Ánh Đạo Vàng
(In lần thứ 14)
Võ Đình Cường
HUẾ – 1999
--- o0o ---
Phần 09
Tịnh-phạn vương sống qua những năm buồn vô hạn từ khi Thái tử bỏ cung điện
ra đi. Ngài nhớ tiếng, nhớ hình ngườị con anh dũng mà bây giờ không biết
đang phiêu bạt nơi nao.
Còn
công chúa Da-du, thì không có gì khuây khoả nổi! Mất đấng chúa tể của lòng
mình, nàng không còn biết cái vui là gì nữa. Trong cung điện cũ tiếng đàn
địch đã im bặt lâu rồi, thế mà âm thanh còn vang dội lại trong tai người
cô phụ, tưới mãi dầu vào ngọn lửa tiếc thương. Tuy thế lòng nàng vẫn còn
ấp ủ chút hy vọng: Thái tử còn sống. Mỗi khi nghe ai nói đến một kẻ tu
hành đang ẩn náu ở một xứ xa nào, nàng liền tâu với Tịnh-phạn vương cho
quân ruỗi ngựa đi tìm. Quân về mình còn lấm bụi phương xa, quỳ xuống tâu
với Tịnh-phạn vương, giữa hai hơi thở:
– Tâu
bệ hạ, chúng tôi đã gặp rất nhiều kẻ tu hành không nhà, không cửa, nhưng
về Thái tử Tất-đạt-đa, viên ngọc quý của thành Ca-tỳ-la-vệ. chúng tôi tìm
chẳng được tăm hơi.
Một
hôm, sau những ngày đông buồn bã đã trôi qua, những đọt xoài non đã điểm
trắng trên lá xoài xanh, cảnh vật đã choàng xong chiếc áo xuân mới, nàng
Da-du đi dạo quanh hồ. Ở đấy, xưa kia, thảm nước xanh đã nhiều lần chiếu
vẻ đẹp phương phi của Thái tử bên cạnh vẻ đẹp hiền hậu của nàng. Cũng ở
đấy, mặt nước hồ buồn bây giờ chỉ chiếu lẻ một bóng hình tiều tuỵ của kẻ
vọng phu: hai mắt nàng không còn trong sáng như xưa nữa, vì đã bao lần làm
suối cho lệ chảy; vành môi đẹp của nàng hơi trĩu xuống ở hai bên khoé dấu
vết của những đêm cắn cổ tay vào miệng cho tiếng khóc khỏi bật lên. Làn
tóc óng ả dợn sóng của nàng bây giờ bới lại theo kiểu những người quả phụ.
Ngọc vàng không còn quấn quýt bên tay nàng nữa. Áo nàng may bằng vải thô
thường để dùng trong lúc tang chế. Nàng nắm sợi dây lưng nạm ngọc của Thái
tử mà nàng giữ mãi bên mình làm kỷ niệm sau cái đêm hãi hùng, mở đầu cho
những chuỗi ngày sầu hận–cái đêm Thái tử bỏ cung điện ra đi. Gần nàng, một
đứa bé độ 9, 10 tuổi, mặt mày tuấn tú đang đuổi theo đàn bồ câu. Ðấy là
La-hầu-la, sợi dây giao nối mối tình cua Thái tử và nàng Da-du.
Trong
lúc con nàng đang nô đùa với đàn chim, nàng tư lự ngồi ngắm mây trôi, như
cố tìm trong ấy một vết tích của người chồng lưu lạc. Nhưng nghe sau lưng
có tiếng động, nàng giật mình xây lại, một người thị nữ quỳ xuống bên cạnh,
thưa:
– Thưa
lệnh bà! Có hai người lái buôn ở xứ Hạt-tin-bua (Hastinpour) tên Ðề-vy (Tripourha)
và Bà-lỵ (Bhallouk), ở từ phía Nam lại. Họ mang theo đủ các loại hàng quý,
các thứ chim lạ và ngọc ngà đầy bao; nhưng có một tin quý nhất: họ đã gặp
Thái tử.
Máu
chảy rần rần trong huyết quản công chúa, nàng vội vã đứng dậy, mắt ứa lệ
mừng, giọng run run vì cảm động:
– Con
hãy bảo họ vào trước màn gấm (Tục Ấn Ðộ, những người đàn bà quý phái khi
tiếp chuyện với người lạ phải đứng khuất sau một bức màn), kể chuyện gặp
Thái tử cho ta nghe. Nếu thật như lời họ nói, ta sẽ ban thưởng cho họ bao
nhiêu ngọc vàng cũng không tiếc.
Hai
người lái buôn được mời vào trong Cung Vui bước từng bước kính cẩn trên
những bậc thềm vàng, đi ngang qua những phòng rộng nguy nga, giữa hai hàng
cung nữ. Họ đến trước màn hoa và nghe ở trong đưa ra một giọng nói thanh
tao và ngân nga như tiếng chuông đồng:
– Hỡi
các người ở phương xa lại! Phải chăng các người đã gặp Thái tử Tất-đạt-đa.
Ðề vỵ
trả lời:
– Thưa
lệnh bà, chúng tôi đã gặp Người cao cả ấy!. Chúng tôi đã quỳ xuống hôn
chân Ngài. Ngài bây giờ rực rỡ danh vang, oai phong hơn một ví đại đế.
Ngài đã thành Phật, chinh phục cả muôn loài vì cái đạo Từ bi mà Ngài đã
tìm được dưới gốc bồ-đề. Ngài đi thuyết pháp từ xứ này sang xứ khác và thu
hút sau bước chân Ngài biết bao tâm hồn lung lạc, như một làn gió hút theo
bao nhiêu lá vàng rụng trên đất...
Công
chúa sung sướng hỏi dồn:
–
Nhưng cái Ðạo nhiệm mầu ấy, Ngài làm thế nào để tìm được?
Bà-lỵ
thay lời bạn, kể lại cho công chúa nghe cái đêm giông tố tơi bời mà đức
Phật đã chiến đấu và toàn thắng được bao nhiêu dục vọng nhơ nhớp xấu xa
của thế gian đã hiện hình dưới quyền chỉ huy của Ma vương. Chàng tả cái
buổi mai rực rỡ huy hoàng, sau khi Ngài đã chứng được quả bồ-đề và nỗi do
dự của Ngài trước khi đi truyền đạo vì Ngài nhận thấy chúng sanh mải quay
cuồng trong trường danh lợi, đắm say trong vũng lầy nhục dục, uống lỗi lầm
trong muôn suối si mê, chưa đủ trí, đủ sức để nhận hiểu chân lý cao thâm
huyền diệu mà Ngài đã tốn biết bao tâm huyết mới tìm ra được. Nhưng may
thay! Lòng từ bi của Ngài thúc giục Ngài phải cứu chúng sanh đau khổ. Ngài
nhận thấy đấy là bồn phận của Ngài như Ngài đã tự nguyện khi mới xuất gia.
Dầu công cuộc truyền đạo có khó khăn bao nhiêu, Ngài cũng không thể chối
từ để an hưởng một cách ích kỷ Đạo vô thượng mà Ngàí đã vì chúng sanh
nhiều hơn là vì mình, tìm ra được. Vả chăng, trong đám bùn lầy, không phải
không nẩy lên được những chồi sen quí, trong đám người si mê không phải
tuyệt nhiên không có những kẻ tinh anh. Và dầu tinh anh hay mê muội, mỗi
người đều có sẵn một mầm giải thoát. Xét như thế, Ngài quyết định đem Ðạo
Ngài ra truyền bá khắp thế gian.
Thế
rồi Ngài vượt núi đi đến xứ Ba-la-nại (Bénarès), vào trong Vườn Nai, tìm
nhóm ông Kiều-trần-như để thuyết pháp cho họ nghe. Các ông này thấy Ngài
đi đến, tỏ vẻ khinh bỉ. Nhưng khi đến gần, thấy tướng mạo ọai nghi và rực
rỡ của Ngài, họ kính cẩn đứng dậy chào, rồi lặng yên nghe thuyết pháp.
Người
hiểu được giáo lý đầu tiên là ông Kiều- trần-như. Sau ông, bốn người đồng
tu là: Ác-bệ, Thập-lịch Ca-diếp, Ma-ha-nam, Bạc-đề đều khai ngộ được cả.
Luôn trong ba tháng, Ngài thuyết pháp ở Vườn Nai, có một chàng thanh niên
tên Ða-xá và 54 người khác thuộc dòng quí phái xin qui y theo Ngài.
Sáu
chục người đệ tử đầu tiên ấy, sau khi giữ đủ giới luật và được đức Phật
cặn kẽ dặn dò, đều được Ngài thọ ký cho đi truyền đạo khắp nơi. Ngài rời
Vườn Nai, đi về phía Nam, đến xứ ưu-lâu-tần-loa. Ở đấy, Ngài độ cho một vị
tổ sư rất thần thông và rất có thế lực của đạo thờ lửa là ông Ca-diếp, và
hai em ông. Rồi Ngài lại đi đến xứ Ma-kiệt-đà. Vua Tần-bà-sa-la gặp lại
Ngài vui mừng khôn xiết, và sau khi đổ nước hoa vào hai bàn tay Ngài, vua
xin cúng cho Ngài vườn Trúc Lâm rất có tiếng đẹp ở xứ ấy để Ngài dùng làm
nơi thuyết pháp. Ở đấy, giáo lý của Ngài rất được dân gian sùng phục.
Chẳng bao lâu, cả xứ Ma-kiệt-đà từ vua cho đến dân đều theo Ðạo Ngài cả.
Số đệ tử mỗi ngày mỗi đông, trong ấy, chín trăm người được đắp y như Phật
và được Ngài cho đi truyền giáo khắp nơi.
– Thưa
lệnh bà–Bà-lỵ kết luận–phương pháp tu hành của Ngài dạy tuy không thể kể
xiết được nhưng có thể tóm tắt trong một câu này mà chúng tôi được nghe
Ngài dạy: “Tránh các việc dữ, làm các việc lành, giữ tâm ý trong sạch,
đấy là đạo của chư Phật.”
Tịnh-phạn vương nghe tin, tức tốc truyền cho sứ giả đi mời Phật về. Nhưng
chín lần, chín đoàn sứ giả ra đi, chín lần mất tích. Mỗi ngày Tịnh- phạn
vương và nàng Da-du lên lầu, đưa tầm mắt ngóng trông bọn sứ giả. Nhưng xa
xa, không thấy có đám bụi mù nào dấy lên dưới chân những con tuấn mã của
bọn sứ giả. Ai có ngờ đâu bọn sứ giả khi đến Trúc lâm, gặp lúc Phật đang
thuyết pháp, những lời ấm áp, êm dịu của Ngài đã lách vào tâm hồn họ, như
một làn hương lẫn trong gió mà vào phổi, như một giọt sương thắm đượm vào
giữa nhuỵ hoa, họ đã say mê mà quên mất nhiệm vụ của họ là đến mời Phật về.
Lần thứ mười, Ưu-đà-di khi vào vườn Trúc lâm, lượm một nắm bông gòn nhét
vào tai, đến bên chân Phật, quỳ xuống thưa một mạch những lời dặn của
Tịnh-phạn vương.
Ðức
Như Lai nhận lời ngay. Ngài bảo giữa đại chúng:
– Ðã
lâu ta có ý định về thăm nhà, vì đấy cũng là một bổn phận của kẻ tu hành.
Hỡi các Tỷ kheo, các người không nên viện một cớ gì để không báo ân cha mẹ.
Ta sẽ về thăm phụ hoàng ta. Ưu-đà-di, người hãy về trước, báo tin ấy cho
Ngài hay.
Ưu-đà-di sung sướng sụp lạy tạ Ngài, rồi nhảy lên mình ngựa phi về cung.
Tin
Phật sắp trở về tung ra trong thành Ca-tỳ-la-vệ như một tràng pháo nổ.
Thôi, đã qua rồi những ngày buồn bã trôi giữa dòng tiếc thương và mong nhớ!
Dân trong thành trở lại hoạt động vui vẻ như thời còn Thái tử, cái lẽ kiêu
hãnh của dân gian Mọi người thi nhau trang hoàng cửa nhà mình để làm vui
lòng đấng tôn quý nhất của cả nước. Từ phía cửa Nam vào tận trong hoàng
cung, đường đều lát toàn cành xoài thơm và tưới trào nước hoa sứ. Trên bến
sông đức Phật sẽ sang ngang, mấy chục cặp voi được trang hoàng rừc rỡ đã
đợi sẵn để đón Ngài về. Bọn ca nhi vũ nữ đã được lệnh đi theo Ngài để vừa
múa hát vừa tung hoa sao cho chân voi Ngài sẽ ngập dưới đường hoa.
Nàng
Da-du nóng lòng muốn gặp Ngài ngay, sai quân khiêng kiệu đưa mình đến gần
cửa Nam, nơi Tịnh-phạn vương đã truyền dựng tịnh xá cho Ngài, và đứng đấy
ngóng trông về phía trước. Và phía trước, bọn Ba-li-a (Paria) sống chui
rúc trong những vòm lá ở ngoài thành, cũng đã dậy từ lúc gà chưa gáy, đợi
tiếng trống đầu tiên báo hiệu Ngài về, hay tiếng voi ré là trèo lên cây,
để khỏi làm bẩn mắt đấng Tinh khiết. Nhưng bầu trời vẫn im lặng trong sự
chờ đợi, không vang dội một tiếng trống hay tiếng voi ré. Họ bắt đầu chán
nản, và để khỏi mỏi mắt trông chờ, họ cúi xuống lượm lá úa rơi trên đường,
uốn lại một nhành cây hay chấp thêm một vài cành hoa vào cột khải hoàn môn.
Giữa
lúc ấy, một người chậm rãi đi đến, đầu cạo trọc mình choàng một chiếc áo
cũ, tay nắm một bình bát hình trái bí. Theo sau có mấy người khác cũng
choàng một thứ áo ấy. Nhưng người đi đầu có vẻ oai nghi lạ kỳ, và trên
đường người đi, toả ra một luồng tôn nghiêm kính cẩn. Người ấy nắm bình
bát đưa ra trước cửa mọi nhà: người ta đổ đồ ăn vào đấy với vẻ sùng bái
như khi dâng lễ cúng thần. Nhiều kẻ thấy mình đứng không vững trên hai
chân run, liền sụp quỳ xuống, và cảm thấy rất yên ổn trong dáng điệu ấy.
Khi đến gần cửa Nam, nàng Da-du từ trong chạy xổ ra, kêu lên: “Ôi Thái
tử!” Nàng nghẹn ngào không nói được nên lời, quỳ xuống ôm lấy chân
Phật mà khóc...
Một
người đệ tử đi theo Ngài, bạch:
– Thưa
Thế Tôn! Ngài đã dứt hết dục vọng, tránh tất cả những sự đụng chạm của
những bàn tay đàn bà, sao còn đứng yên để bà Da-du ôm chân Ngài như thế?
Phật
trả lời:
– Các
người hãy coi chừng đấy! Ðừng làm tổn thương một tâm hồn đang bị ràng buộc
trong tình cảm, vì sự dửng dưng của các người, khi đã thoát ra ngoài vòng
trần luỵ! Các người càng nhẫn nhục bao nhiêu, các người lại càng được tự
do bấy nhiêu...
Xưa
kia, mấy vạn năm rồi, ta là một gã lái buôn tên Ram, ở miền bể phía Nam
đối diện với hòn đảo Lan-ca, nơi có rất nhiều ngọc quý. Vợ ta, nàng
Lúc-mích, chính là Da-du bây giờ, cùng với ta sống ở đấy. Nhà ta nghèo
túng, ta phải tính cuộc đi làm ăn xa. Nhưng vợ ta khóc lóc, xin ta hãy ở
nhà, vì nỗi đường xá xa xôi, hiểm trở. Nhưng ta không muốn ở nhà để nhìn
thấy sự nghèo túng của vợ rất yêu quý của ta. Ta đành dứt tình, vượt biển
ra khơi, trải qua bao nhiêu lần sắp chết vì bão tố, ta lặn xuống đáy bể,
mò được một viên ngọc quý hơn tất cả nhũng kho tàng eủa các vua chúa hiệp
lại. Ta lận hòn ngọc vào lưng, dong buồm trở về xứ cũ. Nhưng ở đấy dân
gian đang bị nạn đói kém. Ta đi mấy ngày đường không có một hạt cơm ăn,
nhưng cũng lần mò về được tới nhà. Về nhà ta thấy vợ ta đang nằm bất tỉnh,
sắp chết đói ở ngưỡng cửa vì đã mấy ngày thiếu ăn. Ta liền nắm hòn ngọc
chói như ánh mặt trời, chạy đi từng nhà xin đổi lấy một nắm gạo. Một người
láng giềng chạy ra đưa cho ta một ô gạo và nhận hòn ngọc quý về. Lúc-mích
thoát chết nhờ nắm gạo ấy, sung sướng ứa lệ nói với ta: “Ôi quả thật,
tình chàng đối với em không bờ bến.”
Thuở
ấy, để cứu mạng một người thân, vỗ về một tâm hồn đau khổ ta đã mất hòn
ngọc quý. Nhưng bây giờ dầu ta có cứu bao nhiêu mạng người, có vỗ về bao
nhiêu tâm hồn đau khổ, thì viên ngọc quý–một vạn lần quý hơn viên ngọc xưa–mà
ta đã tìm được dưới những làn sóng sâu hơn, nguy hiểm hơn trước, viên ngọc
bây giờ không vì một sự gì có thể lu mờ mất mát đi được. Cái bé nhỏ của
viên ngọc xưa đối với viên ngọc bây giờ cũng như tổ kiến sánh với hòn núi
Mérou; tình thương xưa sánh với lòng Từ bi của ta bây giờ như một vũng
sương đọng trong dấu chân con thỏ sánh với biển lớn. Một khi tình thương
đã vượt ra ngoài sự ràng buộc của dục vọng, thì không có gì có thể làm cho
nó đụe vẩn đi được.
Tịnh-phạn vương ở trong triều nghe tin con về, đầu cạo trọc, tay nắm bát
đi xin những đồ ăn của bọn cùng dân hạ tiện, thì nổi giận đùng đùng. Ngài
bứt râu bạc, ngài khạc xuống đất ba lần. Ngài truyền thắng ngựa chiến cho
ngài ra cừa Nam. Ngựa ngài vụt qua trước mặt đám dân kinh ngạe, khi họ
chưa kịp phủ phục bên đường. Gần đến cửa Nam, ngài thấy một đám người đen
nghịt chen chúc trên đường rộng, mà người đi đầu là Phật. Ngài đưa mắt
quang đãng nhìn cha ở đằng xa phóng ngựa tới với một vẻ hung hăng như một
viên tướng ra trận. Nhưng đến gần, Tịnh-phạn vương bỗng dịu lại trước cái
nhìn hiền từ và tôn kính của người con đứe hạnh. Phật chắp tay vái chào
đứe cha với một dáng điệu nhu thuận mà oai nghi. Tịnh-phạn vương nhìn con,
nhận thấy một vẻ thiêng liêng hiện trên đỉnh trán rộng và một oai lực làm
khuất phục cả mọi người đi theo sau. Ngài cảm biết rằng người đang đứng
trước mặt mình đấy đã xa xôi với mình lắm rồi, không còn giữ lại dấu vết
gì của vị hoàng tử xưa nữa. Tuy vẫn ở trong phạm vi người, vẫn lăn lộn với
người, con ngài bây giờ đã thoát ra ngoài vòng trần tục, đã vượt lên mấy
tầng cao trên nhân thế rồi!
Mặc
dầu thế, Tịnh-phạn vương vẫn làm ra vẻ trách con:
– Có
đời nào một vị Thái tử như Tất-đạt-đa, người sắp nối ngôi ta, trị vì một
đại quốc, một vị Thái tử oai phong như thế mà khi về nước lại ăn mặc tầm
thường, đầu cạo trọc, nắm bát đi xin từng miếng ăn, miếng uống của đám
Ba-li-a! Ðáng lẽ ra, con phải trở về giữa sự oai nghi hùng tráng của một
rừng gươm giáo, giữa sự vang rền của tiếng trống, tiếng chiêng. Con thấy
đó, quân lính đang dàn đặc hai bên đường, cả một kinh thành đang đợi con
về để tung hô thiên tuế. Sau chín, mười năm trời con bỏ cung điện ra đi,
để cha con phải nuốt sầu trên ngôi báu, vợ con phải đau khổ trong Cung Vui,
và cả một kinh thành đã im lìm trong không khí tang tóc, cha tưởng ngày về
của con hết sức rực rỡ để bù lại những ngày ảm đạm đã qua. Cha có ngờ đâu
bao nhiêu sự sắp đặt linh đình của cả nước, bao nhiêu dàn bày oai nghi của
cả triều đình chỉ để đón chờ một kẻ đói cơm rách áo! Con ơi! Sao thế hử?
– Thưa
phụ vương, đấy là tục lệ của dòng họ con.
Tịnh-phạn vương dẫy nẩy:
– Dòng
họ con kể từ đức Ma-ha-sa-ma đến nay đã gần một trăm đời vua, có khi nào
có một hành vi lạ lùng như thế đâu?
– Thưa
phụ vương, con không nói đến cái giòng giống thế gian, nối nhau qua khí
huyết, con muốn nói đến dòng giống của chư Phật quá khứ và vị lai. Xưa và
sau này chư Phật làm thế nào, bây giờ con làm thế ấy. Con chỉ biết giữ gìn
cái kho báu vô giá mà các đức Phật đã truyền lại cho con.
Tịnh-phạn vương ngạc nhiên nhìn chiếc áo đã ố màu của Phật, hỏi:
– Kho
báu gì đâu?
Thế là
Phật dịu dàng nắm tay cha, đi về phía hoàng thành, giữa Tịnh-phạn vương và
nàng Da-du. Vừa đi, Ngài vừa thuyết pháp cho dân chúng đang kính cẩn theo
sau Ngài nghe. Với giọng ấm dịu và trong sáng, Ngài rải rắc trong tâm hồn
mọi người nỗi an lành thanh tịnh. Ngài tung vãi ánh sáng ra khắp nơi, đuổi
tan những làn u ám đang đọng trong tâm trí mọi người.
Tịnh-phạn vương nhìn sững miệng Ngài, say sưa uống những lời quý hơn vàng
ngọc. Và công chúa Da-du đôi mắt dần dần ráo lệ, mỗi lúc mỗi tươi thêm.
Ðêm ấy,
trong cung điện của Tịnh-phạn vương, không có tiếng đàn tiếng địch, thế mà
mọi người nghe như reo dậy trong lòng mình một điệu nhạc thiêng. Và khi
đặt lưng xuống chiếu, dân gian trong thành Ca-tỳ-la-vệ thấy mở ra trướe
mắt mỗi người một con Ðường Vàng sáng rực, rộng thênh thang, trên ấy những
bóng vàng đang nhẹ nhàng tiến bước...
--- o0o ---
Mục lục |
Giới thiệu |
Lời bạt
Phần 01|
Phần 02 |
Phần 03 | Phần 04 |
Phần 05
Phần 06 |
Phần 07 | Phần 08 |
Phần 09 |
Phần 10
--- o0o ---
Vi tính : Mỹ Hồ
Cập nhật ngày:
01-05-2002