Thập Tụng Luận, Phước Cái Chánh Hạnh Sở Tập Kinh.

 

15. Kanadeva[50] (Ca-Na-Ðề-Bà) năm -170 đến -90 

Kanadeva là người nước Chấp Sư Tử, thuộc miền nam Ấn-độ. Ngài có sự hiểu biết sâu rộng, tài biện luận không ai sánh bằng. Có lần ngài đục một mắt của tượng Ðại Tự Tại Thiên bằng vàng, sau đó ngài tự khoét một mắt của mình trả lại cho Ðại Tự Tại Thiên. Do đó ngài có tên Kanadeva nghĩa là Ðề-Bà Một Mắt.

Khi Kanadeva đến ra mắt Tổ Nagarjuna (Long Thọ), Tổ Nagarjuna sai đệ tử đem ra một bát nước đầy để trước mặt ngài Kanadeva. Ngài Kanadeva liền lấy một cây kim ném vào trong nước. Hai người vui vẻ, khế hợp tâm ý. Khi Tổ Nagarjuna thuyết pháp một cách sáng tỏ đầy đủ, ngài Kanadeva ngộ được yếu chỉ, liền xin xuất gia làm đệ tử.

Sau khi được truyền tâm ấn, Tổ Kanadeva đi khắp các miền Ấn-độ, đem trí huệ biện tài điều phục ngoại đạo, độ hằng triệu người. Khi Tổ đến thành Kapilavastu, có ông trưởng giả tên Tịnh Ðức sanh được hai người con trai, người cả tên La-Hầu-La-Ðiểm, người thứ tên La-Hầu-La-Ða (Rahulata). Ông trưởng giả đã già, hằng ngày chỉ săn sóc vườn tược. Một hôm, thấy một cây trong vườn nẩy sanh một thứ nấm lạ, ông nhổ về ăn thử, thật ngon lành. Song chỉ ông và người con thứ hằng ngày đều nhổ được nấm ăn, ngoài ra không ai nhổ được. Ông trưởng giả nói với người con thứ:

-Nấm cây này chỉ ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường. Ước gì có ai thông hiểu, giải thích cho việc này.

Ít hôm sau, Tổ Kanadeva đến nhà. Cha con ông Tịnh Ðức vui mừng đem việc này ra hỏi. Tổ nói:

-Khi xưa, lúc 30 tuổi, ông thường mời một vị tỳ kheo về nhà cúng dường. Vị tỳ kheo này tuy có chút giới hạnh mà con mắt pháp chưa sáng, ham thích nhận sự cúng dường của ông. Khi mãn phần, tuy khỏi bị sa vào đường ác, nhưng vẫn phải làm cây sanh nấm này để trả nợ cho ông. Khi vị tỳ kheo đến nhà, chỉ có ông và người con thứ này thành kính cúng dường, còn bao nhiêu người khác đều không vui. Vì thế nên nấm hiện nay chỉ hai cha con ông được h