Đêm
phủ một lớp tối đen dày. Rừng tịch mịch thỉnh thoảng gầm lên những tiếng
hãi hùng rùng rợn của loài ác thú đang cấu xé, cắn rứt nhau trong bóng tối.
Từng
đêm này sang đêm khác, đức Thích-ca ngồi tĩnh toạ trong bóng tối, nhưng
hào quang trên trán Ngài sáng rực dưới vòm lá cây bồ-đề. Ma vương, chúa tể
của những cõi tối tăm, nhìn thấy, đoán biết Ngài sắp tung bừng ánh sáng
của Ðạo vàng và cứu thoát cõi đời ra ngoài biển khổ, liền hội gấp các bè
đảng để tìm cách đối phó. Thôi thì cả một đoàn quỷ sứ, một lũ ác thần–kẻ
thù của Chân Lý và Ánh Sáng, bọn gieo rắc bóng tối và dục vọng xuống trần
gian–hăm hở kéo đến vây quanh cây bồ-đề. Chúng dùng đủ cách, khi van xin
cầu khẩn, khi gầm thét doạ dẫm để làm xiêu lòng Bồ-tát.
Ðầu
tiên, một đoàn quỷ Tham kéo đến, mắt dớn dác nhìn quanh, hai tay cong cong
như chực vồ lấy một vật gì. Chúng hội lại đủ các hạng: Quỷ Tham Sống bảo
Ngài: “Có gì quý giá hơn sự Sống, sao người bỏ đi?” Quỷ Tham Danh
bảo Ngài: “Hỡi người con vua Tịnh-phạn, sao dại khờ lắm thế? Người là
kẻ tài hoa lỗi lạc, người là dòng thế phiệt trâm anh, người sắp được lên
ngôi báu, danh giá không ai bằng, sao lại đi làm một kẻ ăn xin vất vưởng
từ xứ này qua xứ khác?” Quỷ Tham Khoái Lạc bảo Ngài: “Người đang ở
trong cung vui mùa lạnh có nhà ấm, mùa nực có nhà mát, ăn toàn thức ngon,
uống toàn rượu quý, tai chỉ nghe cung đàn tiếng địch, mắt chỉ ngắm những
điệu múa kỳ lạ của bọn vũ nữ. Sống khoái lạc như thế, cớ sao người lại dại
khờ ruồng bỏ để đến đây nằm sương gối tuyết?”
Ðức
Thích-ca nhìn chúng trả lời:
– Bọn
ngu muội lấy giả làm thật, bám víu vào những ảo tưởng mong manh, hãy đi xa
chỗ này. Chúng mày không cám dỗ được ta.
Bọn
quỷ Tham xấu hổ, lẩn vào trong bóng tối.
Một
đoàn quỷ Gíận kéo đến khi đoàn quỷ Tham chưa lẩn hết trong đêm. Chúng gầm
thét vang trời chuyển đất. Mặt chúng đỏ gay hay xám bạc, môi chúng bặm lại,
hai hàm răng nghiến trèo trẹo vào nhau. Những con rắn đầu nhỏ quấn đuôi
quanh cổ chúng và thè nọc ra đàng trước như chực trườn tới để cắm độc vào
kẻ thù. Chúng gầm:
–
Chúng ta phá hết, giết hết, không ai có thề cản ngăn. Chúng ta nhóm lửa ở
giữa lòng người và thiêu đốt cả thiên hạ. Chúng ta gieo nọc độc khắp nơi
và thế giới sẽ vì chúng ta mà tiêu diệt. Hỡi Thái tử Tất-đạt-đa, chúng ta
sẽ bắt ngươi làm đệ tử.
Nhưng
đức Thích-ca chỉ mỉm cười đưa mắt hiền từ nhìn chúng. Cái nhìn của Ngài có
một mãnh lực lạ lùng! Bao nhiêu vẻ hung hăng độc ác tan theo chúng như một
làn mây!
Bấy
giờ trời đất bỗng tối sầm lại. Một sự hồi hộp, sợ sệt, e ấp trong lá. Từng
đàn gì bay nặng nề trong bóng tối như từng đàn dơi, từng đàn gì luồn dưới
cỏ như từng đàn rắn. Những tiếng chân hấp tấp chạy trong tối trước những
hình đen như xạ: bọn quỷ Ngu Muội–mẹ đẻ của Sợ Hãi và Bất Công–đến vây
quanh cây bồ-đề. Sau một chuỗi cười mai mỉa, chúng hỏi Ngài:
– Này
Thái tử! Ánh sáng của người được bao nhiêu mà dám đem ra soi đường cho
nhân loại? Ðừng đeo đuổi một công việc vô ích. Người càng tìm ra ánh sáng,
chúng ta lại càng trút thêm bóng tối. Mỗi ngày mỗi ít, chúng ta đã gieo
rắc qua mấy muôn triệu năm rồi những hạt si mê mà bấy giờ tất cả thế gian
đều ngập lụt. Chúng ta thách người đấy. Người hãy lấy ánh sáng gì để quét
sạch bóng Si mê đi!
Từ
đỉnh trán đứe Thích-ca phóng một tia hào quang sáng như cả ngàn ngôi sao
chụm lại, chiếu khắp bốn phía như một bó chổi sáng quét sạch tất cả bóng
đêm.
Bọn
quỷ Ngạo Mạn kéo nhau đến. Ðầu chúng ngẩng cao, ngực ưỡn, đôi mắt xấc láo
nhìn Ngài. Chúng nói giọng khinh khỉnh, sau khi đưa một tay lên khoát ở
trước mặt như để xua đuổi một mùi thối tha:
– Trần
gian nhơ bẩn, hạ tiện này có đáng gì mà phải hao công tìm phương cứu chữa?
Cái bọn ngu muội xấu xa là nhân loại này chỉ đáng để cho bị tiêu diệt.
Người hãy theo chúng ta đạp đổ thế giới này mà lên mấy từng trời xanh,
cùng nhau sống riêng biệt, hưởng những lạc thú thanh cao mà chỉ chúng ta
là có quyền hưởng.
Ðức
Thích-ca mỉm cười:
–
Phải! Các người hãy đạp đổ thế giới này đi rồi con đường của các người sẽ
đưa các người vào địa ngục.
Bọn
quỷ Ngạo Mạn vênh mặt, rủ nhau bỏ đi.
Nhưng
một bọn khác lại kéo đến. Ðây là những con quỷ Nghi Ngờ, thiếu tin tưởng,
đầu đưa lắc la lắc lưỡng, trên những chiếc cổ cao, hai tay áo buông xuôi
như bị đẫm ướt, môi mím lại làm nổi một nếp nhăn trên mép nửa như mếu, nửa
như cười.
Chúng
đến thét vào tai Ngài: “Giả dối, mọi sự đều giả dối! Chân lý! Chân lý
là cái quái gì? Người chỉ đi theo một ảo giác hy vọng hão huyền. Không có
cách gì cứu chữa được nhân loại. Ðạo của người sẽ vô công hiệu giữa thế
giới đam mê. Ha ha! Giải thoát cho nhân loại thoát khỏi luân hồi! Ôi, có
ai điên rồ hơn thế nữa!”
Ðức
Thích-ca nhìn chúng, miệng nghiêm lại, vẻ cương quyết lạ lùng. Mắt Ngài
chứa đầy một nguồn tin tưởng mạnh mẽ làm cho bọn quỷ Nghi Ngờ cảm thấy đây
không phải là nơi chúng có thể dùng những lời bi quan để đánh đổ. Chúng rủ
nhau thất thểu ra đi, đầu lắc lư thêm, nét nhăn bên má lại càng chua chát
hơn trước, hai tay buông thỏng rã rời như không còn sức để bám víu vào một
cái gì được nữa...
Nhưng
bọn quỷ sứ ấy chưa nguy hiểm lắm. Nguy hiểm nhất là Ca-ma (KAMMA), chúa tể
của dục tình và những khoái lạc xác thịt. Nó nắm một cung đồng kết hoa,
mang một bó tên tẩm thuốe độc có ba mũi nhọn mà mỗi khi chúng đã cắm vào
tim thì không có sức nào rút ra được. Ca-ma đi đầu; sau nó là một đoàn
thiếu nữa đẹp như hoa, vừa đi vừa hát những điệu hát du dương ca tụng ái
tình nhịp nhàng hoà theo điệu nhạc. Chúng vừa hát vừa đưa những cặp mắt
lẳng lơ, những nụ cười khêu gợi, giấu một nửa sau những cánh quạt hoa.
Chúng uốn éo những tấm thân dẻo như rắn của chúng khi đi qua trước mặt đức
Thích-ca. Nhưng Ngài vẫn thản nhiên, lòng không mảy may xao động.
Ca-ma
liền ra hiệu cho bọn vũ nữ dang ra và một nàng đẹp hơn cả, giả dạng nàng
Da-du-đà-la đi vào. Toàn thân nàng hiện lên một vẻ đẹp não nùng mà những
ngày dài đau thương đã tô thêm đậm nét. Nàng đến bên Ngài khẽ than, đôi
mắt nhung long lanh sau màn lệ nóng:
– Ôi
Thái tử! Chàng có biết chăng nỗi đau khổ của em khi chàng bỏ cung điện ra
đi? Trên bờ sông Rohini, em đã ngồi khóc qua những ngày dài dằng dặc. Em
mong chàng về, nhưng đôi mắt đã mờ lệ, mà trên đường về em nào thấy bóng
chàng đâu! Về với em đi, Thái tử! Chàng sẽ tựa đầu vào cánh tay em và em
sẽ quạt cho chàng như những năm xưa, khi chàng còn là lẽ sống của đời em!
Ðức
Thích-ca trả lời:
– Bóng
hình giả dối, như bao nhiêu bóng hình giả dối của thế gian, mày không thể
phỉnh gạt ta được. Hãy tan cho mau theo bóng tối!
Ca-ma
tức giận thét lên một tiếng. Bao nhiêu nàng mỹ nữ đều tan biến mất. Nhưng
trời bỗng chuyển động. Tiếng gầm thét, ban đầu còn xa, mỗi lúc mỗi gần và
lớn dần. Trời sầm sập đổ mưa. Bão tố nổi dậy, từng làn chớp quăn queo đan
nhau trên vòm cây bồ-đề. Bao nhiêu dục vọng đê hèn, bao nhiêu si mê cuồng
dại, bao nhiêu tội ác hiện hình, làm thành một đạo binh hỗn độn, thổi gió,
phun mưa, nổi sấm, bắn những mũi tên độc vào Ngài, lao những chiếc sào
nhọn bọc sắt. Nhưng bao nhiêu sự tấn công của chúng đều vô hiệu. Ðức
Thích-ca vẫn điềm nhiên ngồi vững chắc dưới cây bồ-đề, trên trán một vùng
hào quang chiếu rực rỡ. Và cây bồ-đề vẫn đứng yên như không có gì xảy ra
cả.
Ðến
canh hai trời đất trở lại yên tĩnh và trong suốt như gương. Trong bầu trời
xanh, long lanh những vì sao bạc. Ðức Thích-ca chứng được quả “Túc Mệnh
Minh”. Nhờ trí tuệ siêu phàm, Ngài thấu suốt được tất cả khoảng đời quá
khứ xa, rất xa của Ngài trong ba giới. Như người bộ hành ngồi nghỉ trên
núi cao, nhìn xuống quãng đường quanh co mình vừa đi qua, nào đồng, nào
ruộng, nào khe, nào rừng; bên cạnh hố kia mình sắp sẩy chân, trên bãi cát
nọ mình sắp kiệt lực, và xa xa, một đám bùn lầy phỉnh phờ giấu mình dưới
những khóm lau lách, và nếu không sáng mắt, đã bị sa chân vào đấy. Ngài
thấy rõ ràng tất cả những kiếp xưa của Ngài, những nỗi khó khăn, những
điều trở ngại đã vượt qua để lên đến địa vị cao xa cùng tột này... Ngài
nhận thấy sự tăng tiến tiếp tục từ đời này sang đời khác, không một lúc
nào đứt quãng, cũng không một lúc nào đứng yên. Sau mỗi kiếp, cuộc đời như
đã tan vỡ. Nhưng không! Sự sống chỉ náu mình để dồn thêm sức lực rồi mạnh
mẽ tiến lên, như hạt lúa náu mình trong đất để chuyển hình ra cây mạ xanh
tốt. Và trong cây mạ mới, có ẩn mầm giống của những hạt lúa xưa, trong
kiếp này có ẩn tất cả bao nhiêu nhân của những nghiệp trước. Do đó, Ngài
nhận thấy không một sự cố gắng nào, một sự phấn đấu nào để đi đến cõi
thiện là vô ích. Chính chúng nó đã làm thang cho Ngài bước, xây tháp cho
Ngài lên. Và bây giờ ngồi trên đỉnh tháp cao, xây dựng với bao nhiêu đời
mình, Ngài đưa mắt sáng suốt nhìn xuống, thấy rõ ràng từng viên gạch và
từng công trình kiến trúc mà Ngài đã ra công xây dựng để đến ngày khánh
thành rực rỡ hôm nay.
Ðến
nửa đêm, ngài chứng được quả “Thiên Nhãn Minh” thấy rõ tất cả bản thể của
vũ trụ, từ thế giới này đến bao nhiêu thế giới khác. Ngài thấu suốt tất cả
các hàng tinh tú từ nhỏ cho đến lớn, từ gần cho đến xa, cái này liên lạc
với cái kia, cái kia với cái khác, cái khác với cái khác nữa, như những
trục bánh xe ràng buộc với nhau bởi những sợi dây vô hình và cứ như thế mà
lan dần cho đến vô cùng, vô tận... Tuy xa cách chúng vẫn hiệp vầy, tuy
nhiều mà một, tuy một mà nhiều. Chúng có khác nhau ở hình dáng, nhưng
không khác nhau ở bản chất. Tất cả vòm trời sao sáng ấy là những hòn đảo
bạc nổi giữa biển xanh ngời, không bờ không bến, trong ấy sóng triều luân
chuyển mãi không thôi, và cũng không thêm, không bớt, không đầy, không
vơi, vừa sanh vừa diệt, vừa diệt vừa sanh... Sau khi đã quan sát toàn cả
vũ trụ. Ngài nhận thấy một cái luật chung bất di bất dịch, âm thầm mà mạnh
mẽ, nó chuyển mọi vật từ bóng tối đến ánh sáng, từ cõi chết đến cõi sống,
từ vô hình đến hữu hình, từ hữu hình trở lại vô hình, làm thành một vòng
tròn gồm bốn giai đoạn: sinh, trụ, dị, diệt. Cái luật ấy không gì có thể
vượt qua, từ một vật bé nhỏ như vi trần cho đến to lớn như trăng sao. Ðó
là luật nhân duyên sanh.
Ðến
canh tư, Ngài chứng được quả “Lậu Tận Minh” rõ biết nguồn gốc của sự đau
khổ đã bám víu vào chúng sanh như bóng dính theo hình. Ngài nhận thấy, vì
dục vọng làm mù quáng, như vì bụi dấy lên từ dưới chân đàn cừu làm lạc mất
đường chúng đi, người đã từ bản tâm sáng suốt đi dần mãi vào cõi Vô minh.
Vì Vô minh mà người có những hành vi, động tác sanh ra các nghiệp báo
(hành), rồi tự phân biệt có cái ta riêng khác (thức). Phân biệt như thế,
tất nhiên thấy có nội tâm và ngoại cảnh, có hình tướng sắc màu và đặt tên
cho mọi sự vật (danh sắc); bấy giờ một bên là tâm, một bên là cảnh; đối
với cảnh, tâm có những giác quan riêng để thu nhận được (lục nhập); hình
tướng và giác quan đụng chạm, cọ xát với nhau mà thành ra cảm giác (xúc);
xúc cảm đem đến sự thọ nhận các hiện tượng ở thế gian (thọ); sự thọ nhận
ấy gây ra tình yêu mến đối với vật mình ưa thích (ái); đã yêu mến thì cố
giữ gìn (thủ); cố bám víu vào cái mình đã ưa thích không muốn chia lìa
(hữu). Vì thế mà có nghiệp báo ở thế gian. Cái nghiệp báo ở thế gian bắt
phải đầu sanh lại ở cõi đời sau khi chết (sanh). Và từ đấy, bắt đầu một
cuộc sống khác với những sự dau khổ kèm theo nó: bệnh, già, chết (bệnh,
lão, tử). Mười hai giai đoạn ấy nối tiếp nhau, nhân này làm quả kia, quả
kia làm nhân khác, và cứ như thế, cái vòng tròn quay tít không thôi. Muốn
cắt đứt cái vòng tròn ấy, phải trừ Vô minh. Nhưng người ta không thể trừ
Vô minh, không thể sáng suốt được khi còn nhiều tham vọng. Ôi tham vọng!
Sự khát khao không bao giờ thoả mãn, khiến người uống mãi trong biển mặn
đau thương và làm thêm khao khát thèm thuồng, và mãi mãi quay cuồng trong
sinh tử. Người hiểu rõ cái nguy hiểm của dục vọng, quyết kiềm chế lòng
mình, diệt trừ tham muốn cho đến tận gốc (giới). Lúc dục vọng đã bị gạt bỏ
ra khỏi lòng, người sẽ bình thản trước mọi sự vật giả dối đang xao xuyến ở
xung quanh. Lúc ấy tâm thần sẽ định tỉnh, không một sức mạnh nào có thể
lay chuyển lao lung (định). Trí tuệ nhờ đó mà mỗi ngày mỗi minh mẫn, và
một ngày kia, sẽ bưng lên soi cùng vũ trụ (tuệ), như vầng trăng hiện ở
dưới đáy hồ khi mặt nước đã trở lại phẳng lì vì gió dục đã dừng thổi sóng
khổ đau.
Từ
đấy, cỗ xe đời rã bánh, người bị buộc vào cỗ xe được giải thoát, vượt ra
ngoài phạm vi nhỏ hẹp, thấy mình là toàn thể, toàn thể là mình. Người
không còn bị ràng buộc trong không gian, cho nên không phụ thuộc với thời
gian; không riêng giữ một hình dáng cho nên luôn luôn vĩnh viễn; bởi biết
tự đổi thay cho nên không bao giờ bị thay đổi. Người bắt đầu qua một trạng
thái mới, không sanh không diệt, an lành thanh tịnh, sáng suốt vô ngần:
đấy là Niết-bàn!
Bình
minh bừng dậy. Ánh sáng làm mờ hẳn sao mai–kẻ soi đường cho người đi
khuya–vừa lại ở ven trời. Bóng đêm rạn vỡ tan biến rất nhanh. Nắng vàng
bắt đầu xối chảy xuống trần gian. Nắng vàng gội rửa những chóp núi cao,
nắng vàng tuôn tràn ra hai bên sườn, reo chảy xuống chân núi, lan dần ra
trên đồng bằng, khoả một lớp mỏng trên mặt sông, mặt biển, làm lấp lánh
những ánh kim cương trên muôn ngàn làn sóng.
Ánh
Sáng Vàng lan tràn khắp mọi ngả, và giục giã đời dậy khắp nơi. Nó đến mở
mắt loài chim và thì thầm: “Hót đi các con! Ðêm vừa hết!” Nó đến
vuốt ve loài hoa và bảo: “Nở đi các con! Ánh sáng đã về!” Nó đến
mân mê loài thú và nói: “Ánh sáng đã về. Thôi qua rồi bóng đêm độc ác!”
Nó
điểm tô cho cảnh vật một màu sắc mới: nó nhuộm vàng những làn mây xám, làm
anh ánh những hạt lệ đêm. Những vòm lá xanh xao vàng úa như da người ốm
bỗng đổi ra màu lục đậm, những cánh hoa xoan đỏ như máu bỗng chuyển sang
màu hoàng bá...
Nhưng
ảnh hưởng đẹp đẽ và mạnh mẽ nhất của luồng Ánh Sáng kia là ở giữa lòng
người. Ôi! Ánh Ðạo Vàng! Ánh Ðạo Vàng huyền diệu! Bọn cướp bỗng ghê sợ bàn
tay tẩm máu của mình, vứt dao vào bụi; người bán hàng thôi bán giá cao; kẻ
đổi bạc thôi chuồi thêm bạc giả; người đau mỉm cười trên giường bệnh;
người sắp chết thấy mình tràn đầy hy vọng; kẻ lạc đường bỗng quay lại và
thấy mình đi trúng đích! Bóng cờ giải hoà phấp phới bay trên các bãi
chiến, và quân địch nhìn ra toàn mặt anh em, sung sướng bổ chồm tới ôm
nhau khóc...
Cũng
buổi mai ấy, trong cung lạnh, nàng Da-du-đà-la nghe lòng mình ấm dịu và
reo chảy một nguồn vui. Trên cành liễu trước sân một con Ca- lăng-tần-già
uốn lưỡi tung một tràng nhạc, ca tụng sự rạng rỡ của Ðạo Vàng, chói chang
ánh sáng, cao sang hơn muôn ngàn ngai vàng, điện ngọc.
--- o0o ---
Mục lục |
Giới thiệu |
Lời bạt
Phần 01|
Phần 02 |
Phần 03 | Phần 04 |
Phần 05
Phần 06 |
Phần 07 | Phần 08 |
Phần 09 |
Phần 10
--- o0o ---
Vi tính : Mỹ Hồ
Cập nhật ngày:
01-05-2002