Tiếng Việt

Trang nhà Quảng Đức

   Tiếng Anh 

qd.jpg (8936 bytes)

Đức Phật và Phật Pháp


...... ... .


Tuyển tập

Phật Thành Đạo

Nhiều tác giả
 --- o0o --- 

 

 

 --- o0o ---

 

tdao-bia.jpg (22907 bytes)

 --- o0o --- 

Mục Lục Tổng Quát

 --- o0o ---

Mục lục chi tiết

Phần I :
Bản chất và con đường Giác Ngộ

 

1. Ý nghĩa thành đạo theo Kinh Hoa Nghiêm - HT Thích Trí Quảng

2. Bản chất và con đường giác ngộ trong đạo Phật - Thích Nữ Huệ Liên

3. Quả vị giác ngộ dưới cội Bồ-Đề - Thích Nguyên Hiền

4. Thử bàn tu chứng quan Phật giáo - Thích Hạnh Chánh

5. Sự giác ngộ của Đức Phật là quá trình chuyển hóa tâm linh - Thích Quang Thạnh

6. Khái niệm giác ngộ trong đạo Phật - Thích Nữ Liên Hòa dịch

7. Có một sự thật - Quảng Minh

8. Bản chất của Bồ-Đề, giác ngộ, niết-bàn và con đường giải thoát - Tâm Minh

9. Thánh nhân trong kinh điển Pali - Thích Nhật Từ

10. Quả vị giác ngộ: Sự giải thích của Thượng tọa bộ và đại thừa - Thích Hiển Chánh

11. Tôi không dám khinh quý Ngài, vì quý Ngài sẽ thành Phật - Lệ Tâm dịch

12. Giác ngộ và giải thoát - Chính Trực

13. Phương pháp chuyển hóa và tâm nguyện độ sanh của Đức Từ Phụ - Thích Nữ Như Nguyệt

14. Con đường giác ngộ theo kinh điển Nikàya - Thích Nữ Trí Liên

15. Các cấp độ hạnh phúc - Thích Hiển Chánh

16. Niết-bàn: Bản chất và mục tiêu giác ngộ - Thích Nhật Từ

17. Vô ngã và Niết-bàn - Thích Hiển Chánh

18. Niết-bàn và sự chấm dứt luân hồi - Thích Hiển Chánh

19. Giác ngộ trong Kinh Bát Đại Nhân Giác - Thích Viên Giác

20. Bảy phương pháp đi đến giác ngộ - TT. Thích Thiện Bảo

21. Con đường Thánh gồm có tám yếu tố - Thích Nhật Từ

 

 

Phần II :
Tưởng niệm Phật Phật thành Đạo
và niên đại của Ngài

1. Vài quan niệm về Đức Phật và đạo Phật - HT. Thích Trí Quảng

2. Ý nghĩa ngày thành đạo - HT. Thích Huyền Tôn

3. Tưởng niệm ngày Phật thành đạo - Thích Giác Ngôn

4. Cảm niệm ngày Phật thành đạo - Thích Nguyên Tạng

5. Cuộc hành trình vi diệu - Thích Thanh Chương

6. Sự vĩ đại của Đức Phật - Thích Viên Giác

7. Đức Phật Thích Ca, con đường từ khổ hạnh đến giác ngộ - Minh Thông, MSc

8. Cuộc đời Đức Phật - Thích Nữ Liên Hiếu dịch

9. Vài suy nghĩ về quan niệm Đức Phật lịch sử và Đức Phật tôn giáo - Thích Thị Quả

10. Ý nghĩa Phật thành đạo và các giá trị thực tiễn - Thích Minh Diệu

11. Trầm tư về ngày Phật thành đạo - Thích Nữ Giới Hương

12. Đức Phật nói gì về tiềm năng của con người - Thích Nữ Đồng Anh

13. Ý nghĩa Phật thành đạo - Thích Nữ Liên Chương

14. Con đường siêu thế - Thích Nữ Hương Nhũ

15. Bài học thành đạo - Tâm Minh

16. Một vài suy tưởng nhân kỷ niệm ngày Phật thành đạo - Chơn Hương

17. Nghiên cứu của người Nhật về niên đại của Đức Phật - Thích Thiện Quý dịch

18. Giới thiệu "Niên đại" Đức Phật lịch sử: Vấn đề đang còn tranh luận - Thích Giác Hoàng dịch

Phần III :
Phật giáo và các vấn đề hiện tại

1. Phật giáo và các vấn đề thời đại - Lệ Tâm dịch

2. Một giải pháp cho thế kỷ 21 theo quan điểm đạo Phật - Minh Hạnh dịch

3. Cộng đồng thế giới và sự cần thiết cho trách nhiệm phổ quát - Nguyên Tâm và Tâm Đăng dịch

4. Tính thích nghi của Phật giáo - Thích Lệ Thọ

5. Tăng đoàn trong thế kỷ thứ XXI - Thích Nguyên Tạng dịch

6. Đức Phật: Nhà giáo dục vĩ đại - Thích Huệ Khai

7. Giáo dục Phật giáo - Thích Nữ Vân Liên dịch

8. Phật giáo và môi trường - Thích Tâm Pháp

9. Đạo Phật và chính trị - Bình Anson trích dịch

10. Quan niệm của đạo Phật về chủ nghĩa bình đẳng - Thích Nữ Hằng Liên dịch

11. Tự do, bình đẳng, tình huynh đệ - Mỹ Thanh dịch Việt

12. Sự hài hòa trong tôn giáo đa dạng là lợi lạc - Tỳ kheo Thích Minh Thành phóng dịch

13. Bức thông điệp muôn đời  - Thích Nữ Giới Hương dịch

14. Phật đạo trong thời đại khoa học - Trần Chung Ngọc

15. Tôn giáo trong thời đại khoa học - Lệ Tâm dịch

16. Hai tiêu chuẩn cần thiết của một sứ giả hằng pháp - Thích Thiện Hữu

17. Tạn mạn về nhân bản trong Phật giáo - Thích Đức Trường

18. Giá trị thẩm mỹ trong giáo lý vô thường - vô ngã - Thích Nữ Liên Dung

19. Thông điệp giáo dục của Đức Phật - Diệu Hương

20. Thiền Minh Sát và khủng hoảng môi sinh - Minh Thông, MSc dịch

21. Thiền tông: Một nhánh của Phật giáo nguyên thủy trong các nước Phật giáo đại thừa - Liễu Pháp dịch

22. Lợi ích của thiền Vipassana cho bản thân và xã hội - Mỹ Thanh dịch

24. Vài suy nghĩ về phương pháp dịch thuật kinh điển - Thích Nhật Từ

25. Suy nghĩ về một bộ kinh Thánh Phật giáo - Thích Nhật Từ

26. Việt hóa nghi lễ, đường còn xa vời vợi - Nguyên Đạo Lại Như Bằng

27. Ý nghĩa đạo đức trong Kinh Phật tự thuyết - Thích Thiện Hữu

28. Vài nét về Phật giáo ở châu Á và châu Âu trong thế kỷ XX - Lệ Tâm

29. Phật giáo hôm nay và ngày mai - Diệu Hương dịch


Phần IV:
Bồ Đề Đạo Tràng lịch sử và chiêm bái

1. Vài nét về Bồ-Đề đạo tràng - Thích Phước Chí dịch

2. Thánh tích Bồ-Đề đạo tràng - Thích Nữ Liên Hòa dịch

3. Bồ-Đề đạo tràng - Thích Nữ Giới Hương

4. Niên đại của Đại Tháp Bồ-Đe͊ - Thích Nữ Giới Hương dịch

5. Lịch sử cây Bồ-Đề tại Bồ-Đề đạo tràng - Diệu Hương

6. Sự đóng góp của Đông Nam Á trong việc duy trì ngôi đại tháp Bồ-Đề - Diệu Hương dịch

7. Vài đề nghị về sự phát triển Bồ-Đề đạo tràng - Lệ Tâm dịch

8. Việt Nam Phật Quốc Tự tại Bồ-Đề đạo tràng - TT. Thích Huyền Diệu

9. Lễ tưởng niệm và hội thảo "Phật Thành Đạo" tại Bồ-Đề đạo tràng, Ấn Độ - Thích Nữ Lệ Tâm tường thuật

 

Cáo lỗi cùng độc giả: Những ký hiệu lạ, những dấu hỏi , những ô vuông..... thỉnh thoảng độc giả bắt gặp trong phiên bản điện tử của tập sách này là biến dạng từ mẫu tự chữ Pàli và Sanskrit (hai cổ ngữ của Phật giáo). Computer của quý vị cần cài đặt loại phông chữ đặc biệt này mới đọc được.(Thích Nguyên Tạng, 01-04-2001) 

--- o0o ---

LỜI NÓI ĐẦU [^]

Theo truyền thống của Phật giáo Đại thừa, đức Phật Thích-ca Mâu-ni chứng đạt đạo quả giác ngộ vô thượng vào ngày mùng 8 tháng chạp. Để cùng ôn lại kinh nghiệm giác ngộ và truyền bá chánh pháp của đức Phật, chư Tôn Đức Tăng Ni và Phật tử ở các nước trở về Việt Nam Phật Quốc Tự, Bồ-đề Đạo Tràng làm lễ tưởng niệm và hội thảo về chủ đề "Bản Chất và Con Đường Giác Ngộ và các Vấn Đề Thời Đại." Tuyển tập này gồm có 63 bài viết và dịch về nhiều chủ đề khác nhau, được chia thành bốn phần chính, đó là, (i) bản chất và con đường giác ngộ, (ii) ý nghĩa Phật thành đạo và niên đại của ngài (iii) Phật giáo và các vấn đề thời đại, (iv) Bồ-đề Đạo Tràng: lịch sử và chiêm bái.

Mỗi bài viết phản ánh về cách tiếp cận khác nhau cũng như các giá trị thực tiễn của sự kiện Bồ-tát Tất-đạt-đa thành Phật. Các tác giả đều nhất trí với nhau về năm điểm chính sau đây.

Thứ nhất, sự giác ngộ của đức Phật là kết quả của một quá trình huấn luyện một cách toàn hảo về đời sống đạo đức, thực hành thiền định và phát huy trí tuệ. Ở đây, hoàn toàn không có yếu tố tha lực hay siêu nhiên hoá. Sự kiện đó cho thấy con đường giác ngộ mà đức Phật tự mình đã đi qua và truyền lại cho chúng sanh từ bao thế kỷ nay là con đường mà bất kỳ con người nào cũng có thể thực hiện được, bất luận vị trí xã hội, giới tính, tuổi tác, chủng tộc và màu da của người đó.

Thứ hai, sự giác ngộ của đức Phật được mô tả như là sự chiến thắng các đội ma quân "nội tâm" hơn là các ma quỷ bên ngoài. Bọn ma quân đó chính là các phiền não, lậu hoặc và các căn bản bất thiện. Chính nhờ sự vượt qua các quân ma nội tâm này mà Bồ-tát Tất-đạt-đa đã trở thành bậc giác ngộ viên mãn đầu tiên trong lịch sử nhân loại.

Thứ ba, với tư cách là người giác ngộ, người đầu tiên phát hiện và tuyên bố con đường, đức Phật chỉ là vị đạo sư thiện xảo về con đường. Là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã khám phá ra con đường giác ngộ, đức Phật thường được mô tả như là "bậc làm cho khởi dậy con đường trước đây chưa từng được hiện khởi, làm cho biết con đường trước đây chưa từng được biết, nói lên con đường trước đây chưa từng được nói; là bậc hiểu đạo, bậc khai đạo và bậc thiện xảo về đạo," hay là bậc vĩ nhân, là người kỳ diệu có một không hai trong lịch sử nhân loại: "người đã dựng đứng lại những gì đã bị ngả, lật ngữa lên những gì đã bị úp xuống, soi ánh sáng vào những chỗ tối tăm." Điều này hàm ý rằng đức Phật sẽ không thể ban tặng thành quả giác ngộ và giải thoát cho ai. Để giác ngộ như đức Phật, những người con Phật hôm nay và mai sau phải tự mình vững bước trên con đường giác ngộ mà đức Phật đã khai sáng. Mọi hành vi cầu khẩn, lạy lục, van xin ơn cứu rỗi của đức Phật không chỉ phản ánh thái độ yếu đuối của bản thân, mà nguy hiểm hơn còn góp phần làm cho con người hiểu sai lời dạy cao quý của đức Phật về nguyên lý nhân quả.

Thứ tư, các bài viết cũng còn gặp nhau ở một điểm nữa là tất cả đều vận dụng các giá trị thực tiễn từ kinh nghiệm thành đạt đạo quả giác ngộ vô thượng của đức Phật vào đời sống thường nhật, dưới nhiều góc độ khác nhau, cũng như sự ứng dụng giáo pháp vào các ngành học hiện đại như đạo đức học, tâm lý học, triết học, xã hội học, chính trị học, sinh thái học v.v. . . Có như vậy sự tưởng niệm sẽ trở nên thiết thực và đầy ý nghĩa của giải thoát.

Thứ năm, điểm gặp nhau khác của các bài viết là phần lớn các tác giả đều không nhìn đức Phật là người thị hiện của chư Phật trong quá khứ, như các nhà Phật học Trung Hoa đã từng quan niệm. Nói cách khác, theo các tác giả, cách tiếp cận và giải thích sự kiện đức Phật thành đạo từ một phàm phu do nỗ lực thiền định đúng cách, sẽ mang lại nhiều giá trị đạo đức, hơn là cách giải thích đức Phật đã thành đạo từ vô lượng kiếp về trước (Kinh Pháp Hoa) hay sự thành đạo của đức Phật ở hiện tại chỉ là một sự thị hiện để độ chúng sanh ở cõi Ta-bà này.

Sự thành đạo của đức Phật đã mở ra cánh cửa bất tử cho các chúng sanh phàm phu, đã xua tan màn vô minh đen tối và đã mang lại tuệ giác cho sự sống. Cuộc đời của đức Phật vô cùng vĩ đại. Tâm hành của đức Phật vượt khỏi logic và ngôn ngữ. Do đó, sự tìm hiểu và giải thích về đức Phật và đạo Phật cứ nghiễm nhiên diễn ra bất tận !

Tuyển tập này được thành tựu là nhờ vào công đức của nhiều Tăng Ni và Phật tử. Nhân dịp này, Ban Biên Tập chân thành tán thán và tri ân toàn thể quý vị đã phát tâm viết và dịch bài, để tưởng niệm ngày thành đạo của đức Phật. Đặc biệt tán thán và tri ân quý đại đức Thích Thanh Chương, Thích Lệ Thọ, Thích Huệ Khai, Thích Quang Thạnh, Thích Thiện Hữu, Thích Phước Chí, Thích Giác Hoàng, Thích Thiện Quý, Thích Thiện Huệ, Thích Thiện Thành, Thích Thiện Nghiêm, Thích Hạnh Chánh, Thích Tâm Đức, Thích Quảng Long, Thích Nhuận Thông; quý Sư cô Thích Nữ Giới Hương, Thích Nữ Huệ Liên, Thích Nữ Liên Hiếu, Thích Nữ Liên Hoà, Thích Nữ Đồng Anh, Thích Nữ Hương Nhũ, Thích Nữ Như Nguyệt, Thích Nữ Liên Dung v.v… đã cộng sự đắc lực trong ban tổ chức và hội thảo. Chân thành tán thán đại đức Thích Giác Hoàng đã phát tâm chuyển đổi hệ thống cước chú của các bài viết từ dạng MS Word sang dạng HTML để đưa vào đĩa CD và trang nhà Đạo Phật Ngày Nay, http://www.buddhismtoday.com/ để nội dung của hội thảo được phổ biến rộng rãi hơn.

Thật là cảm động biết bao tấm lòng của quý Tăng Ni đang tu học tại Ấn Độ, mặc dù rất bận rộn với việc thi cử và nghiên cứu, cũng đã thể hiện tấm lòng vì đạo, cố gắng viết và dịch bài, trở về thánh tích Bồ-đề Đạo Tràng để tưởng niệm ngày đức Phật thành đạo và tham gia hội thảo. Kính nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho toàn thể quý vị thân thể luôn được khinh an, tâm luôn tràn đầy hỷ lạc, gặp nhiều thuận duyên trong tu học, để sau khi tốt nghiệp trở về quê hương, phục vụ cho Phật giáo và con người Việt Nam.

Vì thời gian chuẩn bị ít ỏi và phải làm việc khẩn trương, tuyển tập này không sao tránh khỏi các thiếu sót, nhất là các lỗi chính tả và phong cách trình bày. Kính mong quý độc giả lượng tình thứ lỗi.

Kính chúc chư Tôn Đức Tăng Ni và quý Phật tử luôn sống trong sự an lạc của chánh pháp và hanh thông trong cuộc sống.

Kỷ niệm ngày Phật Thành Đạo, PL. 2545
Ban Biên Tập

 

 --- o0o ---

 

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
VỀ NỘI DUNG TUYỂN TẬP
[^]

DẪN NHẬP

"Bản Chất và Con Đường Giác Ngộ và các Vấn Đề Thời Đại" là một tuyển tập, gồm 75 bài viết và dịch về bốn chủ đề chính: i) bản chất và con đường giác ngộ (gồm 21 bài), ii) ý nghĩa Phật thành đạo và niên đại của Ngài (gồm 18 bài), (iii) Phật giáo và các vấn đề thời đại (gồm 28 bài), (iv) Bồ-đề Đạo Tràng: lịch sử và chiêm bái (gồm 8 bài).

Tuyển tập này là kết quả của buổi hội thảo về cùng chủ đề được tổ chức tại Việt Nam Phật Quốc Tự, Bồ-đề Đạo Tràng, Ấn Độ. Buổi hội thảo bắt đầu vào ngày 1-1-2001 (tức ngày mùng 7 tháng 12 AL) và kết thúc bằng buổi lễ tưởng niệm ngày Phật Thành Đạo 8-12 theo truyền thống Đại thừa, ngay cội Bồ-đề thiêng, nơi đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạt đạo quả giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác, cách đây hơn 25 thế kỷ.

Tác giả và dịch giả các bài viết là chư Tôn Đức giáo phẩm, Phật tử và các học giả trong và ngoài nước cũng như các Tăng Ni sinh đang nghiên cứu và học tập tại các trường đại học tại Ấn Độ. Dù xa cách nhau về địa dư, khác nhau về tuổi tác, vị trí xã hội, các tác giả và dịch giả của buổi hội thảo đều có chung nhau một chí hướng là làm thế nào biến lời Phật dạy thành thực phẩm cho sự sống của con người trong thiên niên kỷ mới, một cách thiết thực và hiệu quả hơn. Phần lớn các bài nghiên cứu đều nhấn mạnh tính chất thiết thực hiện tại của lời Phật dạy và đề nghị các tổ chức Giáo hội Phật giáo trên khắp thế giới nên triển khai và ứng dụng nhiều hơn nữa tinh thần đặc biệt này, để mang thông điệp từ bi, trí tuệ và giải thoát của đức Phật đến với nhân loại. Tính chất thiết thực hiện tại của lời Phật dạy không chỉ làm cho đạo Phật khác với các tôn giáo khác mà thật chất làm cho đạo Phật trở thành đạo nhân bản nhất trong lịch sử tư tưởng của loài người.

I. GIÁC NGỘ: BẢN CHẤT VÀ CON ĐƯỜNG

Nếu giác ngộ là trạng thái tỉnh thức khỏi những trói buộc của cuộc đời, xa lìa vĩnh viễn dòng chảy bất tịnh và bất thiện của tâm, thì phần I là phần được các tham luận viên đề cập đến con đường dẫn đến bản chất của sự giác ngộ đó. Có tất cả 21 bài viết về phần này: 12 bài trình bày về bản chất của giác ngộ (HT. Thích Trí Quảng, Thích Hạnh Chánh, Thích Nhật Từ, Thích Nguyên Hiền, Thích Quang Thạnh, Thích Hiển Chánh, Thích Nữ Giới Hương, Thích Nữ Liên Hoà, Quảng Minh, Tâm Minh, Chính Trực), 6 bài về con đường giác ngộ (TT. Thích Thiện Bảo, Thích Viên Giác, Thích Nhật Từ, Thích Quang Thạnh, Thích Nữ Trí Liên, Thích Nữ Như Nguyệt), 2 bài về quả giác ngộ (Thích Nhật Từ, Thích Hiển Chánh) và 1 bài khảo cứu bản chất và con đường giác ngộ (Thích Nữ Huệ Liên).

- Mở đầu cho phần này là bài viết "Ý Nghĩa Phật Thành Đạo theo Kinh Hoa Nghiêm" của HT. Thích Trí Quảng. Bằng một lối văn nhẹ nhàng và cách giải thích trên phương diện ứng dụng, bài viết của Hoà Thượng đã khẳng định ba giá trị thành đạo của đức Phật trong bộ kinh Đại thừa quan trọng này. Thứ nhất, đức Phật chứng đắc giác ngộ tối thượng từ một con người phàm, nhờ vào các phương pháp thiền định chân chánh và cao siêu. Thứ hai, thành đạo là một quá trình chuyển hoá tâm linh từ phàm phu ra thánh nhân. Đức Phật đã trải qua sự tu tập của nhân thừa, rồi đến Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ-tát thừa để chứng được Phật quả. Thứ ba, con đường giác ngộ đó bắt nguồn từ sự phát tâm của một phàm phu hướng đến quả vị giác ngộ mà ta thường gọi là phát tâm bồ-đề, và trải qua 52 chặn đường của các cấp độ tu tập Bồ-tát hạnh, và kết thúc ở quả vị giác ngộ tối thượng chánh đẳng chánh giác. Nói cách khác, con đường giác ngộ theo kinh Hoa Nghiêm là con đường dấn thân của một vị Bồ-tát vào đời khổ đau để chuyển hoá các đau khổ của chúng sanh thành hạnh phúc. Để làm việc đó, vị Bồ-tát phải vận dụng phương tiện thiện xảo, tùy duyên trong đời nhưng bất biến trong các biến động và cám dỗ của đời, như hình ảnh hoa sen mọc lên từ bùn nhưng không bị bùn làm nhơ uế.

- Xác định "Bản Chất và Con Đường Giác Ngộ trong Đạo Phật," Sư cô Huệ Liên thảo luận hai vấn đề mấu chốt trong Phật giáo, đó là bản chất và con đường hướng đến giác ngộ. Với cách trình bày cô đọng, xoáy vào trọng tâm, bài viết đã tuần tự đưa ra các nội dung chính yếu của giác ngộ trong Phật giáo nguyên thủy. Giác ngộ là tuệ tri (i) ba minh, (ii) tứ diệu đế, (iii) lý nhân quả, (iv) lý duyên khởi, (v) vô thường và vô ngã, (vi) tánh không của mọi hiện hữu, (vii) hàng phục ma quân tham sân si, (viii) bản chất như thị của các pháp. Với trí tuệ về tám điều quan trọng này, một hành giả được xem là một bậc giác ngộ, sống vượt lên trên và giải thoát khỏi mọi trói buộc ở đời. Con đường giác ngộ được trình bày trong bài viết này là con đường thánh gồm tám yếu tố hoặc còn được gọi là con đường trung đạo, xa lìa và vượt lên trên các phương thức nhị nguyên cực đoan.

Bằng cách vận dụng ngôn ngữ của tâm lý học và nhận thức luận, tác giả đã diễn giải giác ngộ như là sự chuyển hoá nhân tính một cách trọn vẹn về bốn phương diện. Về nhận thức, giác ngộ là sự chuyển thức thành trí. Về tình cảm, giác ngộ là chuyển hoá các tình tự bất thiện, các kinh nghiệm đau khổ thành các tâm lý thiện ích và cảm giác an vui. Về thái độ, giác ngộ là chuyển hoá lòng vướng mắc thành xả bỏ. Về cách cư xử, giác ngộ là chuyển hoá hoạt động xấu ác thành hoạt động thiện ích. Nói chung, giác ngộ không phải là sự xa lánh cuộc đời, sự cầu an trong rừng sâu núi thẳm, mà là trạng thái sống ung dung, tự tại, thoát khỏi mọi trói buộc của cuộc đời trong từng giây phút chánh niệm, tỉnh thức của hiện tại.

- Bài nghiên cứu "Quả Vị Giác Ngộ dưới Cội Bồ-Đề" của đại đức Thích Nguyên Hiền đã đề cập đến bốn vấn đề mấu chốc của giác ngộ trong đạo Phật. Thứ nhất, đứng trên lập trường tuyệt đối luận, tác giả đã lý giải "giác ngộ là một cái gì tối hậu, tuyệt trù, chỉ có người giác ngộ mới hiểu hết chiều sâu của nó." Thứ hai, theo tác giả ba minh và sáu thông là một trong những kinh nghiệm giác ngộ mà đức Phật đã đạt được như dấu hiệu chỉ cho sự trở thành toàn giác của Ngài. Tác giả cũng đã nghiên cứu chuyên sâu về các học thuyết này trong nguồn văn học A-hàm, rất đáng cho độc giả lưu tâm. Thứ ba, tác giả đã trở về tương đối luận khi kết luận rằng giác ngộ là sự diệt trừ toàn vẹn dòng vô minh. Ngoài ra, tác giả còn đề cập sơ lược về ý nghĩa vốn-giác-ngộ (bản giác) và mới-giác-ngộ (thủy giác) của Phật giáo Đại thừa nhằm lý giải về bản chất giác ngộ của Phật.

- Trên lập trường cho rằng đạo Phật không phải là một hệ thống triết học cốt thoả mãn tri thức hiếu kỳ, bài "Thử Bàn Tu Chứng Quan Phật Giáo" của đại đức Thích Hạnh Chánh nhấn mạnh đến các giá trị thực chứng nội tại trong Phật giáo.

Với niềm thâm tín, tác giả cho rằng tu chứng quan Phật giáo xác định con đường giải thoát chính là thực hành giới định tuệ. Thiếu ba yếu tố này, con đường giải thoát sẽ vĩnh viễn vẫy tay chào từ biệt chúng ta. Người học Phật không nên xem kinh điển là những bản nhạc hát lên khi hứng khởi mà là ánh sáng soi đường thực nghiệm tu tập. Do đó, người học Phật phải là người tu Phật, thoát khỏi các phiêu lưu tri thức, thoả mãn hiếu kỳ hay tranh luận khoái khẩu.

Theo tác giả, hệ thống giáo lý Phật qua ngôn thuyết một mặt đóng vai trò hướng dẫn cho người mới vào đạo, mặt khác như ngón tay để chỉ mặt trăng, chứ không phải bản thân của mặt trăng. Nói khác đi, kinh điển Phật giáo chỉ là những tấm bản đồ, mà nhiệm vụ chính yếu của người đệ tử Phật là dựa theo nó để đạt được trạng thái an lạc giải thoát. Chính vì vậy, trong kinh Đại thừa, đức Phật tuyên bố rằng Ngài chưa từng nói một chữ trong suốt cuộc đời hoằng pháp. Điều này không có nghĩa Ngài phủ nhận những gì Ngài dạy, mà cốt xác định rằng ngôn thuyết không phải là bản chất của chân lý cũng như ngón tay không phải là mặt trăng, bản đồ không phải là con đường. Với nhận thức như vậy, hành giả Phật giáo sau khi chứng đắc sẽ không còn vướng mắc vào các ý niệm và cảnh giới chứng đắc, nhờ đó, sự chứng đắc trở nên siêu tuyệt.

- Dựa trên phương diện lịch sử của sự chứng ngộ của đức Phật dưới cội Bồ-đề thiêng, "Sự Giác Ngộ của Đức Phật là Quá Trình Chuyển Hoá Tâm Linh" của đại đức Thích Quang Thạnh xác định giác ngộ là một quá trình chuyển hoá nhân tính một cách "tiệm tiến" như một logic tất yếu. Tiến trình này bắt đầu từ phương pháp tu tập xa lánh hai cực đoan hưởng thụ dục lạc và khổ hạnh ép xác và kết thúc bằng sự hoàn thành đời sống đạo đức, thiền định và trí tuệ thông qua con đường thánh gồm tám yếu tố. Tác giả đã khẳng định nếu giác ngộ của Phật là tiệm tiến thì sự tu tập của người con Phật không thể là "đốn giác" hay "đốn ngộ." Kế đến giác ngộ phải là tinh hoa của sự nỗ lực chân chánh trong tu học của bản thân, không hề có yếu tố tha lực hay ân sủng của siêu nhiên.

- Bắt đầu bằng việc phân tích từ nguyên, bài "Khái Niệm Giác Ngộ trong Đạo Phật" của S. K. Nanayakkara, do Sư cô Liên Hoà dịch, trình bày sơ lược về nội dung của khái niệm "bồ-đề" (bodhi) trong Phật giáo Nguyên thủy cũng như lịch sử phát triển nội dung và học thuyết giác ngộ trong các truyền thống Phật giáo. Nếu trong Phật giáo Nguyên thủy, giác ngộ được hiểu là sự chứng đắc ba minh, túc mạng minh (tuệ tri về đời sống quá khứ của bản thân), thiên nhãn minh (tuệ tri chuỗi sanh tử của chúng sanh do nghiệp) và lậu tận minh (tuệ tri sự vắng mặt toàn bộ các lậu hoặc), mà tất cả những vị A-la-hán, bao gồm cả đức Phật, chứng đắc được thì trong Phật giáo Đại thừa, quả vị này chưa phải là thể hiện của sự chứng đắc tâm linh rốt ráo.

Tác giả cũng đã tóm tắt các phương tiện giác ngộ khác nhau tùy theo các tông phái chính trong Phật giáo. Theo Phật giáo Nguyên thủy, giác ngộ được thực hiện bằng con đường thánh gồm tám yếu tố, hay bảy yếu tố giác ngộ, nói chung ba mươi bảy yếu tố giác ngộ. Theo Phật giáo Đại thừa, sáu Ba-la-mật và mười địa là những nhân tu để đạt được giải thoát. Tịnh Độ tông chủ trương nương vào tha lực của Phật A-di-đà trong khi đó, thiền tông chủ trương kiến tánh thành Phật v.v… Dù các pháp môn có khác nhau, nhưng mục đích giải thoát vẫn là một.

- Khác với Thích Nguyên Hiền, bài "Có Một Sự Thật" của Quảng Minh đã dựa vào kinh điển P li chứng minh sự giác ngộ của đức Phật là nhờ vào sự quán sát lý duyên sinh đối với tất cả pháp. Sau khi giải thích một cách ngắn gọn nội dung thuyết duyên khởi, tác giả đã khẳng định rằng tuệ tri về lý duyên khởi không chỉ là mục tiêu của kinh điển P li mà ngay cả các kinh điển Đại thừa cũng đã có những quan điểm tương tự dưới các tên gọi khác. Chẳng hạn Kinh Pháp Hoa gọi đây là "Thế gian tướng thường trụ," Trung Luận gọi là "thật tướng," Kinh Bát-nhã gọi là "Không," Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Niết-bàn gọi là "Diệu hữu," Thiền tông gọi là "Bản địa phong quang."

- "Bản Chất của Bồ-Đề, Giác Ngộ, Niết-Bàn và Con Đường Giải Thoát" của cư sĩ Tâm Minh đã giới thiệu về một cách tiếp cận con đường giải thoát trong kinh Thủ-lăng-nghiêm. Dựa vào triết lý giải thoát phải được thực hiện tại thế gian và phát khởi từ tâm, tác giả đã cho thấy mọi phiền não và đau khổ trong đời đều bắt nguồn tâm vọng tưởng và si mê. Đánh mất bản tánh giác ngộ, chúng sanh chạy theo sáu trần nên đã trầm mình trong luân hồi. Người giác ngộ là người nhận chân được điều này, làm chủ sáu quan năng cảm giác, để chúng thoát khỏi mọi chấp mắc của các phản ứng và chấp thủ cảm giác. Tại đây, chúng ta thấy con đường giác ngộ trong kinh Lăng-nghiêm đã gặp gỡ kinh điển Nik ya.

- "Thánh Nhân trong Kinh Điển P li" của đại đức Thích Nhật Từ là bài nghiên cứu từ góc độ triết học về các giá trị đạo đức và nhận thức của các cấp độ thánh nhân trong Phật giáo Nguyên thuỷ. Tác giả đã trình tự trình bày một cách logic các quả thánh này: bậc dự vào dòng thánh, bậc trở lại một lần, bậc không trở lại và bậc A-la-hán, như là kết quả tất yếu của quá trình trau dồi đạo đức, thực tập thiền định và phát triển trí tuệ. Nói cách khác, theo tác giả mức độ diệt trừ các trói buộc và lậu hoặc của tâm chính là tiêu chí xác định các cấp độ thánh trong Phật giáo. Như vậy, sự chuyển hoá tâm lý, nhận thức và hành động đến mức toàn thiện là con đường làm người phàm trở thành thánh. Kế đến tác giả cũng đã cho thấy một vị A-la-hán, quả thánh cao nhất của kinh điển P li, sẽ không còn các thái độ "tôi-là" do đã diệt trừ tận gốc rễ hình thành nên năm nhóm nhân tính tâm vật lý trong tương lai. Thông qua đó, tác giả đã trích dẫn kinh điển để đưa ra các tiêu chí xác định đâu là một vị đã chứng quả A-la-hán thật sự.

- "Quả Vị Giác Ngộ: Sự Giải Thích của Thượng Toạ Bộ và Đại Thừa" của đại đức Thích Hiển Chánh là bài nghiên cứu về hai quan điểm truyền thống của kinh điển P li và Đại thừa về các quả vị giác ngộ trong Phật giáo. Trong phần đầu của bài viết, tác giả chứng minh quả vị cao nhất trong kinh điển P li, quả A-la-hán cũng đồng với quả vị giải thoát trong kinh điển Đại thừa, những kinh vốn chỉ xem A-la-hán là quả "hoá thành" hay quả "nhị thừa," vốn chỉ mới nửa chặng đường giác ngộ. Qua phần hai, tác giả trích dẫn một số đoạn kinh Đại thừa tiêu biểu cho thấy quả A-la-hán chưa phải là quả vị giác ngộ tối hậu. Đứng trên lập trường trung đạo, không ngược lại kinh điển P li cũng không phủ nhận kinh điển Đại thừa, tác giả chỉ muốn đính chính một quan điểm sai lầm mang tính truyền thống lịch sử mấy ngàn năm trong Phật giáo, đó là phán đoán cho rằng A-la-hán là ích kỷ, tiểu thừa. Theo tác giả, các cáo buộc đó chỉ phản ảnh một sự hiểu biết phiến diện về lời Phật dạy nói chung, về các bậc A-la-hán nói riêng.

- Bài dịch của Lệ Tâm "Tôi Không Dám Khinh Quý Ngài vì Quý Ngài Sẽ Thành Phật" là bài viết ngắn của tác giả Mick Kiddle về một phương diện ứng dụng của kinh Pháp Hoa trong các mối quan hệ xã hội. Tác giả Kiddle khẳng định rằng nếu tất cả mọi người biết ứng dụng câu phát biểu bất hủ của Bồ-tát Thường Bất Khinh vào cuộc sống, thì chắc rằng tâm khinh thường người khác, thái độ phủ nhận các giá trị "khác mình" của người khác sẽ tan biến. Với thái độ tôn trọng mọi giá trị của cuộc sống, người Phật tử có thể biến chiến tranh thành hoà bình, biến hiềm hận thành tình thương và biến kẻ thù thành bè bạn.

- "Giác Ngộ và Giải Thoát" của cư sĩ Chính Trực là bài viết khẳng định về giá trị tâm linh và đạo đức của Phật giáo như là giải pháp hữu hiệu cho các khủng hoảng xã hội hiện nay ở phương Tây cũng như phương Đông. Tác giả vận dụng phương pháp "bốn chân lý cao thượng" để lý giải nguồn gốc đau khổ của nhân sinh và đưa ra các giải pháp thoát khổ của Phật giáo một cách thuyết phục và gần gũi với đời sống thường nhật của chúng ta. Theo tác giả, con đường cởi mở các đau khổ phải khởi đầu bằng sự tìm hiểu kỹ lời Phật dạy rồi ứng dụng chúng trong cuộc sống. Ở đây, yếu tố van xin và ban phước không có chân đứng trong chân lý của đức Phật.

- Hạnh phúc cao thượng không phải là sự thoả mãn các khoái lạc giác quan. Đó là kết luận của bài "Các Cấp Độ Hạnh Phúc" của đại đức Thích Hiển Chánh. Đứng trên tầm nhìn của Phật giáo, bài viết đã giới thiệu các quan điểm khác nhau về hạnh phúc: hạnh phúc do các khoái lN