| ...... ... |
. |
Tuyển tập
Phật Thành
Đạo
Nhiều
tác giả
--- o0o ---
Phần III
Phật giáo và các vấn đề
hiện tại
--- o0o ---
THIỀN TÔNG: MỘT NHÁNH CỦA PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
TRONG CÁC NƯỚC PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
Shanta Ratnayaka
Liễu
Pháp dịch
Liễu
Pháp dịch
Người phương Tây biết
Thiền Tông từ Nhật Bản, và Nhật Bản lại học thiền từ Trung
Quốc. Vì Trung Quốc và Nhật Bản là các nước theo Phật giáo Đại
thừa (Mahayana) nên thiền tông cũng thường được xem là một
nhánh của Phật giáo Đại thừa. Nhưng một vài sự kiện lịch sử
và thực tế chứng minh rằng thiền tông là sự tiếp nối của Phật
giáo Nguyên Thủy (Theravada), hình thức uyên nguyên nhất của
Phật giáo. Mối quan hệ giữa Phật giáo Nguyên Thủy và thiền tông
chưa được các học giả chú ý vì những nguồn tài liệu gốc của
Phật giáo Nguyên Thủy chưa được dịch đầy đủ sang tiếng Anh, hơn
nữa, một vài khía cạnh của Phật giáo Nguyên Thủy đã bị giải
thích lệch lạc trong các tác phẩm hiện đại. Phần đầu của bài
viết này sẽ điều chỉnh những quan niệm sai lầm về Phật giáo
Nguyên Thủy. Phần thứ hai nhằm xác định nguồn gốc của thiền tông,
và phần thứ ba sẽ chỉ rõ những điểm tương đồng trong kinh nghiệm
tâm linh, phương pháp hành thiền, con đường giác ngộ, cách diễn
tả của những bậc giác ngộ, và đời sống của các vị tu sĩ,
giữa thiền tông và Phật giáo Nguyên thủy.
THIỀN TÔNG KHÁC HẲN VỚI
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA
Mặc dầu thiền tông tồn tại ở
các nước theo Phật giáo Đại thừa, giáo lý và phương pháp thực
hành của thiền tông không giống với các tông phái khác của Đại
thừa. Chẳng hạn Tịnh Độ Tông, một tông phái lớn của Đại
thừa, hướng dẫn người tu chỉ dựa vào sự tiếp dẫn của Đức
Phật A-di-đà để được giải thoát. 1 Đối với người theo Tịnh Độ tông, đức tin (Tín) chính là
một "quà tặng" (gift) của Đức Phật A-di-đà.2 Giải thoát nhờ vào tha
lực, như Đức Phật, là một khái niệm xa lạ với thiền tông. Một
vị thầy hay một người bạn có thể hướng dẫn phương pháp hành
thiền nhưng vị thầy không phải là đấng cứu rỗi. Như D.T. Suzuki nói
"theo tôn chỉ và đạt đến mục đích, điều này phải tự mình
làm chứ không do sự trợ giúp của người khác"3. Điều này hoàn toàn trùng hợp với giáo lý của
Phật giáo Nguyên Thủy và chứng tỏ thiền tông rất gần với Phật
giáo Nguyên Thủy và khác hẳn Phật giáo Đại thừa.
Vài tác giả cho rằng Phật giáo Ấn
Độ có tính chất siêu hình nên không thể có được phương pháp
thực tập như của thiền tông. Ấn Độ là chiếc nôi của Duy Thức
Tông (Yogacara), Mật tông (Mantra School), Hoa Nghiêm tông (Avatamsaka)
hay của Tam Luận tông (Sunyata hay Madhyamika)4.
Đây chính là những tông phái của Đại thừa, phát triển những
yếu tố siêu hình nhằm trả lời cho những thách thức của triết
học Ấn Độ giáo ở Ấn Độ thời bấy giờ. Mặc dầu Phật giáo
Nguyên Thủy không thuộc vào những tông phái này, những người
không nghiên cứu Phật giáo Nguyên Thủy từ văn bản gốc thường
nghĩ rằng Phật giáo Nguyên Thủy là sự tập hợp của những giáo
điều có tính cách lý thuyết như Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo.
Phần sau của bài viết sẽ chỉ rõ rằng cốt lõi của Phật giáo
Nguyên Thủy là sự chứng nghiệm giải thoát (Satori trong thiền
tông) chứ không phải là những lý thuyết dần dần hình thành từ
giáo lý và sự thực hành trên con đường giác ngộ. Ngay cả ngày
nay, các vị sư ở Sri Lanka vẫn thường tự nhắc nhở yếu tố đơn
giản này bằng cách đưa bài kệ sau của kinh Pháp cú (14:5) vào trong
bài tụng Pirit5 mỗi
buổi tối:
"Sabba pàpassa akaranam
Kusalassa
upasampadà
Sacitta pariyodapanam
Etam
Buddhasàsanam"
Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng
hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo
Để truyền đạt Phật pháp một
cách vắn tắt, các vị thiền sư cũng trích cùng bài kệ trên. Khi
nhà thơ Hakuratukan hỏi thiền sư Dorin về bí mật của Phật giáo, ông
nhận được câu trả lời:
"Không làm các việc ác
Làm các việc lành
Giữ tâm ý trong
sạch
Là lời dạy của
chư Phật."6
PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
Ngay trong thời Đức Phật, các vị
trưởng lão đã duy trì giáo lý của Đức Phật để chỉ rõ con
đường giác ngộ cho cuộc đời. Vì vậy truyền thống Phật giáo xa
xưa nhất được gọi là Thượng Tọa Bộ. Trong những thế kỷ đầu
tiên của Phật giáo, 18 bộ phái phát xuất từ Thượng Tọa Bộ
nhưng dần dần biến mất. Từ một số bộ phái đó một tông phái
chính được hình thành và được gọi là Đại thừa (Mahayana).
Trong khi Thượng Tọa Bộ được duy trì ở các nước Nam Á như miền
Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan và Miến Điện, Đại thừa phát triển
mạnh ở các nước Bắc Á như Trung Quốc và Nhật Bản.
Đại thừa chủ trương quả vị Phật
là mục tiêu tối thượng và có thể có nhiều vị Phật trong cùng
một thời. Thượng Tọa Bộ chủ trương quả vị Phật lẫn quả vị
A-la-hán đều là mục tiêu bởi vì A-la-hán, những vị đạt đến
giác ngộ bằng cách thực hành theo lời Phật dạy, cũng chứng ngộ
Niết bàn y như Đức Phật. Và mỗi thời chỉ có một vị Phật, tất
cả những bậc giác ngộ khác đều là A-la-hán. Sự thành tựu
đạo quả của một vị A-la-hán được gọi là Thanh Văn giác. Cả
Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên Thủy đều chấp nhận có
ba thừa: Toàn giác Phật, Độc Giác Phật, và Thanh Văn Phật. Hơn
nữa, theo cả hai truyền thống, Đức Phật cũng chính là một vị
A-la-hán. Ngoài những điểm trên, không có sự mâu thuẫn nào
giữa Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Nguyên Thủy liên quan đến
vấn đề giác ngộ.
Ngay cả một học giả
nổi tiếng như Suzuki cũng tin rằng "Phật tử Nguyên Thủy đi tìm
sự giác ngộ cho chính mình, cho lợi lạc tâm linh của riêng mình, và
hiển nhiên không nghĩ đến những kẻ khác, không nghĩ đến tất cả
mọi người, mọi loài."7 Nhưng
đây không phải là mục đích của một vị A-la-hán hay của người
theo Phật giáo Nguyên Thủy. Một vị A-la-hán, và ngay cả một người
đang đi trên con đường đến quả vị A-la-hán, sống vì lợi ích và
sự tiến hóa của mọi người, mọi loài.8 Đời sống lý tưởng của Bồ-tát Sumedha minh
họa cho chúng ta thấy lý tưởng phụng sự thế gian của Phật giáo
Nguyên Thủy. Trước Đức Phật Nhiên Đăng (Dapankara Buddha),
Bồ-tát Sumedha đã trì hoãn sự chứng ngộ của mình để cứu giúp
chúng sanh thoát khỏi sanh tử luân hồi.9
Nhiều Phật tử Nguyên Thủy noi theo tấm gương này. Ngay từ những
ngày đầu tiên Đức Phật đã khuyến khích các vị A-la-hán đi khắp
nơi để giáo hóa. Sau khi Đức Phật nhập diệt, chính các vị A-la-hán
như ngài Mahakassapa và ngài Ananda đã gìn giữ giáo pháp của Đức
Phật vì lợi ích của thế gian. Trong thời vua Asoka, bậc A-la-hán Mahinda
và nhiều vị trưởng lão khác đã truyền Phật giáo đến các
nước.10 Cho đến ngày nay, mục tiêu của người Phật tử
Nguyên Thủy không chỉ là những thành tựu tâm linh cho riêng mình
mà còn cho sự tiến hóa của mọi người.
Mặc dầu những quan niệm như chi?u
tập cho riêng mình thường được gán một cách sai lầm cho Phật
giáo Nguyên Thủy, những dẫn chứng nêu trên có thể chứng minh cho
quan điểm của Phật giáo Nguyên Thủy. Ngay cả danh từ "Tiểu
thừa" cũng nên được loại ra khỏi vốn từ của các học
giả vì không tồn tại một hình thức Phật giáo nào như thế. Nếu
hiểu cả Đại thừa lẫn Nguyên Thủy một cách đúng đắn thì sẽ
thấy rõ điều này. R.D.M. Shaw, dịch giả cuốn "The Hekigan Rohu",
tuyển tập 100 câu chuyện về các thiền sư Trung Hoa, đã lưu ý:
"Từ Tiểu
thừa do Phật tử Đại thừa đặt ra như một danh từ tỏ ý coi
thường một tông phái gồm 18 bộ phái, trong đó chỉ còn một bộ
phái tồn tại. Tông phái này chính là Thượng Tọa bộ đang được
thực hành ở các nước Sri Lanka, Miến điện, Thái lan, và
Campuchia
vì vậy không chính xác khi gọi Nam Tông (Southern School) là
Tiểu thừa, và danh từ có tính cách phỉ báng này, vốn không hề
xuất hiện trong Tam tạng, tốt nhất nên được loại trừ trong cách
dùng hiện đại."11
SỰ HÌNH THÀNH CỦA THIỀN TÔNG Ở
TRUNG QUỐC
Bodhidharma (Bồ-đề
Đạt-ma), người sáng lập ra thiền tông ở Trung Quốc, là một vị sư
ở miền Nam Ấn Độ. Ngài đến Trung Quốc vào năm 520 sau công nguyên
bởi vì ngài "rất tiếc cho sự suy tàn của giáo lý chính
thống của Đức Phật trong những vùng xa xôi".12 "Giáo lý chính thống
của Đức Phật" có thể chính là thiền minh sát (Vipassanà)
của Phật giáo Nguyên Thủy. Một sự nghiên cứu có tính chất so
sánh giữa thiền minh sát của Phật giáo Nguyên Thủy với thiền của
thiền tông sẽ chứng minh rằng hai truyền thống Phật giáo này giống
nhau về căn bản. Kết quả của sự nghiên cứu đó đã giúp cho
Winston King tuyên bố "tôi cho rằng hai lối thiền này căn bản
giống nhau về mặt chức năng và chứng nghiệm, mặc dù phương pháp,
cách diễn đạt, và phong vị cảm xúc thay đổi tùy theo bối cảnh văn
hóa của mỗi nơi."13
Một số trưởng lão
nổi tiếng của Thượng Tọa Bộ được nhắc đến trong cùng thời
kỳ với Bodhidharma. Nhà chú giải lỗi lạc Buddhaghosa sống ở miền Nam
Ấn Độ vào thế kỷ V trước khi qua Sri Lanka.14
Nhà chú giải Buddhadatta là một nhân vật nổi tiếng khác ở Nam Ấn
thời bấy giờ. Không lâu sau đó, Badaratirtha Dhammapala cũng sống ở
đây và viết tiếp một số chú giải. Mặc dầu Thượng Tọa Bộ bắt
đầu suy yếu ở Nam Ấn sau thế kỷ VII, nó vẫn còn tồn tại cho đến
thế kỷ XV và duy trì quan hệ tốt đẹp với Phật giáo các nước,
đặc biệt với Sri Lanka và các nước Phật giáo Nguyên Thủy. Thậm
chí có một ngôi chùa Trung Quốc ở Nam Ấn cho đến cuối thế kỷ XV.15 Sự kiện này chứng tỏ rằng chính thời điểm
đó, lúc Phật giáo Nguyên Thủy phát triển mạnh ở Ấn Độ, là
lúc Bodhidharma qua Trung Quốc. Vì vậy, "giáo lý chính thống" mà
ngài đem từ Nam Ấn đến rất có thể là thiền minh sát của Phật
giáo Nguyên Thủy. Trước khi ngài đến Trung Quốc, Phật giáo Đại
thừa đã có ảnh hưởng ở Trung Quốc nhờ vào những hoạt động
của của Kumarajiva. Hơn nữa, vì Bodhidharma đi bằng đường biển,16 chắc hẳn ngài cũng đã viếng thăm các nước Phật
giáo Nguyên Thủy giữa Nam Ấn và Trung Quốc.
ĐỘC LẬP ĐỐI VỚI KINH ĐIỂN
Bodhidharma là một người
học rộng nhưng rất độc lập đối với kinh điển. Ngài không giới
thiệu kinh sách gì cho các đệ tử ngoại trừ cuốn Kinh Lăng già (Lankavatara
Sutra).17 Kiến thức
đạt được từ sách vở không đem lại giác ngộ, mục tiêu của
sự tu tập. Từ thuở ban đầu cho đến tận ngày nay, thái độ của
Phật giáo Nguyên Thủy đối với kinh điển cũng không khác với
thái độ của Bodhidharma. Trưởng lão Ananda hầu Đức Phật suốt 25
năm và thuộc lòng tất cả các bài kinh của Đức Phật nhưng vẫn
không chứng được quả A-la-hán cho đến khi trưởng lão Mahakassapa
đốc thúc ngài, ba tháng sau khi Đức Phật nhập diệt.18 Một ví dụ khác tương tự
là trường hợp giác ngộ của Nagasena. Một hôm ngài Dhammarakkhita
nói: "Này Nagasena, như một người đếm bò, nhưng người khác
hưởng những sản phẩm của nó, cũng vậy ông thuộc làu tam tạng
kinh điển mà vẫn không thành tựu được quả vị của sa môn."19 Được nhắc nhở như vậy,
Nagasena giác ngộ ngay ngày hôm đó. Nagasena làu thông tam tạng nhưng
kiến thức uyên bác của ngài không đem lại sự giác ngộ. Sau đó,
đến thời của "Thanh Tịnh Đạo Luận" (Visuddhimagga), việc
học kinh điển được xem như là một trở ngại cho việc hành thiền.20 Một ví dụ của một vị
thiền sư cho thấy rằng việc học kinh điển cũng có một vị trí tương
tự trong thiền tông. En-go khuyên đệ tử của ngài nên gạt bỏ tất
cả những "kiến thức tương đối" và "giảng giải".21
THỰC CHỨNG
Điều quý giá nhất
đối với trưởng lão Ananda, Nagasena, và hàng trăm tấm gương tương
tự không phải là kiến thức của quý ngài mà chính là sự thực
chứng tâm linh ở bên trong, hay chính là sự giác ngộ mà Đức
Phật cũng như các bậc A-la-hán khác đã đạt được. Trong thiền
tông sự giác ngộ này được gọi là Satori, Praja hay
Pa (trí tuệ). Vipassanà (minh sát) là một
từ tương đương tìm thấy trong tam tạng. Vipassanà trong Phật
giáo Nguyên Thủy chính là "kiến tánh" trong thiền tông. Suzuki
chỉ ra rằng "Cốt tủy của thiền Phật giáo ở chỗ có được
cái nhìn mới mẻ về cuộc đời và về mọi sự vật."22 Thiền tông hay Phật giáo Nguyên Thủy sẽ vô ích và
vô nghĩa nếu không có sự giác ngộ.
Prajaz (hay Pa
trong Pali) là "con mắt" để thấy được thực
tánh của chính mình và của các pháp. Hành động thấy cũng đồng
thời là hành động giải thoát, và chính tuệ quán đó chính là
"tuệ nhãn".23 Con
mắt mà một thiền giả nhìn thấy chính mình cũng chính là Prajazà.24 Tuệ quán bao gồm một sự
nhận thức đầy đủ về chính tâm mình, hay thực tánh của chính tâm
mình. Có thể tìm thấy sự giải thích chi tiết về điều này trong
cuốn "Thanh Tịnh Đạo Luận" (Visuddhimagga) (phần kiến tịnh
ditthivisuddhi). Thấy tâm và thấy tánh cũng được các
thiền sư giải thích tương tự.
"Một khi ánh sáng của trí tuệ
soi thấu vào tự tánh tâm địa, thì trong ngoài thảy đều sáng tỏ;
mọi vật trở thành trong suốt, và biết được bản tâm của mình.
Biết bản tâm tức là giải thoát. Chứng giải thoát tức là
chứng Bát-nhã tam-muội (Prajaza-samàdhi). Ngộ Bát-nhã tam-muội
tưc?à vô niệm."25
QUA VIỆC HÀNH THIỀN
Từ "Thiền"
(Zen hay Chan) bắt nguồn từ chữ Sanskrit Dhyàna chỉ
những trạng thái thần bí đạt được qua một quá trình dài thực
tập định tâm. Mặc dầu có nguồn gốc như vậy, thiền tông không
dạy những trạng thái yoga thần bí hay dhyàna (thiền chỉ) mà
lại dạy thiền quán. Thiền của thiền tông không phải là dhyàna
mà là thấy rõ thực tánh bên trong chính mình. Phật giáo Nguyên
Thủy xem dhyàna là pháp tu tiền Phật giáo và Đức Phật không
xem nó như là mục đích tối hậu. Điều này giúp ngài khám phá ra
"một hình thức khác của thiền" được gọi là Vipassanà(Sanskrit
Vipasyanà hay Vidarsanà), quán chiếu vào bên trong của
các pháp, dẫn đến sự giải thoát hoàn toàn của tâm, đến sự
giác ngộ chân lý rốt ráo, Niết bàn.26
Bodhidharma đã không đem dhyàna (thiền) đến Trung Quốc mà chắc
chắn ngài đã đem thiền quán (Vipassanà) vốn khác hẳn với
thiền. Những tác giả không thấy rõ sự tương tự giữa thiền
của thiền tông và thiền quán Vipassanà thường hay nhầm lẫn
giữa Vipassanà và dhyàna.27
Cả Vipassanà lẫn
thiền tông đều không chủ trương hành giả phải ngồi thiền. Mặt
khác cả hai đều không thấy có gì sai trái trong việc ngồi thiền.
Bài kinh "Tư٠Niệm Xứ" (Satipatthàna) và những bài kinh
tương tự của Phật giáo Nguyên Thủy cũng khuyến khích việc ngồi
thiền, nhưng thông thường là thền trong mọi oai nghi, ngay cả trong khi
làm tất cả các hoạt động khác. Các vị thiền sư khuyên ngồi
thiền (Zazen)28 cũng
như thiền trong lúc làm các công việc hàng ngày. Đôi lúc các
thiền sư định nghĩa "ngồi thiền" chính là thiền trong mọi oai
nghi.29
ĐỐN HAY TIỆM?
Ngay từ ngày xuất gia,
Bồ-tát Siddhartha nỗ?ực tu tập để tìm sự giác ngộ trong suốt
sáu năm và cuối cùng đã thành tựu. Thật sự thì sự giác ngộ
của ngài chỉ diễn ra trong nháy mắt. Một người tu tập phải trải qua
một chặng đường thật dài, nhưng khi giác ngộ thì lại giác ngộ
một cách gần như đột ngột. Sự giác ngộ của trưởng lão
Cakkhupàla là một minh họa khác cho điều này. Ngài Cakkhupàla quá
nỗ lực hành thiền đến nỗi mắt ngài bị mù. Nhưng ngay trong sát na
mắt ngài trở nên mù chính là lúc ngài giác ngộ.30 Những ví dụ này cho thấy giác ngộ thì
nhanh chóng nhưng phải có một sự tiệm tiến trong đời sống tinh
thần để chuẩn bị cho giây phút quyết định đó.
Trong một vài trường
hợp sự tiệm tiến không thấy rõ mà giác ngộ lại quá đột
ngột. Therik giác ngộ khi nhìn những ngọn rau mà cô đang nấu
trên bếp.31 Lúc đó cô
chỉ là một cư sĩ tại gia với tất cả những công việc bếp núc
nội trợ. Nhưng đột nhiên cô giác ngộ. Một vị vua của Vàrànasì
giác ngộ khi nhìn những chiếc vòng lắc nhịp nhàng trên tay của
hoàng hậu khi bà đang nghiền trầm để làm bột thơm.32 Vị vua này chưa một lần bước đến thiền
đường trước khi trở thành bậc giác ngộ, và mặc dầu ở ngài
không hề có tiệm tiến, sự đốn ngộ của ngài vẫn là một sự
giác ngộ hoàn toàn.
Tiệm ngộ hay đốn ngộ
cũng là một vấn đề quan trọng trong thiền tông. Dòng thiền của
miền Nam Trung Quốc được gọi là "Đốn" trong khi của miền
Bắc là "Tiệm." Kinh "Pháp Bảo Đàn" của thiền tông
giải thích hai khía cạnh, đốn và ngộ là không khác: "không
có sự khác biệt giữa đốn ngộ và tiệm ngộ. Tuy nhiên, có
người thông minh và có người ngu độn. Những người si mê hiểu
từ từ còn những sáng suốt thì hiểu ngay."33
Phật giáo Nguyên Thủy cũng có cùng quan điểm. Không có gì khác
nhau giữa đốn và tiệm, cả hai đều có cùng một mục đích. Không
những cả hai khía cạnh này mà ngay cả sự kết hợp của chúng
cũng tìm thấy trong Phật giáo Nguyên Thủy, và rõ ràng với thiền
quán Vipassanà nó đã được đem sang Trung Quốc. Hơn nữa, đốn
ngộ không chỉ xuất phát từ Trung Quốc như Suzuki đã lầm nghĩ.34
NGỘ (SATORI) VÀ CÔNG ÁN (KOAN)
Một cuộc nói chuyện, một câu hỏi
hay một sự kiện khai mở cho tâm giác ngộ được gọi là công án
trong thiền tông. Những cuộc nói chuyện của Đức Phật đều là
những ví dụ điển hình cho công án bởi vì hầu hết các cuộc nói
chuyện đó đều kết thúc bằng việc khai ngộ của người nghe. Tam
tạng và chú giải Pali có rất nhiều những sự kiện như vậy. Sau
đây là những ví dụ của công án từ cả hai truyền thống.
Thiền tông: I-San hỏi
Kyogen, "Ngươi có thể cho ta biết một chữ từ ngươi trước khi
ngươi ra khỏi bụng mẹ, trước khi ngươi biết phân biệt được
chăng?"35
Phật giáo Nguyên thủy:
Trưởng lão Sariputta hỏi Kundakalesa, "Cái gì là một?"36
Mặc dầu cả hai câu hỏi
đều dường như làm cho rối trí, nhưng ngược lại cả hai đều đưa
đến giác ngộ.
Thiền tông: Một hôm khi
Kyogen đang quét sân, một viên sỏi đụng vào khóm tre phát ra một
tiếng động và chính tiếng động ấy đã khai mở cho tâm trí của
Kyogen.37
Phật giáo Nguyên thủy:
Một hôm khi Patàcàràđang xối nước rửa chân, cô quan sát
nước chảy trên mặt đất và thấm dần vào lòng đất. Điều này
đã khai mở cho tâm cô giác ngộ.38
Một sự kiện đơn giản như tiếng
vang của viên sỏi hay hiện tượng nước thấm vào lòng đất đôi
lúc có khả năng giúp cho một người thấy rõ thực tánh của tất
cả các pháp.
Thiền tông: Khi trời
tối Ryutan thắp một ngọn nến cho Tokusan nhưng khi Tokusan định cầm lấy
thì Ryutan thổi tắt nó đi. Bỗng nhiên Tokusan hoát ngộ.39
Phật giáo Nguyên thủy:
Một hôm đến phiên Uppalavanna quét dọn giảng đường, sau khi đã
làm xong công việc cô đứng một lát để ngắm ngọn đèn cô cừa
mới thắp. Ngọn đèn này đã thắp sáng ngọn đèn bên trong cô và
cô trở thành một vị A-la-hán.40
Khoảnh khắc giác ngộ có khi mang
đôi chút tính bi kịch. Sau đây là hai ví dụ.
Thiền tông: Jojaza hỏi
Rinzai: "Cái gì là đại ý của Phật pháp?" Rinzai nhổm dậy,
nắm lấy Jojaza, tát tai và đẩy ông ra ngoài. Jojaza đứng yên. Một
vị tăng đứng cạnh bảo, "Jojaza, sao không lạy tạ đi?" Khi
Jojaza cúi lạy, bỗng nhiên ông hoát ngộ.41
Phật giáo Nguyên thủy:
Một hôm, trưởng lão ni Dhamma đang trên đường trở về Ni viện, do
quá gìa yếu bà té ngã giữa đường. Quan sát cái té một lát
bà đắc quả A-la-hán.42
Những ví dụ trên đủ để chứng
minh rằng ngộ trong thiền tông và trong Phật giáo Nguyên Thủy không
đòi hỏi một phương pháp nhất định và không có một lối hành
thiền tiêu biểu nào để đạt được giác ngộ, mà thay đổi tùy
theo từng người. Tuy nhiên dần dần các vị thiền sư trong thiền tông
cũng như trong Phật giáo Nguyên Thủy đều vận dụng một vài cách
thức hành thiền như đếm hơi thở hay tập trung vào ánh sáng một
ngọn nến. Những điều này không cần phải giải thích ở đây.
CÁCH DIỄN ĐẠT
Bởi vì mục đích của
Phật giáo Nguyên Thủy và của thiền tông là giác ngộ nên hành
giả của cả hai truyền thống đều không coi trọng những pháp tu có
tính cách bề ngoài như thờ cúng tượng Phật. Mặc dầu Đại thừa
phát triển giáo lý tam thân (Trikàya)43
từ Phật thân, những người theo Phật giáo Nguyên Thủy tin rằng
thân Phật cũng là thân người, và nhìn ngắm, chiêm ngưỡng hay lễ
bái thân Phật ngay cả khi Đức Phật còn tại thế cũng không thể
đem lại sự giác ngộ. Khi tôn giả Vakkali rất thích nhìn ngắm thân
Phật, Đức Phật khuyên Vakkali như sau: "Có ích gì cho ông, này
Vakkali, cái thân nhơ bẩn này mà ông nhìn ngắm? Ai thấy pháp,
người đó thấy Như lai, vì thấy pháp tức là thấy Như lai, thấy
Như lai tức là thấy pháp."44
Chính giáo pháp này của
Phật giáo Nguyên Thủy đã được Bodhidharma đem qua Trung Quốc. Và
lời khuyên sau đây của Bodhidharma gợi lại những gì được dạy cho
Vakkali: "Nếu không nhìn vào tự tánh thì niệm Phật cũng chẳng
ích gì".45
Nếu thân Phật lúc còn
sống mà còn vô ích cho sự giác ngộ thì tượng Phật gỗ khỏi cần
phải bàn. Các bộ Ngữ Lục chứng tỏ rằng các vị thiền sư hiểu
điều này một cách đúng đắn.46
Tanaka, một thiền sư, đã hùng hồn phủ định giá trị của tượng
Phật khi chất lửa đốt tượng Phật bằng gỗ để tìm xá lợi (sarìra)
trong đống tro tàn.47
Những câu nói của các vị thiền sư
bằng văn vần được gọi là kệ (gàthà). Điều này nhắc
chúng ta nhớ đến "Trưởng Lão Tăng Kệ" (Theragàthà),
một tuyển tập các bài kệ của các vị Trưởng lão và là một
phần của Tam tạng Pali. "Trưởng Lão Tăng Kệ" cũng như các
bài kệ của thiền tông đều diễn tả niềm hỷ lạc trong kinh nghiệm
tâm linh, cũng như niềm vui trước cảnh đẹp thiên nhiên xung quanh.
ĐỜI SỐNG CỦA CÁC VỊ TU SĨ
Trên nguyên tắc đời sống của một
vị thiền sư giống với đời sống của một vị sư Nguyên Thủy trong
một túp lều trong rừng hay ở một trung tâm Vipassanà. Cần
nhấn mạnh ở đây rằng đời sống của một vị sư ở trong rừng hay
ở một trung tâm Vipassanà ở các nứơc Phật giáo Nguyên
Thủy, như Sri Lanka chẳng hạn, khác hẳn với đời sống của các vị
sư ở trong chùa. Những vị thiền sư trong cả hai truyền thống đều
là những tấm gương sáng cho sự thanh bạch và giản dị ; họ sống
độc thân và cạo tóc. Mỗi vị chỉ có ba y, bình bát, dao cạo và
những vật dụng thiết yếu nhất có thể mang theo trong túi khi đi nơi
khác.
Có những vị sư sống trong thiền
viện. Thức ăn của họ có thể được chuẩn bị ngay trong thiền viện
hay được thí chủ cúng dường. Khi tiếng chuông báo hiệu giờ thọ
trai, chư tăng mang bình bát xếp hàng một theo thứ tự hạ lạp, ngồi
xuống trên những cái ghế thấp trong trai đường và thọ trai. Sau khi
tụng vài bài kinh chúc phúc họ thọ thực trong im lặng. Trong suốt
bữa ăn không hề có tiếng nói chuyện, chỉ ra dấu khi cần thiết. Khi
bữa ăn kết thúc quý sư lại tụng thêm vài bài kinh chúc phúc và
mang bình bát rời khỏi trai đường. Chư tăng không dùng cơm chiều.
Đôi lúc họ làm công việc quét dọn thiền viện, hành thiền riêng
lẻ, hành thiền tập thể hay làm một số công việc được giao.
Vị thầy (viện chủ) rất được mọi
người trong thiền viện cung kính. Có thể mỗi ngày mỗi vị sư và
mỗi cư sĩ trong thiền viện đều được thầy cho tham vấn. Trong những
buổi tham vấn này vị thầy thường hướng dẫn cho các đệ tử
những điều cần thiết trong việc hành thiền.
Ngoài những hoạt động hàng ngày
nói trên, còn có những lần thuyết giảng hay những khóa thiền
đặc biệt, như kỳ nhập hạ, được tổ chức trong thiền viện. Như
vậy mục đích và lối sống trong một thiền viện của thiền tông rất
giống với một thiền viện của Phật giáo Nguyên thủy.
KẾT LUẬN
Những điều vừa được đề cập
trong các phần trên chứng minh rằng thiền tông là một nhánh của
Phật giáo Nguyên Thủy trong các nước theo Phật giáo Đại thừa.
Những đặc điểm của thiền tông trên căn bản được tìm thấy
không phải trong Phật giáo Đại thừa mà trong Phật giáo Nguyên
Thủy. Trong thời kỳ lịch sử của các bậc tiền bối của Phật giáo
Nguyên Thủy ở Nam A?, Bodhidharma đã đi từ Nam Ấn đến Trung Quốc
để truyền bá nền Phật giáo chính thống này. Thiền minh sát Vipassanà
trong Phật giáo Nguyên Thủy chính là thiền trong thiền tông và
giác ngộ trong Phật giáo Nguyên Thủy chính là ngộ (Satori) trong
thiền tông. Tiệm ngộ và đốn ngộ đều tìm thấy trong cả hai truyền
thống. Cách diễn đạt của những bậc giác ngộ cũng rất giống nhau.
Ngay cả nếp sinh hoạt của hành giả trong cả hai truyền thống cũng
tương tự. Vì vậy chừng nào mà Phật giáo Nguyên Thủy còn bị
lãng quên thì nguồn gốc của thiền tông vẫn còn chưa sáng tỏ.
(Dịch từ nguyên tác tiếng Anh
"Zen is the Theravada Branch of Buddhism in Mahayana Countries" của Shanta
Ratnayaka, đăng trong cuốn Buddhist Studies in Honour of Walpola Rahula, Trường
Đại Học Georgia, Athens, USA, các trang 223-33)
Chú thích:
1.
D.T. Suzuki, Shin Buddhism (New York: Harper and Row, 1970), p.90.
2. Alfred Bloom, Shirans Gospel of Pure Grace
(Tucson: The University of Arizona Press, 1965), p. 45.
3. D.T Suzuki, Essays in Zen Buddhism, (New York: Harper
and Brothers, 1949), 1st series, p.242.
4. Ibid, p.171
5. Một số bài kinh cầu an và chúc phúc được
gọi là Kinh Pirit.
6. Philip Kapleau, The Three Pillars of Zen (New York:
Harper and Row, 1966), p. 246
7. D.T Suzuki, Essays in Zen Buddhism (2nd
edition,; London: The Buddhist Society, 1958), Third series, p. 164
8. Itivuttaka, ed. by Ernst Windisch (2nd
edition, London: Pali Text Society, 1948) pp. 78-79
9. Apadàna-atthakathà, ed. by C.E. Godakumbura (London:
Pali Text Society, 1954), p. 16
10. Mahanàma, The Mahàvamsa or the Great Chronicle of Ceylon,
trs. By Wilhelm Geiger (4th edition; Colombo: The Ceylon Government Publication
Bureau, 1960), p. 88
11. R.D.M. Shaw, trans. and ed., The Blue Cliff Records, The
Hekigan Roku (London: Michael and Joseph, 1961), p. 171
12. Suzuki, Essays I, p. 177
13. Winston L. King, "A
Comparison of Theravada and Zen Buddhist Meditation Methods and Goals," History of
Religions, IX, 4, (May 1970), p. 305
14. B.C. Law, Buddhaghosa, (Nugegoda, Sri Lanka: Spartan
press, 1963), p. 29
15. H. Dhammaratana, Buddhism in South India (Kandy, Sri
Lanka: Buddhist Publication Society, 1968), pp. 6-45
16. Xem chú thích 12
17. Lankàvatàra Sutra, viết bằng ngôn ngữ
Sanskrit, không có trong Tam Tạng Pali, nhưng cho rằng được Đức Phật
thuyết cho vua của xứ Sri Lanka, một nước theo Phật giáo Nguyên thủy
từ thế kỷ III trước công nguyên, và Phật tử ở Sri Lanka tin
rằng Đức Phật đã viếng thăm xứ sở của họ ba lần.
18. Mahanàma, Mahàvamsa, pp. 16-17
19. The Questions of King Milinda, Part I, trnas. By T.W.
Rhys Davids, The Sacred Book of the East, Vol. XXXV (New York: Dover Publications, Inc.
1963), pp.. 28-29
20. Buddha, Visuddhimagga (Sri Lanka: Vidyasadhaka press,
1914), p.70
21. Shaw, Blue Cliff, p. 267
22. Suzuki, Essays I, p. 227
23.
"Yato đànam
udap àdi pađđacakkhu anuttaram Yassa cakkhussa patilàbhà
sabbadukkhà pamuccatàti", Itivuttaka, p. 52
24. D.T. Suzuki, Studies in Zen, London: Buddhist Society,
1955), p. 120
25. Suzuki, Essays III, p. 36
26. Walpola Rahula, What the Buddha Taught, (New York, Grove
Press, 1962), p. 68
27. Suzuki, Studies, p. 163
28. Kapleau, Three Pillars, p.46
29. Hui-neng, The Platform Sutra of the Sixth Patriarch, trans.
by Phillip B. Yampolsky (New York: Colombia University press, 1967), p. 140
30. Buddhaghosa, Dhammapada-atthakathà I, ed. by Kahawe
Ratanasara, Simon Hewavitarana Bequest Series, Vol. V (Colombo: The Tripitaka Publication
Press, 1919), p. 6
31. Dhammap la, Paramatthadàpanà or the Commentary of
the Therigàthà, ed. by B. Dewarakkhita, Simon Hewavitarana Bequest Series, Vol.
III, (Colombo: The Tripitaka Publication Press, 1918), pp. 4-5
32. Buddhaghosa, Paramatthajotikà or the Commentary to the
Suttanipàta, ed. by Sumangala, Simon Hewavitarana Bequest Series, Vol. VII (Colombo:
The Tripitaka Publication Press, 1920), p. 64
33. Hui-neng, The Platform Scripture, trans. by Wing
-Tsit-Chan, Asian Institute Translations, No. 3 (New York: "St. Johns
University Press, 1963), p. 49
34. Suzuki, Essays III, p. 34
35. Suzuki, Studies, p. 161
36. Dhammapala, Commentary of the Therigàthà, p. 81
37. Suzuki, Essays I, pp. 240-41
38. Dhammapala, Commentary of the Therigàthà, p. 89
39. D.T. Suzuki, An Introduction to Zen Buddhism (New York:
Grove Press, 1964), p. 89
40. Dhammapala, Commentary of the Therigàthà, p. 150
41. Shaw, Blue Cliff, p. 119
42. Dhammapala, Commentary of the Therigàthà, p. 18
43. Kàya và sarìra đều có nghĩa là thân
44. Psalms of the Early Buddhists, Part II, trans. by Mrs.
Rhys David (London: Pali Text Society, 1964), p. 198
45. Suzuki, Essays I, p. 231
46. Shaw, Blue Cliff, p. 287
47. Suzuki, Essays I, p. 328
--- o0o ---
| Mục Lục |
Mục lục
chi tiết |
|Phần I |
Phần II
|
Phần III
| Phần IV
|
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Đại
Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên
bản điện tử tuyển tập này.
--- o0o ---
Vi tính: Hải Hạnh - Giác
Định
Cập nhật ngày:
01-05-2002
|
|