Nhưng dù vui hay buồn, đấng Ðại giác vẫn tự tại đến, và
tự tại đi, đúng như danh hiệu Như Lai. Và cũng hiểu như vậy lại có một số
đệ tử lớn của Phật đã an nhiên chiêm nghiệm, phấn đấu tinh tấn hơn, xem
giờ phút nhập Niết Bàn của đấng Ðại Giác là giờ phút thiêng liêng nhất
trong đời họ, để hóa thành bài pháp quan trọng nhất kể từ khi đức Phật
hiện hữu rồi ra đi.
Rồi lại có những vị đệ tử sáng suốt vĩ đại hơn, đã khẩn
trương tìm mọi cách khơi dòng nước giải thoát lan tủa ra, mong sao giáo
pháp của đấng toàn giác sẽ hiện hữu như kim thân Ngài, để tiếp tục đốt lên
ánh sáng phá tan đêm dài của nhân sinh đau khổ.
Thời nay, chúng ta những người con Phật, xuất gia, tại
gia không khỏi không xúc động khi đọc lại cảnh tượng Phật nhập diệt được
kể trong kinh Ðại Niết Bàn; rồi bùi ngùi cảm động thấy rằng thời gian hơn
2600 năm qua cảnh tượng hóa ra như gần gũi!
Ðức Phật thường dạy, sinh làm người là khó, làm người
được gặp pháp (Pháp Phật), được nghe pháp còn khó hơn.
Giáo pháp giải thoát là chân lý miên viễn vượt không
gian, thời gian, thì 2600 năm chỉ là một khái niệm thời gian duyên khởi,
huống chi pháp thân của Phật lại biến khắp pháp giới, thì việc tỉnh thức
giác ngộ
nhận
ra của ta hôm nay lại có khác gì cách đây hơn 2600.
Thử
nghĩ rằng ngay thời còn đấng Ðại Giác vẫn có không ít người chưa bao giờ
nghe biết đến Phật, nên giáo pháp giải thoát chưa từng đến với họ, do đó
họ vẫn sống trong vọng tưởng, trong đau khổ ngay thời chánh pháp. Lại nghĩ
thêm, đến những vị đã gặp Phật biết Phật, lại là đệ tử Ngài mà vẫn dửng
dưng với giáo pháp, thì chúng ta hôm nay với nhân duyên tối thắng đã và
đang xúc động tưởng nhớ Ngài, vậy chắc chắn rằng ta vẫn như nhìn thấy được
pháp thân Ngài trong giờ phút hiện tại của thời điểm hôm nay.
Phật là tiếng gọi của sự tỉnh thức, tỉnh thức một cách
tuyệt đối về cuộc đời, về con người, về chúng sinh, về tất cả vạn pháp vũ
trụ này. Danh từ chúng sanh là những hữu tình biết thương biết ghét, biết
đau khổ, hạnh phúc và chưa thể tỉnh thức tuyệt đối. Chính vì chưa tỉnh
thức tuyệt đối nên vẫn mãi là chúng sinh, và nếu mãi là chúng sinh thì
tuyệt đối vẫn mãi đau khổ, không sai chạy được.
Không thể tỉnh thức tuyệt đối, nghĩa là vẫn có tỉnh
thức. Thật vậy chúng ta hẳn có tỉnh thức!
Trong cuộc đời ai lại chẳng không hàng trăm lần thốt
lời than thở, bất như ý việc này việc kia; nhưng rồi việc bất như ý sinh
ra đau khổ khi được quên đi, chúng ta lại chẳng buồn tìm hiểu, chẳng buồn
suy tư về cuộc đời!
Chúng ta không phải bi quan khi luôn nghĩ về đau khổ,
mà nên hiểu đau khổ là nguyên nhân của một tác nhân trong dòng nhân quả
nghiệp lực của chính mình tạo ra.
Có khi
dòng nhân quả nghiệp duyên đó tưởng chừng như do người khác tạo ra, gây ra
cho mình; nhưng không, vì liên hệ, vì gắn bó, vay mượn với họ trong đời
này hay quá khứ nên trở thành quả báo xấu đẹp mà thôi.
Chính việc chẳng chịu suy tư, chẳng chịu chuyển hóa
dòng ý thức để hành động hướng lên con đường vị tha vô ngã nên ta chẳng
thể tỉnh thức tuyệt đối. Và như thế dù có sống ngay trong thời chánh pháp
ta vẫn không thể thấm môi một giọt giải thoát nào.
Dù rằng vẫn biết sanh trước Phật, sau Phật là một trong
cái khổ của tám nạn, vì chỉ cần thấy Phật, chỉ cần chiêm ngưỡng kim tướng
của Ngài, chúng sanh đó sẽ kết được duyên lành trong tương lai. Nguyên
nhân, Pháp tướng của Phật là hiện thân của công đức là quả và hương thơm
tích tụ vô số nhân lành từ vô số kiếp, nay đúng mùa đơm nở, nên ví như Hoa
Ưu Ðàm hàng triệu năm mới nở một lần. Vậy thì mọi vật chung quanh hương
thơm đó sẽ hấp thụ được mùi thơm. Cũng thế cho dù chúng sanh hữu tình hay
vô tình có không muốn ảnh hưởng đến hương thơm kia cũng không được.
Ðối với chúng sinh hữu tình là loài người cao quý nếu
có thái độ phản lại, không chấp nhận mùi thơm giải thoát chăng nữa, như
một số đệ tử dững dưng với giáo pháp, hay tệ hơn như Ðề Bà Ðạt Ða thì họ
vẫn có duyên đã gắn bó với Ðấng toàn giác rồi, và đã liên hệ với ánh sáng
mặt trời thanh tịnh giải thoát, thì hấp lực của ánh sáng từ bi một ngày
nào đó sẽ bừng dậy chiếu soi trong lòng họ, cuối cùng họ vẫn là những vị
Phật tương lai. Ðiều này được minh chứng khi chính đức Phật đã thọ ký cho
chính Ðề Bà Ðạt Ða sẽ thành Phật tương lai. (kinh Pháp Hoa phẩm Ðề Bà Ðạt
Ða thứ 12)
Chúng sinh của ngày hôm nay, trên thực tế đã rơi vào
nạn khổ sanh sau Phật, nhưng được thắng duyên nghe được chánh pháp rồi cố
gắng thực hành, thì niềm ưu tư suy tưởng về đấng toàn giác hơn 2600 năm
qua có lẽ cũng đã có nhân duyên gắn bó rồi.
Nhưng rồi chúng ta hãy làm gì đây, để tạo nên gắn bó
liên hệ với đức Phật một cách tha thiết y như ta đã có mặt ở rừng Sa la
song thọ. Ta không thể gào khóc được như các đệ tử của Ngài lúc đó, Ta
cũng không thể an nhiên tự tại quay lại chính mình quán sát các pháp hữu
vi là sanh diệt để thiền định xả bỏ ngã pháp tức thì, mà chứng quả, hay
nhập diệt...
Ta chỉ còn một cách là hãy giữ cho giáo pháp của Ngài
mãi mãi tiếp nối theo thời gian, cho những chúng sanh tương lai sẽ may mắn
gặp được mà giác ngộ, giống như hàng đệ tử vĩ đại của Ngài đã làm trong
quá khứ ngay khi Phật vào Niết Bàn, và nhờ vậy mà chúng sinh ngày nay còn
biết được pháp thân Phật vẫn lưu xuất khắp không gian.
Lưu giữ và nối truyền dòng pháp giải thoát là những
kinh điển mà ngày nay chúng ta đã thấy, tất cả đều được thiết bị đầy đủ
phương tiện phổ cập khắp nơi trong quần chúng. Nhưng điều quan trọng hơn
vẫn là lưu giữ dòng pháp giải thoát tự thân của mỗi người.
Giáo pháp sống động xiển dương được chánh, phân biệt
được tà là phải cụ thể hiển hiện lưu xuất ra từ nơi con người học pháp
hành pháp, vậy mới có thể tồn tại vượt cả hai mặt thời gian và không gian.
Chính sự thật như thế, nên khi Phật nhập diệt rồi mãi hơn ba trăm năm sau,
chánh pháp mới được ghi lại trên văn bản, mà không bị sai lạc. Nếu như
trong thời gian hơn 300 năm đó, các đệ tử Phật không thật sự sống y như
những ngày gần gũi đấng Ðại Giác, rõ hơn là sống như các vị A La Hán đắc
đạo thì không cách nào giữ được hơn cả triệu lời của Phật nói ra. Ðiểm
đáng lưu ý nhất là chính vị đại diện trùng tuyên lời Phật dạy bấy giờ,
không phải là Ngài A Nan của lúc còn Phật, mà là Ðại Thánh Tăng A Nan (đã
đắc quả A La Hán). Cho nên cả đến khi Thánh Tăng A Nan viên tịch lời Phật
dạy dù vẫn chưa được ghi lên trên văn bản, nhưng khi kinh bản chính thức
ghi lên bản lá vẫn không sai lời Phật dạy, và mãi đến bây giờ. Thế thì
quan trọng nhất là nhờ vào sự đắc pháp, chứng đạo mới giữ được dòng pháp
giải thoát một cách xác thực.
Ngày nay chúng ta vô cùng may mắn đọc được văn bản
truyền từ kim ngôn đức Ðại Giác chuyển thông qua lời các bậc Ðại Thánh
thanh tịnh Tăng, nên niềm xúc động hẳn phải là dâng trào không thể bày tõ
được.
Chúng ta hãy tự quay lại chính mình sống theo lời kinh
dạy, lắng nghe các pháp đến từ tâm, chuyển hóa những vọng tưởng điên đảo
thành nguồn suối mát thanh tịnh. Có như thế lời kinh Phật sẽ còn mãi với
thế gian và hình ảnh Ngài dù qua tranh tượng khác nhau của mỗi quốc độ văn
hóa truyền thống ta vẫn thấy Ngài như còn gần với ta mãi mãi.
Và như thế pháp âm giải thoát nơi vườn Lộc Uyển, Núi
Linh Thứu, Tịnh Xá Kỳ Viên cho đến các cung điện Thiên cung, Long
cung...và cuối cùng dưới bóng mát của rừng Sa La song thọ sau hơn 2600 năm
bên thiên trúc vẫn mãi vang vọng đến ngày nay.
Nam Mô
A DiÐà Phật
Thíchphổhuân
Kỷ niệm xuân 2003
--- o0o ---
Cập nhật
ngày: 01-03-2003