| ...... ... |
. |
Tuyển tập
Phật Thành
Đạo
Nhiều
tác giả
--- o0o ---
Phần III
Phật giáo và các vấn đề thời đại
--- o0o ---
SUY NGHĨ VỀ MỘT BỘ KINH
THÁNH PHẬT GIÁO
Thích
Nhật Từ
Một bộ kinh thánh giản lược chỉ cần chứa
đựng trong vòng 2500 trang, tóm thâu tất cả những lời dạy cao qúy
và căn bản của đức Phật trong hai truyền thống Phật giáo Nam tông
và Bắc tông. Bộ kinh thánh này nên được ấn tống rộng rãi, để
mỗi chùa và từng gia đình Phật tử đều có và đọc được.
Được như vậy thì thông điệp từ bi, trí tuệ và giải thoát của
đức Phật sẽ chiếu sáng trên mọi góc đường, trong đời sống,
tư duy và hành động của người Việt Nam.
I. NHU CẦU CỦA MỘT BỘ KINH THÁNH
PHẬT GIÁO: NHỮNG DẤU HIỆU ĐÁNG MỪNG VÀ ĐIỀU LO NGẠI
Hầu hết các tôn giáo lớn trên
thế giới đều có kinh thánh riêng và được sử dụng thống nhất
trên toàn thế giới. Riêng Phật giáo cho đến ngày hôm nay, do vì
có nhiều tông phái và hệ phái, với số lượng kinh sách quá phong
phú lên đến hàng trăm tập, vẫn chưa có một bộ kinh thánh thống
nhất nào cả. Đó là điều mà khi nghĩ đến người Phật tử có
tâm huyết phải cảm thấy buồn tủi và đau lòng.
Tại Việt Nam, kể từ khi quý hòa
thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trí Quang, Thích Thanh Từ, Thích Thiện
Siêu, thượng tọa Thích Tuệ Sỹ, thầy Đoàn Trung Còn phiên dịch một
số kinh điển quan trọng của Phật giáo đại thừa và A-hàm từ
chữ Hán ra chữ Việt; hòa thượng Thích Minh Châu, hòa thượng
Giới Nghiêm phiên dịch kinh tạng nguyên thủy từ chữ Pali, chúng ta
tạm có đủ các kinh điển quan trọng của hai truyền thống Phật giáo
Nam tông và Bắc tông.
Điều đáng mừng nhất là chỉ trong
vòng gần 30 năm, toàn bộ 4 bộ Nikàya đầu và vài tập của Tiểu
bộ Kinh đã được hòa thượng Thích Minh Châu phiên dịch ra tiếng
Việt. Các tập tiểu bộ kinh còn lại đang được các thành viên
của viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tiếp tục phiên dịch. Các
tập luận và luật tạng Pali cũng đã được cố hòa thượng Giới
Nghiêm và quý sư Nam tông dịch và ấn hành trong những năm gần
đây. Như vậy, trên căn bản, ba kho tàng kinh điển Pali đã được
dịch ra tiếng Việt và ấn hành. Đây là một dấu hiệu đáng mừng
cho việc truyền bá kinh điển Phật giáo bằng tiếng Việt tại nước
Việt Nam.
Bên cạnh những điều đáng mừng
đó vẫn còn nhiều điều đáng lo ngại. Thứ nhất, giá phát hành
của các kinh nêu trên quá cao, vượt ngoài khả năng mua của những
gia đình Phật tử có mức sống trung bình. Khổ của các kinh chưa
được nhất quán và thiếu tiêu chuẩn. Chất lượng giấy in quá
kém, kỹ thuật đóng bìa không đạt yêu cầu, khó có thể giữ
lâu. Cách phân loại của đại tạng kinh Việt Nam không được rõ
ràng, không theo tiêu chuẩn quốc tế, gáy sách không có ghi tên các
bộ kinh (chẳng hạn như Trường bộ kinh, Trung bộ kinh v.v
) và do
đó có thể gây nhiều khó khăn cho người Phật tử trong việc học
hỏi và nghiên cứu kinh điển. Văn phong bản dịch của đại tạng kinh
Việt Nam còn quá nặng về ngôn ngữ chữ Hán, khó hiểu đối với
quần chúng Phật tử, kể cả những người biết chữ hán. Kế
đến, về góc độ nghiên cứu, các kinh điển trong đại tạng kinh
Việt nam thiếu hẳn phần chú thích (cước chú hay hậu chú), các chỉ
mục tham khảo (index) về thuật ngữ, nhân danh, địa danh và tên
kinh ở phần cuối của mỗi tập kinh. Đại tạng kinh Việt Nam thiếu
hẳn tập tổng mục lục, tập hướng dẫn sử dụng và tự điển tra
khảo, đối chiếu các thuật ngữ.
Điều đáng buồn nhất là với nỗ
lực của các vị cao tăng và nhân sĩ Phật giáo trong việc phiên
dịch, xuất bản các kinh điển Phật giáo bằng tiếng Việt, số lượng
người mua và đọc các dịch phẩm ấy thật là ít ỏi và không
đáng kể. Theo chúng tôi được biết mỗi kỳ ấn hành của các tập
đại tạng kinh không quá 5000 bản, ấy thế mà có nhiều tập kinh
được ấn hành gần 10 năm mà vẫn chưa phát hành hết. Điều đáng
nói hơn nữa, cho đến hiện nay hầu hết các chùa và tịnh xá trong
các tỉnh thành lớn đều không có một bộ đại tạng kinh Việt Nam
trong thư viện hay tủ sách của chùa mình, nói chi đến các chùa và
tự viện ở các tỉnh xa xôi và hẻo lánh, và nhất là các gia
đình Phật tử khó khăn về kinh tế. Điều này đã dẫn đến một
thực trạng là nhiều tăng ni và Phật tử không hề đọc qua đại
tạng kinh Việt Nam. Có nhiều Phật tử còn không biết đến ba tạng
kinh điển Phật giáo là gì. Cũng có nhiều người còn không biết
đến lịch sử của đức Phật Thích-ca, người đã khai sáng ra đạo
Phật. Nhiều người tuy đi chùa lễ Phật tụng kinh nhưng lại không
hiểu các giáo pháp căn bản của đức Phật.
Có nhiều lý do dẫn đến thực
trạng đau lòng đó, mà một trong các nguyên nhân quan trọng là các
kinh điển Phật giáo phần lớn không được dịch ra tiếng Việt. Các
nghi thức tụng niệm ở các chùa tại Việt Nam cũng như hải ngoại
phần lớn để nguyên âm vận chữ Hán, hoặc nếu được dịch ra
tiếng Việt thì văn phong cầu kỳ, khó hiểu và quá nặng chữ Hán.
Trong khi đó, đại tạng kinh Việt Nam lại không được phổ biến trong
quần chúng, không được đưa vào tụng niệm trong các thời khóa
hằng ngày. Dần dà kinh điển Phật giáo chỉ được cất giữ trong
các thư viện cổ kính, mà ít ai quan tâm đọc đến, huống là đem
ứng dụng vào đời sống hằng ngày. Thật là uổng phí biết bao!
Để tạo điều kiện giúp cho quần
chúng Phật tử hiểu rõ lời Phật dạy, chúng tôi nghĩ rằng việc
thành lập một bộ kinh thánh Phật giáo giản lược là rất cần
thiết. Một bộ kinh thánh giản lược chỉ cần chứa đựng trong vòng
2500 trang, tóm thâu tất cả những lời dạy cao qúy và căn bản của
đức Phật trong hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông. Bộ
kinh thánh này nên được ấn tống rộng rãi, để mỗi chùa và
từng gia đình Phật tử đều có và đọc được. Được như vậy
thì thông điệp từ bi, trí tuệ và giải thoát của đức Phật sẽ
chiếu sáng trên mọi góc đường, trong đời sống, tư duy và hành
động của người Việt Nam.
-
II. CÁC KHÓ KHĂN VỀ VIỆC HÌNH THÀNH
MỘT BỘ KINH THÁNH PHẬT GIÁO
Mặc dù đã và đang có nhiều nỗ
lực của các giáo hội, tổ chức và cá nhân Phật giáo trong việc
phiên dịch kinh điển Pali và Sanskrit ra tiếng Mẹ đẻ, việc hình thành
một bộ kinh thánh Phật giáo cho từng gia đình không phải không gặp
nhiều khó khăn. Có những trở ngại mang tính khách quan như sau.
Thứ nhất, ba kho tàng văn học Phật
giáo (tam tạng kinh điển) được viết bằng hai hệ ngôn ngữ chính:
hệ Pali và hệ Sanskrit. Hệ Pali chỉ được phát triển và truyền
thừa ở các nước theo Phật giáo nguyên thủy. Trong khi đó, hệ
Sanskrit lại được phát triển ở các nước theo Phật giáo Bắc
tông, nhưng lại không còn đủ trọn bộ. Kế đến, kinh điển đại
thừa lại được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó quan trọng nhất
là tiếng Tây Tạng và Trung Quốc. Hai thứ tiếng này lại là một
trở ngại rất lớn cho người muốn tìm hiểu vì sự khó học, khó
nhớ của nó.
Thứ hai là, khác với các kinh
thánh của các tôn giáo khác như kinh thánh của Ky-tô giáo hay Koran
của Hồi giáo, kinh thánh Phật giáo, dù là hệ Pali, là cả một kho
tàng gồm nhiều tập, lên tới nhiều ngàn trang giấy khổ lớn. Riêng
ba kho tàng kinh điển Pali thôi cũng đã lên tới gần 60 đầu sách.
Mỗi quyển chứa trung bình từ 250 đến 400 trang. Kinh điển đại thừa
lại còn nhiều hơn nữa. Chính vì thế, việc ấn hành một bộ kinh
thánh Phật giáo khó được thực hiện.
Hơn thế nữa, do "ngôn ngữ tự
điển" của các bản dịch, kinh điển Phật giáo chỉ trở nên quen
thuộc trong giới học giả. Giới quần chúng thông thường lại không
có cơ hội để tiếp xúc với kinh điển.
Đó là chưa nói đến các khó khăn
về tài chánh in ấn và phổ biến. Các trở ngại này đã làm cho
kinh điển Phật giáo trở thành các thư viện nghiên cứu của một
số đối tượng, thay vì là của toàn thể quần chúng, từ bình dân
đến trí thức. Tuy nhiên các khó khăn đó không phải là không
thể khắc phục được, nếu chúng ta nhìn vấn đề từ góc độ
duyên khởi: cái này có do cái kia có; cái này không có kéo theo
cái kia không có. Do đó, nếu chúng ta tăng cường các trợ duyên,
phương tiện và nỗ lực chất xám của nhiều người thì công việc
trên sẽ có thể có một lối mở thích đáng.
-
III. NỘI DUNG CẦN CÓ CỦA BỘ KINH
THÁNH PHẬT GIÁO
Vì đạo Phật có 2 hai nhánh chính là
Phật giáo nguyên thủy và đại thừa nên tuyển tập kinh thánh Phật
giáo nên chứa đựng cả 2 nguồn kinh điển tiêu biểu của hai tông
phái chính. Trên tinh thần đó, nên có 2 tuyển tập kinh thánh Phật
giáo: một tuyển tập của kinh điển hệ Pali nguyên thủy và một
tuyển tập của hệ Sanskrit đại thừa.
TUYỂN TẬP KINH THÁNH NGUYÊN THỦY
1. Tạng giới luật nên được tỉnh
lược tối đa. Chỉ nên giữ lại phần cốt lõi Đại Phẩm (Mahavagga)
và Tiểu Phẩm (Cullavagga). Các phần còn lại của tạng Luật
không nên giới thiệu trong tuyển tập kinh thánh. Bởi lẽ các phần
đó liên hệ thuần túy đến các điều khoản, cách trị phạt, hệ
thống tổ chức đời sống cộng đồng của người xuất gia; không
có lợi ích nhiều cho người Phật tử tại gia. Kế đến, giáo pháp
của Phật không được chứa tải nhiều trong các phần giới luật
này.
2. Không kèm tạng Luận trong tuyển
tập kinh thánh . Bởi lẽ, ngôn ngữ của tạng Luận tuy sâu sắc nhưng
khó hiểu với cách lý luận, mang phong cách phân tích nặng về triết
học ngôn ngữ, nên không cần thiết cho giới Phật tử bình dân. Do
đó không cần thiết giới thiệu vào trong bộ kinh thánh Phật giáo.
3. Chỉ tuyển chọn các kinh quan trọng
trong 4 bộ Nikaya đầu bao gồm tuyển tập các bài kinh dài (Trường
Bộ Kinh), tuyển tập các bài kinh trung bình (Trung Bộ Kinh),
tuyển tập các bài kinh theo chủ đề (Tương Ưng Bộ Kinh) và
tuyển tập các bài kinh theo pháp số (Tăng Chi Bộ Kinh).
4. Về 15 tuyển tập thuộc Tiểu Bộ
Kinh, chỉ nên tuyển chọn các phần tinh hoa trong 5 bộ đầu. Riêng kinh
Pháp Cú thì nên giữ nguyên toàn bộ 423 bài kệ, vì tính cô
đọng và bao quát giáo pháp Phật chứa đựng trong đó. Mười bộ
từ thứ sáu trở đi nên được tỉnh lược.
Như vậy với cách chọn lọc này,
bộ kinh thánh Nguyên thủy sẽ chiếm khoảng 1000 trang giấy, rất tiện
lợi cho việc mang đi đây đó, thọ trì, đọc tụng và phổ biến.
ĐỐI VỚI TUYỂN TẬP KINH THÁNH ĐẠI
THỪA
1. Về giới Bồ-tát, chỉ giới thiệu
phần nội dung của 10 giới nặng và 48 giới nhẹ. Tỉnh lược toàn
bộ phần dẫn nhập về nhân địa bồ-tát.
2. Toàn bộ phần Mật tạng và luận
tạng nên được tỉnh lược, vì quá nhiều và không cần thiết cho
đại đa số quần chúng.
3. Đối với các kinh điển đại
thừa, cũng nên chọn lọc các kinh tiêu biểu mà thôi. Các kinh đại
thừa nên được giới thiệu là: kinh Thủ Lăng Nghiêm, kinh Lăng
Già, kinh Viên Giác, kinh Pháp Hoa, Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, kinh Đại
Bảo Tích, kinh Bát-nhã, Kinh Báo Ân Cha Mẹ, Kinh Vu-lan. Riêng kinh
Năng Đoạn Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật thì giữ trọn vẹn. Không
nên giới thiệu các kinh Dược Sư, Địa Tạng và các kinh
thần chú, vì tính chất van xin và cầu nguyện trong các kinh này đã
đi ngược lại với tinh thần lời dạy nguyên thủy của đức Phật.
4. Đối với các kinh đại thừa
vừa nêu trên, cũng nên tuyển chọn các phẩm kinh tiêu biểu chứ
không cần giới thiệu toàn bộ các phẩm trong kinh.
Với cách chọn lọc này, bộ kinh
thánh Đại thừa sẽ chiếm khoảng 1000 đến 1500 trang giấy.
Như vậy cả hai bộ kinh thánh Phật
giáo nguyên thủy và đại thừa gộp lại sẽ chiếm khoảng 2000-2500
trang giấy. Nếu in trên giấy mỏng và tốt thì bộ kinh thánh chỉ cần
chứa trong 2 tập, tập 1 là kinh thánh nguyên thủy và tập 2 là kinh
thánh đại thừa. Tuy nhiên cách phân bổ số tập cũng có thể linh
động, bằng cách chia đều mỗi tập 500 trang. Như vậy có tất cả là
5 tập, tập 1 và 2 thuộc kinh thánh nguyên thủy và 3 tập còn lại
thuộc kinh thánh đại thừa. Nếu tính luôn bản nguyên tác Pali và
Sanskrit thì số lượng tập của bộ kinh thánh Phật giáo có thể tăng
lên gấp đôi.
IV. PHƯƠNG CÁCH TRÌNH BÀY BỘ KINH
THÁNH PHẬT GIÁO
1. Cả hai tuyển tập kinh thánh nên
được trình bày theo một trật tự từ thấp đến cao, từ nhân
thừa đến Phật thừa. Không nên trình bày theo cấu trúc truyền
thống là kinh luật luận, vì hai kho tàng luật luận đã được tỉnh
lược khỏi tuyển tập kinh thánh này.
2. Nên đặt lại tựa đề của các
bài kinh (trong trường hợp kinh điển Pali), các phẩm kinh (trong
trường hợp kinh điển đại thừa), theo nội dung và chủ đề của
chúng. Tuy nhiên phải ghi chú tên nguyên góc để giúp người đọc
có thể đối chiếu khi cần thiết.
3. Đánh số thứ tự lại trật tự
của các bài kinh, số đoạn một cách có hệ thống để tiện cho
việc tham khảo. Số thứ tự được đánh theo từng bài kinh. Sang
bài kinh khác thì số thứ tự được đánh lại từ đầu. Ví dụ
đoạn thứ nhất của bài kinh thứ nhất được đánh số là 1: 1.
Đoạn thứ ba của bài kinh thứ nhất được đánh số là 1: 3. Nếu
chi tiết hơn, chúng ta có thể đánh dấu số trang cho chúng. Ví dụ
nếu đoạn một của kinh thứ nhất đó nằm ở trang 3 thì ta ghi như
sau: 1: 1 : 3. Tương tự nếu là đoạn thứ 3 của kinh thứ 2 thuộc trang
8 thì ta ghi như sau: 2 : 3 : 8.
4. Nên đặt chủ đề cho từng ý
tưởng chính trong kinh. Các chủ đề chính được đánh dấu bằng một
co chữ in lớn (ví dụ co 13) trong khi các ý tưởng nhỏ hay trực
thuộc nên được đánh dấu bằng một co chữ in nhỏ hơn (ví dụ 11).
Việc đặt chủ đề như trên sẽ giúp cho người đọc có được manh
mối để ghi nhớ và suy tư lời Phật dạy trong khi tụng niệm.
5. Đối với các kinh nguyên thủy,
nên tỉnh lược các đoạn trùng lập (vốn chỉ có giá trị trong
truyền thống truyền miệng) bằng các ký hiệu mặc ước (ví dụ
[
]) để ý tứ của mạch văn được cô đọng và rõ ràng hơn.
Ngoài ra, việc tỉnh lược này còn giúp tiết kiệm giấy mực hay nói
khác hơn giảm bớt kinh phí ấn loát và phát hành.
6. Viết lại một cách ngắn gọn, cô
đọng, đầy đủ nghĩa các đoạn mở đầu các bài kinh thành 1 hoặc
2 dòng, thay vì nửa trang giấy như nguyên tác. Miễn sao việc tỉnh
lược đó hoàn toàn không ảnh hưởng đến nội dung chính của kinh
là được. Tuy nhiên cũng nên có các ký hiệu cho biết đây là
đoạn đã được biên tập ngắn lại.
V. PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC BIÊN SOẠN BỘ
KINH THÁNH PHẬT GIÁO
1. Để bộ kinh thánh Phật giáo
được sử dụng thống nhất trên khắp thế giới, ngôn ngữ của
kinh thánh này phải được thể hiện qua ba thứ tiếng căn bản là
Pali, Sanskrit và tiếng Anh. Nói cách khác, công việc biên tập trước
nhất phải được tiến hành theo ngôn ngữ gốc của kinh điển. Đối
với tuyển tập kinh thánh nguyên thủy, trước nhất phải được
biên tập từ tiếng Pali. Đối với tuyển tập kinh thánh đại thừa,
việc biên tập được thực hiện từ tiếng Sanskrit. Khi ấn bản
la-tinh hóa của hai tuyển tập kinh thánh này hoàn tất, chúng ta tiến
hành đến việc phiên dịch ra bản tiêu chuẩn tiếng Anh. Các nước
Phật giáo trên khắp thế giới có thể tham khảo bản tiếng Anh trong
khi phiên dịch hai ấn bản Pali và Sanskrit ra tiếng mẹ đẻ của mình.
Nói dễ hiểu hơn, phần kinh thánh nguyên thủy được trình bày qua
tiếng Pali đã la-tinh hóa, trong khi phần kinh thánh đại thừa được
trình bày qua tiếng Sanskrit, như chính nguyên tác ngôn ngữ của chúng.
Ấn bản tiếng Anh đính kèm là bản tham khảo đối chiếu cho các bản
dịch ra tiếng mẹ đẻ của các dân tộc trên thế giới. Riêng chúng
ta là người Việt Nam, thì bộ kinh thánh Phật giáo bao gồm 2 ấn bản,
ấn bản nguyên bản Pàli và Sanskrit và ấn bản tiếng Việt. Ấn bản
nguyên gốc để nhằm vào mục đích tra cứu, tham khảo. Ấn bản tiếng
Việt là ấn bản chính mà các chùa, tự viện, tịnh xá, tịnh thất,
niệm Phật đường và các gia đình Phật tử cần phải có ít nhất
một bộ trong chùa hay trong nhà mình. Về lâu về dài, mỗi người con
Phật dù tại gia hay xuất gia đều có trong tay một bộ kinh thánh Phật
giáo đó.
2. Để thực hiện công việc biên
tập trên, phải thành lập một ban biên tập gồm các vị cao tăng, danh
tăng, cư sĩ có tâm huyết với Phật pháp và các học giả Phật
giáo trên khắp thế giới. Thành viên của Ban biên tập này phải
là những người đại diện cho tiếng nói của Phật giáo trong một
nước. Do đó, các thành viên phải là người được đề cử của
giáo hội Phật giáo trong một nước hay của một tổ chức Phật giáo
nào đó hay của các trường đại học Phật giáo nổi tiếng trên
thế giới.
3. Trước nhất, số lượng bài kinh
cũng như các kinh của hai truyền thống được tuyển chọn vào bộ kinh
thánh Phật giáo phải được thảo luận rộng rãi. Các ý kiến
đóng góp của quần chúng tăng ni Phật tử trên khắp thế giới
phải được tham khảo và nghiên cứu kỹ lưỡng, để hoàn thiện
nội dung của bộ kinh thánh Phật giáo. Sau khi thống nhất về các bài
kinh được tuyển chọn, ban biên tập tiến hành công tác biên tập,
theo các tiêu chí nêu ở mục IV.
4. Một khi văn bản nguyên tác Pali
và Sanskrit đã được biên tập và hệ thống hóa, bản dịch tiếng
Anh cần được tiến hành tiếp theo sau. Sau đó, phổ biến rộng rãi
trên khắp thế giới, để các ban biên tập và phiên dịch địa
phương trong một nước nào đó tiến hành dịch ra tiếng mẹ đẻ của
mình, chẳng hạn như tiếng Trung Quốc, Pháp, Đức, Nhật, Liên Xô,
Miến Điện, Thái, Tích Lan v.v
5. Văn phong của các bản dịch kinh
thánh Phật giáo phải là một loại văn phong thuần ngôn ngữ mẹ
đẻ của từng dân tộc và quốc gia. Phong cách ngôn ngữ dịch thuật
tuy có nhiều loại tùy theo trình độ, sở thích và phong cách riêng
của người dịch, có thể chia thành 2 dạng chính: dạng ngôn ngữ tự
giải thích và dạng ngôn ngữ tự điển. Dạng thứ nhất là phong
cách chuyển ngữ văn bản kinh điển gốc sang tiếng được chuyển
ngữ theo một văn phong thuần chất của người bản địa. Nghĩa là
tự bản thân các từ ngữ thuật ngữ được diễn tả đã mang
tính giải thích rõ ràng. Người đọc kinh điển không cần phải tra
cứu các bộ tự điển Phật học để tìm hiểu ý nghĩa của chúng.
Trái lại, dạng thứ hai là dạng sử dụng quá nhiều từ ngữ,
thuật ngữ chuyên ngành Phật học, hoàn toàn xa lạ với quần chúng.
Đây là loại văn dịch theo phong cách kinh viện, phải cần đến tự
điển mới hiểu được ý nghĩa chứa đựng trong nó. Văn phong của
bản dịch của kinh thánh Phật giáo phải là loại văn phong thuần ngôn
ngữ mẹ đẻ, để giúp cho người Phật tử đọc hiểu dễ dàng và
ứng dụng không trở ngại. Rõ ràng, để có một văn phong như vậy,
ban biên dịch của từng nước trên thế giới phải cần đến sự
nhuận văn của các văn gia và thi sĩ lỗi lạc trong mỗi nước,
trước khi bản dịch được đem đi in ấn.
6. Bản dịch từ bản Pali và Sanskrit ra
tiếng mẹ đẻ (hay tiếng địa phương) phải được các hội đồng
đại diện của một nước phụ trách. Hội đồng đó có thể bao gồm
các tu sĩ, cư sĩ và học giả Phật giáo lỗi lạc và tinh thông Phật
pháp trong một nước.
7. Để bộ kinh thánh Phật giáo này
có trong tay từng tu viện và gia đình Phật tử, Ban biên tập có thể
vận động các tổ chức từ thiện Phật giáo trên khắp thế giới
ủng hộ phần kinh phí ấn tống bộ kinh thánh Phật giáo. Ngoài ra, các
đại diện của một nước cũng nên vận động ấn tống hay phát
hành bộ kinh thánh Phật giáo trên tinh thần không lời không lỗ,
để bạn đọc Phật giáo có thể mua dễ dàng. Giá ấn bản, nếu
không phải ấn tống, nên bằng với giá chi phí ấn loát thực tế.
Có như vậy thì mỗi tăng ni và gia đình Phật tử đều có thể có
trong tay một bộ kinh thánh Phật giáo để đọc tụng và thực hành
lời Phật dạy ở mỗi nơi và mọi lúc.
VI. THAY LỜI KẾT
Những điều được trình bày bên
trên chỉ là nguyện vọng của cá nhân chúng tôi trong việc mong mỏi
có một bộ kinh thánh Phật giáo thống nhất trên khắp thế giới.
Nguyện vọng tuy chánh đáng nhưng việc thực hiện không phải là
chuyện dễ dàng. Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng công việc cần
thiết này không phải không thực hiện được. Chúng tôi mong sao
các nhà lãnh đạo Phật giáo, các nhân văn trí thức Phật giáo
trên khắp thế giới lưu tâm nhiều hơn về vấn đề này, để sớm
có ngày ngồi lại bên nhau phát thảo công trình biên tập một bộ
kinh thánh Phật giáo trong vòng 2500 trang. Những điểm cần thảo luận
chi tiết cho công trình này là:
- Những kinh điển nào cần được
đưa vào trong bộ kinh thánh Phật giáo.
- Những phần nào nên được tỉnh
lược và loại ra khỏi bộ kinh thánh Phật giáo.
- Phong cách trình bày lời Phật dạy
một cách có hệ thống, từ thấp đến cao, để giúp cho người đọc
dễ nhớ và ứng dụng vào trong cuộc sống.
- Văn phong của bản dịch phải đơn
giản, phổ thông và quen thuộc với ngôn ngữ đời sống hằng ngày
của từng quốc gia và dân tộc trên thế giới.
Được như vậy, người viết tin
chắc rằng lời Phật dạy sẽ được nhiều người biết đến, sự
ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống sẽ có nhiều lợi ích hơn, và
do đó, cuộc sống con người hôm nay và mai sau sẽ an lạc và hạnh
phúc hơn trong ánh sáng chánh pháp của đức Phật.
--- o0o ---
| Mục Lục |
Mục lục
chi tiết |
|Phần I |
Phần II
|
Phần III
| Phần IV
|
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Đại
Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên
bản điện tử tuyển tập này.
--- o0o ---
Vi tính: Hải Hạnh - Giác
Định
Cập nhật ngày:
01-05-2002
|
|