Ánh Đạo Vàng
(In lần thứ 14)
Võ Đình Cường
HUẾ – 1999
--- o0o ---
TÔI QUAN NIỆM NHƯ
THẾ NÀO
VỀ CUỘC ÐỜI CỦA ÐỨC PHẬT THÍCH CA
KHI VIẾT ÁNH ÐẠO VÀNG
Thay lời bạt
(Phần này đã
được viết và in vào ánh Ðạo Vàng
trong lần ấn hành thứ 12 năm 1990)
Quyển ánh Ðạo Vàng đã
được trích đăng dần trên Tập Văn của Ban Văn hoá Trung ương Giáo hội Phật
giáo Việt Nam. Trong quá trình trích đăng qua 5 Tập Văn gần hai năm, có
một số bạn đọc đã gởi thơ hỏi tôi có sửa đổi thêm bớt gì không khi đăng
lại lần này. Có bạn lại cả quyết rằng tôi đã có sửa lại, thậm chí đã viết
lại ánh Ðạo Vàng và khen là lần này tôi viết hay hơn trước. Thật ra tôi
không sửa đổi gì, ngoài một số chữ về chính tả mà các lần xuất bản trước
đã in sai, và thứ tự các chương có đảo lộn để cho thích hợp với nội dung
của mỗi Tập Văn. Chẳng hạn như Tập Văn 1, xuất bản vào dịp lễ Thành Ðạo
PL. 2528, thì tôi trích đăng các chương viết về sự Tìm Ðạo và Chứng Quả
của đức Phật; qua lễ Phật Ðản sanh PL. 2529, thì trích đăng các chương
viết về sự ra đời và thời niên thiếu của Ngài. Và mỗi kỳ trích đăng như
vậy, tôi không chia thành từng chương riêng và không ghi số thứ tự của mỗi
chương như trong cuốn ánh Ðạo Vàng đã xuất bản lâu nay, mà đăng luôn một
mạch, chương này tiếp liền chương khác. Có lẽ vì vậy mà các bạn đọc đã có
cảm tưởng như tôi có sửa đổi thêm bớt chăng?
Không
sửa đổi thêm bớt, không có nghĩa là cuốn ánh Ðạo Vàng đã hoàn chỉnh. Một
cuốn sách đã viết từ gần 45 năm trước, đem so sánh với thời đại hôm nay mà
văn chương nghệ thuật nước nhà đã có những bước tiến dài, chắc chắn sẽ lộ
rõ những vụng về, thiếu sót, dư thừa. Nhưng tôi không muốn gọt dũa nó lại,
vì tôi nghĩ dù sao nó cũng đã mang dấu ấn của một giai đoạn viết lách của
đời mình, cái dấu ấn tư duy của một lớp thanh niên trí thức Phật tử trong
ấy có tôi, trước thế chiến thứ hai. Lớp thanh niên ấy phải kể trước tiên
là những anh em trong đoàn “Thanh niên Phật
học Ðức Dục” (mà hiện nay có người đã trở thành Hoà thượng, nhiều
người là cán bộ, Ðảng viên Cộng sản, hay đã đi ra nước ngoài, nhưng mỗi
khi ngồi lại với nhau chúng tôi vẫn dễ đồng ý, thông cảm với nhau trên
nhiều vấn đề), những anh em trong đoàn Thanh niên Phật tử. Gia đình Phật
hoá phổ, học sinh trường Khải Ðịnh, trường Ðồng Khánh ở Huế, quê hương của
tôi. Chính lớp thanh niên ấy đã thúc đẩy, khuyến khích tôi viết Ánh Ðạo
Vàng. Và khi viết, tôi nhắm đối tượng độc giả chính là lớp thanh niên ấy.
Mỗi khi viết xong một chương, tôi đem đọc cho anh em đoàn Thanh niên Phật
học Ðức Dục nghe và góp ý. Tôi nhớ chương đầu tiên tôi viết là chương Thái
tử Tất-đạt-đa trong đêm khuya trốn ra khỏi “Cung Vui”, xa lìa gia đình để
đi tìm đạo. Tôi viết đoạn này trước, vì tính bi hùng tráng của nó đã thu
hút tôi mãnh liệt. Anh em trong đoàn gợi ý cho tôi nên đăng trước vào tạp
chí Viên âm xuất bản tại Huế, mỗi tháng một kỳ do cố bác sĩ Lê Đình Thám,
một học giả uyên thâm về Phật học làm chủ bút. Ðăng được mấy số thì một
hôm, cụ Thám đưa cho tôi xem bức thơ của một vị Hoà thượng ở Hà Nội gởi
vào phản đối kịch liệt những bài viết của tôi đăng trên tạp chí Viên âm.
Vị này cho rằng tôi phỉ báng đức Phật Thích-ca, đã dung tục hoá Ngài, viết
về Ngài mà như về một người tầm thường nào, cũng yêu đương bi lụy “anh anh,
em em”, sống một đời sống xa hoa trác táng v.v... và v.v... Và cuối cùng,
tác giả bức thư yêu cầu Ban Biên Tập Viên âm không được tiếp tục đăng Ánh
Ðạo Vàng nữa. Tôi đọc xong bức thư, trao lại cho cụ Thám và hỏi:
– Bác
tính sao? Có đăng tiếp không?
Cụ
Thám nở một nụ cười hiền lành như mọi ngày, nhưng trả lời rất cương quyết:
– Anh
cứ tiếp tục đăng đi. Các cụ già rồi sẽ qua đời. Anh có thanh niên. Họ
không phản đối anh là được.
Lớp
thanh niên ấy bấy giờ cũng đã, hay sắp trở thành cụ già cả rồi. Và họ vẫn
không phản đối tôi về cách trình bày cuộc đời của đức Phật Thích-ca trong
Ánh Ðạo Vàng. Do đó tôi nghiệm ra rằng: không phải hễ già thì phản đôi mà
trẻ thì thích Ánh Ðạo Vàng. Bằng chứng là trên 40 năm trước cũng có những
cụ già thích đọc Ánh Ðạo Vàng, và bây giờ cũng rất có thể có những thanh
niên không thích đọc nó. Thích hay không thích, phản đối hay tán thành,
tôi nghĩ không phải do tuổi tác, mà do quan niệm của người đọc về sự xuất
hiện của đức Phật Thích-ca trong cõi đời này, về nguồn gốc của Ngài. Nếu
họ cho rằng Ngài là một Thiên sứ, một người của nhà Trời sai xuống để dẫn
dất chúng sanh, thì chắc chắn họ sẽ phản đối tôi, vì tôi đã bỏ mất những
huyền thoại như: Hoàng hậu Ma-gia đã sinh Thái tử Tất-đạt-đa từ hông phải
của bà, và Thái tử khi mới lọt lòng mẹ, đã đứng dậy đi bảy bước, một tay
chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà tuyên bố: “Trên trời, dưới trời,
chỉ có Ta là đấng tôn kính nhất.” Tuyên bố xong, Thái tử mới nằm xuống
và trở thành một hài nhi như bao nhiêu hài nhi khác ở trên đời này!
Nhưng
có một số chi tiết thuộc loại huyền thoại, tôi còn giữ lại, vì thấy chúng
không làm hại gì cho nội dung tác phẩm, mà lại phù hợp với tâm lý người
thời ấy, như chuyện Hoàng hậu Ma-gia khi thụ thai, “nằm mộng thấy một
con bạch tượng sáu ngà đứng trên một ngôi sao, có sáu sắc chói ngời, vượt
qua trời cao và luồn vào hông phải Hoàng hậu” (Ánh Ðạo Vàng). Ðây chỉ
là một giấc mộng. Và một Hoàng hậu, sống trong bối cảnh đầy rẫy thần thánh
của Bà-la-môn giáo, đang mơ ước có một hoàng tử anh linh xuất chúng, nên
nằm mộng thấy như vậy, cũng không phải là chuyện không thể chấp nhận được.
Hay trong câu chuyện của ông già kể lại cho đạo sĩ A-tư-đà nghe về đám
rước đón Hoàng hậu Ma-gia và Thái tử sơ sanh từ vườn Lâm-tỳ-ni về hoàng
cung thành Ca- tỳ la-vệ, có câu: “Trong đám rước người ta bảo có lẫn
lộn những thiên thần giả người trần tục, vì đây không phải là cái vui
riêng của cõi thể mà chính là cái vui chung cho cả mấy tầng trời” (Ánh
Ðạo Vàng).
Ông
già kể là: “Người ta bảo... (mà có lẽ ông ta cũng tin như vậy) là trong
đám rước có những thiên thân giả người trần tục” thì ai mà nhận ra?
Chỉ có tin hay không tin thôi. Trước đây 25 thế kỷ, xã hội Ấn Ðộ chịu ảnh
hưởng sâu xa của Bà-la-môn giáo, có nhiều người tin như vậy, cũng không có
gì là lạ. Lạ chăng là trong thế giới khoa học ngày nay vẫn có người tin
rằng Thánh, Thần, Người, Trời đang sống chung lộn với nhau. Cái tâm lý ấy
có ảnh hưởng sâu xa đến một số các nhà viết về lịch sử đức Phật trong quá
khứ, và cả trong ngày nay. Họ đã thần thánh hoá Ngài, xem Ngài như một
Thiên sứ, Thiên thần từ cõi Trời giáng xuống và mọi sự việc trong đời Ngài
đã được an bài từ trời cao. Trong khi ấy thì đức Thích-ca đã tuyên bố một
cách dứt khoát với nàng Tu-xà-đa, khi nàng tưởng Ngài là một Thần núi đã
phù hộ cho nàng sanh con trai, nên đến cúng dường Ngài để tạ ơn: “...
Ta không phải là một vị thần nào cả. Ta chỉ là một người như mọi người
khác. Xưa kia Ta là một Thái tử. Bây giờ Ta chỉ là một kẻ không nhà, ròng
rã sáu năm trời đi tìm ánh đạo để soi sáng cho chúng sanh...” (Ánh Ðạo
Vàng).
Có lẽ
những sử gia nói trên nghĩ rằng phải thiêng liêng hoá Ngài, gắn cho Ngài
cái nguồn gốc của nhà Trời hay một thế lực huyền bí nào, thì người đời mới
tôn kính, sùng bái Ngài, nhưng thật ra là đã làm giảm giá trị đích thựe
của Ngài. Ðức Phật đâu có muốn như vậy, Ngài bài bác cái ý thức về một
Thượng đế sáng tạo, an bài mọi sự việc trong trời đất. Ngài đề cao địa vị
của con người, bảo rằng đó là địa vị có đủ thuận duyên để cho con người
tiến xa nhất.
Và
Ngài đã lấy chính cuộc đời mình ra để chứng minh điều đó. Ngài cũng đã
trải qua mọi giai đoạn sanh, lão, bệnh, tử như mọi người. Ngài cũng có cha
mẹ, vợ con, bạn bè thân thích như mọi người. Ngài cũng đã có lúc đắm chìm
trong xa hoa truỵ lạc của một cuộc sống đế vương khác. Có khác chăng là
Ngài đã thoát ra khỏi cuộc sống dục lạc ấy trong khi các đế vương khác đã
chết chìm trong ấy. Và cuộc thoát ly này không do một động lực nào từ bên
ngoài, “bên trên” thúc đẩy hỗ trợ, mà chính là do lý trí và tình thương
rộng lớn của Ngài thúc đẩy Ngài. Cuộc trốn thoát khỏi “ngục vàng” giữa đêm
khuya ấy, tuy không có một ai hay biết, ngoài Xa-nặc, người giữ ngựa, để
cản ngăn Ngài, nhưng không phải đã diễn ra một cách trót lọt dễ dàng. Ngài
đã chiến đấu rất quyết liệt với chính mình, với tình yêu thương đối với
cha già, vợ trẻ, con thơ, với bạn bè, người hầu hạ, đã bao năm chung sống
với mình.
“Ngài
quỳ một chân, cúi đầu xuống để trán lên giường. Công chúa đang thiêm thiếp
ngủ, trên đôi mi cong dài còn đọng lại hai viên lệ ngọc. Ngài từ từ đứng
dậy, cung kính đi quanh giường ba vòng, hai tay chắp ngang ngực, miệng lẩm
bẩm: “Từ nay không bao giờ ta còn nằm trên giường này nữa. Ba lần Ngài
bước ra, ba lần Ngài trở lại. Lần sau cùng, với vẻ cương quyết, Ngài phủ
vạt áo lên đầu, vén rèm bước ra” (Ánh Ðạo Vàng).
Có lẽ
những đoạn văn như vậy đã làm cho tác giả bức thư mà tôi đã nói ở trên
phản đối, cho rằng tôi đã “uỷ mị hoá” đức Phật, làm mất cả những đức tánh
đại hùng, đại lực, đại từ bi của một vị Phật. Nhưng tôi nghĩ, trước khi
thành Phật, Thái tử Tất-đạt-đa vẫn là một “con người”–tất nhiên không tầm
thường như chúng ta–nhưng vẫn là một con người có lý trí và tình cảm, cũng
thương yêu gia đình như chúng ta, nhưng không vì tình yêu gia đình mà quên
tình yêu đồng bào, đồng loại, trái lại đã rộng mở tình yêu gia đình nhỏ
hẹp, để nó hoà nhập vào tình yêu rộng lớn đối với nhân loại, chúng sanh,
như khai thông dòng nước của sông ngòi để nó hoà nhập vào biển cả. Nếu
Thái tử Tất-đạt-đa khi ra đi mà vẫn “phớt tỉnh”, không chút bận lòng đối
với người thân trong gia đình, thì đó mới là một chuyện không bình thường,
làm chúng ta đánh một dấu hỏi lớn: “Nếu không yêu thương những người
thân thiết trong gia đình, thì làm sao yêu thương được đồng bào, đồng
loại?” Cái đại hùng, đại lực, đại từ bi của Thái tử Tất-đạt-đa chính
là đã thoát ra khỏi cái bả vinh hoa phú quý, đã chiến thắng được tình yêu
nhỏ bé nhưng mãnh liệt của gia đình, buộc nó phải hy sinh cho một tình yêu
rộng lớn hơn, cho một lý tưởng cao cả hơn: lý tưởng cứu đời. Chúng ta hãy
nghe Ngài nói: “Hỡi nhân loại đang quằn quại đau thương, hỡi cõi đời
sầu khổ! Vì các người mà ta bỏ tuổi măng tơ, bỏ ngôi báu, bỏ những ngày
vàng và đêm ngọc, gỡ cánh tay bám víu cửa người vợ hiền, cắt ngang tình
yêu mãnh liệt của Phụ vương và xa lánh đứa con thơ đang nằm trong bụng mẹ.
Hỡi Phụ hoàng, hiền thê, bào nhi và xã tắc! Xin hãy gắng chịu đựng sự chia
ly cho đến ngày tôi tìm ra Ðạo.” (Ánh Đạo Vàng).
Thoát
khỏi “ngục vàng”, Thái tử Tất-đạt-đa đi vào rừng sâu, tìm thầy học đạo,
Ngài tu “theo lối khổ hạnh.” Trước kia trong “Cung Vui”, Ngài cung dưỡng
thân xác bao nhiêu, thì giờ đây Ngài lại hành hạ nó bấy nhiêu, Ngài đã
nhịn đói, nhịn khát nằm gai, nếm mật, hành hạ thân xác cho đến kiệt quệ.
Hãy nghe Ngài kể lại: “Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta đã trở thành như
những cọng cỏ hay những đốt cây khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta
trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống của Ta phô
bày giống như một chuỗi hạt bóng. Vì Ta ăn quá ít, xương sườn của Ta gầy
mòn giống như rui mè của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, nên con
ngươi của Ta long lanh nằm sâu trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long
lanh nằm sâu trong một giếng nước thâm sâu...” (Trung Bộ Kinh I, tr.
80).
Thế
rồi một hôm, một đoàn ca vũ đi làm lễ ngang qua khu rừng Ngài tu. Ngài
nghe văng vẳng tiếng hát của mấy ca nhi đưa lại:
“Lên
cho chúng tôi một dây đàn đừng quá caọ cũng đừng quá thấp, chúng tôi sẽ
nhảy theo tiếng đàn và tim mọi người sẽ nhảy theo với chân chúng tôi.
Dây
đàn quá căng sẽ đứt, và nhạc sẽ câm!
Dây
đàn quá chùng, nhạc sẽ không lên tiếng!
Lên
cho chúng tôi một dây đàn đừng quá cao và cũng đừng qua thấp.”
Ngài
bỗng giật mình tỉnh ngộ: “Không ngờ các người ấy cũng có nhiều ý tưởng
hay! Ừ, có lẽ trong việc tìm điệu nhạc cứu thế, Ta đã lên quá cao dây đàn.
Không khéo nó đứt mất trong khi Ta đang cần đến nó. Ta phải bồi bổ lại
thân thể mới được.” (Ánh Ðạo Vàng).
Từ hôm
ấy, với sự cúng dường của nàng Tu-xà đa. Ngài bồi dưỡng lại sức khoẻ và
nhờ đó Ngài có đủ sức khoẻ để tham Thiền 49 ngày dưới cây bồ-đề và Thành
đạo. Thật đúng là: “Phật pháp bất ly thế gian giác. Ly thế mích
bồ-đề...”
Con
đường “Trung Ðạo” mà Ngài đã thuyết minh cho chúng ta, là kết quả của cả
một quá trình thử nghiệm của chính bản thân Ngài, đi từ cực đoan này sang
cực đoan khác.
Ðức
Phật đã gặt hái được đạo quả, do chính Ngài gieo trồng chứ không do ai
khác. Với Trí tuệ sáng suốt, với lòng Từ bi bao la, với ý chí kiên cường,
Ngài đã đi đến đích như Ngài ước nguyện. Và trong cuộc trường chinh vạn
dặm đi từ người đến Phật, Ngài đã nếm đủ mùi cay vị đắng, đã dẫm đạp lên
bao sỏi đá chông gai, đã mò mẫm bước đi trong tăm tối đầy cạm bẫy của cuộc
đời, mà không có một ai có thể giúp đỡ Ngài, không có một thế lực thần bí,
siêu nhiên nào hỗ trợ Ngài. Nhưng chính vì thế mà Ngài đã rút tỉa được bao
kinh nghiệm quý báu, những kinh nghiệm của thế giới nội tâm, của con
người, của cõi đời này và cho cõi đời này, chứ không phải của một thế giới
nào khác, một cõi trời nào khác. Ngài đã trở thành một vị “Chỉ đường” rất
vĩ đại, nhưng lại rất gần gũi với chúng ta, là vì vậy.
Những
lời dạy của Ngài, rất thâm thuý, nhưng cũng rất thân thiết với chúng ta,
là vì vậy. Giáo lý của Ngài không phải là những giáo điều mặc khải, đòi
hỏi một lòng tin tuyệt đối, mà là những lời chỉ dẫn mà ta có thể chứng
nghiệm được trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi khi cần đề cập đến một vấn đề
trừu tượng, luôn luôn Ngài bắt đầu bằng những câu hỏi rất giản dị, những
ví dụ rất cụ thể mà ai cũng có thể nhận thấy được. Chẳng hạn, khi Ngài
muốn nói cho các đệ tử biết giáo lý của Ngài không phải là tất cả, mà chỉ
là một phần nhỏ của Chân lý, Ngài hái một nắm lá nắm trong tay và hỏi các
đệ tử: “Nắm lá trong tay Ta so với lá trong rừng này, nhiều hay ít?”
Các đệ tử trả lời: “Bạch Thế Tôn, rất ít.” Và Ngài kết luận: “Cũng
ít như vậy, giáo lý của Ta so với chân lý trong thế gian này.”
Ðể
ngăn ngừa sự nhầm lẫn của các đệ tử cho rằng những lời dạy của Ngài về
Chân lý là Chân lý Ngài bảo: “Ðừng nhận lầm ngón tay chỉ mặt trăng là
mặt trăng.” Hay để cảnh tỉnh những người “mê” phương tiện mà quên cứu
cánh, Ngài nhắc: “Qua sông rồi, thì hãy bỏ thuyền bè mà lên bờ.”
Những tư tưởng rất sâu sắc đã được diễn tả rất rõ ràng qua những hình ảnh
hằng ngày ai cũng thấy được.
***
Trước
khi chấm hết, tôi xin nhấn mạnh một lần nữa là, đức Phật của chúng ta
không xuất phát từ một cõi siêu nhiên thần bí nào, cũng không phải là một
Thiên sứ hay con Thượng đế (cái ý niệm về Thượng đế cũng không được Ngài
chấp nhận), mà là người con tinh anh của nhân loại. Một cành hoa quý đã nở
trên thân cây nhân loại. Một hoa Ðàm, nói theo truyền thuyết Ấn Ðộ, mấy
vạn năm mới nở một lần; hay gần gũi với chúng ta hơn, một Hoa Sen, vươn
lên từ trong bùn và biến chất bùn thành hương sắc. Và như vậy, giá trị
đích thực của Ngài đã vĩ đại lắm rồi, hào quang của Ngài cũng đã chói sáng
lắm rồi. Tôi nghĩ chúng ta không cần phải thêm thắt vào cuộc đời vốn đã kỳ
diệu của Ngài, những huyền thoại phi lý, vẽ rắn thêm chân với mục đích là
tạo sự thiêng liêng để cho người đời thêm sùng mộ Ngài, kỳ thật đã đẩy lùi
Ngài vào thế giới hoang tưởng, làm mất lòng tin đối với những người biết
suy nghĩ trong thời đại khoa học ngày nay.
VÕ ÐÌNH CƯỜNG
1983
--- o0o ---
Mục lục |
Giới thiệu |
Lời bạt
Phần 01|
Phần 02 |
Phần 03 | Phần 04 |
Phần 05
Phần 06 |
Phần 07 | Phần 08 |
Phần 09 |
Phần 10
--- o0o ---
Vi tính : Mỹ Hồ
Cập nhật ngày:
01-05-2002