Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Đức Phật và Phật Pháp


 

 

 

 

Sự tích Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni

(Theo bản hiệu-chính ngày 21/05/2005) 

Soạn giả: Minh-Thiện Trần-Hữu-Danh

Với sự khuyến khích và giúp đỡ của hiền nội: 

Diệu-Xuân Nguyễn-thị Bạch-Mai

---o0o---

 

Phần 9

 

11- Hạ thứ 16 tại thành phố Alavi (năm -574)

 

Phật độ quỷ dạ-xoa Alavaka (quỷ Khoáng-Dã)[1] 

Sau mùa an cư thứ 15, Phật đi hoằng hóa về miền nam. Phật nhập hạ thứ 16 tại thành phố Alavi, thuộc tả ngạn sông Ganga, cách Benares (Varanasi) không xa. Gần nơi an cư có một ngôi miếu hoang vắng ở phía đông đền Narayana (Na-la-diên) thờ thần Visnu (Tỳ-nữu). Ðó là miếu thờ quỷ dạ xoa (yakkha) Alavaka[2] rất hung dữ, thích ăn thịt người. Một hôm, Phật vào ngôi miếu đó ngồi tham thiền. Quỷ Alavaka giận dữ đến trước mặt Phật hét lớn:

- Ði ra khỏi nơi đây! Mau lên.

- Ðược rồi, Như Lai đi ra đây.

- Bây giờ hãy trở vào!

Ðức Phật  lại quay trở vào miếu. Lần thứ nhì, rồi lần thứ ba, quỷ Alavaka ra lệnh cho Phật đi ra đi vào như thế, Phật đều làm theo ý nó. Quỷ Alavaka lấy làm thích chí lại hét bảo Phật đi ra. Phật nói:

- Như Lai đã chìu ý đạo hữu ba lần rồi. Như vậy là đủ rồi. Bây giờ Như Lai muốn được ngồi đây trong sự yên tĩnh.

- Ðược, này ông sa-môn, ta sẽ hỏi ông 13 câu. Nếu ông đáp được, ta sẽ để yên cho ông tự ý muốn ngồi lại đây bao lâu cũng được. Nhưng nếu ông không giải đáp được, ta sẽ phân tán tâm ông, cắt xẻ tim ông, nắm chân ông quăng tuốt qua phía bên kia sông Ganga.

- Này Alavaka, không thể được. Trên thế gian này Như Lai không thấy ai, dù là chư thiên, sa-môn, bà-la-môn, hay một đám đông người, không ai có thể phân tán tâm Như Lai, hoặc cắt xẻ tim Như Lai, hoặc nắm chân Như Lai quăng qua phía bên kia sông Ganga. Tuy nhiên, đạo hữu muốn hỏi việc gì cứ hỏi.

Alavaka liền nêu lên mấy câu hỏi sau đây:

1-     Vật sở hữu quý nhất của con người là gì?

2-     Ðiều gì, nếu thực hành đúng, sẽ đem lại hạnh phúc?

3-     Hương vị nào ngọt ngào hơn tất cả?

4-     Sống thế nào là cao thượng nhất?

Ðức Phật đáp:

1-     Niềm tin sáng suốt là vật sở hữu quý nhất của con người.

2-     Giáo pháp cao thượng, nếu thực hành đúng, sẽ đem lại hạnh phúc.

3-     Lòng từ bi là hương vị ngọt ngào nhất.

4-     Sống với trí tuệ là cao thượng nhất.

Alavaka lại hỏi tiếp:

5-     Làm sao vượt qua trận thủy tai? (Làm sao qua khỏi 1 tai nạn nguy hiểm?)

6-     Làm sao vượt trùng dương? (Làm sao thực hiện được 1 việc khó khăn to lớn?)

7-     Làm sao chế ngự được phiền não?

8-     Tự thanh lọc bằng cách nào? (Làm sao thân tâm được thanh tịnh?)

Ðức Phật đáp:

5-     Vượt qua trận thủy tai bằng niềm tin.

6-     Vượt trùng dương bằng đức kiên trì.

7-     Chế ngự phiền não bằng tính nhẫn nhục.

8-     Tự thanh lọc bằng trí tuệ.

Alavaka lại hỏi:

9-     Làm sao thành đạt trí tuệ?

10- Làm sao lập nên sự nghiệp?

11- Làm sao thành đạt danh vọng?

12- Làm sao cho tình bằng hữu trở nên khắng khít?

13- Làm sao được sạch phiền não khi qua đời?

Ðức Phật đáp:

9-     Có niềm tin sáng suốt, kiên trì tu tập Giáo Pháp của bậc Ðại giác, sẽ thành đạt trí tuệ có khả năng dẫn đến niết-bàn.

10- Sáng suốt, kiên trì, cần mẫn làm việc, sẽ lập nên sự nghiệp.

11- Tính chân thật sẽ làm cho thành đạt danh vọng.

12- Ðức quảng đại khoan dung làm cho tình bằng hữu trở nên khắng khít.

13- Người cư sĩ có bốn phẩm hạnh: chân thật, giới đức, can đảm và khoan dung, sẽ không phiền não khi qua đời.

Nếu đạo hữu còn nghi ngờ, hãy đi hỏi các vị sa-môn và bà-la-môn khác xem họ có gì quý báu, cao thượng hơn tính chân thật, tự kiểm soát, quảng đại và nhẫn nại không?

Quỷ Alavaka đã hiểu lời Phật dạy, bạch rằng:

- Bạch Thế Tôn, nhờ Thế Tôn chỉ dạy, con đã thấu hiểu bí quyết để mưu cầu an lạc trong tương lai. Con đâu còn phải đi hỏi các vị sa-môn hay bà-la-môn khác nữa làm gì. Hôm nay, đức Thế Tôn quang lâm đến Alavi chính vì sự an lành của con. Con đã hiểu rằng pháp thí đem lại quả lành phong phú. Từ nay con sẽ đi từ làng này sang làng khác, từ đô thị này đến thị trấn kia để tán dương công đức và giáo pháp cao thượng của bậc Chánh Biến Tri.

- Này Alavaka, muốn được an lạc thì phải giữ giới thanh tịnh, nhất là 4 trọng giới sát sanh, trộm cướp, dâm dục, nói dối. Liệu ngươi có giữ được không?

- Bạch Thế Tôn, đối với 3 giới trộm cướp, dâm dục và nói dối thì con giữ được. Nhưng con và quyến thuộc của con chỉ nhờ ăn máu thịt mà được sống, nay thọ giới không sát hại thì biết lấy gì để sống?

- Này thiện nam tử, Như Lai sẽ bảo các vị khất sĩ (tỳ-kheo) từ nay trở đi, vào mỗi bửa ngọ trai phải thường thí thực cho ngươi và quyến thuộc của ngươi.[3]

- Bạch Thế Tôn, con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, và nguyện từ nay sẽ hết lòng hộ trì Chánh Pháp.

Nói xong, quỷ dạ-xoa Alavaka đảnh lễ Phật rồi lui ra đi mất.

 

12- Hạ thứ 17 tại Venuvana (năm -573)

 

Có ai muốn mua thi hài người đẹp Sirima không?[4] 

Sau mùa an cư thứ 16 tại Alavi, Phật đến Benares (Varanasi) giáo hóa một thời gian, rồi ngài đi lần về hướng đông, trở về Venuvana ở thủ đô Rajagriha của xứ Magadha. Phật nhập hạ thứ 17 tại Venuvana. Trong hạ này, cô gái giang hồ trẻ đẹp nổi tiếng tên Sirima, em cùng mẹ với y sĩ Jivaka, qua đời tại Rajagriha. Cô chỉ mới độ 25 tuổi. Cái chết đột ngột của cô làm chấn động dư luận quần chúng tại thủ đô, nhất là trong giới quý tộc và trưởng giả. Jivaka thỉnh Phật đến dự lễ hỏa táng của người em gái xấu số.

Trước khi tẩn lịm, đức Phật nói với đại diện chính quyền hãy truyền rao trong dân chúng xem có ai muốn mua thi hài người đẹp Sirima không? Không ai lên tiếng mua, mặc dù trị giá ban đầu là 1000 quan tiền, sụt lần xuống chỉ còn 1 quan. Phật lại bảo truyền rao xem có ai muốn nhận lãnh thi hài người đẹp mà khỏi phải trả tiền không. Cũng không ai lên tiếng nhận lãnh. Ðức Phật nói:

- Quý vị hãy nhìn kia, cái thân hình mà lúc còn sống đã quyến rũ và thu hút bao nhiêu người, bây giờ đang nằm đó, không ai màng đến, không ai muốn nhận lãnh dù khỏi phải trả tiền. Thân người dù đẹp đẽ, sang trọng, dù được chăm sóc chu đáo bằng những thức ăn ngon, bằng cách phục sức lộng lẫy, đến khi trút hơi thở cuối cùng cũng phải chịu tàn hoại và tan rã, không còn giữ được cái gì gọi là đẹp, gọi là quý giá nữa. Quý vị không nên quý trọng thân xác, mà hãy chú trọng đến việc trau dồi đức hạnh, hành trì giáo pháp cao thượng của bậc giác ngộ để ra khỏi cảnh đau khổ luân hồi, đạt đến cảnh niết-bàn an lạc thanh tịnh. Ðó mới là hạnh phúc chân thật.

Rồi đức Phật nói bài kệ sau đây:

"Hãy nhìn cái thân hình xinh đẹp kia,

"Giờ đây chỉ còn là một thể xác đầy đau thương,

"Một đống thịt xương bệnh tật đang tàn hoại.

"Tuy được nhiều người bận tâm lo lắng,

"Nhưng trong đó không có gì trường tồn, ổn định. (Kinh Pháp Cú, bài 147)

 

13- Hạ thứ 18 tại tảng đá Caliya, xứ Koliya (năm -572)

 

Con gái người thợ dệt ngộ đạo[5] 

Phật nhập hạ thứ 18 tại tảng đá Caliya, gần thành phố Calika, xứ Koliya. Sau khi mãn hạ, đức Phật về Jetavana giáo hóa một thời gian, rồi ngài lại đi về miền nam, đến thành phố Alavi bên bờ sông Ganga, để độ cô gái 18 tuổi, con một người thợ dệt. Gần ba năm trước, lúc Phật nhập hạ tại Alavi, cô được nghe Phật dạy quán tưởng về cái chết (Marana-anussati) như sau:

- Quý vị hãy siêng năng thực hành thiền định, quán niệm về cái chết. Quý vị nên nghĩ rằng "Ðời sống không ổn định, cái chết thì chắc chắn. Chắc chắn tôi sẽ chết. Cái chết sẽ chấm dứt đời tôi. Cuộc đời không vững bền, không ai tránh khỏi cái chết." Khi tử thần đến, người không quen quán niệm về cái chết sẽ ra đi trong đau khổ và sợ sệt, cũng như một người run rẩy kinh hoàng khi bất thình lình thấy một con rắn xuất hiện bên mình. Người quen quán niệm về cái chết sẽ bình tĩnh, không sợ sệt vào lúc lâm chung, cũng như người quen gặp rắn bình tĩnh dùng gậy hất con rắn ra xa rồi tiếp tục đi.

Về nhà, cô thường xuyên suy gẫm về những lời dạy của đức Phật. Hôm nay được tin Phật trở lại tinh xá Aggalava tại Alavi, cô gái muốn đến hầu Phật và nghe pháp. Nhưng hồi sáng nầy, trước khi đi đến xưởng dệt, cha cô căn dặn cô phải quấn mấy cái suốt chỉ cho đầy rồi mau mau đem đến xưởng để ông dệt gấp cho xong tấm lụa để giao gấp cho một khách hàng quan trọng. Cô gái lo quấn gấp mấy cái suốt chỉ cho xong trong buổi sáng, nhưng đến gần giờ ngọ mới xong. Cô lật đật thay áo định đem mấy cái suốt chỉ ra xưởng cho cha rồi lúc trở về sẽ ghé tinh xá Aggalava nghe Phật thuyết pháp.

Ðến giờ ngọ, dân chúng dâng vật thực cúng dường đức Thế Tôn và các vị khất sĩ. Sau khi Phật thọ trai xong, dân chúng khao khát được nghe pháp. Nhưng đức Phật ngồi lặng thinh, không nói một lời.

Trên đường đi đến xưởng dệt, lúc đi ngang qua tinh xá Aggalava, cô gái thấy rất đông người tụ họp. Cô len lỏi vào đám đông để được đến gần nhìn thấy mặt Phật. Cô vừa nhìn thấy mặt Phật thì Phật cũng vừa ngẩng đầu lên nhìn thấy cô. Cô vội đặt giỏ suốt chỉ xuống, thành tâm bước đến đảnh lễ Phật. Ðức Phật hỏi:

- Con từ đâu đến?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Rồi con sẽ đi về đâu?

- Bạch Thế Tôn, con không biết.

- Con không biết sao?

- Dạ, con biết.

- Con biết thật không?

- Dạ, con không biết.

Ðại chúng ngồi nghe bốn câu vấn đáp giữa đức Phật và cô gái, ai cũng ngơ ngác chẳng hiểu gì, họ cho rằng cô gái trả lời ngớ ngẩn. Ðức Phật  thương xót đại chúng nên hỏi tiếp cô gái:

- Này con, khi Như Lai hỏi Con từ đâu đến? tại sao con nói Con không biết?

- Bạch Thế Tôn, ngài hẳn đã biết con từ nhà đến đây. Nhưng ý ngài muốn hỏi con từ cảnh giới nào tái sanh đến đây. Ðiều đó con không biết..

- Này con, khi Như Lai hỏi Rồi con sẽ đi về đâu?tại sao con nói Con không biết?

- Bạch Thế Tôn, ngài hẳn đã biết con đang đi đến xưởng dệt vì con đang cầm giỏ suốt chỉ trên tay. Nhưng ý ngài muốn hỏi con sẽ tái sanh về đâu. Ðiều đó con không biết..

- Khi Như Lai hỏi Con không biết sao?tại sao con đáp Con biết?

- Bạch Thế Tôn, vì con biết chắc chắn rằng con sẽ chết.

- Khi Như Lai hỏi Con biết thật không?sao con đáp Con không biết ?

- Bạch Thế Tôn, vì con không biết rõ chừng nào con sẽ chết.

Ðức Phật khen ngợi cô gái sáng trí đã hiểu ý Phật, rồi ngài nói bài kệ:

"Thế gian này mù quáng,

"Chẳng mấy người thấy rõ.

"Số người vào nhàn cảnh thật hiếm hoi,

"Như số chim thoát khỏi lưới. (Kinh Pháp Cú, bài 174)

Sau bốn câu hỏi của đức Phật, cô gái chứng quả Tu-đà-hoàn (Sotapanna). Cô đảnh lễ dưới chân Phật rồi lui ra, đem mấy suốt chỉ đến xưởng dệt cho cha. Chiều hôm đó, tại xưởng dệt, cô bị tai nạn qua đời. Cha cô vô cùng đau khổ, đến hầu Phật, thuật lại cái chết tức tưởi bất ngờ của cô. Ðức Phật giảng Tứ-diệu-đế để khuyên giải ông và cho ông biết con gái ông đã được vãng sanh về cung trời Ðâu-suất (Tusita). Sau đó ông xin được xuất gia, tinh tấn tu hành, ít lâu sau đắc quả A-la-hán.

 

14- Hạ thứ 19 tại Griddhakuta (năm -571)

 

Mùa an cư thứ 19 Phật ngụ tại Griddhakuta (hay Gijjhakuta, núi Linh-Thứu). Griddhakuta là một ngọn núi nhỏ ở phía nam núi Chhatha. Trên đỉnh núi có một tảng đá lớn bằng phẳng độ 45 m2 là nơi Phật cư trú và thuyết pháp. Vua Bimbisara đã cho xây một con đường bằng đá từ chân núi lên đến nơi Phật cư trú. Hai bên con đường này và xung quanh núi có nhiều hang đá của các vị khất sĩ ở. Hang đá mà đại đức Ananda thường ở nằm bên phải vệ đường Bimbisara khi lên gần tới tịnh thất của Phật. Một hôm, đại đức Ananda đang ngồi thiền trong hang đá này, bị Ma-vương hóa làm một con chim thứu to lớn đứng trước cửa hang dọa nạt. Ðức Phật dùng thần thông đưa tay vào hang đá nắm vai đại đức để trấn an. Dưới chân núi Griddhakuta có đền Maddakuchchi là nơi hoàng hậu Videhi chà xát bụng định phá thai. Xa hơn một chút, đến gần cổng phía đông thành Rajagriha (Vương-Xá) là khu vườn xoài của y sĩ Jivaka. Mỗi khi Phật cư trú tại Linh-Thứu thì vua Bimbisara và y sĩ Jivaka thường lui tới để thăm viếng, cúng dường và nghe pháp.

 

Phật truyền tâm ấn cho đại đức Maha-Kassapa (Niêm hoa vi tiếu[6]) 

Một hôm, đến giờ thuyết pháp trên đỉnh núi Griddhakuta (Linh-Thứu), Phật từ trong tịnh thất bước ra, tay cầm một cành hoa sen màu vàng đưa lên cao, ngài im lặng đưa mắt nhìn khắp đại chúng mà không nói lời nào. Ðại chúng nhìn Phật một hồi rồi ngơ ngác nhìn nhau, không hiểu ý Phật muốn nói gì. Một lát sau, Phật lên tiếng:

- Này Maha-Kassapa, Như Lai có "Chánh pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, vi diệu pháp môn"[7], hôm nay truyền lại cho thầy. Thầy hãy nhận lấy.

Mọi người đưa mắt nhìn về phía đại đức Maha-Kassapa. Nụ cười vẫn còn phưởng phất trên đôi môi của đại đức. Mắt thầy vẫn nhìn lên Phật, mặt thầy rạng rỡ.

Nhận thấy phần đông đại chúng còn chưa hiểu, Phật khai thị:

- Này các thầy, khi Như Lai đưa cành hoa sen lên trước đại chúng, tất cả các thầy đều có cơ hội đồng đều nhìn thấy cành hoa. Nhưng phần đông các thầy khởi nghĩ "Vì cớ gì mà hôm nay sa-môn Gotama đưa cành hoa lên lại không nói một lời?". Này các thầy, khi đã sinh tâm khởi nghĩ là ta đã mất chánh niệm, tâm đã động, không còn khả năng trực nhận được thực tại nữa. Chư Phật mười phương đều có tâm thanh tịnh không nghĩ tưởng, do đó các ngài luôn luôn an trú nơi niết-bàn diệu tâm thường trụ an lạc không thể nghĩ bàn. Trong lúc Như Lai đưa hoa sen lên, chỉ có Maha-Kassapa hiểu được ý Như Lai. Vì tâm thầy đã được thanh tịnh nên mới đối cảnh vô tâm, do đó thâm nhập được tri kiến Phật. Thầy Maha-Kassapa là người có đầy đủ khả năng bảo trì và xiển dương Chánh Pháp.

Tất cả đại chúng nghe tới đây đều hoan hỷ và cho rằng đại đức Maha-Kassapa là người đã được Phật truyền tâm ấn. Thiền tông bắt nguồn từ đây.

 

Vị lương y Jivaka 

Jivaka là con rơi của vua Bimbisara với bà Ambapali, lúc ngài còn là thái tử. Chàng học thuốc từ năm 14 tuổi tại thủ đô Rajagriha. Năm đó, chàng đã được mẹ tới đón, đưa đến tinh xá Venuvana thăm Phật. Năm nay (-571) Jivaka đã được 31 tuổi. Tốt nghiệp ngành y từ năm 23 tuổi, Jivaka đã trở nên một lương y nổi tiếng sau khi chữa lành cho nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo. Jivaka cũng là vị lương y của vua Bimbisara và đức Phật. Chính y sĩ Jivaka đề nghị với Phật một số biện pháp vệ sinh cần được áp dụng cho các vị khất sĩ như việc chấp tác quét dọn nhằm tạo điều kiện cho cơ thể vận động. Y phục mỗi bảy ngày phải được giặt ít nhất một lần. Mỗi vị khất sĩ nên có một dụng cụ lượt nước để uống. Nước uống lấy từ ao hồ phải được đun sôi. Nhà tắm cần được dựng thêm trong tinh xá. Thức ăn hôm nay không nên để dành lại ngày hôm sau. Tất cả những điều Jivaka đề nghị, Phật đều chấp thuận. Ðến sau hạ thứ 39, y sĩ Jivaka được 51 tuổi, lúc Phật từ Jetavana trở về Griddhakuta, ông xin xuất gia và được Phật ban pháp tự[8] là Vimala Kondanna.

 

Phước điền y (sanghati, áo tăng-già-lê) 

Lúc bấy giờ cúng dường áo tăng-già-lê (sanghati) đã trở nên một hành động rất phổ thông trong dân chúng. Có một hôm Phật thấy một vị khất sĩ đi khất thực về, trên vai có một xấp áo sanghati dầy cộm, Phật hỏi:

- Thầy có bao nhiêu y tất cả?

- Bạch Thế Tôn, con được cúng dường tất cả tới tám cái y.

- Thầy cần dùng nhiều y đến thế sao?

- Bạch Thế Tôn, con không cần nhiều y như thế, nhưng vì ngườI ta cúng dường nên con phải nhận.

- Theo thầy thì mỗi vị khất sĩ cần có bao nhiêu y là đủ?

- Bạch Thế Tôn, con nghĩ ba y là vừa đủ cho mỗi người. Ngồi thiền trong rừng lạnh, hoặc ngủ đêm dưới gốc cây mà có được ba y là đủ ấm.

- Như Lai cũng thấy như vậy. Từ nay về sau, mỗi vị khất sĩ chỉ nên có một bình bát và ba bộ cà-sa mà thôi. Nếu được cúng dường thêm, quý thầy nên từ chối.

Một hôm khác, Phật đứng trên một ngọn đồi cao nhìn xuống một khu ruộng rộng lớn, lúa chín vàng rực rỡ, có những bờ đê nhỏ chia ra thành những ô vuông trông rất đẹp mắt. Phật bảo:

- Này Ananda, thầy có thấy khu ruộng lúa dưới chân đồi kia không? Thật là đẹp! Thầy nghĩ sao? Ta có nên may áo sanghati cho các vị khất sĩ theo kiểu mẫu này không?

- Bạch Thế Tôn, con thấy ý đó rất hay. Từ trước đến nay áo sanghati thường được may bằng những mảnh vải vụn kết lại với nhau. Tùy theo con mắt mỹ thuật của người may, có khi áo may xong thật đẹp, có khi rất khó coi. Chi bằng có một kiểu mẫu nhất định về cách kết hợp những mảnh vải vuông nhỏ, thì các vị khất sĩ sẽ có được một kiểu áo đồng nhất dễ coi hơn. Con cũng đã từng nghe Thế Tôn nói một vị khất sĩ tu học nghiêm chỉnh là một thứ đất ruộng rất tốt, đà-na tín-thí (danapati) cúng dường cho vị khất sĩ đó chẳng khác nào gieo những hạt giống phước đức cho hiện tại và tương lai. Vậy nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ thảo luận lại với các sư huynh lớn để nghiên cứu và đề nghị một kiểu mẫu vừa đẹp vừa tiện lợi và xin gọi kiểu áo đó là phước-điền-y.

Phật mỉm cười gật đầu ưng thuận.

Sau khi mãn hạ thứ 19, Phật lên đường đi về phương bắc, dự trù sẽ nhập hạ kỳ tớI tại Jetavana ở Sravasti.

 

15- Hạ thứ 20 tại Jetavana (năm -570)

 

Angulimala xuất gia sau khi đã giết 999 người[9] 

Một buổi sáng, Phật đi vào thành Sravasti khất thực. Khất thực xong, ngài tìm nơi ngồi thọ trai một mình ở một mé rừng. Thọ trai xong, ngài đứng dậy đi ra ngoại ô theo một con đường lớn vắng vẻ. Vài người nông dân thấy Phật, vội chạy đến bảo:

- Bạch Thế-tôn, đi đường này hôm nay nguy hiểm lắm. Người ta cho biết tên sát nhơn Angulimala hiện đang có mặt trong vùng này. Hắn là người rất hung bạo, giết người không gớm tay, quan quân đều nể sợ. Mỗi khi giết được ai, hắn cắt ngón tay út của người đó, xỏ thành xâu đeo trên cổ, hiện nay hắn đã có hằng ngàn ngón tay rồi.

Nhiều người đã đến gặp Phật, nói như thế. Nhưng Phật chỉ cám ơn rồi tiếp tục đi. Ðến đoạn đường hoàn toàn không có bóng người, Angulimala trông thấy Phật, liền ẩn mình trong bóng cây bên vệ đường, theo dõi một lúc rồi cầm đao xong ra đường chạy theo. Ban đầu hắn chạy chậm, về sau hắn chạy càng lúc càng nhanh hơn, cho đến khi mồ hôi nhễ nhại mà vẫn không bắt kịp đức Phật, trong lúc hắn thấy đức Phật chỉ bước đi một cách khoan thai. Hắn bực tức hét lớn:

- Ông sa-môn kia, hãy dừng lại!

- Này Angulimala, mặc dù bước đi, Như Lai đã dừng lại. Còn ông, ông đã dừng lại chưa?

- Này sa-môn, ông không nói dối chứ!? Ông nói ông đã dừng lại, sao tôi chạy theo ông nãy giờ mà không bắt kịp?

- Ðúng vậy, Angulimala, Như Lai đã dừng lại từ lâu rồi. Ðã từ lâu Như Lai không còn sát hại hay làm tổn thương bất cứ một sinh mạng nào. Còn ông, ông đã sát hại bao nhiêu mạng người với chứng tích vòng hoa kết bằng những ngón tay trên cổ ông kia. Hai tay ông và cả tâm hồn ông dính đầy máu. Chính ông là người phải dừng lại. Này Angulimala, không thể tìm được hạnh phúc bằng hành động sát hại. Sát hại chỉ gây ra ghê sợ, thù hận và đau khổ. Này Angulimala, chỉ có những hành động ban vui, cứu khổ, hòa nhã với mọi người, tha thứ mọi lỗi lầm của người khác mới đem lại hạnh phúc mà thôi.

Angulimala rất ngạc nhiên. Ðã từ lâu không ai dám đến gần ông ta. Ðã từ lâu không ai dám đứng nhìn ông ta dù từ xa. Thế mà hôm nay vị sa-môn này lại có vẻ oai nghiêm bình tĩnh đứng trước mặt ông ta, nhìn thẳng vào mắt ông ta, dùng lời nói ôn tồn hòa nhã khuyên nhủ ông. Phải rồi, vị này không phải ai khác hơn là sa-môn Gotama mà ông từng nghe tiếng. Angulimala buông đao xuống đất, xụp xuống đảnh lễ dưới chân Phật, rồi vừa khóc vừa nói:

- Bạch Thế Tôn, con là Ahimsaka xin đảnh lễ đức Thế Tôn. Con rất ân hận đã gặp Thế Tôn quá muộn màng. Con đã gây quá nhiều tội ác, không còn dừng lại được nữa. Con không còn cách nào để chuộc lại những lỗi lầm đã qua. Quan quân và dân chúng sẽ không để cho con yên.

- Này Ahimsaka, biết phục thiện, sám hối sự lỗi lầm, trở về đời sống chơn chánh, không bao giờ là quá sớm hay quá muộn. Này Ahimsaka, nếu ông gia nhập vào giáo đoàn khất sĩ, quyết tâm sống đời phạm hạnh, siêng năng tu hành theo chánh pháp thì Như Lai sẽ có cách bảo vệ cho ông.

- Bạch Thế Tôn, con nguyện từ đây hối cải, bỏ ác làm lành, quyết tâm theo Phật để học hạnh từ bi. Con xin Thế Tôn chấp nhận con làm đệ tử.

- Hãy đến đây, tỳ-kheo Ahimsaka, hãy sống đời thánh thiện!

Vừa lúc ấy các đại đức Sariputta, Ananda, Upali, Kimbila và nhiều vị khất sĩ khác xuất hiện. Hay tin Phật đang đi vào vùng đang có hiểm họa Angulimala, các đại đức vội đi tìm Phật. Bây giờ thấy Phật an lành và Angulimala đã quy phục, mọi người đều mừng rỡ. Phật bảo thầy Upali xuống tóc cho Ahimsaka; thầy Ananda trao cho Ahimsaka một cái áo sanghati; thầy Sariputta và Upali truyền dạy vài giới luật và giáo pháp căn bản. Rồi mọi người theo Phật trở về tinh xá Jetavana.

Về đến tinh xá Jetavana, Angulimala kể lại cho Phật nghe cuộc đời của ông ta như sau: Angulimala (Ươn-quật-ma) lúc nhỏ tên là Ahimsaka (Người vô tội). Cha là Gagga, quốc sư của vua Pasenadi xứ Kosala. Mẹ là Mantani. Ông được cha cho đến Taxila[10] (Takshasila) học với một đạo sư danh tiếng. Ahimsaka rất thông minh nên đã trở thành một đệ tử lỗi lạc. Vì thế mà bạn bè sinh lòng ganh tị, bịa chuyện nói xấu ông với thầy. Thầy ông tin lời, lấy làm tức giận, mưu hại Ahimsaka bằng cách truyền lệnh cho ông phải giết một ngàn người và nộp đủ một ngàn ngón tay út của bàn tay phải để ông làm phép truyền dạy cho nhiều môn thần thông đặc biệt. Ahimsaka tưởng thật, vâng lời. Sau khi giết vài người để chặt lấy ngón tay út, ông bị chánh quyền ra lệnh tầm nã, phải vào ở ẩn trong rừng Jalini. Lần hồi ông trở nên một tên sát nhân ghê gớm, võ nghệ cao cường, xuất quỷ nhập thần, đến cả quan quân triều đình đều phải nể sợ. Vua Pasenadi ra lệnh lùng bắt Ahimsaka và treo giải thưởng cho ai bắt được ông, nhưng đến nay chưa ai làm được việc này. Những ngón tay chặt được, ông xỏ xâu như một vòng hoa đeo trên cổ để khỏi bị chim hay thú ăn mất. Do đó người ta gọi ông là Angulimala (Vòng hoa kết bằng những ngón tay). Khi ông đã được 999 ngón tay thì dân chúng quá hoảng sợ không dám ra khỏi nhà, quân lính tuần phòng rất nghiêm nhặt, Angulimala phải vất vả suốt đêm mà không tìm được ngón tay cuối cùng. Ông định bụng lẻn về nhà để chặt ngón tay của mẹ. Nhưng giữa đường thì gặp Phật.

Trong mười hôm liên tiếp, đại đức Ahimsaka được đại đức Upali hướng dẫn về giới luật và đại đức Sariputta chỉ dạy về giáo lý và các phương pháp thiền tọa, thiền hành, khất thực, thọ trai ... Ðại đức Ahimsaka nổ lực học hỏi và thực tập rất tinh tấn. Nửa tháng sau, khi đến thăm Ahimsaka tại am của thầy ở một nơi thanh vắng trong tinh xá Jetavana, đức Phật cũng phải ngạc nhiên về sự tiến bộ của thầy. Ahimsaka đã trở nên một vị khất sĩ trang nghiêm, hiền hòa với lời nói ôn tồn điềm đạm.

Tiếng đồn Angulimala đã xin xuất gia theo Phật đã đến tai vua Pasenadi. Dân chúng và triều thần đều cảm thấy nhẹ nhỏm. Uy tín của đức Phật và giáo đoàn khất sĩ càng vững mạnh. Ðộ một tháng sau ngày Angulimala xuất gia, vua Pasenadi đến tinh xá Jetavana viếng Phật và hỏi:

- Bạch Thế Tôn, trẫm nghe nói tên sát nhân Angulimala đã xin xuất gia theo ngài, có đúng thế không? Hiện nay hắn ở đâu? Hắn có làm điều gì nhiễu hại đến Thế Tôn không?

- Thưa Ðại vương, quả thật Angulimala đã xuất gia. Hiện nay thầy đang tịnh tu trong một am ở nơi thanh vắng trong tinh xá. Thầy đã quyết chí cải tà quy chánh, sống đời phạm hạnh, tinh tấn tu hành. Như Lai khuyên thầy nên ẩn cư tu tập cho đến cuối mùa an cư này.

- Bạch Thế Tôn, Angulimala là một tên sát nhân vô cùng nguy hiểm, là một mối họa lớn cho mọi người. Thế Tôn nên thận trọng để người coi chừng hắn.

- Ðại vương đừng ngại, thầy Ahimsaka bây giờ đã trở nên một khất sĩ thuần thành, thầy còn có nhiều triển vọng tiến xa hơn nữa.

- Bạch Thế Tôn, nếu được như vậy thì thật là một phước lớn cho dân chúng ở Sravasti, mọi người sẽ hết phập phòng lo sợ, được an ổn làm ăn. Ðiều mà trẫm không thực hiện được bằng binh hùng tướng mạnh, Thế Tôn đã hoàn thành bằng đức từ bi, chẳng những cứu dân chúng khỏi nạn lo sợ chết chóc mà còn độ được tên sát nhân Angulimala vào đường tu hành thánh thiện. Trẫm xin bái phục.

 

Tỳ-kheo Ananda được chọn làm thị-giả[11] thường xuyên cho Phật 

Trong khoảng 20 năm từ ngày đức Phật thành đạo đến nay, ngài đã có tất cả tám vị thị giả. Ðó là các thầy Nagasamala, Sunakkhatta[12], Upavana, Nagita, Sagatta, Radha, Meghiya và chú sa-di Cunda. Nhưng các vị này chỉ được đề cử với tính cách tạm thời. Chưa ai có đủ đức tính để làm thị giả thường xuyên cho Phật. Năm nay đức Phật đã 55 tuổi, một hôm, ngài nói với đại đức Sariputta:

- Này Sariputta, bây giờ Như Lai đã lớn tuổi rồi. Lắm khi Như Lai nói "Ta hãy đi lối này" thì có người lại đi lối kia. Cũng có người đánh rơi y bát của Như Lai. Vậy các thầy hãy chọn một người để thường xuyên hầu cận Như Lai.[13]

- Bạch Thế Tôn, đại đức Sariputta nói, con xin tình nguyện làm thị giả thường xuyên hầu cận Thế Tôn.

- Không được đâu, đức Phật đáp, thầy cũng đã lớn tuổi rồi và còn phải lo nhiều việc quan trọng hơn như tổ chức, điều hành và hướng dẫn Giáo đoàn.

Ðại đức Moggallana và nhiều vị đệ tử tên tuổi khác cũng xin tình nguyện làm thị giả, nhưng Phật đều từ chối. Riêng đại đức Ananda vẫn ngồi yên lặng.

Trong một buổi pháp đàm tại giảng đường Lộc Mẫu  ở tinh xá Ðông Viên, các đại đệ tử của Phật đi tới hai đề nghị quan trọng sau đây: 1- Ðề nghị thầy Ananda làm thị giả thường xuyên cho Phật; 2- Ðề nghị từ nay về sau, cứ tới mùa an cư thì thỉnh Phật trở về Sravasti nhập hạ.

Ðề nghị đầu là do đại đức Sariputta đưa ra. Ðại đức nói:

- Sư huynh Ananda là người có trí nhớ bền bỉ nhất trong chúng ta. Trí nhớ của sư huynh thật là lạ lùng, trên trần gian này không ai bì kịp. Mỗi khi Phật dạy điều gì mà có mặt sư huynh Ananda thì những lời Phật dạy không rơi rớt đi đâu cả. Khi trùng tuyên lại những điều Phật dạy thì sư huynh Ananda lập lại không sót một câu, không mất một tiếng. Vì vậy, nếu sư huynh làm thị giả cho Phật, sư huynh sẽ có dịp nghe hết những gì Phật nói, bất luận cho một đám đông hay cho một người. Lời dạy nào của Phật cũng quý báu không cùng, cần được ghi nhận đầy đủ để làm tài liệu cho hậu thế. Trong 20 năm qua, chúng ta đã dại dột để rơi rớt và mất mát khá nhiều. Vậy sư huynh Ananda nên vì tất cả các khất sĩ và vì các thế hệ tương lai mà nhận lãnh trách nhiệm làm thị giả cho Phật.

Các vị khất sĩ có mặt trong buổi họp đều tán đồng ý kiến của đại đức Sariputta. Ðại đức Ananda có vẻ ngần ngại. Thầy nói:

- Tôi thấy có nhiều điều bất tiện nếu các sư huynh cử tôi làm thị giả cho Phật. Không chắc Phật đã bằng lòng cho tôi làm thị giả. Vì như thế có thể bị mang tiếng là ưu đãi những người trong thân tộc Sakya. Ðối với ni sư Maha-Pajapati vốn là di mẫu của người mà người cũng rất cứng rắn. Còn Rahula thì từ ngày được làm sa-di, không bao giờ được ngủ trong tịnh thất của Phật, hay ngồi ăn cơm riêng với Phật. Ðối với tôi cũng vậy, không bao giờ Phật cho tôi thân cận một cách quá đáng. Riêng phần tôi cũng ngại mang tiếng thóc mách mỗi khi có huynh đệ nào bị Phật gọi đến quở trách.

Nói tới đây, đại đức Ananda nhìn đại đức Sariputta rồi nói tiếp:

- Cũng như đối với sư huynh Sariputta. Sư huynh được Phật khen là người thông minh và tài giỏi nhất trong số các đệ tử. Sư huynh là người phụ tá rất đắc lực cho Phật trong việc dạy dỗ cũng như trong việc tổ chức. Phần nhiều các đề nghị của sư huynh đều được Phật chấp thuận. Do đó sư huynh bị một số huynh đệ ganh tị, nói xấu. Tôi ngại nếu tôi nhận làm thị giả cũng sẽ không tránh khỏi những điều đó. Tôi không muốn mất hòa khí với bất cứ huynh đệ nào.

Ðại đức Sariputta cười nói:

- Riêng tôi thì tôi không ngại bị hiểu lầm hay bị ganh tị, dĩ nhiên nếu mình tránh được thì tốt. Ðiều quan trọng hơn hết là khi nhận thấy điều gì thật sự có lợi cho đa số thì mình phải có can đảm làm và nhận lãnh trách nhiệm, dù bị ai nói xuyên tạc mình cũng không nên thối chí ngã lòng. Này sư huynh Ananda, chúng tôi biết sư huynh là người có ý tứ lắm. Nhưng nếu sư huynh không nhận làm thị giả thì đạo pháp sẽ bị thiệt thòi nhiều, chẳng những cho giáo đoàn khất sĩ hiện nay mà còn cho cả biết bao thế hệ sau này nữa.

Ðại đức Ananda im lặng suy nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Tôi đồng ý nhận làm thị giả nếu chính đức Phật bảo tôi làm, và nếu không có huynh đệ nào phản đối. Ngoài ra tôi xin đức Phật chấp thuận tám điều thỉnh nguyện sau đây:

1- Ðức Phật không ban cho tôi những bộ y do thiện tín dâng cho ngài.

2- Ðức Phật không ban cho tôi những vật thực do thiện tín cúng dường ngài.

3- Ðức Phật không cho tôi cùng ở chung trong một tịnh thất.

4- Ðức Phật không cho tôi đi theo khi ngài được thí chủ thỉnh riêng.

5- Ðức Phật sẽ hoan hỷ cùng đi với tôi khi tôi được một thí chủ mời thọ trai.

6- Ðức Phật sẽ hoan hỷ cho phép tôi được tiến dẫn những vị khách từ phương xa đến xin yết kiến ngài.

7- Ðức Phật sẽ hoan hỷ cho phép tôi đến bạch mỗi khi tôi có điều hoài nghi.

8- Ðức Phật sẽ hoan hỷ lập lại bài pháp mà ngài giảng lúc không có mặt tôi.

Ðại đức Upali góp ý:

- Những điều sư huynh Ananda đưa ra đều là chính đáng; tôi chắc những điều ấy sẽ được Phật chấp nhận. Duy có điều thứ tư tôi thấy chưa ổn. Nếu sư huynh không đi theo Phật khi ngài được mời thọ trai thì làm sao sư huynh được nghe những lời Phật dạy thí chủ để lập lại cho chúng tôi nghe? Có thể đó là những điều mới lạ mà Phật chưa bao giờ nói. Tốt hơn hết là nên có một huynh đệ khác cùng đi theo.

Ðại đức Ananda cười:

- Ðiều sư huynh Upali nói cũng chưa ổn. Trong trường hợp thí chủ chỉ đủ sức cúng dường cho hai người thôi thì sao?

- Thì hôm ấy đức Thế Tôn và hai sư huynh ăn ít lại một chút chứ sao.

Các thầy cùng cười rộ lên một cách vui vẻ. Vấn đề thị giả đã giải quyết xong, các thầy bàn tới chuyện thỉnh Phật an cư hằng năm tại Sravasti.

Sravasti hiện nay có tới hai tinh xá lớn là Jetavana (Kỳ Viên) và Pubbarama (Ðông Viên). Ngoài ra còn có một tinh xá nhỏ cho ni chúng. Lấy Sravasti làm trụ sở hành đạo trung ương cho đức Phật và giáo đoàn khất sĩ rất tiện lợi. Ở các nước lân cận, ai muốn gặp Phật mà không biết ngài ở đâu thì cứ đến Sravasti vào mùa an cư  là được gặp. Ðó là cơ hội đồng đều cho tất cả mọi người. Các vị khất sĩ và nữ khất sĩ từ các xứ lân cận có thể tới Sravasti an cư chung với đức Bổn sư không có gì trở ngại, vì các đại thí chủ như Anathapindika và Visakha đã phát nguyện cúng dường thực phẩm, thuốc men, y phục và chỗ cư trú cho bất cứ vị khất sĩ nào tới đây.

Sau khi kết thúc buổi pháp đàm, các thầy lớn cùng đi đến tịnh thất của Phật để trình bày những ý kiến của đại chúng. Ðức Phật hoan hỷ chấp thuận cả hai đề nghị trên.

 

Ðại đức Ahimsaka (Angulimala) bị hành hung[14] 

Sau mùa an cư. Một hôm, đại đức Ahimsaka đi khất thực về tới tu viện, bước đi khập khểnh, mặt mũi mình mẩy dính đầy máu. Ðại đức Svastika trông thấy liền chạy tới đỡ đại đức. Ðại đức Ahimsaka nhờ thầy đưa vào yết kiến Phật. Hôm nay trong khi đi khất thực trong thành phố, đại đức bị một nhóm người nhận diện ra đại đức chính là Angulimala. Họ đến vây quanh và tấn công đại đức bằng hèo, bằng gậy. Ahimsaka chắp hai tay trước ngực, tuyệt đối không chống trả, cũng không bỏ chạy, để cho họ tha hồ đánh đập. Một lúc sau, thấy thầy ngã quỵ xuống đất họ mới bỏ đi. Thầy cố đứng lên, lần bước tìm về tinh xá.

Thấy Ahimsaka trong tình trạng thảm thương, Phật bước đến đỡ thầy. Ðại đức Ananda vội đi lấy một thau nước và một cái khăn đem đến. Phật chính tay lau mặt và những vết thương cho Ahimsaka. Ngài bảo Svastika đi hái lá thuốc để đắp vào những vết thương, rồi xé một áo tăng-già-lê cũ lấy vải băng bó lại. Áo tăng-già-lê của thầy Ahimsaka đã rách tả tơi và lấm đầy máu và bụi đất. Bình bát của thầy đã bể nát. Ðức Phật an ủi:

- Này Ahimsaka, thầy hãy can đảm chịu đựng hậu quả của những khổ đau mà thầy đã gieo rắc từ mấy năm qua. Thầy nên nguyện rằng những đau đớn của thầy hôm nay làm vơi bớt nổi đau khổ của những người đã mất con, mất cha, mất mẹ, mất anh, mất em do thầy gây ra. Thầy hãy phát tâm đại bi, đại hỷ, đại xả để rửa sạch ác nghiệp và hận thù. Thầy nên vui vẻ nghĩ rằng hôm nay thầy đã trả được phần nào món nợ máu.

- Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Con đã vui lòng trả món nợ máu. Trả được nợ là điều đáng vui mừng. Con nguyện những đau đớn của con hôm nay làm vơi bớt những khổ đau mà con đã gây ra.

- Tốt lắm, vậy thầy hãy về am tịnh dưỡng vài ngày. Thầy Ananda sẽ tìm cho thầy một áo sangati và một bình bát khác.

Ðại đức Ahimsaka lạy tạ, lui ra.

 

Ðại đức Ahimsaka cứu giúp một sản phụ[15] 

Ðại đức Svastika dìu thầy Ahimsaka về đến am của thầy. Ahimsaka mỉm cười kể cho đại đức nghe một câu chuyện xảy ra cách đây không lâu. Một hôm, trong lúc thầy Ahimsaka sắp sửa vào thành khất thực, thầy gặp một thiếu phụ nghèo đang chuyển bụng sắp sanh dưới một cội cây bên đường, nơi vắng người. Thiếu phụ đau đớn rên la một mình mà vẫn không sinh nở được. Ðại đức xúc động la lên "Khổ quá! khổ quá!", rồi thầy chạy nhanh về báo cáo với Phật xem phải làm gì để giúp người sản phụ. Lúc bấy giờ không có một ni cô hay sư cô nào tại đó cả. Phật bảo:

- Thầy hãy đến bên người sản phụ kia và chú nguyện như vầy "Này cô, từ ngày sinh ra cho đến nay tôi chưa từng cố ý phạm đến sinh mạng của một loài nào. Nguyện rằng nhờ sự thật ấy mà cô sinh cháu được bình an."

- Bạch Thế Tôn, không thể được, như vậy là con nói dối. Con đã phạm đến sinh mạng của nhiều người rồi!

- Nếu vậy thì thầy nói "Này cô, từ ngày tôi được sinh ra trong giáo pháp giác ngộ, tôi chưa bao giờ cố ý phạm đến sinh mạng của một loài nào. Nguyện rằng nhờ sự thực ấy mà cô sinh cháu được bình an."

Thầy Ahimsaka lập tức chạy đến nơi thiếu phụ chuyển bụng đang rên la. Thầy đứng ẩn mình sau cội cây và lập lại đúng theo lời Phật chỉ dạy. Vài phút sau, thiếu phụ sinh được em bé bình an. Thầy bèn đi tìm gọi người đến tiếp cứu.

Sau khi bị hành hung, thầy Ahimsaka nằm im lìm trên giường tịnh dưỡng, đến ngày thứ ba thầy mở mắt ra nhìn thầy Ananda đang ngồi bên cạnh, mỉm cười nói:

- Này sư huynh Ananda, tôi đã gây nhiều tội ác phải sa điạ ngục, may nhờ đức Thế Tôn từ bi cứu vớt. Hôm nay, nợ nần đã trả xong, tôi an hưởng quả lành.

Nói xong, thầy Ahimsaka nhắm mắt lại, nhập niết-bàn liền sau đó. Ðức Phật được báo tin, nói kệ:

Người đã gây nghiệp ác

Biết phục thiện tu hành

Như trăng rằm không mây

Soi sáng cả thế gian. (Kinh Pháp Cú, bài 173)

 

 

I- TỪ hẠ thỨ 21 ÐẾn hẠ thỨ 43

Chánh Pháp đã được truyền bá khắp lưu vực sông Ganga (sông Hằng). Giới luật và Giáo pháp căn bản (Tứ Diệu Ðế, 12 Nhân Duyên) đã được giảng dạy khá đầy đủ. Bây giờ đến giai đoạn đức Phật bắt đầu giảng phần giáo lý cao siêu như tánh bình đẳng của các pháp (lý Kim-cang), tánh không của các pháp (lý Bát-nhã), tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và có khả năng thành Phật (lý Pháp-hoa). Ðây là giai đoạn cực thịnh của Phật pháp.

 

1- Hạ thứ  21 tại Jetavana (năm -569)

 

Vua Pasenadi kết thân với vua Mahanama[16] 

Tháng tư năm 569 trước tây lịch, đức Phật từ Vesali đi về Sravasti theo lời thỉnh cầu của ông Sudatta Anathapindika. Năm nay Phật và vua Pasenadi đều được 55 tuổi. Ðược tin Phật về an cư tại Jetavana, nhà vua mừng rỡ, đem cả gia đình hoàng tộc đến thăm Phật. Ði theo vua có cả thứ hậu Visabhaksatriya (Vasabhakhattiya) và hai người con của thứ hậu là hoàng tử Virudhaka (Vidudabha) và công chúa Vajna. Vào hạ thứ 14, sau khi nghe Phật nói các vị khất sĩ không chịu đến đền vua thọ trai là vì thiếu tin tưởng nơi nhà vua, vua Pasenadi vốn biết rằng vương quốc Sakya vẫn xem vương quốc Kosala là một đe dọa cho nền độc lập xứ Sakya, nên đã gởi sứ thần qua xứ Sakya xin cưới một công nương trong hoàng tộc làm thứ hậu. Sau khi bàn luận với triều thần, vua Mahanama liền dùng con gái của mình với một người tỳ nữ, tên là Visabhaksatriya để gả cho vua Pasenadi.

Trong suốt mùa an cư, vua Pasenadi không bỏ sót một buổi thuyết pháp nào của Phật mà không đến nghe.

 

Bà Kisa-Gotami tìm xin hột cải để cứu con[17] 

Bà Kisa-Gotami[18] ở Sravasti vừa sanh được một đứa con trai đầu lòng. Chẳng may khi đứa bé vừa biết đi chập chững và bập bẹ nói chuyện rất dễ thương thì lâm bạo bệnh qua đời. Bà không chịu tin là con mình đã chết. Bà không cho người ta mang xác con bà ra nghĩa địa. Bà ôm xác đứa con yêu quí vào lòng, đi từ nhà này sang nhà khác như người mất trí, tìm xin thuốc để cứu con. Nhưng cả những lương y tài giỏi không ai có thể cứu được đứa bé đã chết. Có người thấy thế thương hại, chỉ bà hãy đến gặp Phật ở tinh xá Jetavana họa may có thể cứu được. Bà lật đật bồng con chạy đến Jetavana, đảnh lễ Phật rồi vừa khóc vừa nói:

- Bạch Thế Tôn, xin ngài từ bi bang thuốc để cứu con của con. Nhiều người nói chỉ có ngài mới có thể cứu được nó. Xin ngài rũ lòng thương chúng con.

- Này Kisa-Gotami, đừng buồn khổ nữa! Bà hãy mau mau tìm về đây cho Như Lai một nhúm hột cải trắng xin ở bất cứ nhà nào trong thành Sravasti này để Như Lai cứu con bà. Nhưng bà nên nhớ là phải xin hột cải ấy ở gia đình nào chưa bao giờ có người chết thì mới hiệu nghiệm.

Bà Kisa-Gotami hết sức vui mừng, vội bế con chạy từ nhà này sang nhà khác tìm xin hột cải trắng. Hột cải trắng thì hầu như nhà nào cũng có, nhưng khắp thành Sravasti không có gia đình nào là không có người chết, hoặc con cái, hoặc cha mẹ, hoặc ông bà. Tính ra số người chết nhiều hơn số người sống gấp bội.

Trời đã về chiều,  những tia nắng cuối cùng như xóa tan niềm hy vọng còn lại của bà Kisa-Gotami. Xác đứa con yêu quý trong tay bà bắt đầu lạnh dần, lạnh dần và cứng đơ, nét mặt không còn một chút thần sắc nào của sự sống. Trong nỗi đau khổ cùng cực, bà bắt đầu nhận ra chân lý phủ phàng của sự sống và cái chết. Bà than thầm:‘’ Ðây không phải là luật lệ của xóm làng,

‘’ Cũng không phải là luật lệ của thành phố.

‘’ Ðây không phải là luật lệ riêng của gia đình nào cả

‘’ Mà là định luật chung cho toàn cõi thế gian:

‘’ Tất cả đều vô thường, hể có sanh thì có diệt.[19]

Bà ngậm ngùi mang xác con về nhà, dùng một chiếc sari quấn kín lại, cùng chồng mang ra bãi tha ma. Rồi bà đến trước Phật sục sùi nói:

- Bạch Thế Tôn, con không thể tìm đâu ra một nhà có hột cải trắng mà không có người chết! Con đành lìa bỏ đứa con yêu quý không còn cười, không còn nói, không còn đưa hai bàn tay bé nhỏ sờ mặt con như trước. Con đành dùng chiếc sari quý nhất của con quấn kín thân xác nó lại, đặt dưới một lùm cây, bên cạnh bờ suối. Con cúi xin Thế Tôn vui lòng chỉ cho con nơi nào có thể xin hột cải trắng mà không có bóng dáng tử thần.

- Này Kisa-Gotami, bà đã tìm ra cái mà ít ai tìm thấy. Ðó là niềm an ủi trong sự thật đắng cay: Tình thương bám chặt vào cha mẹ, vợ chồng, con cái, gia súc tuy ngọt ngào hôm nay, nhưng ngày mai cái chết tràn đến như một trận thủy tai trong đêm tối, càn quét cuốn đi trọn cả làng đang ngon giấc.[20]

Rồi đức Phật giảng cho bà nghe về Vô thường và Tứ đế. Nghe xong bà đắc quả Tu-đà-hoàn. Bà xin được xuất gia. Ít lâu sau bà đắc quả A-la-hán.

 

Quán thân người như bong bóng nước[21] 

Một nhóm khất sĩ được Phật ban cho đề tài thiền quán, rút vào rừng vắng chuyên tâm thực hành. Nhưng sau vài tháng tu tập nhận thấy không đạt được kết quả nào, các vị ấy bàn với nhau nên trở về tinh xá Jetavana gặp Phật. Vừa đến cổng tinh xá thì có một trận mưa to đổ xuống. Trong khi đứng đụt mưa, các vị khất sĩ nhìn những giọt mưa rơi xuống nước làm bọt nước nổi lên trên mặt nước rồi trong chốc lát vỡ tan. Có bọt vừa thành hình bỗng vỡ tan liền sau đó, có bọt trôi trên mặt nước vài phân, vài tấc hoặc vài thước rồi mới vỡ. Các vị khất sĩ bỗng nghĩ đến thân người cũng như bọt nước. Nhờ đã quen thực hành chỉ quán nên các vị khất sĩ tự nhiên đi sâu vào đề tài thiền quán đó: Thân người như bọt nước, thấy đó rồi mất đó, sanh đó rồi diệt đó, cái gì sanh cái gì diệt? cái gì còn cái gì mất? thế gian này cũng thế, sanh trụ dị diệt, để làm gì? có nghĩa lý gì không? ... Các vị khất sĩ chợt nhận thức được ý nghĩa sâu xa của vô thường, vô ngã và duyên sanh.

Sau khi mưa tạnh, các vị khất sĩ vào yết kiến Phật, trình bày cảm nghĩ và chứng nghiệm của mình. Ðức Phật liền nói kệ:

Nên quán chiếu thế gian

Như mộng tưởng, bọt nước.

Người nhìn đời như thế

Không bao giờ sợ chết. (Kinh Pháp Cú, bài 170)

Nghe xong, các vị khất sĩ liền chứng quả A-la-hán.

 

2- Hạ thứ 22 tại Jetavana và Pubbarama (năm -568)

 

Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ (Satipatthana-sutta)[22] 

Mùa xuân năm sau,  568 trước tây lịch, tại thủ đô Kammassadhamma xứ Kuru, cách Sravasti khoảng 300 km về phía tây, đức Phật nói kinh Tứ Niệm Xứ cho trên 300 khất sĩ và một số đông thính chúng địa phương. Ðây là một kinh rất quan trọng về phương pháp tu tập thiền quán (Vipassana). Phật nói phép quán Tứ Niệm Xứ giúp người tu được thân tâm thanh tịnh, vượt qua mọi sầu khổ, thành tựu trí huệ và đạt giải thoát. Tứ niệm xứ là bốn đề tài cần được quán tưởng tỉ-mỉ và ghi nhớ rành rẽ. Bốn đề tài đó là:

1- Thân bất tịnh: Thân thể con người rất dơ bẩn, không có gì đáng quý trọng, gìn giữ.

2- Thọ là khổ: Tất cả những cảm giác thích thú, khó chịu hay trung tính của tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý cuối cùng đều mang đến vọng tưởng, cố chấp và buồn khổ. Thọ nhận một vật gì làm của mình cũng đều mang đến cho mình sự lo âu, buồn khổ.

3- Tâm vô thường: Tâm tính của con người rất bất thường, khi vui, khi buồn, khi ghét, khi thương, khi hòa, khi giận, không có gì trường cửu để gọi là cái "ta" (ngã) bất sanh bất diệt.

4- Pháp vô ngã: Muôn sự muôn vật trên thế gian này đều biến đổi vô chừng trong các chu kỳ "thành, trụ, hoại, không", không có gì là chắc thật để gọi là "bản thể" (ngã) bất sanh bất diệt của nó.

Trong lãnh vực thân thể, hành giả quán niệm ba giai đoạn của hơi thở mình (ra, vào, ngưng). Ví dụ như lúc thở ra, hành giả tự hỏi: cái gì làm cho mình thở ra, mạnh hay nhẹ, dài hay ngắn, hơi đi ra được chừng bao nhiêu, cái gì làm ngưng hơi thở ra ... Hành giả quán niệm bốn tư thế (đi, đứng, nằm, ngồi) và tất cả các động tác của cơ thể; cái gì làm phát sanh những động tác ấy, mỗi động tác phát khởi, diễn tiến và chấm dứt như thế nào. Phải luôn luôn chú ý giữ đúng uy nghi trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi. Hành giả quán niệm về nhịp tim, mạch máu nhảy, sự tuần hoàn của máu trong cơ thể. Hành giả quán niệm về bộ phận tiêu hóa, từ lúc thức ăn được đưa vào miệng, đến lúc bài tiết ra ngoài. Hành giả quán niệm về 32 thành phần của cơ thể (dvattinsakarapatha) là tóc, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, màn phổi, lá lách, phổi, ruột, màn ruột, dạ dày, phẩn, mật, da trong, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mao dịch, nước miếng, chất nhờn (như đàm, mũi), chất nhớt (ở các khớp xương), nước tiểu và bộ óc. Hành giả quán tưởng về chín giai đoạn tàn hoại của cơ thể từ lúc mới chết đến khi cơ thể tiêu tan[23]. Công phu quán niệm về thân thể không phải chỉ được thực hiện lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng thân thể là duyên hợp, giả tạm, vô thường, nhơ bẩn, không có thực thể, đến khi tàn hoại sẽ trở về không.

Trong lãnh vực cảm giác (thọ), hành giả quán niệm về sự phát sanh của cảm giác. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần như thế nào mà sanh ra sáu thức. Rồi trong sáu thức làm sao lại có những cảm giác dễ chịu (lạc thọ), những cảm giác khó chịu (khổ thọ), những cảm giác trung tính (không dễ chịu cũng không khó chịu). Những cảm giác dễ chịu và khó chịu đó phát sanh như thế nào, diễn tiến như thế nào và chấm dứt như thế nào. Làm thế nào để không bao giờ có cảm giác khó chịu. Công phu quán niệm về cảm giác không phải chỉ được thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Chữ "thọ" còn có nghĩa là nhận lãnh một vật làm sở hữu của mình. Hành giả quán sát xem vật sở hữu có mang đến cho mình cái khổ nào không. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng cảm giác và vật sở hữu nào cũng mang đến cho ta cái khổ không nhiều thì ít. Những cái vui tạm bợ mà cảm giác và vật sở hữu mang đến cho ta, sớm muộn gì cũng bị tàn phai.

Trong lãnh vực tâm ý, hành giả quán niệm về những hiện tượng tâm lý[24] phát sanh, diễn tiến và chấm dứt như thế nào. Ví dụ như tánh tham lam, tánh sân hận, tình thương, ái dục, ... phát sanh như thế nào, diễn tiến như thế nào và chấm dứt như thế nào. Những hiện tượng tâm lý đó mang đến những trạng thái tâm lý khổ vui như thế nào. Làm thế nào để chỉ có vui mà không có khổ. Công phu quán niệm tâm ý không phải chỉ được thực hiện trong lúc ngồi thiền mà phải thực hiện suốt ngày. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng tâm ý ta thường biến chuyển thay đổi luôn tùy theo nhân duyên mỗi thời, không có thực thể, không có gì có thể gọi là cái "ta" trường cửu.

Trong lãnh vực các sự vật (pháp) ở thế gian, hành giả quán niệm về các giai đoạn phát sanh, biến chuyển và hoại diệt của từng sự vật hữu hình cũng như vô hình. Khi đã quán niệm thuần thục, hành giả sẽ nhận thấy rằng tất cả sự vật ở thế gian đều  do duyên hợp, đều vô thường, biến chuyển không ngừng, rốt cuộc cũng đều đi đến hoại diệt.

Khi đã quán niệm thuần thục bốn đề tài "thân bất tịnh", "thọ là khổ", "tâm vô thường", "pháp vô ngã", hành giả sẽ không còn tham sống sợ chết, không còn ham muốn danh lợi tài sản thế gian, không còn đắm nhiễm các thú vui thế tục, sẵn sàng vui vẻ lìa bỏ tất cả, hành giả liền đắc sơ thiền[25], được thân tâm nhẹ nhàng thư thái, nhập vào dòng thánh.

Phật chỉ dạy cặn kẽ từng phép quán niệm trong cả bốn lãnh vực. Ngài bảo người nào tinh tấn hành trì phép quán Tứ Niệm Xứ trong vòng bảy năm chắc chắn sẽ đạt được nhiều tiến bộ trên đường giải thoát. Những người có thiện căn, có trí tuệ, hành trì phép quán này có thể vào dòng giải thoát trong vòng bảy tháng hoặc bảy ngày.

Qua hôm sau, sau khi thượng tọa Ananda trùng tuyên lời dạy của đức Phật, Thượng tọa Assaji cho biết đức Phật đã giảng về Tứ Niệm Xứ nhiều lần rồi, nhưng đây là lần đầu tiên ngài tổng hợp và đúc kết thành một bài pháp gọn ghẽ, đầy đủ và khúc triết nhất. Ðại đức Sariputta nói kinh Tứ Niệm Xứ rất là quý báu và quan trọng, các vị khất sĩ nên học thuộc lòng để thực hành hằng ngày.

 

Cô Sundari bị giết chôn tại tinh xá Jetavana để vu cáo Phật[26] 

Ở Sravasti, uy tín Phật càng ngày càng lên cao, danh tiếng Phật càng ngày càng vang xa, mọi người đổ xô đến tinh xá Jetavana cúng dường và nghe pháp. Ngoại đạo cảm thấy uy tín và quyền lợi của họ càng ngày càng sa sút, họp nhau lại bàn tính tìm biện pháp cứu vãn tình thế. Họ nói với nhau:

- Từ ngày sa-môn Gotama xuất hiện tại Rajagriha và tại Sravasti là hai thành phố lớn hiện nay, uy tín và quyền lợi của chúng ta càng ngày càng sút giảm. Dân chúng hầu như quên sự có mặt của chúng ta tại hai nơi này. Chúng ta phải tìm cách triệt hạ uy tín của sa-môn Gotama mới được.

- Ðúng vậy. Chúng ta hãy bàn vụ này với nữ du sĩ Sundari, cô ta vừa thông minh vừa có sắc đẹp vô cùng quyến rũ. Cô ấy có thể giúp chúng ta thành công trong vụ này.

Rồi họ mời cô Sundari đến họp, thảo luận kế hoạch làm cho dân chúng nghi ngờ đức Phật có dan díu với cô Sundari. Khi thấy dân chúng bắt đầu xầm xì bàn tán với nhau về việc này, ngoại đạo quyết hạ độc thủ. Họ thuê hai tên du đảng giết cô Sundari rồi đem vùi xác cô vào đống rác hoa héo gần am Phật trong tinh xá Jetavana. Xong rồi họ giả bộ cho người đi tìm kiếm cô Sundari khắp nơi, vừa loan báo là cô Sundari đã bị mất tích. Họ xin yết kiến vua Pasenadi và nói:

-