| ...... ... |
. |
Tuyển tập
Phật Thành
Đạo
Nhiều
tác giả
--- o0o ---
Phần III
Phật giáo và các vấn đề
hiện tại
--- o0o ---
ĐẠO PHẬT VÀ
CHÍNH TRỊ
HT.
Sri Dhammananda
Bình
Anson trích dịch
Bất cứ một thể chế chính trị
nào cũng có một giới hạn trong sự bảo vệ hạnh phúc và sung túc
của người dân trong thể chế đó. Không một hệ thống chính trị
nào, dù rằng nó có vẻ rất lí tưởng, có thể mang lại hạnh phúc
và hòa bình nếu người dân trong thể chế đó còn bị bao trùm bởi
lòng tham, sân hận, và mê si.
Đức Phật xuất thân từ giai cấp
vương tướng (*), và do đó, Ngài đã có nhiều liên hệ với các
vị quốc vương, hoàng tử, quan lại trong triều đình. Mặc dù có
nhiều liên hệ như thế, Ngài không bao giờ dùng các thế lực chính
trị để truyền đạo, và Ngài cũng không bao giờ cho phép giáo pháp
của Ngài bị lợi dụng cho các ý đồ chính trị. Thế nhưng ngày nay,
đã có nhiều người cố ý gán ghép danh hiệu của Ngài với
những chủ thuyết chính trị khác nhau. Những người đó đã quên
rằng các hệ thống chính trị mà chúng ta quen thuộc ngày nay là bắt
nguồn từ phương Tây, xảy ra sau thời kỳ Đức Phật còn tại thế
một thời gian rất lâu. Đối với những người đang cố công dùng
các danh hiệu của Đức Phật cho những ý đồ riêng tư của họ, họ
cần phải nhớ rằng Đức Phật là bậc Chính Đẳng Chính Giác,
vượt lên trên các chuyện lo âu của thế gian.
Có một vấn đề cơ bản mà ta phải
nhận định khi tôn giáo bị pha trộn với chính trị. Căn bản của tôn
giáo là đạo đức, lòng trong sạch, và đức tin; trong khi đó, căn
bản của chính trị là quyền lực. Trong tiến trình lịch sử, tôn giáo
thường bị lạm dụng để hợp thức hóa những người cầm quyền
và sự áp dụng của quyền lực. Tôn giáo đã bị lạm dụng để
biện minh cho chiến tranh và thôn tính, đàn áp, chém giết tàn bạo,
nổi loạn, tàn phá các công trình văn hóa và nghệ thuật.
Khi tôn giáo bị sử dụng để gia
tăng thế lực chính trị thì tôn giáo sẽ phải hi sinh các lí tưởng
đạo đức cao quí và trở nên mất gốc, nhượng bộ cho các thế
lực chính trị trong thế gian.
Mục đích của Phật Pháp không phải
nhắm đến việc thành lập các định chế và cơ cấu chính trị mới.
Trên cơ bản, tôn giáo tìm cách giải quyết các vấn đề trong xã
hội bằng cách giáo hóa mỗi cá nhân, vốn là thành viên của xã
hội, và bằng cách đề nghị các nguyên tắc tổng quát để điều
hướng xã hội tiến đến một phong thái nhân bản, cải thiện đời
sống của mọi thành viên, và cổ động sự phân phối các nguồn
vật lực một cách công bằng hơn.
Bất cứ một thể chế chính trị nào
cũng có một giới hạn trong sự bảo vệ hạnh phúc và sung túc của
người dân trong thể chế đó. Không một hệ thống chính trị nào,
dù rằng nó có vẻ rất lí tưởng, có thể mang lại hạnh phúc và
hòa bình nếu người dân trong thể chế đó còn bị bao trùm bởi
lòng tham, sân hận, và mê si. Thêm vào đó, dù có theo một hệ
thống chính trị nào đi nữa, cũng còn có những nhân tố phổ quát
mà từng cá nhân trong xã hội phải trực diện: kết quả của các
nghiệp thiện và bất thiện của riêng mình, và sự khiếm khuyết và
thiếu vắng của một nền an lạc trường cửu vì bản chất của thế
gian vốn là hoạn khổ, vô thường, và vô ngã. Đối với những
người con Phật, không một nơi nào trong cõi Ta Bà nầy là có
được một tự do, giải thoát thật sự, kể cả các cõi tiên của
chư thiên.
Một hệ thống chính trị tốt và công
bằng -- có những bảo đảm cho các quyền căn bản của con người,
và có những định chế giám sát và cân bằng việc sử dụng quyền
lực -- là điều kiện quan trọng cho cuộc sống hạnh phúc trong xã
hội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không nên bỏ quá nhiều công sức và
thì giờ để tìm kiếm vô tận một hệ thống chính trị toàn hảo để
giúp con người được hoàn toàn tự do. Tự do tuyệt đối không
thể nào có được trong các định chế chính trị, mà chỉ có được
trong tâm thức khi nó được giải thoát. Để được giải thoát,
chúng ta cần phải nhìn vào nội tâm của chính mình, và nỗ lực
giải phóng nó ra khỏi các gông xiềng của vô minh, hận thù và tham
dục. Tự do trong ý nghĩa đích thực tuyệt đối chỉ có được khi
nào chúng ta dùng Chính Pháp để phát triển tâm ý qua lời nói và
hành động hướng thiện, và để huân tập tâm ý, để phát triển
tiềm năng tâm linh, đạt đến cứu cánh tuyệt đối của giác ngộ.
Mặc dù chúng ta công nhận về sự
lợi ích trong việc tách rời tôn giáo và chính trị, và về các
giới hạn an lạc và hạnh phúc mà hệ thống chính trị mang đến,
nhưng cũng có nhiều khía cạnh trong các lời dạy của Đức Phật có
những tương quan với các bố cục chính trị ngày nay.
Thứ nhất, Đức Phật đã giảng
dạy về tính cách bình đẳng của con người -- cả mấy ngàn năm
trước tuyên ngôn của Abraham Lincoln (Tổng Thống Mỹ). Ngài dạy rằng
các giai cấp, tầng lớp trong xã hội chỉ là những hàng rào nhân
tạo do xã hội dựng ra. Việc sắp xếp thứ bậc của loài người,
theo lời Ngài, chỉ có thể dựa trên phẩm chất giới hạnh của họ
mà thôi.
Thứ hai, Đức Phật khuyến khích tinh
thần hợp tác bình đẳng và tích cực tham gia đóng góp trong xã
hội. Đây là một tinh thần đã được cổ võ trong tiến trình chính
trị của các xã hội hiện nay.
Thứ ba, Ngài đã không chỉ định
một người nào để kế thừa Ngài. Ngài chỉ dạy rằng mọi người
phải tự mình mà tu học, lấy Chính Pháp làm nền tảng và làm nơi
nương tựa. Các thành viên của Tăng Đoàn chỉ chịu sự hướng dẫn
của Giáo Pháp và Giới Luật -- như là một bộ luật sinh hoạt. Cho
đến ngày nay, mỗi tu sĩ của Tăng Đoàn đều phải tuân thủ bộ
Giới Luật đó để làm kim chỉ nam hướng dẫn cho mọi sinh hoạt tu
học của mình.
Thứ tư, Đức Phật đã khuyến khích
tinh thần tham vấn và tiến trình dân chủ. Điều nầy được thể
hiện qua cộng đồng tăng sĩ, trong đó mỗi thành viên đều có quyền
quyết định về các vấn đề chung. Khi có một nghi vấn nghiêm trọng
cần phải được giải quyết, các vấn đề có liên quan được đem
ra giữa các tu sĩ để thảo luận trong một phương cách tương tự như
trong hệ thống quốc hội ngày nay. Tiến trình tự quản trị nầy có
lẽ sẽ làm nhiều người ngạc nhiên vì nó đã được áp dụng
trong các cộng đồng tăng sĩ Phật Giáo tại Ấn Độ trong 2.500 năm
trước đây, và phương cách điều hành có rất nhiều điểm tương
đồng với các thủ tục thảo luận trong quốc hội.
Một tu sĩ, tương tự như vị
"phát ngôn nhân", được chỉ định để có một tiếng nói
chung, đại diện cho cộng đồng. Một tu sĩ khác, tương tự như vị
"chủ tịch", được bầu ra để điều hành diễn đàn. Các
vấn đề được đưa ra như các các nghị trình để được thảo luận
công khai. Trong một vài trường hợp khi vấn đề đó có tính cách
nghiêm trọng và phổ quát, thì nó có thể được đem ra thảo luận
nhiều lần, tương tự như các vòng thảo luận của quốc hội về các
dự luật. Nếu qua các cuộc thảo luận mà vẫn còn nhiều ý kiến
xung khắc, bất đồng, thì vấn đề sẽ được biểu quyết qua một
cuộc bỏ phiếu để lấy quyết định theo đa số.
Đạo Phật khuyến khích nền tảng
đạo đức và việc sử dụng quyền lực công cộng với ý thức
trách nhiệm. Đức Phật tuyên giảng về hòa bình và bất bạo động
như là một thông điệp phổ quát. Ngài không chấp nhận bạo lực
và hủy hoại sinh mạng. Ngài tuyên bố rằng không có một chiến tranh
nào là chiến tranh của công lí. Ngài dạy: "Người thắng tạo
căm thù, kẻ thua sống khổ sở. Người nào từ bỏ thắng và bại
thì người đó sống an vui và hạnh phúc." Chẳng những Đức
Phật dạy về hòa bình và bất bạo động, có lẽ Ngài cũng là vị
Giáo Chủ đầu tiên và duy nhất đã ra tận chiến trường để tìm
cách ngăn chận chiến tranh. Ngài đã hóa giải sự xung đột giữa
bộ tộc Sakya và bộ tộc Koliya khi họ muốn khởi sự đánh nhau vì
tranh chấp nước sông Rohini. Ngài cũng đã thuyết phục vua Ajatasanu
bỏ ý định tấn công vương quốc của bộ tộc Vaiji.
Đức Phật đã giảng dạy về sự
quan trọng và về các điều kiện thiết yếu của một chính phủ tốt.
Ngài dạy rằng khi người lãnh đạo chính phủ tham nhũng và bất
công thì xứ sở trở nên tham nhũng, băng hoại, và đau khổ. Ngài
chống lại sự tham nhũng và đã dạy rằng chính phủ phải biết quản
trị dựa trên các nguyên tắc nhân ái.
Ngài nói: "Khi người lãnh đạo
xứ sở có tính công bình và thiện ái thì triều đình có tính
công bình và thiện ái. Khi tirều đình có tính công bình và thiện
ái thì các quan chức có tính công bình và thiện ái. Khi các quan
chức có tính công bình và thiện ái thì các cán bộ hạ tầng có
tính công bình và thiện ái. Khi các cán bộ hạ tầng có tính công
bình và thiện ái thì người dân có tính công bình và thiện
ái." (Tăng Chi Bộ Kinh).
Trong Kinh Cakkavatti Sihananda (Chuyển
Luân Thánh Vương Sư Tử Hống, Trường Bộ Kinh), Đức Phật nói
rằng các điều hung ác và tội phạm, như ăn cắp, lường gạt, bạo
lực, thù ghét, bạo tàn, ... đều bắt nguồn từ sự nghèo khó.
Quốc vương và triều đình có thể dùng sự trừng phạt để kiềm
chế tội phạm, nhưng không bao giờ có thể tiêu trừ các tội phạm
bằng quyền lực của mình.
Trong Kinh Kutadanta (Trường Bộ
Kinh), Đức Phật chủ trương phát triển kinh tế, thay vì dùng quyền
lực, để xóa giảm tội phạm. Triều đình phải biết sử dụng các
nguồn tài nguyên để cải thiện điều kiện kinh tế trong nước. Họ
phải biết phát triển nông nghiệp và thôn quê, trợ giúp giới
buôn bán, cung cấp lương bổng đầy đủ cho công nhân để bảo đảm
một đời sống tốt có nhân phẩm.
Trong Kinh Bổn Sanh (Jakata),
Đức Phật có đưa ra 10 nguyên tắc của một chính quyền tốt, gọi
là "Thập Vương Pháp" (Dasa Raja Dhamma). Mười nguyên tắc
nầy vẫn có thể áp dụng trong thời đại ngày nay cho bất cứ một
chính quyền nào, để quản trị xứ sở một cách hài hòa. Đó là:
- Phải cởi mở và không ích kỉ;
- Duy trì đạo đức cao;
- Sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân để phục vụ cho an
sinh của dân chúng;
- Phải thành thật và ngay thẳng;
- Phải dịu dàng và giàu lòng nhân ái;
- Phải sống giản dị để làm gương cho dân chúng;
- Phải vượt lên trên mọi hận thù;
- Biết áp dụng tinh thần bất bạo động;
- Biết nhẫn nại;
- Tôn trọng ý kiến dân chúng, và biết phát triển
sự hòa bình và hòa hợp.
Về cách hành xử của người lãnh đạo thì Ngài
giảng thêm (Kinh Cakkavatti Sihananda):
- Người lãnh đạo tốt phải biết cư xử công bình,
không thiên vị bất cứ nhóm nào;
- Người lãnh đạo tốt không bao giờ gieo lòng thù
hận trong dân chúng;
- Người lãnh đạo tốt không bao giờ ngần ngại áp
dụng luật pháp khi cần thiết;
- Người lãnh đạo
tốt phải thông hiểu luật pháp rõ ràng mỗi khi áp dụng. Luật pháp
không phải áp dụng chỉ vì người ấy có uy quyền, mà phải được
áp dụng hợp tình và hợp lí.
Bộ Mi Tiên Vấn Đáp (Milanda
Panha) có viết: "Nếu người nào không có tài năng, không
đạo đức, không phạm hạnh, không xứng đáng là vua, mà lại tự
mình tôn xưng là vua hay người lãnh đạo với nhiều quyền lực thì
người ấy sẽ bị nguyền rủa và trừng phạt bởi dân chúng, bởi
vì người ấy, vì không xứng đáng và không tài năng, đã tự
đặt mình một cách vô lí vào vị trí của người lãnh đạo. Người
lãnh đạo, cũng như những người đã vi phạm các nguyên tắc đạo
đức và giới luật căn bản của xã hội loài người, sẽ bị
trừng phạt như bao nhiêu người khác, nhất là đối với những
người lãnh đạo ăn cắp tài sản của dân chúng." Kinh Bổn Sanh
cũng có đề cập đến người lãnh đạo nào mà chỉ trừng phạt
người vô tội và không trừng phạt người phạm tội thì người
lãnh đạo ấy không xứng đáng lãnh đạo xứ sở.
Vì vậy, Trung Bộ Kinh cũng có
nói về vị quốc vương biết tự thăng tiến và lúc nào cũng nỗ
lực gìn giữ hành động, lời nói và tâm ý, lúc nào cũng biết
lắng nghe ý kiến của dân chúng về sự cai trị của mình, để biết
mình có phạm lỗi lầm nào không trong khi điều hành đất nước.
Nếu vị quốc vương ấy cai trị xấu, người dân sẽ than phiền rằng
họ đang bị phá hoại bởi một vị lãnh đạo xấu vì các chính sách
hà khắc, nhũng lạm, bất công, sưu cao thuế nặng, và do đó, dân
chúng sẽ có phản ứng chống lại vị vua ấy. Ngược lại, nếu vị vua
cai trị tốt, thì dân chúng sẽ chúc tụng: "Cầu xin cho quốc vương
của chúng tôi được trường thọ."
Lời dạy của Đức Phật về các
bổn phận đạo đức của vua chúa để sử dụng công quyền, bảo
đảm an sinh người dân đã giúp cho vua A Dục (Asoka), vào thế kỉ III
TTL, cai trị đất nước của ông. Hoàng Đế A Dục, là một thí dụ
điển hình của nguyên tắc đạo đức nầy, đã sống và thực hành
Chính Pháp cho tất cả mọi người dân trong triều đại của ông. Ông
quảng bá chính sách bất bạo động đến các vương quốc lân cận,
cam đoan các thiện ý của ông, và gửi sứ giả đi khắp nơi để
truyền bá thông điệp hòa bình và bất bạo động. Ông cổ võ sự
ứng dụng của các nguyên tắc đạo đức trong xã hội, như chân
thật, từ bi, bác ái, bất bạo động, nhân từ, không hoang phí,
không chiếm đoạt, và không gây sát hại cho mọi loài vật. Ông
khuyến khích tự do tôn giáo và bình đẳng tương kính giữa mọi
đức tin. Ông thường du hành thuyết giảng Đạo Pháp đến người
dân ở tận thôn quê. Ông thiết lập các công trình công cộng như
bệnh xá, cung cấp thuốc men, trồng cây gây rừng, đào giếng, các
công trình thủy lợi, và nhà tạm trú. Ông cũng đặc biệt ngăn
cấm việc đối xử tàn ác với các loài thú vật.
Có người cho rằng Đức Phật là
một nhà cải cách xã hội. Trong các bài giảng, Ngài đã lên án
hệ thống giai cấp và Ngài công nhận quyền bình đẳng của con
người. Ngài giảng về nhu cầu cải thiện các điều kiện kinh tế xã
hội, công nhận tầm quan trọng của việc phân bố công bằng các của
cải giữa người giàu và nghèo, nâng cao vị trí của phụ nữ,
khuyến khích việc áp dụng tinh thần nhân bản trong guồng máy hành
chính. Ngài dạy rằng xã hội phải được điều hành trên tình
thương và lòng từ bi, chứ không dựa vào lòng tham lam. Hơn thế
nữa, sự đóng góp của Ngài cho nhân loại còn cao quí hơn, vì Ngài
còn đi xa hơn các nhà cải cách xã hội thời đó, vì không ai đã
có thể chỉ thẳng vào cốt lõi của các cơn bệnh trong tâm thức
của con người. Chỉ ở trong tâm thức thì sự cải cách mới thật
sự có ý nghĩa. Các cải cách bên ngoài do các quyền lực áp
đặt thì chỉ có hiệu quả ngắn hạn vì nó không có cội rễ. Chỉ
có cải cách nào dựa trên căn bản cải thiện tâm thức thì nó
mới có cội rễ vững chắc. Có cội rễ vững chắc thì các cành
nhánh của cải cách xã hội mới được phát triển tươi tốt, vì
chúng được nuôi dưỡng bởi nguồn sinh lực liên tục, đó là
nguồn tâm lực của dòng sinh hóa trong cuộc đời. Như thế, các cải
cách xã hội chỉ có thể khả thi khi nào mà tâm ý của con người
đã được sửa soạn sẵn sàng cho các việc đó. Các cải cách
đó sẽ tiếp tục sống mạnh khi nào mà con người sẵn sàng nuôi
dưỡng chúng qua sự chuyên cần và tôn trọng sự thật và công
lí, và tôn trọng đời sống của đồng bào của họ.
Giáo thuyết của Đức Phật không
dựa trên một "triết lý chính trị" nào cả. Giáo thuyết nầy
không khuyến khích con người đi vào con đường hành lạc vật chất.
Giáo thuyết nầy vạch ra con đường đưa đến giải thoát tối hậu,
là Niết Bàn. Nói một cách khác, mục tiêu tối hậu của Giáo
thuyết ấy là đoạn diệt lòng tham ái vốn đã cột chặt con người
trong vòng trầm luân, khổ ải. Một câu thơ trong Kinh Pháp Cú
(câu 75) đã tóm tắt điều nầy: "Con đường đưa đến thủ đắc
vật chất là một con đường, còn con đường đưa đến Niết Bàn
là một con đường khác."
Điều nầy không có nghĩa là các
Phật tử không nên tham gia vào tiến trình chính trị, vốn là một
thực tại xã hội. Đời sống của mọi người trong xã hội được
uốn nắn bởi luật pháp và các qui định, bởi các bố trí kinh tế
của quốc gia, bởi guồng máy quản trị hành chính, và như thế chịu
ảnh hưởng của các bố cục chính trị của quốc gia đó. Tuy nhiên,
nếu người cư sĩ Phật tử có muốn tham gia chính trị thì người đó
không nên lạm dụng tôn giáo để mưu đồ tạo các quyền lực chính
trị cho mình. Còn các tu sĩ vốn đã xuất gia, lìa đời sống thế tục
để dấn thân vào con đường tôn giáo tinh thuần, thì không nên có
những liên hệ quá tích cực vào các hoạt động chính trị.
Tóm lại, Đức Phật là bậc Giác
Ngộ, vượt lên trên mọi vấn đề của thế gian. Tuy nhiên, trong suốt
cuộc đời hoằng dương Chính Pháp, Ngài luôn luôn có những lời
dạy quí báu cho các quốc vương và triều đình để quản trị tốt
xứ sở của họ.
[Dịch từ nguyên tác tiếng Anh
"Buddhism and Politics" trong quyển sách "What Buddhists Believe"
của Hòa Thượng Dhammananda, trang 229-236, do hội Buddha Educational Foundation
ấn tống năm 1995].
CHÚ THÍCH
(*) Xã hội Ấn Độ thời đó
có 4 giai cấp: Giáo sĩ (Bà La Môn), Vương tướng (Sát Đế Lợi),
Buôn bán (Vệ Xá), và Nông dân (Thủ Đà La).
--- o0o ---
| Mục Lục |
Mục lục
chi tiết |
|Phần I |
Phần II
|
Phần III
| Phần IV
|
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |
--- o0o ---
Chân thành cảm ơn Đại
Đức Nhật Từ đã gởi tặng phiên
bản điện tử tuyển tập này.
--- o0o ---
Vi tính: Hải Hạnh - Giác
Định
Cập nhật ngày:
01-05-2002
|
|